ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
NGUYỄN THỊ NHƯ YẾN
THỰC TRẠNG TIÊM VẮC-XIN PHÒNG COVID-19 VÀ
TÂM LÝ CỦA THAI PHỤ ĐẾN TIÊM PHÒNG TẠI
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2021
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH Y ĐA KHOA
Hà Nội – 2022
Luan van
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
Người thực hiện: NGUYỄN THỊ NHƯ YẾN
THỰC TRẠNG TIÊM VẮC-XIN PHÒNG COVID-19 VÀ
TÂM LÝ CỦA THAI PHỤ ĐẾN TIÊM PHÒNG TẠI
BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2021
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH Y ĐA KHOA
Khóa: QH.2016.Y
Người hướng dẫn:
1. ThS. Nguyễn Xuân Bách
2. ThS. Mạc Đăng Tuấn
Hà Nội – 2022
Luan van
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hồn thành khóa luận này, em đã
nhận được nhiều sự giúp đỡ của thầy cơ và bạn bè. Với lịng biết ơn sâu sắc,
em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:
Ban chủ nhiệm, thầy cô giáo Bộ môn Y Dược cộng đồng và Y Dự phòng,
Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi
cho em trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội đã
tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu.
Em xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy/Cô Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sỹ
trong hội đồng khoa học thông qua đề cương, hội đồng khoa học bảo vệ khóa
luận đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em trong q trình nghiên cứu, hồn
chỉnh khóa luận tốt nghiệp ngành y đa khoa.
Em xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới:
ThS. Nguyễn Xuân Bách, người thầy tận tâm, giúp đỡ, hướng dẫn em
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
ThS. Mạc Đăng Tuấn, thầy đã ln quan tâm, hết lịng chỉ bảo cho em
trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin gửi lời cảm ơn tới cha mẹ, anh chị em trong gia đình, bạn bè đã
động viên, chia sẻ với em trong suốt q trình học tập và nghiên cứu.
Bản khóa luận vẫn cịn những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự chỉ
bảo, đóng góp ý kiến của quý thầy cơ để đề tài hồn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 31 tháng 05 năm 2022
Nguyễn Thị Như Yến
Luan van
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................. 1
Chương 1: TỔNG QUAN ............................................................................... 3
1.1. Lịch sử đại dịch COVID-19 ....................................................................... 3
1.1.1. Sơ lược về vi-rút SAR-CoV-2 ................................................................. 3
1.1.2. Cơ chế bệnh sinh COVID-19 .................................................................. 5
1.2. Những thay đổi về giải phẫu, sinh lý và miễn dịch ở phụ nữ mang
thai…………………………………………………………………………… 6
1.3. Phụ nữ mang thai và đại dịch COVID-19 .................................................. 7
1.4. Phụ nữ mang thai và vắc-xin phòng COVID-19 ........................................ 8
1.5. Sự chấp nhận của phụ nữ mang thai đối với vắc-xin phòng COVID-19
……………………………………………………………………………….10
1.6. Tình hình đại dịch COVID-19 và tiêm vắc-xin phịng COVID-19 tại Việt
Nam ………………………………………………………………………….13
1.6.1. Tình hình đại dịch COVID-19............................................................... 13
1.6.2. Tình hình tiêm vắc-xin phịng COVID-19 ............................................ 13
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............. 17
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu ........................................... 17
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................................ 17
2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu ......................................................... 17
2.2. Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu ........................................... 17
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu ............................................................................... 17
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu ....................................................... 17
2.2.3. Công cụ thu thập số liệu ........................................................................ 17
2.2.4. Các biến số nghiên cứu.......................................................................... 17
2.3. Xử lý số liệu ............................................................................................. 19
2.4. Đạo đức nghiên cứu.................................................................................. 19
Luan van
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................ 20
3.1. Thực trạng tiêm vắc-xin phòng COVID-19 của thai phụ tiêm phòng tại
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 ............................................................. 20
3.1.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu...................................................... 20
3.1.2. Thực trạng tiêm vắc-xin phòng COVID-19 của thai phụ ..................... 22
3.2. Một số vấn đề lo lắng của thai phụ đến tiêm vắc-xin phòng COVID-19 tại
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 ............................................................. 25
3.2.1. Thời điểm trước tiêm chủng .................................................................. 25
3.2.2. Thời điểm sau tiêm chủng ..................................................................... 28
Chương 4: BÀN LUẬN ................................................................................. 32
4.1. Đặc điểm của thai phụ tiêm vắc-xin phòng COVID-19 tại Bệnh viện Phụ
sản Hà Nội năm 2021 ...................................................................................... 32
4.2. Thực trạng tiêm vắc-xin phòng COVID-19 của thai phụ tiêm phòng tại
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 ............................................................. 35
4.3. Một số vấn đề lo lắng của thai phụ đến tiêm vắc-xin phòng COVID-19 tại
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 ............................................................. 38
KẾT LUẬN .................................................................................................... 41
KIẾN NGHỊ ................................................................................................... 42
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Luan van
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACE2
Angiotensin-converting enzyme 2
(Enzym chuyển angiotensin 2)
CDC
Centers for Disease Control and Prevention
(Trung tâm Kiểm soát dịch bệnh Hoa Kỳ)
COVID-19
Corona virus disease 2019 (Bệnh do vi-rút Corona 2019)
ĐTNC
Đối tượng nghiên cứu
GTLN
Giá trị lớn nhất
GTNN
Giá trị nhỏ nhất
ICU
Intensive Care Unit (Đơn vị điều trị tích cực)
KTC
Khoảng tin cậy
MERS
Middle East Respiratory Syndrome
(Hội chứng hô hấp vùng Trung Đông)
NVVP
Nhân viên văn phòng
RNA
Acid ribonucleic
SAR-CoV-2
Severe acute respiratory syndrome corona virus 2
(Virus corona gây hội chứng hơ hấp cấp tính nặng 2)
SD
Standard Deviation (Độ lệch chuẩn)
TMPRSS2
Transmembrane protease serine 2
(Protease serine xuyên màng loại 2)
WHO
World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)
Luan van
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Một số biến số nghiên cứu .............................................................. 18
Bảng 3.1. Phân bố nhóm tuổi của đối tượng nghiên cứu ................................ 20
Bảng 3.2. Đặc điểm nơi ở, học vấn, nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu . 20
Bảng 3.3. Đặc điểm về hôn nhân, số con của đối tượng nghiên cứu .............. 21
Bảng 3.4. Đặc điểm bệnh lý nền, tiền sử dị ứng của đối tượng nghiên cứu ... 22
Bảng 3.5. Phân bố độ tuổi thai nhi của đối tượng nghiên cứu ........................ 22
Bảng 3.6. Phân bố số mũi vắc-xin thai phụ đã tiêm theo nhóm tuổi .............. 23
Bảng 3.7. Phân bố số mũi vắc-xin đã tiêm theo một số đặc điểm của đối tượng
nghiên cứu ....................................................................................................... 24
Bảng 3.8. Phân bố số mũi vắc-xin đã tiêm theo nghề nghiệp ......................... 25
Bảng 3.9. Phân bố sự lo lắng trước tiêm chủng theo đặc điểm của đối tượng
nghiên cứu ....................................................................................................... 26
Bảng 3.10. Mối liên quan giữa sự lo lắng trước tiêm chủng và nghề nghiệp của
đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 27
Bảng 3.11. Tỷ lệ các vấn đề lo lắng của thai phụ trước tiêm chủng ............... 28
Bảng 3.12. Phân bố sự lo lắng sau tiêm chủng theo đặc điểm của đối tượng
nghiên cứu ....................................................................................................... 29
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa sự lo lắng sau tiêm chủng và nghề nghiệp của
đối tượng nghiên cứu ...................................................................................... 30
Bảng 3.14. Tỷ lệ các vấn đề lo lắng của thai phụ sau tiêm chủng .................. 30
Bảng 4.1. Đặc điểm về tuổi của thai phụ trong một số nghiên cứu ................ 32
Bảng 4.2. Đặc điểm tình trạng hôn nhân của thai phụ trong một số nghiên cứu
......................................................................................................................... 33
Bảng 4.3. Đặc điểm về học vấn của thai phụ trong một số nghiên cứu.......... 34
Bảng 4.4. Tỷ lệ tiêm vắc-xin phòng COVID-19 ở phụ nữ mang thai trong một
số nghiên cứu .................................................................................................. 36
Luan van
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1. Số mũi vắc-xin thai phụ đã tiêm ................................................. 23
Biểu đồ 3.2. Tỷ lệ mức độ lo lắng của thai phụ trước tiêm chủng.................. 26
Biểu đồ 3.3. Tỷ lệ mức độ lo lắng của thai phụ sau tiêm chủng ..................... 28
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1. Cây phát sinh lồi của các trình tự gen có chiều dài đầy đủ của SARSCoV-2, SARSr-CoVs và các Beta-Coronavirus khác ....................................... 4
Hình 1.2. Sơ đồ của cấu trúc SARS-CoV-2 cho thấy lớp vỏ ngoài glycoprotein
S dạng gai đặc biệt của nó, capsid vi-rút đang bảo vệ axit nucleic bên trong và
các protein M và E ............................................................................................ 5
Hình 1.3. Chiến dịch tiêm vắc-xin phòng COVID-19 tại Việt Nam .............. 16
Luan van
ĐẶT VẤN ĐỀ
Vào tháng 12 năm 2019, bệnh viêm phổi khơng rõ ngun nhân đã được
báo cáo ở một nhóm bệnh nhân tại một bệnh viện ở Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, Trung
Quốc. Một tháng sau đó, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tuyên bố COVID-19,
căn bệnh do một loại Coronavirus mới (SARS-CoV-2) gây ra, là tình trạng khẩn
cấp về sức khỏe cộng đồng cần được quốc tế quan tâm [1]. Do tốc độ và mức
độ lây truyền, WHO đã chính thức tuyên bố COVID-19 là đại dịch vào ngày
12 tháng 03 năm 2020 [2]. Tính đến ngày 08 tháng 01 năm 2022, thế giới đã
ghi nhận 303.944.870 ca nhiễm COVID-19, trong đó số ca tử vong là 5.499.010
[3]. Các nhà khoa học ước tính rằng hàng triệu phụ nữ mang thai có thể bị
nhiễm SARS-CoV-2, dựa trên tỷ lệ lưu hành ước tính phụ nữ mang thai bị
nhiễm SARS-CoV-2 là 1 – 10% [4]. Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiêm
chủng trong thai kỳ là một chiến lược an tồn và hiệu quả cao, khơng chỉ cho
phụ nữ mang thai mà còn cho thai nhi cũng như trẻ sơ sinh nhờ sự truyền thụ
động kháng thể cho đứa trẻ [5].
Việt Nam là một trong những nước đầu tiên bị ảnh hưởng bởi vi-rút
SARS-CoV-2. Hai trường hợp đầu tiên được báo cáo trong nước vào ngày 23
tháng 01 năm 2020 là hai người đàn ông Trung Quốc đến từ Vũ Hán [1]. Tính
đến ngày 08 tháng 01 năm 2022, Việt Nam đã trải qua 4 đợt bùng phát của đại
dịch COVID-19, cả nước ghi nhận 1.876.394 trường hợp mắc COVID-19,
trong đó số người tử vong là 34.117 người [6]. Ngay từ thời gian đầu, Việt Nam
đã xác định vắc-xin là biện pháp hữu hiệu nhất để chống lại đại dịch COVID19. Tính đến hết tháng 12 năm 2021, Việt Nam đã tiêm hơn 150 triệu liều vắcxin, trong đó 100% người trên 18 tuổi được tiêm ít nhất 1 mũi vắc-xin và 90%
người trên 18 tuổi tiêm đủ 2 mũi vắc-xin phòng COVID-19 [7].
Là một bệnh mới, kiến thức dựa trên bằng chứng về COVID-19 ở phụ
nữ mang thai cịn hạn chế. Do đó, các quyết định về phịng ngừa, chẩn đốn và
quản lý thai nghén được đưa ra dựa trên kinh nghiệm trước đây về bệnh cúm
hoặc các trường hợp nhiễm Coronavirus khác, các đánh giá lâm sàng và kiến
thức cơ bản. Mặc dù số lượng lớn bằng chứng khoa học đã được chứng minh,
nhiều phụ nữ mang thai vẫn cịn băn khoăn rằng họ có nên tiêm chủng hay
khơng [4, 5]. Điều này có thể hiểu được vì các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn
1
Luan van
3 được thực hiện để đánh giá tính an tồn và hiệu quả của vắc-xin phịng
COVID-19 khơng bao gồm phụ nữ mang thai, mặc dù họ có nguy cơ mắc
COVID-19 nghiêm trọng hơn và gia tăng các yếu tố bất lợi cho thai kỳ. Các
thử nghiệm lâm sàng chỉ giới hạn ở việc tiêm chủng vào cuối thai kỳ. Do thiếu
bằng chứng về tính an tồn và hiệu quả của vắc-xin cho nhóm đối tượng này,
các hướng dẫn tiêm chủng cho phụ nữ mang thai còn mâu thuẫn, từ chống chỉ
định cho đến khuyến cáo trong thai kỳ [8].
Từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Thực trạng
tiêm vắc-xin phòng COVID-19 và tâm lý của thai phụ đến tiêm phòng tại Bệnh
viện Phụ sản Hà Nội năm 2021” với 02 mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng tiêm vắc-xin phòng COVID-19 của thai phụ tiêm
phòng tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021.
2. Mô tả một số vấn đề lo lắng của thai phụ tiêm vắc-xin phòng COVID19 tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021.
2
Luan van
Chương 1: TỔNG QUAN
1.1. Lịch sử đại dịch COVID-19
1.1.1. Sơ lược về vi-rút SAR-CoV-2
Coronavirus đã được nghiên cứu trong hơn 50 năm và đã lây nhiễm cho
nhiều loài động vật bao gồm cả con người. Chủng Coronavirus đầu tiên được
phân lập từ chủng Coronavirus nguyên mẫu từ chuột. Coronavirus thuộc họ
Coronaviridae, là những vi-rút RNA sợi đơn dương được bao bọc bởi
nucleocapsid (capsid với acid nucleic) và chứa một bộ gen lớn bất thường
(khoảng 26 – 32 kilo base) có hiện tượng tự sao chép độc đáo với tỷ lệ đột biến
và tái tổ hợp cao [9-11].
Coronavirus hình trịn, có vỏ bọc và khơng phân đoạn, kích thước khoảng
80 – 125 nm. Chúng có 4 protein cấu trúc được mã hóa ở đoạn 3′ cuối cùng của
bộ gen vi-rút. Protein nucleocapsid (N) đối xứng hình xoắn ốc, tạo thành một
capsid xoắn bên trong màng vi-rút và chứa ba loại protein. Protein (S) có hình
dạng giống như gai nhọn, giải phóng ra các glycoprotein loại I khoảng 150 kDa,
tạo thành các peplome từ bề mặt của virion, khiến chúng trông giống như vương
miện khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử. Vi-rút cũng chứa các protein màng
(M) được kéo dài ra bề mặt ngoài, một protein màng nhỏ (E) và ectodomain
đầu N ngắn cùng với đuôi tế bào chất và một protein kỵ nước [11].
Coronavirus chưa được xác định có khả năng gây bệnh cho người cho
đến khi chúng được báo cáo lần đầu tiên vào năm 2002-2003 tại Quảng Đơng,
Trung Quốc với hội chứng hơ hấp cấp tính nghiêm trọng (SARS). Khoảng 10
năm sau, kể từ khi xuất hiện SARS, MERS-CoV, một loại Coronavirus cực kỳ
nguy hiểm khác đã phát triển ở các nước Trung Đông gây ra hội chứng hơ hấp
cấp tính vùng Trung Đơng. Vào tháng 12 năm 2019, một loại Coronavirus mới
đã được phát hiện ở Vũ Hán, Trung Quốc và nhanh chóng trở thành một tình
trạng khẩn cấp tồn cầu do sự bùng phát của bệnh viêm phổi do vi-rút này gây
ra. Vi-rút mới SARS-CoV-2 là loại Coronavirus thứ bảy được biết đến có thể
lây truyền sang người từ họ vi-rút này [9].
Phân tích phát sinh loài trên toàn bộ bộ gen, SARS-CoV-2 được xếp cùng
với SARS-CoV và Coronavirus liên quan đến SARS (SARSr-CoVs) được tìm
3
Luan van
thấy ở dơi, thuộc chi Sarbecovirus của chi Beta-Coronavirus. Trong nhánh này,
SARS-CoV-2 được tách thành một dòng riêng biệt cùng với bốn chủng
Coronavirus dơi móng ngựa (RaTG13, RmYN02, ZC45 và ZXC21) và các
Coronavirus mới được xác định ở tê tê, nhóm này song song với SARS-CoV
và các SARSr-CoVs khác. Mặc dù có liên quan về mặt phát sinh lồi, SARSCoV-2 khác biệt với tất cả các Coronavirus ở dơi và tê tê khác của lồi này
[12].
Hình 1.1. Cây phát sinh lồi của các trình tự gen có chiều dài đầy đủ của
SARS-CoV-2, SARSr-CoVs và các Beta-Coronavirus khác [12].
4
Luan van
1.1.2. Cơ chế bệnh sinh COVID-19
Trong SARS-CoV-2, bộ gen RNA mã hóa 4 protein cấu trúc và 16
protein khơng cấu trúc (nps). Các protein E và M tạo nên vỏ và màng bao bọc
vi-rút, protein N liên kết với hệ gen RNA và protein S tạo nên các phần lồi đặc
trưng từ bề mặt của vi-rút, tương tác với thụ thể của màng sinh chất của tế bào
đích để làm trung gian cho sự xâm nhập của vi-rút [10].
Hình 1.2. Sơ đồ của cấu trúc SARS-CoV-2 cho thấy lớp vỏ ngồi
glycoprotein S dạng gai đặc biệt của nó, capsid vi-rút đang bảo vệ axit
nucleic bên trong và các protein M và E [9].
Ở giai đoạn đầu khi nhiễm bệnh, SARS-CoV-2 nhắm vào các tế bào như
tế bào biểu mô mũi, phế quản và tế bào phổi, thông qua protein đột biến cấu
trúc (S) của vi-rút liên kết với thụ thể của enzym chuyển angiotensin 2 (ACE2).
Protease serine xuyên màng loại 2 (TMPRSS2), hiện diện trong tế bào chủ,
thúc đẩy sự hấp thu của vi-rút bằng cách phân cắt ACE2 và kích hoạt protein
SARS-CoV-2 S, làm trung gian cho sự xâm nhập của Coronavirus vào tế bào
vật chủ. ACE2 và TMPRSS2 được biểu hiện trong tế bào đích vật chủ, đặc biệt
là tế bào biểu mô phế nang loại II [13].
Nhập bào (Endocytosis) thường được coi là cơ chế cổ điển mà vi-rút
SARS-CoV-2 xâm nhập vào tế bào đích. Tuy nhiên, Coronavirus, bao gồm
SARS-CoV-2, cũng có thể xâm nhập vào tế bào theo cơ chế độc lập với
endocytosis. Vùng gắn kết thụ thể của protein S nhận biết thụ thể ACE2, nhưng
một vùng khác của protein S tương tác với một vùng gần của bề mặt tế bào có
5
Luan van
thể hoạt động về mặt chức năng như một đồng thụ thể. Vi-rút sẽ hợp nhất với
màng sinh chất của tế bào đích, bỏ lại hầu hết các thành phần của nó, chỉ cho
vào tế bào gen RNA liên kết với N-nucleoprotein và di chuyển với bộ gen RNA
đến các ribosome lưới nội chất độc lập với con đường lysosome [10].
Trong các giai đoạn sau, khi sự nhân lên của vi-rút tăng nhanh, tính tồn
vẹn của hàng rào biểu mơ – nội mơ bị tổn hại. Ngồi các tế bào biểu mơ, SARSCoV-2 cịn lây nhiễm sang các tế bào nội mô mao mạch phổi, làm tăng phản
ứng viêm và số lượng bạch cầu đơn nhân và bạch cầu trung tính. Sự gián đoạn
hàng rào nội mơ, rối loạn chức năng truyền oxy qua mao mạch phế nang và suy
giảm khả năng khuếch tán oxy là những đặc điểm đặc trưng của COVID-19.
Bên cạnh đó, các trường hợp mắc COVID-19 nghiêm trọng cịn xảy ra tình
trạng đơng máu và suy giảm các yếu tố đông máu. Các mô phổi và tế bào nội
mơ phổi bị viêm dẫn đến hình thành microthrombi góp phần làm tăng tỉ lệ các
biến chứng huyết khối như huyết khối tĩnh mạch sâu, thuyên tắc phổi và các
biến chứng huyết khối động mạch ở những bệnh nhân nguy kịch (thiếu máu
cục bộ ở chi, đột quỵ thiếu máu cục bộ, nhồi máu cơ tim). Sự phát triển của
nhiễm trùng huyết do vi-rút có thể góp phần làm suy đa cơ quan [13].
1.2. Những thay đổi về giải phẫu, sinh lý và miễn dịch ở phụ nữ mang
thai
Phụ nữ khi mang thai phải trải qua rất nhiều sự thay đổi về giải phẫu,
sinh lý và miễn dịch. Những thay đổi này là cần thiết để đáp ứng cho nhu cầu
trao đổi chất tăng lên trong thai kỳ và nhu cầu phát triển của thai nhi. Nhu cầu
oxy của mẹ tăng, cơ hoành nâng cao, áp lực ổ bụng tăng, giảm giãn nở thành
ngực, giảm dung tích phổi, phù nề niêm mạc đường hơ hấp và khơng có khả
năng đào thải dịch tiết trong đường hô hấp làm giảm khả năng chịu đựng của
người mẹ với sự thiếu oxy và đẩy nhanh tiến triển đến suy hô hấp. Hai thách
thức chính đối với khả năng miễn dịch của người mẹ: bảo vệ thai nhi khỏi sự
tấn công của hệ thống miễn dịch và duy trì khả năng bảo vệ trước các mối đe
dọa từ vi sinh vật bên ngoài. Miễn dịch mẹ - thai nhi là nghịch lý duy nhất mâu
thuẫn với các nguyên tắc trong miễn dịch học cổ điển. Thai nhi được coi là một
bán sản phụ và sự thụ thai thành công phụ thuộc vào khả năng chịu đựng miễn
dịch của người mẹ đối với thai nhi được duy trì và ổn định. Sự suy giảm miễn
6
Luan van
dịch tương đối ở phụ nữ mang thai khiến họ trở nên đặc biệt nhạy cảm với các
bệnh truyền nhiễm [4, 14].
Trên thực tế, hệ thống miễn dịch của người mẹ thích nghi và thay đổi
theo sự tăng trưởng và phát triển của thai nhi ở các giai đoạn khác nhau của
thai kỳ, chuyển từ trạng thái tiền viêm (có lợi cho quá trình làm tổ và nhau thai)
trong ba tháng đầu sang trạng thái chống viêm (hữu ích cho sự phát triển của
thai nhi) trong ba tháng giữa. Trong ba tháng cuối, nó đạt đến trạng thái tiền
viêm thứ hai (chuẩn bị cho việc bắt đầu chuyển dạ) [15].
Ngoài những thay đổi của hệ thống miễn dịch và những thay đổi về giải
phẫu và sinh lý, những thay đổi về đơng máu trong thai kỳ cũng góp phần ảnh
hưởng tiêu cực đến khả năng nhiễm SARS-CoV-2 của phụ nữ mang thai. Tăng
prothrombin, đơng máu tuần hồn, các yếu tố tiêu sợi huyết (plasmin) và tăng
viêm nội mạch, tổn thương tế bào nội mơ đều góp phần làm tăng nguy cơ huyết
khối tĩnh mạch ở phụ nữ mang thai, cao gấp 4 lần so với nhóm chứng cùng độ
tuổi. Tất cả đều liên quan đến cơ chế bệnh sinh của nhiễm SAS-CoV-2 và rối
loạn đông máu liên quan COVID-19 [4].
1.3.
Phụ nữ mang thai và đại dịch COVID-19
Chúng ta biết rất ít về tác động của thai kỳ đối với COVID-19 và ngược
lại. Trong một phân tích tổng hợp, Dubey và cộng sự phát hiện ra rằng 27%
phụ nữ mang thai mắc COVID-19 gặp phải các biến cố bất lợi cho thai kỳ như
sinh non, các bệnh mạch máu thai nhi và vỡ ối non. Trung tâm Kiểm sốt và
Phịng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã tiến hành một phân tích giám sát gồm
598 phụ nữ mang thai mắc COVID-19 từ tháng 03 đến tháng 08 năm 2020 và
thấy rằng có tới 12,6% ca sinh non (< 37 tuần), trong khi tỷ lệ sinh non ở Mỹ
là khoảng 10% vào năm 2018. Họ cũng ước tính rằng những bà mẹ có triệu
chứng có nguy cơ sinh non cao hơn gấp ba lần so với những bà mẹ khơng có
triệu chứng COVID-19 [16]. Sinh non đã được chứng minh là phổ biến hơn ở
các bà mẹ dương tính với SARS-CoV-2 và con của họ có nhiều khả năng được
đưa vào phịng chăm sóc sơ sinh hơn [17].
Phụ nữ mang thai mắc COVID-19 có tỷ lệ dị tật mạch máu thai nhi cao
hơn bao gồm huyết khối, mạch máu kém phát triển và lắng đọng fibrin trong
7
Luan van
mạch máu nhau thai. Sự gia tăng vỡ ối sớm, có thể dẫn đến sinh non cũng đã
được báo cáo. Một số biến chứng thai kỳ được quan sát thấy có thể do bệnh lý
ngồi phổi do COVID–19. Mang thai làm tăng nguy cơ xảy ra biến chứng huyết
khối tắc mạch do tăng nồng độ các yếu tố đông máu trong máu. COVID-19 có
thể làm tăng khả năng đơng máu ở phụ nữ mang thai, khiến họ có nguy cơ bị
huyết khối tắc mạch cao hơn [16]. Một số báo cáo về sảy thai và thai chết lưu
đã được công bố, cũng như các phát hiện bệnh lý như viêm nhau thai và huyết
khối bánh nhau [17].
Trong đại dịch COVID–19, các công bố về COVID-19 trong thai kỳ đã
tăng lên đáng kể, từ báo cáo các trường hợp riêng lẻ và loạt trường hợp đến các
đánh giá có hệ thống và các nghiên cứu quan sát. Dựa trên kiến thức hiện tại,
phụ nữ mang thai khơng có nguy cơ nhiễm vi-rút SARS-CoV-2 cao hơn phụ
nữ không mang thai trong cùng một mơi trường. Tuy nhiên, phụ nữ mang thai
có nguy cơ bị bệnh nặng hơn khi đã nhiễm bệnh. Theo CDC, từ tháng 01 năm
2020 đến tháng 07 năm 2021, có tổng cộng 101.710 phụ nữ mang thai được
chẩn đốn mắc COVID-19, trong đó 448 người (0,44%) được đưa vào ICU và
114 người (0,11%) tử vong (chủ yếu là dân tộc thiểu số, tức là khơng phải người
Da trắng). Ngồi ra, trong một nghiên cứu trên khoảng 400.000 phụ nữ từ 15
đến 44 tuổi có các triệu chứng của COVID-19, phụ nữ mang thai có nhiều khả
năng được đưa vào phịng ICU, thơng khí xâm lấn và oxy hóa màng ngoài cơ
thể (ECMO) và tăng 70% nguy cơ tử vong so với phụ nữ khơng mang thai [17].
Khơng có bằng chứng về nhiễm trùng sơ sinh ở những phụ nữ đã sinh
con qua đường âm đạo. Cần có các nghiên cứu và hướng dẫn về phương pháp
và thời gian sinh nở ở phụ nữ mang thai bị nhiễm COVID-19 để hiểu rõ hơn
nguy cơ lây nhiễm. Các nghiên cứu trước đây về vi-rút gây hội chứng hơ hấp
cấp tính (SARS) cho thấy vi-rút có thể gây thai chết lưu, sinh non và hạn chế
phát triển trong tử cung. Do đó, xét nghiệm các trường hợp nghi ngờ và theo
dõi liên tục thai nhi của những phụ nữ mang thai mắc COVID-19 là rất cần thiết
và quan trọng. Ngồi ra, khơng có bằng chứng về nguy cơ lây truyền từ mẹ
sang con qua mổ lấy thai và đẻ mổ [18].
1.4.
Phụ nữ mang thai và vắc-xin phòng COVID-19
8
Luan van
Đại dịch COVID-19 đã gây ra nhiều thiệt hại về sinh mạng và sức khỏe
cho toàn nhân loại, bất chấp các biện pháp y tế tích cực của các chính phủ và
các tổ chức tồn cầu. Phịng ngừa bệnh tật và làm giảm sự lây lan trong cộng
đồng thông qua tiêm chủng hàng loạt thường được cho là cách tốt nhất để thoát
khỏi khủng hoảng và nhận thức này đã dẫn đến hơn 160 loại vắc-xin được phát
triển song song [19, 20].
Vắc-xin là một sản phẩm sinh học tạo ra khả năng miễn dịch chống lại
một loại vi sinh vật cụ thể. Vắc-xin có vai trị vơ cùng quan trọng và cứu sống
hàng triệu người mỗi năm. Chức năng chính của vắc-xin là kích thích và chuẩn
bị cho hệ thống miễn dịch có thể xác định và chống lại vi-rút và vi khuẩn mục
tiêu. BNT162b2 (Pfizer-BioNTech) được phát triển bởi BioNTech và được sản
xuất và phân phối bởi Pfizer và Fosun Pharmaceutical là vắc-xin phòng
COVID-19 đầu tiên được Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ
(FDA) phê duyệt để sử dụng trong trường hợp khẩn cấp. Các thử nghiệm lâm
sàng đã được thực hiện trên 44.000 người với tỷ lệ thành cơng hơn 95%. Sau
đó, vắc-xin Moderna cũng được cấp phép sử dụng khẩn cấp vào ngày 18 tháng
12 năm 2020. Vắc-xin AZD1222 do Oxford phát triển là một loại vắc-xin hiệu
quả khác vừa được cấp phép. Vắc-xin đã được thử nghiệm lâm sàng trên 65.000
người và được báo cáo là có hiệu quả hơn 70% [18].
Hiện cịn thiếu bằng chứng về hiệu quả và độ an toàn của vắc-xin ở các
đối tượng khác nhau như đối tượng dưới 16 tuổi (giới hạn độ tuổi đối với vắcxin dựa trên mRNA như Pfizer và Moderna) hoặc 18 tuổi (giới hạn độ tuổi đối
với vắc-xin dựa trên vector vi-rút như Astrazeneca và Johnson & Johnson) và
phụ nữ mang thai hoặc cho con bú. Tất cả các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên
để nghiên cứu vắc-xin phịng COVID-19 khơng bao gồm phụ nữ mang thai và
cho con bú [20]. “Nhóm dân số dễ bị tổn thương” này bị loại bỏ khỏi các nghiên
cứu do những lo ngại về đạo đức và trách nhiệm pháp lý. Tuy nhiên, phụ nữ
mang thai vẫn có thể tham gia các nghiên cứu lâm sàng nếu có sẵn dữ liệu an
tồn tương đương từ các nghiên cứu tiền lâm sàng. Thông tin mà những phụ nữ
mang thai và cho con bú cần để đưa ra quyết định này phải được điều chỉnh cho
phù hợp với rủi ro cá nhân của họ dựa trên mức độ phơi nhiễm trong mơi trường
gia đình và nơi làm việc, các bệnh đi kèm và nhân khẩu học, kết hợp với bằng
9
Luan van
chứng về sự an toàn và hiệu quả của vắc-xin cũng như những ảnh hưởng có thể
có đối với thai nhi [21].
Khi số lượng người được tiêm chủng trên toàn thế giới tăng lên, cơ hội
để đánh giá hiệu quả và độ an toàn trong thế giới thực của vắc-xin phòng
COVID-19 cũng tăng lên. Các báo cáo ban đầu về tính an tồn của vắc-xin
khơng cho thấy tín hiệu an toàn rõ ràng nào ở phụ nữ mang thai. Tuy nhiên,
thông tin về hiệu quả của vắc-xin ở phụ nữ mang thai vẫn còn hạn chế [8].
1.5.
19
Sự chấp nhận của phụ nữ mang thai đối với vắc-xin phòng COVID-
Một khảo sát trực tuyến đã được thực hiện bởi Trung tâm chăm sóc thai
sản Pregistry, Los Angeles, California, Hoa Kỳ về sự chấp nhận vắc-xin phòng
COVID-19 ở phụ nữ mang thai và bà mẹ có con nhỏ trên 16 quốc gia từ ngày
28 tháng 10 đến ngày 18 tháng 11 năm 2020. Trong số 17.871 người được hỏi,
29,6% (n = 5294) đang mang thai tại thời điểm khảo sát. Trong số phụ nữ mang
thai, 49,7% (n = 2629) có ít nhất một con. Đối với những người đã mang thai,
tuổi thai trung bình là 20,0 tuần (SD = 9,4). Trong số phụ nữ mang thai, 52,0%
(n = 2747) dự định tiêm vắc-xin phòng COVID-19 nếu đạt được 90% hiệu quả.
Câu trả lời của phụ nữ mang thai khác nhau theo quốc gia (dao động: 28,8 –
84,4%). Mức độ chấp nhận vắc-xin phòng COVID-19 trên 80% đối với phụ nữ
mang thai ở Mexico và Ấn Độ; dưới 45% đối với Hoa Kỳ, Úc và Nga. Ba lý do
hàng đầu khiến phụ nữ mang thai từ chối tiêm vắc-xin phòng COVID-19 trong
khi mang thai ngay cả khi vắc-xin an tồn và miễn phí là họ không muốn để
em bé đang phát triển tiếp xúc với bất kỳ yếu tố có hại nào có thể xảy ra
(65,9%), lo ngại vì lý do chính trị (44,9%) và muốn có thêm dữ liệu về tính an
tồn và hiệu quả ở phụ nữ mang thai (48,8%). Các yếu tố nhân khẩu học như
tuổi trẻ hơn, thu nhập thấp hơn, trình độ học vấn thấp hơn, khơng kết hơn và
khơng có bảo hiểm y tế cũng có liên quan đến việc khơng chấp nhận vắc-xin
phịng COVID-19 [22].
Một nghiên cứu tiền cứu được thực hiện tại Bệnh viện Thành phố
Ankara, Thổ Nhĩ Kỳ từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 đến ngày 01 tháng 02 năm
2021 trên những phụ nữ mang thai được khám sức khỏe trước sinh cho thấy
10
Luan van
trong tất cả những người tham gia, 37% có ý định tiêm vắc-xin nếu nó được
khuyến cáo cho phụ nữ mang thai. Những lý do từ chối phổ biến là thiếu dữ
liệu về tính an tồn của vắc-xin phịng COVID-19 đối với phụ nữ mang thai và
khả năng gây hại cho thai nhi. Phụ nữ mang thai trong ba tháng đầu tiên bày tỏ
sự chấp nhận tiêm chủng COVID-19 cao hơn so với phụ nữ mang thai trong ba
tháng giữa và ba tháng cuối [23].
Schaal và cộng sự đã thực hiện một cuộc khảo sát ẩn danh, trực tuyến,
cắt ngang trên phụ nữ mang thai và cho con bú ở Đức từ ngày 30 tháng 03 đến
ngày 19 tháng 04 năm 2021 về thái độ tiêm chủng vắc-xin phòng COVID-19
và các lý do cơ bản ảnh hưởng tới quyết định của họ cho kết quả: Đa số phụ nữ
mang thai (57,4%) không ủng hộ việc tiêm vắc-xin, 28,8% không chắc chắn và
chỉ 13,8% sẽ tiêm vắc-xin tại thời điểm khảo sát. Ngược lại, 47,2% sẽ ủng hộ
việc tiêm vắc-xin nếu có thêm bằng chứng khoa học về sự an tồn của việc tiêm
phòng trong thai kỳ. Phụ nữ đang cho con bú thể hiện sự sẵn sàng tiêm chủng
cao hơn (39,5% ủng hộ, 28,1% không chắc chắn và 32,5% không ủng hộ).
Nguyên nhân chính dẫn đến việc do dự tiêm chủng là nhận thức của phụ nữ về
thông tin tiêm chủng, bằng chứng khoa học về an toàn tiêm chủng cịn hạn chế
và lo lắng về sư an tồn của thai nhi hoặc trẻ sơ sinh [24].
Nghiên cứu của 7 cơ sở sản khoa tại Pháp về nhận thức của phụ nữ mang
thai về vắc-xin phòng COVID-19 cho thấy 29,5% (95% CI 27,7; 31,3) phụ nữ
mang thai đồng ý tiêm chủng và lý do chính là bảo vệ bản thân (84,7%), bảo
vệ người xung quanh (79,6%) hoặc bảo vệ trẻ sơ sinh (62,2%). Trong số phụ
nữ mang thai không đồng ý tiêm chủng, lý do chính được đưa ra là sợ tác dụng
phụ đối với thai nhi (76,9%) và bản thân (33,8%) hơn là sợ nhiễm COVID19. Hai lý do chính khác khơng đồng ý tiêm vắc-xin phịng COVID-19 là
“Khơng đủ thời gian để phản hồi về các tác dụng phụ của vắc-xin SARS-CoV2” (63,2%) và “Không đủ thời gian để phản hồi về hiệu quả của vắc-xin SARSCoV-2 ”(38,7%) [25].
Tỷ lệ chấp nhận vắc-xin phòng COVID-19 của bà mẹ mang thai và cho
con bú trong các nghiên cứu khác nhau dao động từ 29,7% đến 77,4%. Tỷ lệ
chấp nhận vắc-xin cao nhất ở phụ nữ mang thai được quan sát thấy trong nghiên
cứu do Tao và cộng sự thực hiện ở Trung Quốc (77,4%), Mohan và cộng sự ở
11
Luan van
Qatar (75%), và ở Ý (74,5%) bởi Mappa và cộng sự. Ngược lại, tỷ lệ chấp nhận
vắc-xin ở phụ nữ mang thai thấp nhất được tìm thấy trong thử nghiệm ở Thụy
Sĩ (29,7%) của Suckelberger và cộng sự và trong nghiên cứu của Geoghegan
và cộng sự (38%) ở Ireland [26].
Trong nghiên cứu của Riad và cộng sự, mức độ chấp nhận tiêm vắc-xin
phịng COVID-19 (ngay lập tức và trì hỗn) khá cao (70,2%) và có sự khác biệt
đáng kể giữa phụ nữ mang thai (76,6%) và phụ nữ đang cho con bú
(48,8%). Trong số 70,2% người đồng ý tiêm vắc-xin, 3,6% cho biết sẽ tiêm
ngay lập tức và 66,6% cho biết sẽ trì hỗn tiêm chủng. Chỉ 13,3% người tham
gia chấp nhận đề nghị tiêm chủng của bác sĩ khi mang thai hoặc đang cho con
bú và 62,2% không đồng ý. Các nghiên cứu cho thấy phụ nữ mang thai có xu
hướng chấp nhận vắc-xin phịng COVID-19 ở mức độ cao và cũng có xu hướng
chống lại các khuyến cáo của chun gia vì họ thích trì hỗn tiêm chủng. Phụ
nữ trong ba tháng giữa thai kỳ, trình độ học vấn, tình trạng việc làm là những
yếu tố quyết định đáng kể đến việc chấp nhận vắc-xin phòng COVID-19. Về
các yếu tố dự đoán tâm lý xã hội, phương tiện truyền thơng/mạng xã hội, sự tin
tưởng chính phủ, ngành dược phẩm và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và tỷ
lệ rủi ro/lợi ích tích cực là yếu tố thúc đẩy đáng kể việc chấp nhận vắc-xin
phòng COVID-19 [27].
Tại Vương quốc Anh, đa số phụ nữ được khảo sát (81,2%) cho biết sẽ
“chắc chắn” hoặc “nghiêng về phía” tiêm vắc-xin phịng COVID-19 nếu khơng
mang thai. Việc đồng ý tiêm vắc-xin phòng COVID-19 thấp hơn đáng kể ở phụ
nữ mang thai (62,1%, p < 0,005). Phụ nữ dân tộc thiểu số có xu hướng từ chối
tiêm vắc-xin phịng COVID-19 khi khơng mang thai, đang mang thai và cho
con của họ cao gấp hai lần so với phụ nữ Da trắng (p < 0,005). Phụ nữ thuộc
các hộ gia đình có thu nhập thấp, dưới 25 tuổi và từ một số vùng địa lý cũng có
nhiều khả năng từ chối tiêm vắc-xin phịng COVID-19 khi khơng mang thai,
đang mang thai và cho con của họ. Phân tích đa biến cho thấy thu nhập và dân
tộc là động lực chính dẫn đến sự khác biệt về độ tuổi và khu vực được quan sát.
Phụ nữ chưa được tiêm vắc-xin phòng bệnh ho gà trong thai kỳ có xu hướng từ
chối tiêm vắc-xin phịng COVID-19 cao gấp 4 lần khi không mang thai, đang
12
Luan van
mang thai và cho con của họ. Tin tưởng vào vắc-xin và hệ thống y tế cũng là lý
do phụ nữ đưa ra để chấp nhận tiêm vắc-xin phòng COVID-19 [28].
Một khảo sát trực tuyến mang tên “COVID-19 và xã hội” được thực hiện
trên 1791 phụ nữ mang thai tại Nhật Bản cho kết quả: Tỷ lệ tiêm vắc-xin phòng
COVID-19 của phụ nữ mang thai chỉ đạt 13,4% và có tới 50,9% người tham
gia khảo sát do dự về việc tiêm chủng. Lý do chính của sự do dự là lo ngại về
các phản ứng có hại và ảnh hưởng tiêu cực đến thai nhi và việc cho con bú. Yếu
tố quan trọng dẫn đến sự do dự của vắc-xin là sự thiếu tin tưởng vào chính phủ
(PR đã điều chỉnh, 1,26; KTC 95%, 1,03 – 1,54). Các yếu tố khác như tuổi tác,
trình độ học vấn, tình trạng khai báo khẩn cấp không liên quan đến việc do dự
tiêm vắc-xin [29].
1.6. Tình hình đại dịch COVID-19 và tiêm vắc-xin phịng COVID-19 tại
Việt Nam
1.6.1. Tình hình đại dịch COVID-19
Tính đến ngày 22 tháng 01 năm 2022, Việt Nam ghi nhận 2.110.737 ca
mắc COVID-19, đứng thứ 28/224 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong khi với tỷ
lệ số ca nhiễm/1 triệu dân, Việt Nam đứng thứ 143/224 quốc gia và vùng lãnh
thổ (bình qn cứ 1 triệu người có 21.386 ca nhiễm). Đợt dịch thứ 4 (từ ngày
27/4/2021 đến nay): Số ca nhiễm mới ghi nhận trong nước là 2.104.196 ca,
trong đó có 1.794.363 bệnh nhân đã được cơng bố khỏi bệnh. Các địa phương
ghi nhận số ca nhiễm cao trong đợt dịch này: TP. Hồ Chí Minh (512.422), Bình
Dương (292.400), Hà Nội (102.715), Đồng Nai (99.581), Tây Ninh (86.790).
Hiện nay đã ghi nhận 133 ca mắc COVID-19 do biến chủng Omicron tại Hà
Nội (12), Quảng Nam (27), TP. Hồ Chí Minh (65), Hải Dương (1), Hải Phịng
(1), Thanh Hóa (2), Đà Nẵng (8), Khánh Hòa (11), Long An (1), Quảng Ninh
(2). Số bệnh nhân nặng đang điều trị là 4.567 ca, trong đó: Thở ơ xy qua mặt
nạ: 3.082 ca; Thở ơ xy dịng cao HFNC: 739 ca; Thở máy không xâm lấn: 132
ca; Thở máy xâm lấn: 594 ca; ECMO: 20 ca [30].
1.6.2. Tình hình tiêm vắc-xin phịng COVID-19
Ngày 08 tháng 03 năm 2021, Việt Nam bắt đầu triển khai tiêm vắc-xin
phòng COVID-19 cho người từ 18 tuổi trở lên, ưu tiên 11 nhóm đối tượng gồm:
13
Luan van
Nhân viên y tế; nhân viên tham gia phòng chống dịch (ban chỉ đạo các cấp,
nhân viên khu cách ly, phóng viên...); nhân viên ngoại giao, nhân viên hải quan,
nhân viên xuất nhập cảnh; quân đội; công an; giáo viên; người trên 65 tuổi;
nhóm cung cấp dịch vụ thiết yếu: hàng không, vận tải, du lịch, cung cấp dịch
vụ điện, nước...; người mắc các bệnh mạn tính; người muốn cơng tác, học tập,
lao động ở nước ngoài; người dân vùng dịch theo chỉ định dịch tễ [31].
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu cắt ngang thực hiện trên 425
người mắc bệnh mạn tính cho kết quả: Độ tuổi trung bình của những người
tham gia nghiên cứu là 52,9 ± 15,6 tuổi, phần lớn là nữ (67,8%), với gần một
nửa là nội trợ hoặc đã nghỉ hưu (52,4%) và có trình độ học vấn trung học trở
lên (57,4%). Họ có tỷ lệ chấp nhận tiêm vắc-xin phòng COVID-19 khá cao
(84,0%). Hầu hết những người tham gia đều có niềm tin tích cực về việc tiêm
vắc-xin phịng COVID-19. Việc chấp nhận tiêm chủng có liên quan đáng kể
đến kiến thức tổng thể của những người tham gia và các dấu hiệu hành động,
nhưng nhân khẩu học cơ bản thì khơng. Tỷ lệ chấp nhận tiêm vắc-xin phòng
COVID-19 tăng 1,2 lần đối với mức tăng 1 đơn vị trong “tổng điểm kiến thức”
(AOR 1,2, KTC 95%: 1,1 – 1,3, p < 0,05), và tỷ lệ chấp nhận tiêm chủng tăng
gấp 3,2 lần đối với “tín hiệu hành động” tăng 1 đơn vị (AOR 3,2, KTC 95%:
1,7 – 5,8, p < 0,001) [32].
Trong một nghiên cứu đánh giá về sự chần chừ khi tiêm vắc-xin phòng
COVID-19 tại Việt Nam, những người tham gia đã thể hiện thái độ khác nhau
đối với việc chấp nhận vắc-xin. Một số bày tỏ thái độ tích cực hoặc vắc-xin
được chấp nhận có điều kiện. Những người khác cảm thấy do dự và một số ít
từ chối việc tiêm chủng. Với tác động kinh tế của COVID-19, chi phí đi lại liên
quan đến tiêm chủng hoặc vắc-xin phịng COVID-19 hiệu quả thấp, chi phí cao
sẽ ảnh hưởng đến quyết định tiêm chủng của họ. Ngoài ra, với tỷ lệ thất nghiệp
ngày càng tăng do dịch bệnh và chênh lệch thu nhập giữa nơng thơn và thành
thị, chi phí vắc-xin là một trong những yếu tố quyết định chính đến việc chấp
nhận vắc-xin của những người yếu thế bao gồm người dân tộc thiểu số và những
người sống ở các vùng nông thôn miền núi [33].
Những người tham gia lo lắng về tác dụng phụ của vắc-xin liên quan đến
số lần tiêm và mong đợi vắc-xin một liều. Ý định tiêm chủng của họ không bị
14
Luan van
ảnh hưởng bởi các thành viên trong gia đình, bạn bè hoặc đồng nghiệp. Tuy
nhiên, thông tin tiêu cực liên quan đến vắc-xin được cơng bố có tác động mạnh
đến việc chấp nhận vắc-xin, đặc biệt là các trường hợp tử vong liên quan tới
vắc-xin. Việc chấp nhận vắc-xin cũng bị ảnh hưởng rất nhiều bởi uy tín và thứ
hạng của trung tâm tiêm chủng. Các bệnh viện công cấp ba được thừa nhận là
các trung tâm tiêm chủng tiêu chuẩn. Các bệnh viện tư nhân là lựa chọn phổ
biến thứ hai vì ít q tải so với các bệnh viện công và rủi ro mắc phải COVID19 thấp. Tất cả những người tham gia đều khẳng định thời gian chờ đợi tại trung
tâm tiêm chủng không ảnh hưởng đến việc chấp nhận vắc-xin. Họ cũng bày tỏ
sự chấp nhận vắc-xin liên quan đến việc đánh giá tình trạng sức khỏe của họ và
các loại vắc-xin phòng COVID-19 nhằm giảm thiểu các tác dụng phụ nghiêm
trọng gặp phải. Họ cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc kết hợp các
biện pháp phịng ngừa bằng vắc-xin và khơng dùng vắc-xin. Tiêm phòng được
coi là một trách nhiệm xã hội và là một biện pháp quan trọng để ngăn chặn sự
lây lan dịch bệnh và tiếp tục cuộc sống bình thường [33].
Ngày 10 tháng 08 năm 2021, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 3802/QĐBYT mở rộng đối tượng tiêm vắc-xin cho hai nhóm phụ nữ mang thai và đang
cho con bú. Theo đó, phụ nữ mang thai ≥ 13 tuần được xếp vào đối tượng cần
thận trọng tiêm chủng và phụ nữ mang thai ≤ 13 tuần là đối tượng trì hỗn tiêm
chủng. Phụ nữ mang thai ≥ 13 tuần sau khi được giải thích nguy cơ và lợi ích
nếu đồng ý tiêm chủng cần phải chuyển đến tiêm và theo dõi tại cơ sở y tế có
khả năng cấp cứu sản khoa. Những loại vắc-xin được chỉ định tiêm cho thai
phụ là AstraZeneca, Pfizer và Moderna, chống chỉ định với vắc-xin Sputnik V.
Một nghiên cứu cắt ngang trên phụ nữ mang thai được thực hiện từ tháng
01 đến tháng 02 năm 2021 tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội và Bệnh viện Sản Nhi
Cà Mau cho kết quả: Về việc không muốn tiêm vắc-xin, lý do phổ biến nhất
của người được hỏi ở Hà Nội là “Lo lắng về tính an tồn của vắc-xin” (66,9%,
KTC 95% = 58,9% –74,2%), trong khi ở Cà Mau, lý do phổ biến nhất là “Hiệu
quả phòng ngừa của COVID-19 thấp” (45,2%, KTC 95% = 35,4% –55,3%).
60,4% số người được hỏi sẵn sàng tiêm vắc-xin phịng COVID-19; tỷ lệ phần
trăm đó có thể đạt đến ngưỡng miễn dịch cộng đồng dựa trên khả năng lây
truyền COVID-19 [34].
15
Luan van
Tại Việt Nam, từ khi đại dịch bùng phát, với những chủ trương đúng đắn,
các biện pháp quyết liệt và sự phối hợp kịp thời, cộng thêm tình đồn kết thống
nhất, tương thân tương ái của nhân dân, cho đến nay về cơ bản, chúng ta đã
kiểm soát được dịch bệnh, hạn chế tối đa tỷ lệ tử vong.
Hình 1.3. Chiến dịch tiêm vắc-xin phòng COVID-19 tại Việt Nam [7].
16
Luan van
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
➢ Tiêu chuẩn lựa chọn:
• Phụ nữ mang thai ≥ 13 tuần và đăng ký tiêm vắc-xin phòng COVID-19
tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, đồng ý điền vào biểu mẫu trực tuyến sau
khi được giới thiệu và giải thích về nghiên cứu.
➢ Tiêu chuẩn loại trừ:
• Khơng đáp ứng các tiêu chuẩn trên.
• Thai phụ khơng đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 06 năm 2021 đến tháng 06 năm 2022.
2.2. Phương pháp nghiên cứu và thu thập số liệu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu: Các thai phụ tiêm vắc-xin phòng COVID-19 tại Bệnh viện Phụ
sản Hà Nội đồng ý tham gia vào nghiên cứu.
- Cỡ mẫu đã thu thập được: 805 mẫu.
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện và chọn toàn bộ thai phụ
đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, bộ câu hỏi được gửi cho tất cả thai
phụ đạt tiêu chuẩn nghiên cứu.
2.2.3. Công cụ thu thập số liệu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp thu thập số liệu khảo sát trực tuyến
thông qua mẫu phiếu điện tử được thiết kế bằng Google form. Mẫu phiếu được
gửi đến danh sách các thai phụ trong tiêu chuẩn lựa chọn bằng hệ thống tin
nhắn của Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
2.2.4. Các biến số nghiên cứu
17
Luan van