BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
BÀI TIỂU LUẬN
Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp
dược sĩ chính (hạng II)
Chủ đề: THỰC TRẠNG CUNG ỨNG THUỐC TẠI BỆNH VIỆN PHỤ
SẢN HÀ NỘI NĂM 2021
HỌ VÀ TÊN HỌC VIÊN: NGUYỄN HỒNG
ĐƠN VỊ CƠNG TÁC: Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
LỚP: Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp dược sĩ chính
(hạng II) năm 2022
HÀ NỘI 2022
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh viện là cơ sở khám chữa bệnh và chăm sóc sức khoẻ tồn diện cho
người bệnh, là đơn vị khoa học kỹ thuật có nghiệp vụ cao về y tế. Một trong những
nhiệm vụ quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng công tác khám chữa bệnh của
bệnh viện là vấn đề cung ứng thuốc đầy đủ và kịp thời, đảm bảo chất lượng của
khoa Dược bệnh viện. Tuy nhiên hoạt động cung ứng thuốc chịu ảnh hưởng của
rất nhiều yếu tố, cần có sự nghiên cứu đầy đủ các yếu tố này để lựa chọn những
phương thức hợp lý trong cung ứng thuốc. Từ những năm cuối thế kỷ 20 đến nay,
với xu hướng phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật và tiềm năng ứng dụng
khoa học quản lý tiên tiến, thế giới ngày nay đang bước vào một kỷ nguyên mới
mà trong đó nhu cầu được chăm sóc về sức khoẻ đã trở nên cao hơn bao giờ hết.
Các hoạt động chăm sóc sức khoẻ, các dịch vụ y tế ở cả khu vực công lập và dân
lập đã song hành cùng với các hoạt động bảo hiểm y tế mang lại cho bệnh nhân
những lợi ích ngày càng to lớn ở Việt Nam. Cung ứng thuốc kịp thời, đầy đủ đồng
thời đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý là nhiệm vụ trọng tâm của khoa Dược mỗi
bệnh viện. Nhiệm vụ đó địi hỏi tổ chức và hoạt động cơng tác dược bệnh viện
phải được đổi mới, tăng cường, trong đó ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ
vào lĩnh vực tổ chức, quản lý và điều hành, triển khai hoạt động như một tất yếu
khách quan. Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009, 2010 của
Cục quản lý khám chữa bệnh, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong bệnh viện
chiếm tỷ trọng 47,9% (năm 2009 ) và 58,7% ( năm 2010) tổng giá trị tiền viện phí
hàng năm trong bệnh viện. Những bất cập trong cung ứng, sử dụng thuốc tại các
2
bệnh viện cũng ngày càng gia tăng, chẳng hạn như: thuốc không thiết yếu (không
thực sự cần thiết) được sử dụng với tỷ lệ cao, lạm dụng kháng sinh, vitamin …
Gần đây Bộ Y Tế đã ban hành thông tư quy định tổ chức và hoạt động khoa dược
bệnh viện và hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường 4 bệnh. Tuy
nhiên, tổ chức và hoạt động khoa dược bệnh viện rất khác nhau giữa các hạng
bệnh viện. Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội được thành lập ngày 21 tháng 11 năm 1979
theo Quyết định số 4951/QĐTC của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Trải
qua hơn 40 năm xây dựng và phát triển, đến nay bệnh viện đã trở thành đơn vị
chuyên khoa đầu ngành của Thành phố Hà Nội và cả nước về lĩnh vực sản, phụ
khoa và kế hoạch hóa gia đình. Với quy mơ hiện nay của bệnh viện là gần 700
giường bệnh, hàng năm khám chữa bệnh ngoại trú cho hàng trăm nghìn lượt bệnh
nhân và khám chữa bệnh nội trú cho hơn 70.000 lượt bệnh nhân nên nhu cầu sử
dụng thuốc của bệnh viện là rất lớn. Qua thời gian học tập lớp Dược sỹ chính
(hạng II) và q trình cơng tác tại bệnh viện tơi làm tiểu luận về Thực trạng hoạt
động cung ứng thuốc tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 với các mục tiêu
sau: Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng cung ứng thuốc tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
năm 2021. Phân tích những ưu, nhược, bất cập chính yếu trong hoạt động cung
ứng thuốc tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Mục tiêu 2: Từ kết quả nghiên cứu trên
đề xuất mơ hình hoạt động cho khoa Dược bệnh viện và một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng hoạt động cung ứng thuốc tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.
3
PHẦN I: TỔNG QUAN
1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.1.1. Mơ hình bệnh tật
Mơ hình bệnh tật của một xã hội, một cộng đồng, một quốc gia nào đó là
tập hợp tất cả những tình trạng mất cân bằng về thể xác, tinh thần dưới tác động
của những yếu tố khác nhau, xuất hiện trong cộng đồng đó, xã hội đó trong một
khoảng thời gian nhất định.
MHBT được trình bày dưới dạng một bảng tập hợp các loại bệnh và tần
xuất của chúng trong một thời gian, tại một địa điểm của một cộng đồng nhất định.
Để nghiên cứu mơ hình bệnh tật được thống nhất , WHO đã ban hành danh mục
phân loại quốc tế về bệnh tật ICD (Internationa l Statistical Classitical of Diseaes
and Health Problems). Bản ICD cung cấp mã hóa các bệnh thành những mã ngắn
gọn, làm chuẩn cho cơng tác nghiên cứu y học, khơng những giúp ích khi bệnh
4
nhân được chuyển từ nước này sang nước khác (tránh lỗi dịch thuật), ở trong cùng
một nước ICD cũng giúp tránh sự hiểu sai do cách dùng từ khác nhau giữa nhân
viên y tế. bản phân loại quốc tế bệnh tật ICD lần thứ 10 gồm 21 chương bệnh, mỗi
chương bệnh có một hay nhiều nhóm bệnh, mỗi nhóm bệnh có nhiều loại bệnh,
mỗi loại bệnh có 6 nhiều chi tiết bệnh theo nguyên nhân gây bệnh hay tính chất
đặc thù của bệnh đó. MHBT của bệnh viện là căn cứ quan trọng giúp bệnh viện
không chỉ để xây dựng DMT mà còn làm cơ sở để bệnh viện hoạch định phát triển
toàn diện. MHBT bệnh viện phụ thuộc vào nhiều yếu tố. các yếu tố này đan xen,
ảnh hưởng lẫn nhau.
1.1.2. Phát đồ điều trị
Phát đồ điều trị hay Hướng dẫn thực hành điều trị là văn bản chuyên mơn
có tính chất pháp lý, nó được đúc kết từ kinh nghiệm thực tiễn, được sử dụng như
một khuôn mẫu trong điều trị học mỗi loại bệnh. Theo WHO, một hướng dẫn thực
hành điều trị về thuốc bao gồm đầy đủ 4 thơng số: Hợp lý, an tồn, hiệu quả, kinh
tế.
- Hợp lý : Phối hợp đúng thuốc, đúng chủng loại, thuốc cịn hạn sử dụng.
- An tồn: khơng gây tai biến, khơng có tương tác thuốc.
- Kinh tế: Chi phí điều trị thấp nhất.
- Hiệu quả: Dễ dùng, khỏi bệnh, không để lại hậu quả xấu hoặc đạt được
mục đích sử dụng thuốc trong thời gian nhất định. Nhiều bệnh viện đã xây dựng
5
phát đồ điều trị cho bệnh viện dựa trên hướng dẫn thực hành điều trị của bộ y tế
và căn cứ vào đó để xây dựng danh mục thuốc bệnh viện một cách khoa học.
1.1.3. Danh mục thuốc thiết yếu.
“DMTTY là danh mục những loại thuốc thỏa mãn nhu cầu chăm sóc sức
khỏe cho đa số nhân dân. Những loại thuốc này ln có sẵn bất cứ lúc nào với số
lượng cần thiết, dạng bào chế thích hợp, giá cả hợp lý”. Trong danh mục có đủ
chủng loại thuốc đáp ứng yêu cầu điều trị các bệnh thông thường. Thuốc được ghi
theo tên gốc hoặc tên quốc tế, dễ nhớ, dễ nhận biết, dễ lựa chọn, dễ sử dụng, dễ
bảo quản, giá cả dễ chấp nhận, thuận tiện cho việc thông tin, việc đào tạo và bồi
dưỡng cán bộ. Danh mục này giúp đảm bảo việc sử dụng thuốc hợp lý an tồn
hơn.
Chính sách thuốc thiết yếu đã được chính phủ khẳng định là nội dung cơ
bản của chính sách quốc gia về thuốc ở Việt Nam. Tại bệnh viện cần thường xuyên
có đủ các thuốc trong DMTTY. Danh mục này được sửa đổi bổ sung từng thời kỳ
theo yêu cầu điều trị. Hiện vẫn đang sử dụng DMTTY lần thứ 5 kèm theo quyết
định số 17/QĐ-BYT ngày 01/7/2005, bao gồm 355 thuốc thiết yếu tân dược ( với
314 hoạt chất) 94 thuốc thiết yếu dùng trong YHCT, 60 cây thuốc nam và 215 vị
thuốc.
1.1.4. Danh mục thuốc chủ yếu
DMTCY được xây dựng trên cơ sở DMTTY của Việt Nam và của tổ chức
y tế Thế giới hiện hành. Danh mục này được sử dụng cho các bệnh viện, phòng
khám đa khoa, các cơ sở y tế có bác sỹ. DMTCY là cơ sở pháp lý cho bệnh viện
6
lựa chọn ,xây dựng danh mục thuốc cụ thể cho đơn vị mình. Căn cứ vào danh mục
này, đồng thời căn cứ vào mơ hình bệnh tật và kinh phí bệnh viện để lựa chọn tên
cụ thể, tên thành phẩm của thuốc ( bao gồm cả nồng độ, hàm lượng, dạng dùng),
phục vụ cho công tác khám chữa bệnh. Danh mục thuốc mới nhất được Bộ y tế
ban hành kèm theo quyết định số 05/2008/QĐ-BYT (Ngày 01/02/2008), gồm 750
thuốc tân dược, 57 tên thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu, 95 thuốc chế phẩm
YHCT và 237 vị thuốc YHCT. Quyết định số 10/2008/QĐ-BYT (Ngày
22/2/2008), bổ sung thêm 3 chế phẩm thuốc YHCT vào danh mục nói trên.
1.1.5. Danh mục thuốc bệnh viện
“DMTBV là danh mục những loại thuốc cần thiết thỏa mãn nhu cầu khám
bệnh, chữa bệnh và thực hiện y học dự phòng của bệnh viện, phù hợp với MHBT
, kỹ thuật điều trị và bảo quản, khả năng tài chính của từng bệnh viện và khả năng
chi trả của người bệnh. Những thuốc này trong một phạm vi thời gian, khơng gian
trình độ xã hội, khoa học kỹ thuật nhất định ln sẵn có bất cứ lúc nào với số
lượng cần thiết, chất lượng tốt, dạng bào chế thích hợp, giá cả phải chăng”.
DMTBV là cơ sở dể đảm bảo cung ứng thuốc chủ động có kế hoạch cho
nhu cầu hợp lý, an toàn hiệu quả, phù hợp với điều kiện của Bệnh viện. 1.1.6. Hội
đồng thuốc và điều trị (HĐT & ĐT) Hội đồng thuốc và điều trị là tổ chức tư vấn
cho giám đốc bệnh viện về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị bằng thuốc
của bệnh viện, bảo đảm sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả cho người bệnh,
thực hiện Chính sách quốc gia về thuốc. Chức năng của HĐT&ĐT:
- Tư vấn cho bác sĩ, dược sĩ và các nhà quản lý về sử dụng thuốc.
7
- Đánh giá và lựa chọn thuốc để xây dựng DMT bệnh viện: tiêu chí đánh
giá rõ ràng (hiệu quả điều trị, hiệu lực độ an toàn, chất lượng, chi phí).
- Phân tích các vấn đề sử dụng thuốc trong điều trị.
- Tiến hành các biện pháp can thiệp nhằm cải thiện chất lượng sử dụng
thuốc.
- Xử trí các phản ứng có hại (ADR) và các sai sót trong điều trị.
- Xây dựng “Hướng dẫn điều trị chuẩn” làm cơ sở cho việc xây dựng DMT;
quy định sử dụng thuốc khơng có tại DMT, thuốc đắt tiền, nguy hiểm.
1.2. Lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc để xây dựng DMTBV là việc làm cần thiết; bước đầu của
quá trình hoạt động cung ứng thuốc của bệnh viện, là cơ sở cho việc điều trị hợp
lý, an toàn, hiệu quả và kinh tế. Lựa chọn thuốc là một trong những nhiệm vụ
quan trọng của HĐT & ĐT.
* DMTBV được HĐT&ĐT xây dựng dựa vào danh mục TTY, DMTCY có
nhiệm vụ giúp giám đốc lựa chọn, xây dựng DMTBV theo nguyên tắc sau: ưu tiên
lựa chọn thuốc generic, thuốc đơn chất, thuốc sản xuất trong nước. DMT thuốc
bệnh viện được xây dựng hàng năm có thể bổ sung hoặc loại bỏ thuốc trong DMT
thơng qua HĐT&ĐT bệnh viện. Đây là công việc rất cần thiết, là bước đầu tiên
trong quá trình cung ứng thuốc, cũng là khâu quan trọng nhất.
DMTBV là cơ sở để cung ứng thuốc chủ động, có kế hoạch cho nhu cầu
điều trị hợp lý, an tồn và hiệu quả, vì vậy DMTBV phải có số lượng và chủng
8
loại đáp ứng nhu cầu điều trị phù hợp với mơ hình bệnh tật, kinh phí, trình độ
chun mơn, trang thiết bị của bệnh viện. Xây dựng cơ số tồn kho hợp lý, đảm
bảo lượng thuốc đáp ứng nhu cầu điều trị, có thuốc cùng loại để thay thế.
Việc lựa thuốc trong bệnh viện phải dựa vào các yếu tố sau:
- Mơ hình bệnh tật của bệnh viện.
- Phác đồ điều trị.
- Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh.
- Trình độ chun mơn kỹ thuật, trang thiết bị.
- Khả năng kinh phí của bệnh viện (ngân sách nhà nước, thu một phần viện
phí và bảo hiểm y tế).
1.3. Hoạt động mua sắm thuốc
Mua sắm thuốc là khâu rất quan trọng. Mua thuốc hiệu quả là đảm bảo đúng
thuốc, đúng số lượng với giá cả hợp lý và với tiêu chuẩn chất lượng được công
nhận. Không để bệnh nhân phải sử dụng những thuốc đắt tiền một cách không cần
thiết . Hoạt động mua thuốc tại bệnh viện được bắt đầu từ khi xác định được nhu
cầu mua thuốc dựa theo kế hoạch mua thuốc (1 tháng hoặc 2 tháng…) lựa chọn
nguồn cung ứng, hợp đồng mua thuốc, giám sát thực hiện cung ứng, nhập hàng,
kiểm soát chất lượng… Hoạt động mua thuốc kết thúc khi thuốc đã được kiểm
nhập vào kho thuốc của khoa Dược.
1.3.1. Xác định nhu cầu sử dụng thuốc
9
Việc xác định nhu cầu thuốc về số lượng thường dựa vào số lượng thuốc
tồn trữ và lượng thuốc luân chuyển qua kho. Tuy nhiên khi có sự thay đổi phát đồ
điều trị hoặc sử dụng khơng hợp lý thì việc xác định nhu cầu thuốc là rất khó khăn.
Trong thực tế để xác định nhu cầu thuốc thường kết hợp các yếu tố sau:
- Tình trạng bệnh tật, MHBT.
- Kỹ thuật chẩn đoán bệnh và điều trị.
- Thống kê dựa trên mức sử dụng thuốc thực tế.
Ngồi ra cịn phải kết hợp các yếu tố ảnh hưởng như: dịch bệnh, thời tiết,
điều kiện kinh tế, trình độ chun mơn, phác đồ điều trị, những tiến bộ trong khoa
học và kỹ thuật, giá cả thuốc, sự xuất hiện các thuốc mới.
1.3.2. Các hình thức mua thuốc
Chỉ thị số 03/BYT-CT của Bộ Y tế ban hành ngày 25/7/1997 đã nêu rõ:
“Việc mua bán thuốc phải thực hiện qua thể thức đấu thầu, chọn thầu, chỉ định
thầu, công khai theo qui định của nhà nước”. Trong quá trình triển khai thực hiện,
các văn bản về đấu thầu không ngừng được bổ sung và hồn thiện cho phù hợp
với tình hình thực tế. Thực tế việc thực hiện đấu thầu mua sắm thuốc phải căn cứ
trên luật đấu thầu số 61/2005/QH11, Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLT/BYTBTC về “Hướng dẫn thực hiện đấu thầu cung ứng thuốc trong các cơ sở y tế công
lập” và các văn bản liên quan.
Do vậy , tùy theo giá trị và đặc điểm gói thầu mà bệnh viện chọn các hình
thức sau:
10
- Đấu thầu rộng rãi: đây là hình thức được áp dụng phổ biến nhất, áp dụng
cho tất cả các gói thầu thuộc phạm vi điều chỉnh, khơng hạn chế số lượng nhà thầu
tham dự.
- Đấu thầu hạn chế, áp dụng cho gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật, có
tính đặc thù, có tính chất nghiên cứu thử nghiệm mà chỉ một số nhà thầu đáp ứng
được. Phải mời tối thiểu năm nhà thầu có đủ năng lực tham dự.
- Chỉ định thầu: Lựa chọn trực tiếp nhà thầu của gói thầu để thương thảo
hợp đồng.
1.3.3. Chọn nhà cung ứng
Sau khi lựa chọn phương thức mua, cần tổ chức đấu thầu để xác dịnh và
chọn nhà cung ứng. phân tích đánh giá các nhà cung ứng cũ, xem xét đánh giá các
nhà cung ứng mới về năng lực kinh doanh, năng lực tài chính, uy tín và thương
hiệu của nhà cung ứng. Bên cạnh đó nhà cung ứng phải đảm bảo thỏa mãn các
yêu cầu về kỹ thuật, biện pháp cung ứng, thời hạn thực hiện hợp đồng… Sau khi
công bố kết quả trúng thầu đã được phê duyệt, hai bên thương thảo hoàn thiện
hợp đồng và tiến hành ký kết hợp đồng mua bán bằng văn bản. Việc thương thảo
cần tập trung thống nhất các điều khoản thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bên
theo pháp lệnh hợp đồng kinh tế.
1.3.4. Đặt hàng và theo dõi đơn đặt hàng
Để xác định số lượng thuốc cần đặt hàng, chú ý các thông số sau:
- Mức tối thiểu : là lượng thuốc dự trữ cần thiết phải có trong kho.
11
- Mức tối đa: là lượng thuốc tối đa có thể chứa trong kho.
- Mức đặt hàng: là số lượng sẽ mua trong kỳ.
Các mức này được xét duyệt định kỳ và được rút kinh nghiệm để lên kế
hoạch cho kỳ sau.
Bên đặt hàng phải giám sát đơn hàng về số lượng chủng loại, chất lượng,
giá cả, tiến độ giao hàng như đã quy định trong hợp đồng.
1.3.5. Nhận thuốc và kiểm nhập
Ký hợp đồng đã quy định rõ địa điểm giao hàng.
Khi tiến hành nhận thuốc phải đối chiếu hóa đơn, phiếu báo lơ với thực tế
về tên thuốc, số lượng, hàm lượng, quy cách đóng gói, nơi sản xuất, số kiểm soát,
hạn dùng.
Thuốc phải được bảo quản ở điều kiện theo đúng yêu cầu kỹ thuật cả trong
lúc vận chuyển, khi kiểm nhập hàng phải có hội đồng kiểm nhập, có đầy đủ biên
bản, sổ sách kiểm nhập theo đúng quy chế.
1.3.6. Thanh toán
Thanh toán bằng tiền mặt, séc, chuyển khoản theo đúng số lượng và giá đã
trúng thầu.
12
CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, trong đó tập trung vào hoạt động cung ứng
thuốc và các hội đồng chun mơn có liên quan khác.
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ 01/2021 đến tháng 12/2021
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu
2.2.2. Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập các thơng tin sẵn có.
Hồi cứu các tài liệu liên quan đến hoạt động lựa chọn và mua sắm thuốc
năm 2012 , cụ thể:
- Tại khoa Dược ta thu thập số liệu qua:
+ Hồ sơ đấu thầu năm 2021
+ Quyết định thành lập Hội đồng thuốc năm 2021
+ Toàn bộ biên bản họp Hội đồng thuốc năm 2021
+ Danh mục hoạt chất sử dụng tại Bệnh viện năm 2021
+ Danh mục thuốc Bệnh viện đã xây dựng năm 2021
+ Báo cáo sử dụng thuốc (các báo cáo nhập – xuất – tồn) năm 2021
13
+ Các biên bản xin hủy thuốc năm 2021
+ Sổ theo dõi ADR và sổ thông tin thuốc năm 2021
- Thu thập số liệu từ nơi khác:
+ Báo cáo tài chính, tổng thu, tổng chi năm 2021- Lưu tại phịng tài chính
kế tốn.
+ Bảng kiểm tra Bệnh viện năm 2021- Lưu tại phòng kế hoạch tổng hợp.
+ Khai thác phần mềm Quản lý Bệnh viện.
14
CHƯƠNG III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Mô tả các hoạt động cung ứng thuốc
3.1.1. Các hoạt động lựa chọn thuốc
Lựa chọn thuốc là công việc đầu tiên trong chuỗi hoạt động cung ứng thuốc,
nhằm xây dựng một danh mục thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả và kinh tế trong
điều trị. Lựa chọn thuốc đã phần nào định hướng cho việc điều trị và cũng là cơ
sở cho việc cung ứng thuốc trong bệnh viện.
Nhìn chung hoạt động xây dựng DMT của BV phụ sản Hà Hội năm 2021
đã được triển khai các bước đầy đủ theo Thông tư liên tịch số 10/2007/TTLTBYT-BTC về “Hướng dẫn thực hiện đấu thầu cung ứng thuốc trong các cơ sở y
tế công lập”. Những căn cứ của hệ thông pháp lý trên luật đấu thầu số 61/2005
trong quá trình xây dựng DMT là hồn tồn phù hợp. HĐT và ĐT đóng vai trị
chính trong quá trình xây dựng danh mục thuốc của bệnh viện , xây dựng DMT
cho phù hợp với đặc thù bệnh tật và chi phí về thuốc, giám sát việc thực hiện quy
chế chẩn đoán bệnh, hồ sơ bệnh án, quy chế sử dụng thuốc. Ngồi ra, cịn có sự
đóng góp của các hội đồng khác trong bệnh viện: Tổ chuyên gia đấu thầu, tổ thẩm
định….và các bác sĩ, dược sĩ và các khoa phịng có liên quan. Giám đốc bệnh viện
là người có thẩm quyền phê duyệt DMT sử dụng trong bệnh viện và buộc các
thành viên có liên quan phải tuân thủ.
3.1.1.2. Phân tích các hoạt động lựa chọn thuốc
15
* Thành lập HĐT và ĐT bệnh viện Giám đốc bệnh ra quyết định thành lập
HĐT và ĐT .Các thành phần có trong HĐT và ĐT phải phù hợp với thông tư 08/
BYT-TT ngày 04/7/1997 hướng dẫn việc tổ chức , chức năng nhiệm vụ của HĐT
và ĐT ở bệnh viện để thực hiện chỉ thị 03/BYT- CT ngày 25/3/1997 của Bộ trưởng
bộ y tế về việc chấn chỉnh công tác cung ứng quản lý và sử dụng thuốc tại bệnh
viện.
* HĐT & ĐT xây dựng các nguyên tắc quản lý DMT.
Xây dựng các nguyên tắc để mua sắm và lựa chọn thuốc là công việc cần
thiết của HĐT và ĐT. Theo biên bản họp đầu năm 2012 của HĐT và ĐT bệnh
viện đã quy định việc lựa chọn như sau:
- Chọn thuốc theo nhu cầu của khoa phòng
- Chọn những thuốc theo thứ tự ưu tiên
- Thuốc trong danh mục phải thống nhất với DMT chủ yếu do bộ y tế ban
hành.
- Chỉ có bác sĩ, dược sĩ là người có quyền yêu cầu bổ sung hoặc loại bỏ
thuốc khỏi DMT, yêu cầu phải được chấp thuận trong biên bản họp HĐT và ĐT
hàng tháng.
Việc đưa ra nguyên tắc lựa chọn và quản lý thuốc trong danh mục là hết
sức cần thiết. Bệnh viện ĐKTBĐ đã đưa ra được nguyên tắc lựa chọn để mua sắm
thuốc, để quản lý việc sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả và kinh tế.
3.1.2. Hoạt động mua sắm thuốc
16
3.1.2.1. Các hình thức mua
Trong năm 2021 Bệnh viện đã mua thuốc theo hình thức:
- Áp dụng kết quả đấu thầu thuốc của Sở y tế Hà Nội.
- Chào hàng cạnh tranh những mặt hàng khơng có kết quả đấu thầu. Qua
thực tế sử dụng thuốc tại Bệnh viện đã cung ứng đủ thuốc đáp ứng cho nhu cầu
điều trị, do bệnh viện có kế hoặch mua sắm, dự trù hợp lý, cung ứng đủ thuốc cho
bệnh nhân điều trị ngoại –nội trú.
3.1.2.2. Nguồn cung ứng
Nguồn mua thuốc của bệnh viện chủ yếu từ các công ty đã trúng thầu theo
kết quả đấu thầu của sở y tế Hà Nội. Năm 2021, Bệnh viện đã mua thuốc của 120
công ty, số lượng công ty nhiều do áp dụng kết quả đấu thầu chung của Thành
phố. Có cơng ty chỉ cung ứng được cho bệnh viện với số lượng rất ít nhưng khơng
thể thiếu được vì các cơng ty khác khơng trúng thầu. Với nguồn cung ứng phong
phú và đảm bảo chất lượng như vậy Bệnh viện đã cung ứng đủ thuốc với giá cả
hợp lý.
17
KẾT LUẬN
Phương thức mua thuốc tại bệnh viện ĐKTBĐ theo hình thức đấu thầu rộng
rãi một lần trong năm. Do đấu thầu rộng rãi nên số lượng các công ty tham dự
ngày càng tăng. Việc mua sắm theo hình thức đấu thầu rộng rãi mang lại nhiều
lợi ích: chuẩn hóa quy trình mua sắm, cơng khai minh bạch, bệnh viện có nhiều
sự lựa chọn, giá thuốc ổn định trong cả năm. Về quy trình lựa chọn thuốc nói
chung bệnh viện đã làm tốt công tác này. Việc xây dựng DMTBV đã hội tụ được
các yếu tố cơ bản, cần thiết như MHBT tại bệnh viện, tình hình điều trị và nhu
cầu thực tế, số liệu thống kê về sử dụng thuốc trong thời gian gần nhất, tài chính
của bệnh viện, tuân thủ DMTTY, DMTCY do Bộ y tế ban hành. Tuy nhiên cũng
còn một số hạn chế cần khắc phục. Khó khăn trong việc dự trù kế hoạch cung ứng
đơi khi dẫn đến thừa hoặc thiếu thuốc…ảnh hưởng đến an tồn hợp lý. Hàng năm
vào tháng 11 các khoa phịng gửi dự trù thuốc của khoa phịng mình tới khoa
dược. Khoa dược tổng hợp căn cứ vào DMTBV, DMTCY, số lượng xuất nhập
tồn của năm trước, các trang thiết bị kỹ thuật mới, định mức kinh phí để lập kế
hoạch trình HĐT & ĐT. Sau khi HĐT & ĐT thống nhất sẽ trình Giám đốc bệnh
viện kí để trình lên Sở y tế để Sở y tế tổ chức đấu thầu. * Tồn tại: Việc xây dựng
danh mục thuốc bệnh viện hàng năm chủ yếu vẫn dựa vào sử dụng của năm trước,
DMTCY của Bộ y tế và kinh nghiệm của các bác sĩ, chưa có những đánh giá cụ
thể, số lượng hoạt chất đa dạng với nhiều biệt dược được sử dụng trong bệnh viện
sẽ làm cho công tác cung ứng, quản lý thuốc của khoa dược gặp nhiều thách thức,
18
dễ nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Khoa Dược cũng luôn bị áp lực trong việc đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng của điều trị trong khi kinh phí khơng đảm bảo. Các
thủ tục hành chính phức tạp nên chậm chi trả cho các công ty dẫn đến các cơng ty
gây khó khăn trong cung ứng hàng, bệnh viện bị thiếu thuốc.
19