Tải bản đầy đủ (.pdf) (110 trang)

Thực trạng nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress ở phụ nữ chấm dứt thai kỳ ngoài 12 tuần tại bệnh viện phụ sản hà nội năm 2021

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.18 MB, 110 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

TRƯỜNG ĐẠI

BỘ Y TẾ

HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM

ĐỊNH

ĐỖ NHƯ HUYỀN

THỰC TRẠNG NGUY CƠ TRẦM CẢM, LO ÂU VÀ STRESS
VÀ TÊN
VIÊN12 TUẦN TẠI
Ở PHỤ NỮ CHẤM DỨTHỌ
THAI
KỲ HỌC
NGOÀI

BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2021
TÊN ĐỀ TÀI

(cỡ chữ 16-18)


LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

ĐỖ NHƯ HUYỀN
THỰC TRẠNG NGUY CƠ TRẦM CẢM, LO ÂU VÀ
STRESS Ở PHỤ NỮ CHẤM DỨT THAI KỲ NGOÀI 12
TUẦN TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2021

Ngành: Điều dưỡng
Mã số: 8720301

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐỖ MINH SINH


i

TĨM TẮT
Đặt vấn đề: Tình trạng trầm cảm, lo âu và stress ở những phụ nữ đến chấm dứt
thai kỳ ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe và chất lượng cuộc sống của người

phụ nữ.


Mục tiêu: Mô tả thực trạng nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress của phụ nữ đến
chấm dứt thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 và xác định một số yếu tố
liên quan.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trên 202
phụ nữ đến phá thai từ 12 tuần 1 ngày đến hết 22 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội
với thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, phương pháp định lượng kết hợp định tính.
Sử dụng thang đo DASS-21 để đo lường tình trạng trầm cảm, lo âu và stress của
người phụ nữ khi đến chấm dứt thai kì ngồi 12 tuần thai trước khi làm thủ thuật. Tìm
hiểu các yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm, lo âu và stress bằng các test thống
kê và phương pháp phân tích nội dung.
Kết quả: Tỷ lệ phụ nữ đến chấm dứt thai kỳ có biểu hiện trầm cảm, lo âu và
stress lần lượt là 58,9%; 66,8% và 57,4%. Trong đó các rối loạn chủ yếu ở mức vừa
và nặng. Tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng hơn nhân, khu vực sống và
việc mong muốn sinh con trong tương lai là những yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến
tình trạng trầm cảm, lo âu và stress.
Kết luận: Tỷ lệ trầm cảm, lo âu và stress ở phụ nữ đến chấm dứt thai kỳ tại
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021 ở mức cao, chủ yếu ở các mức độ nhẹ và vừa.
Đa số các đối tượng mắc ít nhất một loại rối loạn. Những phụ nữ có tuổi trên 25, đã
kết hơn, trình độ học vấn từ tốt nghiệp THPT trở lên, sống ở thành thị và còn mong
muốn mang thai trong tương lai có nguy cơ có những dấu hiệu của trầm cảm, lo âu
và stress. Sự giúp đỡ, hỗ trợ của những người xung quanh đặc biệt là nhân viên y tế
có vai trị quan trọng để người phụ nữ vượt qua giai đoạn khó khăn này.
Từ khóa: trầm cảm, lo âu, stress, chấm dứt thai kỳ, phá thai.


ii

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới BGH trường Đại học Điều Dưỡng

Nam Định, các Thầy Cơ giáo trong tồn trường đã tạo điều kiện giúp đỡ tơi trong
suốt q trình học tập tại trường.
Tơi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy TS Đỗ Minh
Sinh- Trưởng phòng nghiên cứu khoa học đã tận tâm hướng dẫn tôi trong q trình
thực hiện luận văn tốt nghiệp này.
Tơi xin chân thành cảm ơn các Bác sỹ và Điều dưỡng, Hộ sinh tại bệnh viện
Phụ sản Hà Nội đã quan tâm giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện

luận

văn.
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã ln giúp đỡ
tơi trong quá trình thực hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 9 năm 2021
Học viên


iii

LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện
một cách nghiêm túc, trung thực, đúng quy trình và đảm bảo tính khoa học.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, không trùng
lặp với bất kỳ cơng trình nghiên cứu của tác giả nào khác trong, ngồi nước và chưa
được cơng bố hoặc sử dụng ở bất kỳ đâu.
Nam Định, ngày 13 tháng 09 năm 2021
Học viên



iv

MỤC LỤC
TÓM TẮT ................................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN .........................................................................................................ii
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................. iii
MỤC LỤC ............................................................................................................. iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT .............................................................................. vi
DANH MỤC BẢNG .............................................................................................vii
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ ............................................................................viii
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN........................................................................................ 4
1.1. Tổng quan về trầm cảm, lo âu và stress......................................................... 4
1.2. Phá thai ........................................................................................................ 8
1.3. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress................................. 10
1.4. Giới thiệu về một số thang đo sức khỏe tâm thần. ....................................... 11
1.5. Một số nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm ở phụ nữ phá thai.................. 13
1.6. Khung nghiên cứu về trầm cảm, lo âu và stress của phụ nữ phá thai. .......... 18
1.7. Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu .............................................................. 19
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................... 20
2.1. Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu. ............................................. 20
2.2. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 20
2.3. Phương pháp thu thập thông tin .................................................................. 22
2.4. Biến số và chỉ số nghiên cứu ...................................................................... 25
2.5. Phân tích xử lý số liệu ................................................................................ 27
2.7. Đạo đức nghiên cứu.................................................................................... 29
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................. 30
3.1. Thông tin chung của đối tượng ................................................................... 30
3.2. Thực trạng trầm cảm, lo âu, stress của phụ nữ phá thai tại bênh viện Phụ Sản
Hà Nội............................................................................................................... 33



v

3.3. Một số yếu tố liên quan đến tình trạng trầm cảm, lo âu và stress của đối tượng
phá thai ............................................................................................................. 41
3.4. Kết quả từ nghiên cứu định tính. ................................................................. 51
Chương 4: BÀN LUẬN......................................................................................... 55
4.1. Thực trạng trầm cảm, lo âu và stress của phụ nữ đến chấm dứt thai kỳ tại Bệnh
viện Phụ sản Hà Nội. ......................................................................................... 55
4.2. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress của phụ nữ đến chấm
dứt thai kỳ tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. ......................................................... 61
4.4. Điểm mạnh và hạn chế của nghiên cứu. ...................................................... 70
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 73
1.Thực trạng trầm cảm, lo âu và stress của phụ nữ đến phá thai tại bệnh viện Phụ
sản Hà Nội năm 2021. ....................................................................................... 73
2.Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress của phụ nữ đến phá thai tại
bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021. ................................................................ 73
KHUYẾN NGHỊ ................................................................................................... 75
KẾ HOẠCH THỰC HIỆN .................................................................................... 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 77
Phụ lục 1: BỘ CÂU HỎI DÀNH CHO ĐỐI TƯỢNG PHỤ NỮ CHẤM DỨT THAI
KỲ TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI
Phụ lục 2: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU
Phụ lục 3: DANH SÁCH ĐỐI TƯỢNG THAM GIA NGHIÊN CỨU


vi

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT


BCS

Bao cao su

BCH

Bộ câu hỏi

BVPSHN

Bệnh viện Phụ sản Hà Nội

BPTT

Biện pháp tránh thai

DASS

Thang đánh giá trầm cảm, lo âu, stress (Depression, Anxiety and
Stress Scale)

ĐH

Đại học

QHTD

Quan hệ tình dục


RLTT

Rối loạn tâm thần

SĐH

Sau đại học

SAS

Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self-Rating Anxiety Scale)

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

WHO

World Health Organization


vii

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Tỷ lệ nạo/phá thai chia theo thành thị/nông thôn, 2007-2017 ................. 10
Bảng 1.2. Tỷ số phá thai và tỷ lệ mang thai ở tuổi vị thành niên năm 2011 - 2015 . 10

Bảng 1.3: Các mức độ đánh giá trong thang đo DASS – 21 ................................... 13
Bảng 2.1. Phân loại mức độ trầm cảm, lo âu và stress ............................................ 22
Bảng 2.2. Các biến số và chỉ số nghiên cứu ........................................................... 25
Bảng 3.1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu .............................. 30
Bảng 3.2. Thông tin về tiền sử sinh sản của đối tượng ........................................... 31
Bảng 3.3. Thông tin về tiền sử sinh sản của đối tượng ........................................... 31
Bảng 3.4. Thông tin về lần mang thai này của đối tượng ....................................... 32
Bảng 3.5. Biểu hiện cụ thể của rối loạn trầm cảm .................................................. 34
Bảng 3.6. Biểu hiện cụ thể của rối loạn lo âu ......................................................... 35
Bảng 3.7. Biểu hiện cụ thể của rối loạn stress ........................................................ 36
Bảng 3.8. Phân bố tỷ lệ Trầm cảm theo một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng
nghiên cứu ....................................................................................... 41
Bảng 3. 9. Phân bố tỷ lệ Trầm cảm theo đặc điểm sản khoa .................................. 42
Bảng 3.10. Phân bố tỷ lệ Trầm cảm theo một số đặc điểm khác của đối tượng nghiên
cứu .................................................................................................. 43
Bảng 3.11. Phân bố tỷ lệ Lo âu theo một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng
nghiên cứu ....................................................................................... 44
Bảng 3.12. Phân bố tỷ lệ Lo âu theo một số đặc điểm sản khoa của đối tượng nghiên cứu
...................................................................................................................... 45
Bảng 3.13. Phân bố tỷ lệ Lo âu theo một số đặc điểm khác của đối tượng nghiên cứu .. 46
Bảng 3.14. Phân bố tỷ lệ stress theo một số đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên
cứu ............................................................................................................... 48
Bảng 3.15. Phân bố tỷ lệ stress theo một số đặc điểm sản khoa của đối tượng nghiên cứu
...................................................................................................................... 49
Bảng 3.16. Phân bố tỷ lệ stress theo một số đặc điểm khác của đối tượng nghiên cứu ... 49
Bảng 3.17: Tương quan tuyến tính giữa trầm cảm – lo âu – stress và một số đặc điểm
khác được nghiên cứu....................................................................... 51


viii


DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1. Khung lý thuyết về trầm cảm, lo âu và stress của phụ nữ phá thai. ......... 18
Hình 3.1. Sự phân bố các mức độ nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress theo thang đo
DASS 21 .............................................................................................. 33
Hình 3.2. Tỷ lệ mắc các loại rối loạn trầm cảm, lo âu và stress trong đối tượng nghiên
cứu. ...................................................................................................... 37
Hình 3.3. Tỉ lệ trầm cảm, lo âu và stress trong đối tượng nghiên cứu. .................... 37
Hộp 1: Những biểu hiện cụ thể về thực thể của trầm cảm, lo âu và stress trong cuộc
sống thường ngày của phụ nữ phá thai ...................................................... 38
Hộp 2: Những biểu hiện cụ thể về cảm xúc của trầm cảm, lo âu và stress trong cuộc
sống thường ngày của phụ nữ phá thai ...................................................... 39
Hộp 3: Những biểu hiện cụ thể về rối loạn hành vi của trầm cảm, lo âu và stress trong
cuộc sống thường ngày của phụ nữ phá thai .............................................. 40
Hộp 4: Các yếu tố cá nhân tác động đến trầm cảm, lo âu và stress ......................... 51
Hộp 5: Các yếu tố gia đình tác động đến trầm cảm, lo âu và stress ........................ 52
Hộp 6: Các yếu tố văn hoá – xã hội tác động đến trầm cảm, lo âu và stress ........... 53
Hộp 7: Các yếu tố sinh sản tác động đến trầm cảm, lo âu và stress ........................ 54


1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấm dứt thai kỳ hay còn gọi là phá thai đang là một vấn đề sức khỏe sinh
sản phổ biến trên toàn cầu. Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ước
tính hàng năm có khoảng 211 triệu phụ nữ có thai, trong đó có đến 87 triệu trường
hợp mang thai ngoài ý muốn và tỷ lệ phá thai nói chung chiếm tới 25% [30]. Ước
tính của Tổng cục dân số ‒ kế hoạch hóa gia đình cũng cho thấy, mỗi năm, Việt
Nam có khoảng 1 triệu ca phá thai [25]. Những năm qua, nhờ có các chính sách
quyết liệt về kế hoạch hóa gia đình, tỷ lệ phá thai có chiều hướng giảm và đã hoàn

thành được mục tiêu đề ra, tuy nhiên lại có một thực tế đáng lo ngại song song với
đó là nhu cầu phá thai tăng lên ở nhóm người trẻ và tình trạng để thai to mới đi phá
[1],[7].
Phá thai, ngoài việc dẫn đến những hậu quả trên cơ quan sinh sản của người
phụ nữ như: tăng khả năng sinh non về sau, tăng nguy cơ ung thư vú, tăng nguy cơ
mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, thì những rối loạn tâm thần kèm theo
cũng là những vấn đề sức khỏe cần quan tâm như: trầm cảm, lo âu, các ý tưởng tự sát
[60],[48],[72]. Nhiều nghiên cứu đã kết luận những phụ nữ đã từng phá thai có thể
tăng nguy cơ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần khi cho thấy phụ nữ đã phá thai
tăng 81% nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần và gần 10% tỷ lệ các vấn đề sức
khỏe tâm thần được cho là do phá thai [73].
Những phụ nữ khi đến các cơ sở y tế để thực hiện thủ thuật chấm dứt thai kỳ,
họ phải trải qua những gánh nặng tâm lý tiêu cực về việc phải bỏ đi bào thai, về văn
hóa, chuẩn mực truyền thống liên quan đến việc phá thai và cả về những tác động của
việc phá thai đến sức khỏe sinh sản trong tương lai. Nghiên cứu các rối loạn tâm thần
thường gặp sẽ cung cấp thông tin cho các nhà chính sách, y, bác sĩ nhằm đưa ra các
chương trình tư vấn, điều trị thích hợp giúp giảm thiểu những gánh nặng về tinh thần
mà bệnh nhân phải chịu đựng về sau.
Trên thế giới, việc nghiên cứu về sức khỏe tâm thần trên đối tượng phụ nữ phá
thai chưa phổ biến, đa phần các nghiên cứu chỉ tập trung vào giai đoạn sau khi làm


2

thủ thuật. Trong khi đó, các nghiên cứu tiến hành theo dõi dọc đều chỉ ra rằng ở ngay
trước thời điểm phá thai, người phụ nữ có nguy cơ mắc các rối loạn tâm thần như
trầm cảm, lo âu cao hơn bất kỳ thời điểm nào sau đó [63],[54]. Bên cạnh đó, những
yếu tố về xã hội tác động đến vấn đề phá thai như: mang thai ngoài giá thú, lựa chọn
giới tính thai nhi, bất bình đẳng giới chưa được đề cập nhiều. Ở Việt Nam, khoảng
trống tri thức về vấn đề trầm cảm, lo âu và stress ở phụ nữ mang thai trước khi đi đến

quyết định chấm dứt thai kỳ vẫn đang tồn tại. Nhất là trên phụ nữ phá thai khi thai kỳ
đã ngoài 12 tuần, việc thực hiện thủ thuật chấm dứt thai kỳ tiềm ẩn nhiều tai biến,
ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người phụ nữ nói chung và sức khỏe tâm
thần nói riêng. Vì những lý do trên, tơi thực hiện đề tài: “Thực trạng nguy cơ trầm
cảm, lo âu và stress ở phụ nữ chấm dứt thai kỳ ngoài 12 tuần tại Bệnh viện Phụ
sản Hà Nội năm 2021”.


3

MỤC TIÊU
1. Mô tả thực trạng nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress ở phụ nữ chấm dứt thai
kỳ ngoài 12 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội năm 2021
2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến nguy cơ trầm cảm, lo âu và stress ở
phụ nữ chấm dứt thai kỳ ngoài 12 tuần tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội


4

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về trầm cảm, lo âu và stress.
1.1.1. Khái niệm
 Trầm cảm
Trầm cảm là một dạng rối loạn tâm thần (RLTT) thường gặp nhất trong các
dạng RLTT. Bệnh nhân luôn cảm thấy mệt mỏi, mất hi vọng vào tương lai, nghĩ rằng
thế giới xung quanh dường như lúc nào cũng u ám [21].
Trầm cảm có thể xuất hiện với góc độ là một phản ứng đáp lại tác động gây
stress nào đó hoặc một tình huống cuộc sống nặng nề, thường là sự mất mát của bản
thân: mất người thân, li hôn, …; khủng hoảng tài chính hoặc mất vai trị đã có (nghề

nghiệp, gia đình, …). Trầm cảm thường xuất hiện dưới dạng phàn nàn cơ thể. Nếu
phiền muộn và buồn bã là những phản ứng bình thường với một sự mất mát nào đó
thì trầm cảm lại khơng phải như vậy. Người có nỗi phiền muộn thì mong muốn tạo ra
sự thơng cảm và chia sẻ của người khác. Ngược lại, trầm cảm tạo ra sự thất vọng và
kích thích. Phiền muộn kèm theo tính tự trọng cịn ngun vẹn, trong khi đó trầm cảm
lại nổi lên cảm giác tội lỗi và không xứng đáng [2].
 Lo âu
Lo âu là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người, là cảm giác sợ hãi,
mơ hồ, khó chịu lan tỏa cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó. Lo
âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe dọa từ
bên trong hoặc bên ngồi cơ thể (những khó khăn, thử thách, đe dọa của tự nhiên
hoặc xã hội), từ đó giúp con người tìm ra được các giải pháp phù hợp để tồn tại và
phát triển [19].
Ernest Jones đã đưa ra các trạng thái lo âu như sau: sợ, kinh sợ, hoảng sợ, sợ
hãi và lo âu. Ơng mơ tả 2 nét khác nhau giữa sợ và lo âu:
-

Sợ nói chung được coi như sự đáp ứng với kích thích đe dọa từ bên ngồi
nguy hiểm có thực đang đến, vì vậy có tính sống cịn.


5

-

Ngược lại lo âu giống như sợ nhưng lại không có sự đe dọa rõ ràng. Khơng
cân xứng giữa kích thích bên ngồi và biểu hiện tâm lý, cơ thể.

Lo âu trở thành vấn đề sức khỏe đáng quan tâm khi xuất hiện không liên quan
tới một sự đe dọa nào hoặc mức độ lo âu không cân xứng với bất kỳ một đe dọa nào

và tồn tại kéo dài. Khi mà mức độ lo âu dẫn đến gây trở ngại rõ rệt các hoạt động
thường ngày, khi đó được gọi là lo âu bệnh lý.
 Stress
Stress là một thuật ngữ tiếng Anh bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”, có nghĩa
là “bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải
chịu đựng. Đến thế kỷ thứ 17 từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu, stress được chuyển sang
dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con
người gây ra một phản ứng căng thẳng [26].
Như vậy, chúng ta có thể xem stress như là sự đáp ứng của con người trước
một nhu cầu hoặc như một sự tương tác trong mối quan hệ giữa con người với môi
trường xung quanh. Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về
mặt tâm lý, sinh học và tập tính. Stress đặt con người vào q trình dàn xếp thích ứng
với môi trường xung quanh, tạo cho cơ thể một cân bằng mới sau khi chịu đựng những
tác động của mơi trường. Nói cách khác, stress bình thường đã góp phần làm cho cơ
thể thích nghi. Nếu đáp ứng của cá nhân với stress khơng đầy đủ, khơng thích hợp và
cơ thể không tạo ra được một cân bằng mới thì những chức năng của cơ thể ít nhiều
sẽ bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý cơ thể, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và sẽ tạo
ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [13].
1.1.2. Triệu chứng
Trầm cảm[19],[27]
Các triệu chứng của trầm cảm hết sức đa dạng cả về thực thể, tâm thần và hành
vi. Người bị trầm cảm có nhiều biểu hiện khác nhau về mức độ nghiêm trọng, tần số
và thời gian của các triệu chứng tùy thuộc vào từng cá nhân, bệnh tật cụ thể:
-

Buồn dai dẳng, lo lắng hoặc cảm giác “trống rỗng”.

-

Cảm giác tuyệt vọng hay bi quan.



6

-

Cảm giác tội lỗi, vô dụng hoặc bất lực.

-

Dễ bị kích thích, bồn chồn.

-

Mất quan tâm trong các hoạt động hoặc sở thích bao gồm hoạt động

tình

dục.
-

Mệt mỏi, giảm năng lượng.

-

Khó tập trung, ghi nhớ chi tiết và ra quyết định.

-

Mất ngủ, tỉnh táo vào buổi sáng sớm hoặc ngủ quá nhiều.


-

Ăn quá nhiều hoặc mất cảm giác ngon miệng.

-

Ý nghĩ tự tử hay tự tử.

-

Đau đầu, đau bụng hoặc rối loạn tiêu hóa.

Đối với những bệnh nhân nặng hơn cịn gặp khó khăn hay khơng thể thực hiện
những việc bình thường như đi ra ngồi, đi chợ hay đi học, gặp gỡ bạn bè, thăm người
thân, tiếp xúc với người khác, đặt biệt là với người khác giới.
Lo âu [8],[27]
Lo âu là một nhóm triệu chứng liên quan đến nhiều trạng thái khác nhau và
ban đầu bệnh nhân thường đi khám ở những chuyên khoa khác nhau như tim mạch,
hơ hấp, thần kinh… ít khi bệnh nhân đến thẳng chuyên khoa tâm thần. Biểu hiện của
lo âu có thể diễn ra một cách từ từ hoặc là đột ngột với nhiều biểu hiện lâm sàng khác
nhau. Có thể được nhận biết qua 2 nhóm biểu hiện sau:
- Biểu hiện về cảm xúc: sợ và lo lắng một cách quá mức trước những sự việc
không đáng lo, cảm giác rất sợ chết, khiếp sợ cái chết, có vấn đề về tập trung, chú ý
vào cơng việc, dễ bị kích thích, cảm thấy đứng ngồi không yên, cảm giác căng thẳng,
hay giật mình, hay nghĩ đến những điều nguy hiểm xảy ra với mình, cảm thấy đầu óc
mình trống rỗng, cảm thấy điều gì đó xấu sẽ xảy ra với mình.
- Biểu hiện về triệu chứng cơ thể: lo âu không chỉ là triệu chứng của cảm xúc
mà của tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể đều có thể bị ảnh hưởng và làm cho
cơ thể có những biểu hiện về triệu chứng cơ thể khác nhau. Lo âu gồm các triệu chứng

như: cơn nhịp tim nhanh, vã mồ hơi, khó chịu ở dạ dày hoặc cảm giác hoa mắt, chóng


7

mặt, hay phải đi tiểu hoặc hay phải đi ngoài, thở nhanh và nông, run tay chân và co
quắp tay chân, căng cơ, đau đầu, mệt mỏi và mất ngủ. Chính vì các triệu chứng này
mà bệnh nhân dễ bị chẩn đốn nhầm với những bệnh lý khác và khơng được điều trị
đúng chuyên khoa, hoặc phải mất thời gian dài mới có thể gặp được đúng thầy thuốc
chuyên khoa tâm thần.
Stress [10],[13]
Stress bình thường là một tình huống stress nhẹ, đối tượng chịu đựng được và
là phản ứng thích nghi tốt. Stress bệnh lý thường được hình thành từ những stress
quen thuộc, lặp đi lặp lại như trong trường hợp bệnh nhân có những xung đột hoặc
gặp những phiền nhiễu, không toại nguyện trong đời sống hằng ngày… Stress bệnh
lý có biểu hiện rất đa dạng và thay đổi tùy theo sự ưu thế về mặt tâm lý, cơ thể hay
về mặt tập tính.
- Các biểu hiện biến đổi tâm lý, tâm thần, bao gồm: chủ thể phản ứng q
mức với hồn cảnh như dễ nổi cáu, có cảm giác khó chịu, căng thẳng về tâm lý, mệt
mỏi về trí tuệ và khơng thư giãn được; rối loạn giấc ngủ như khó ngủ, hay thức giấc
và khơng có cảm giác hồi phục sau giấc ngủ.
- Các biểu hiện về cơ thể: chủ thể thường có những rối loạn về thần kinh thực
vật ở mức độ vừa. Những rối loạn này tăng lên khi chủ thể hồi tưởng về các tình
huống stress mà mình đã phải chịu đựng. Một số biểu hiện rối loạn tâm thần và chức
năng cơ thể như: trạng thái suy nhược kéo dài; căng cơ bắp (chuột rút), run tay chân,
đổ mồ hôi; nhức đầu, đau nữa đầu, đau cột sống kéo dài, dai dẳng; đánh trống ngực,
đau vùng trước tim và huyết áp tăng không ổn định; có biểu hiện bệnh lý đại tràng
chức năng và đau bàng quang với nước tiểu trong…
- Các biểu hiện về tập tính: tình huống stress có thể ức chế hoặc kích thích
tập tính của bệnh nhân. Những rối loạn chức năng thích nghi của tập tính được biểu

hiện trong rối loạn hành vi. Các rối loạn hành vi xảy ra do thái độ rút lui, tránh né các
quan hệ xã hội hoặc ngược lại, do những xung động, mức kiềm chế, dẫn đến sự khó
khăn trong giao tiếp của bệnh nhân. Có người thay đổi hẳn tính cách, làm cho người
khác khơng nhận ra hoặc có những băn khoăn, suy nghĩ về nhân cách của họ. Các rối


8

loạn tập tính lúc đầu chỉ gây ra khó chịu, về sau nó phát triển và gây ra những tổn
thương, làm trở ngại cho cơng việc của bệnh nhân. Có một số người dùng chất kích
thích như rượu, thuốc để làm dịu những căng thẳng, lo âu nhưng sau đó do bản thân
chất kích thích lại là chất gây lo âu nên bắt buộc họ phải tăng dần liều sử dụng. Hành
vi cứ như vậy lặp đi lặp lại, tăng dần, đưa chủ thể vào một vịng xốy đáng sợ của
nghiện rượu, thuốc. Những rối loạn tập tính nghiện này không thể không ảnh hưởng
đến các quan hệ xã hội của chủ thể.
1.2. Phá thai
1.2.1. Một số khái niệm và định nghĩa [15],[18]:
Phá thai là chủ động sử dụng các phương pháp khác nhau để chấm dứt thai
trong tử cung cho thai đến hết 22 tuần tuổi. Trong nghiên cứu này, tôi sử dụng thuật
ngữ “chấm dứt thai kỳ” thay cho thuật ngữ “phá thai”.
Phá thai bằng phương pháp ngoại khoa: Sử dụng các thủ thuật qua cổ tử cung
để chấm dứt thai kỳ, bao gồm hút chân không, nong và gắp.
Phá thai bằng thuốc: Sử dụng thuốc để gây sẩy thai. Đôi khi thuật ngữ “phá
thai nội khoa” cũng được sử dụng để mô tả thủ thuật này.
Tuổi thai: Số ngày hoặc số tuần tính từ ngày đầu tiên của kỳ kinh cuối cùng
đến khi đình chỉ thai nghén (chu kỳ kinh bình thường).
1.2.2 Thực trạng phá thai.
 Trên thế giới.
Trên toàn thế giới, theo một nghiên cứu mới của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
và Viện Guttmacher đã cơng bố tại tạp chí The Lancet, 25 triệu ca nạo phá thai khơng

an tồn (chiếm đến 45% số ca nạo phá thai) đã xảy ra hàng năm giữa các năm từ 2010
đến 2014. Phần lớn những trường hợp phá thai khơng an tồn, hay 97%, xảy ra ở các
nước đang phát triển ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh đe dọa tính mạng khoảng
24 triệu phụ nữ [33].
Một nghiên cứu sử dụng số liệu thu thập trong giai đoạn 2010 ‒ 2014 trên toàn
thế giới đã chỉ ra có tới 44% trong số 227 triệu thai kỳ hàng năm trên thế giới là không
mong muốn, và trong số đó 56% chấm dứt bằng việc phá thai, 32% sinh không theo


9

kế hoạch, và 12% trong sẩy thai. Phá thai không an toàn cũng là tác nhân gây ra 8 11% số ca tử vong mẹ toàn cầu và xảy ra chủ yếu ở các quốc gia có thu nhập thấp và
trung bình, nơi các chính sách truy cập hạn chế nhất và các yếu tố kinh tế xã hội tiếp
tục ảnh hưởng đến việc tiếp cận này. Các số liệu cũng cho thấy tỷ lệ các ca phá thai
đạt tiêu chuẩn an toàn trên 90% đều tập trung ở những vùng phát triển, trong đó, cao
nhất là Bắc Mỹ (99%), theo sau là Bắc Âu (98%), Tây Âu (94%) và Nam Âu (91%).
Ngược lại, chỉ có 3 khu vực đang phát triển đạt tỷ lệ số ca phá thai an tồn trên 50%
là Đơng Nam Á (60%), Tây Á (52%) và Nam Phi (74%) [29].
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, mặc dù có sự gia tăng sử dụng biện pháp tránh
thai trong vòng 30 năm qua, nhiều phụ nữ ở các vùng vẫn không tiếp cận với các
phương pháp tránh thai hiện đại. Chẳng hạn vùng sa mạc Sahara ở Châu Phi, cứ bốn
thì có một phụ nữ trong giai đoạn muốn trì hỗn hoặc ngừng sinh đẻ nhưng lại khơng
sử dụng bất kỳ phương pháp kế hoạch hóa gia đình nào.
Bên cạnh đó, trẻ vị thành niên khi mang thai sẽ có nhiều khả năng xảy ra phá
thai khơng an tồn hơn người lớn. Ước tính có khoảng ba triệu ca nạo phá thai khơng
an tồn xảy ra hàng năm ở các trẻ gái từ 15-19 tuổi. Phá thai khơng an tồn đóng
góp đáng kể cho các vấn đề sức khỏe lâu dài và tử vong mẹ. Và mặc dù đã có tiến
bộ trong việc giảm tỷ lệ phá thai ở thanh thiếu niên, nhưng đã có hơn 15 triệu ca
phá thai trong số 135 triệu trẻ gái sinh sống trên toàn thế giới ở lứa tuổi từ 15-19
[32].

 Tại Việt Nam.
Tại Việt Nam, phá thai đang có chiều hướng đi xuống sau các nỗ lực về kế
hoạch hóa gia đình, tuy nhiên chênh lệch vùng miền cịn khá rõ rệt khi mà thành thị
và những tỉnh miền Bắc có tỷ lệ cao gấp 2 lần nơng thơn và các tỉnh Trung bộ và Nam
bộ.


10

Bảng 1.1: Tỷ lệ nạo/phá thai chia theo thành thị/nông thôn, 2007-2017

Nguồn: Tổng cục thống kê, Điều tra biến động dân số và KHHGĐ 1/4/2013[1]
Cũng theo báo cáo của Bộ y tế, tỷ số phá thai có giảm theo thời gian. Tuy vậy,
có một thực tế đáng lo ngại là tỷ lệ mang thai tuổi vị thành niên lại giảm một cách
không đáng kể.
Bảng 1.2. Tỷ số phá thai và tỷ lệ mang thai ở tuổi vị thành niên năm 2011 – 2015
Chỉ tiêu
Tỷ số phá thai

Cách tính

2011
Số ca phá thai/ 100 trẻ sinh 25.44

Năm
2012 2013
17,94 17,45

2014
18,2


ra sống (%)
Tỷ lệ mang thai ở Trên 1000 nữ 15 – tuổi

46

45

tuổi vị thành niên
Nguồn: Bộ Y tế, Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2016[17].
1.3. Một số yếu tố liên quan đến trầm cảm, lo âu và stress.
Giống như các rối loạn tâm thần khác, mặc dù nhiều nghiên cứu đã cung cấp
một số dữ liệu nhưng cho đến nay khoa học vẫn chưa tìm ra được ngun nhân chính
xác gây ra stress, lo âu, trầm cảm. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu đã chỉ ra được các yếu
tố liên quan đến các rối loạn đó. Gồm các nhóm yếu tố sau [27]:
- Các đặc điểm cá nhân: tuổi, giới tính, cân nặng, tình trạng bệnh tật, tính
cách, suy nghĩ, trình độ học vấn, lối sống…


11

- Gia đình: di truyền, số người trong gia đình, mối quan hệ giữa các thành
viên, tình trạng về kinh tế, vật chất…
- Môi trường xã hội: an ninh trật tự, tình hình chính trị, văn hóa, kinh tế…
- Nơi làm việc: các mối quan hệ trong công việc, văn hóa tổ chức, mơi trường
làm việc, cơ sở vật chất, trang thiết bị, khối lượng công việc, các nguy cơ gặp phải
trong cơng việc, vị trí, chức danh …
- Mơi trường tự nhiên: thiên tai, thời tiết, tiếng ồn, nhiệt độ, giao thông, bụi,
sự ô nhiễm…
1.4. Giới thiệu về một số thang đo sức khỏe tâm thần.

Hiện nay, trên thế giới có nhiều bộ cơng cụ được sử dụng để đánh giá các vấn
đề SKTT. Có thể kể đến một số bộ công cụ được dùng nhiều trong các nghiên cứu
khoa học cũng như được ứng dụng trong lâm sàng giúp hỗ trợ chẩn đoán như: thang
tự đánh giá lo âu của Zung (SAS), thang đánh giá lo âu của Beck (BID − A), thang
đánh giá trầm cảm Hamilton (HAMD), thang đánh giá trầm cảm của Beck (BID −
D), thang đánh giá lo âu trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện HADS (Hospital
Anxiety and Depression Scale), thang đánh giá stress, lo âu, trầm cảm của Lovibond
(DASS 42 và DASS 21)…[23]
- Thang tự đánh giá lo âu của Zung (Self Rating Anxety Scale)[67]: do W.W.
Zung (1971) đề xuất, lấy thông tin trực tiếp từ bệnh nhân, là một test khách quan,
định lượng hóa và chuẩn hóa, sử dụng nhanh, được WHO thừa nhận là một test đánh
giá trạng thái lo âu. Test gồm 20 câu hỏi dành cho bệnh nhân tự đánh giá, đánh số thứ
tự theo cột dọc từ 1 đến 20, cột ngang đánh giá 4 mức tần suất xuất hiện triệu chứng
theo thời gian:
1 điểm: Khơng có hoặc ít thời gian

3 điểm: Phần lớn thời gian

2 điểm: Đôi khi

4 điểm: Hầu hết hoặc tất cả thời gian

Kết quả được đánh giá theo 2 mức:
T < 50%: Không có lo âu bệnh lý
T ≥ 50%: Có lo âu bệnh lý
- Thang đánh giá lo âu trầm cảm trên bệnh nhân tại bệnh viện HADS (Hospital


12


Anxiety and Depression Scale)[66]: là thang đo thường được sử dụng để đánh giá các
trạng thái lo âu, trầm cảm với bệnh nhân bị mắc các bệnh chính khác, thường là các
bệnh lý mạn tính điều trị tại bệnh viện. HADS gồm 14 câu hỏi tự báo cáo những triệu
chứng của chính bệnh nhân trong thời gian tuần kế trước, bao gồm 7 câu đánh giá lo
âu (HADS - A) và 7 câu cho trầm cảm (HADS - D). Mỗi câu hỏi có 4 lựa chọn theo
các mức độ tương ứng từ 0 - 3. Sau khi tính tổng điểm cho mỗi phần, điểm từ 11 trở
lên chỉ ra sự có mặt của 1 rối loạn lo âu hay trầm cảm thực sự, khoảng điểm từ 8 - 10
được coi như một gợi ý có thể có triệu chứng của lo âu hay trầm cảm, từ 0 - 7 điểm
là bình thường.
Ngồi ra cịn có các thang đánh giá khác như thang Beck, thang HAMD, …
-

Thang đánh giá trầm cảm, lo âu và stress (Depression, Anxiety and Stress
Scale - DASS):

Năm 1995, Lovibond S.H và Lovibond P.F tại khoa Tâm lý học, đại học New
South Wales (Australia) đã thiết kế nên thang đánh giá ba rối loạn tâm thần phổ biến
là stress, lo âu, trầm cảm ký hiệu là DASS 42. Đến năm 1997, cũng chính nhóm các
nhà khoa học này lại cho ra đời thang đo DASS 21, đây là phiên bản rút gọn của
DASS 42 nhằm tạo sự tiện lợi hơn cho người dùng. DASS 42 thích hợp trong lâm
sàng, cịn DASS 21 lại thích hợp cho nghiên cứu. Các nghiên cứu cần thiết đã được
tiến hành và khẳng định sự nhất quán giữa phiên bản DASS 42 và DASS 21
[28],[47],[57].
Thang đo DASS 42 và DASS 21 kết hợp được cả hai yếu tố lâm sàng và xã
hội, là những yếu tố cần thiết cho một nghiên cứu. Các nội dung được đề cập trong
DASS khơng hẳn có ý nghĩa chẩn đoán phân biệt bệnh nhân như các triệu chứng được
đưa ra trong hướng dẫn phân loại quốc tế bệnh tật lần thứ 10 (ICD 10), mà mục đích
của nó là đưa ra một thực trạng trong quần thể nghiên cứu giúp cho nhà quản lý nhân
lực có những chính sách để cải thiện, nâng cao hiệu suất nguồn nhân lực. Đồng thời
khuyến cáo những đối tượng nghiên cứu nếu gặp phải những vấn đề được liệt kê trong

DASS một cách thường xuyên và ở mức độ nặng thì nên tìm sự giúp đỡ từ các chuyên
gia tâm lý [24].
Thang đo DASS 21 đã được Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia biên dịch, thử


13

nghiệm trên một số đối tượng khác nhau. Thang đo DASS 21 đã được nhiều nghiên
cứu đánh giá về tính giá trị và độ tin cậy và khẳng định có thể thể áp dụng tại Việt
Nam, khơng có sự khác biệt về mặt văn hóa [22],[64]. Từ những lý do trên tôi đã
chọn thang đo DASS 21 để sử dụng cho nghiên cứu của mình.
DASS 21 gồm 21 tiểu mục chia thành 03 nhóm, mỗi nhóm gồm 07 tiểu mục.
Mỗi tiểu mục là một mô tả về triệu chứng thực thể hoặc tinh thần. Điểm cho mỗi tiểu
mục là từ 0 đến 03 điểm, tùy thuộc mức độ và thời gian xuất hiện triệu chứng:
 0 điểm - không đúng chút nào cả
 01 điểm - đúng phần nào, hoặc thỉnh thoảng mới đúng
 02 điểm - đúng phần nhiều, hoặc phần lớn thời gian là đúng
 03 điểm - hoàn toàn đúng hoặc hầu hết thời gian là đúng.
Sau khi cộng tổng điểm của từng nhóm 07 tiểu mục, kết quả thu được sẽ nhân
với 02, khi đó DASS 21 sử dụng bảng đánh giá mức độ dưới đây:
Bảng 1.3: Các mức độ đánh giá trong thang đo DASS – 21
Mức độ

Trầm cảm

Lo âu

Stress

Bình thường


0–9

0–7

0 - 14

Nhẹ

10 – 13

8–9

15 – 18

Vừa

14 – 20

10 – 14

19 – 25

Nặng

21 – 27

15 – 19

26 - 33


Rất nặng

≥ 28

≥ 20

≥ 34

Sau khi đối chiếu điểm số thu được với bảng trên, kết quả sẽ cho biết tình trạng
stress, lo âu, trầm cảm đang ở mức độ nào: bình thường, nhẹ, vừa, nặng, rất nặng.
1.5. Một số nghiên cứu về stress, lo âu, trầm cảm ở phụ nữ phá thai
1.5.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Hiện nay, các vấn đề sức khỏe tâm thần đang càng ngày càng được quan tâm
nhiều hơn. Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về trầm cảm, lo âu và stress theo
nhiều hướng và trên nhiều đối tượng khác nhau như: công nhân, học sinh - sinh viên,
nhân viên lái xe buýt, cựu chiến binh...[35],[39],[56].


14

Tổ chức Y tế Thế giới đã xếp sức khỏe tâm thần là một trong mười vấn đề sức
khỏe và trầm cảm là vấn đề về sức khoẻ tâm thần phổ biến nhất, tự tử cũng chính là
nguyên nhân gây tử vong hàng đầu cho phụ nữ dưới 60 tuổi [31],[34]. Có nhiều yếu
tố khiến cho tỷ lệ này ở nữ giới cao hơn nam giới mà phần nhiều là do các vấn đề liên
quan đến sinh sản.
Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy mối liên hệ đáng kể giữa sức khoẻ
tâm thần và việc chấm dứt thai kỳ của người phụ nữ. Một nghiên cứu trên các phụ nữ
từ 13 ‒ 49 tuổi tại thời điểm phá thai hoặc sinh con vào năm 1989 đã cho thấy những
phụ nữ từng phá thai có nguy cơ cao hơn đáng kể về việc nhập viện tâm thần so với

những phụ nữ chưa từng phá thai. Sự khác biệt đáng kể giữa các loại chẩn đốn bệnh
tâm thần được tìm thấy trong rối loạn tâm thần trầm cảm tái diễn (OR 2,1; KTC 95%
1,3 ‒ 3,5) và rối loạn lưỡng cực (OR 3,0; KTC 95% 1,5 ‒ 6,0). Sự khác biệt đáng kể
cũng được quan sát thấy khi kết quả được phân tầng theo độ tuổi [58]. Cũng về tiền
sử phá thai, một nghiên cứu thuần tập ở Trung Quốc về tác động của lần phá thai
trước đó đối với các triệu chứng trầm cảm và trầm cảm thực sự trong thai kỳ tiếp theo
đã cho thấy phụ nữ có tiền sử phá thai được cho là có nhiều khả năng trầm cảm hơn
(OR = 1,543, KTC 95% = 1.055- 254) và lo âu hơn (OR = 2.142, 95% CI = 1.2943.561) trong ba tháng đầu tiên so với những người khơng có lịch sử phá thai [76].
Hậu quả của trầm cảm khi mang thai cũng được đề cập trong một vài nghiên cứu.
Theo một nghiên cứu dọc ở 1 bệnh viện Pháp, tỷ lệ sinh non tự nhiên ở những người
phụ nữ có điểm trầm cảm cao (9,7%) nhiều hơn đáng kể so với những phụ nữ khác
(4,0%) ngay cả sau khi điều chỉnh các yếu tố gây nhiễu tiềm ẩn (điều chỉnh OR =
3,3, KTC 95% = 1,2 ‒ 9,2, p = 0,020) [52].
Trên thực tế, phá thai là một cấu phần quan trọng và phổ biến của chăm sóc
sức khỏe sinh sản và tình dục, nhưng các chuẩn mực xã hội và kỳ thị ảnh hưởng đến
việc ra quyết định của phụ nữ và tạo ra rào cản đối với việc chăm sóc phá thai an tồn
cũng như tâm lý của người phụ nữ đến phá thai. Nghiên cứu của tác giả Shelly
Makleff và cộng sự vào năm 2017 đã tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc trên 34 người
phụ nữ tại hai quốc gia Kenya và Ấn Độ nhằm tìm hiểu nỗi sợ hãi liên quan đến phá


15

thai và nhận thức về sự kỳ thị của những phụ nữ đã sử dụng dịch vụ phá thai. Nghiên
cứu đã giúp làm sáng tỏ cách các chuẩn mực xã hội và sự kỳ thị khi phá thai ảnh
hưởng đến nhận thức của phụ nữ về phá thai ở Kenya và Ấn Độ, bao gồm việc họ kỳ
vọng thấp về sự chăm sóc khi làm thủ thuật và lo ngại về việc bị đối xử bất cơng trong
suốt q trình trước, trong và sau khi phá thai. Nhận thức của phụ nữ về việc cộng
đồng không tán thành việc phá thai có thể bắt nguồn từ các chuẩn mực xã hội địa
phương liên quan đến tôn giáo, quyền làm mẹ, trách nhiệm tránh thai và quan hệ tình

dục, đặc biệt, vấn đề này trầm trọng hơn đối với phụ nữ trẻ và chưa kết hôn. Những
câu chuyện tiêu cực mà phụ nữ nghe được trong cộng đồng của họ, sự bí mật nhưng
bằng cách nào đó được “cơng khai” xung quanh việc phá thai, sự kỳ thị trong nhận
thức và nỗi sợ hãi liên quan đến các biện pháp kỳ thị khi phá thai đều là những yếu
tố góp phần khiến họ thấp thỏm và lo sợ. Những phát hiện này có ý nghĩa đối với
thực tiễn, nêu bật tầm quan trọng của việc phát triển các chiến lược có thể được điều
chỉnh cho các bối cảnh khác nhau để giải quyết nỗi sợ hãi của phụ nữ khi bị đánh giá
và giúp phụ nữ đối phó với sự kỳ thị trong cộng đồng của họ. Nghiên cứu cũng chỉ ra
cần có những phương pháp tiếp cận phù hợp với các tổ chức cung cấp dịch vụ có thể
bao gồm truyền đạt thông tin rõ ràng về quyền được chăm sóc, đảm bảo các dịch vụ
thân thiện với thanh niên hoặc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho những phụ nữ chọn
khơng tiết lộ việc phá thai của mình cho gia đình và bạn bè và do đó tránh việc cảm
thấy bị cơ lập. Nghiên cứu cũng có một số điểm yếu do cách chọn mẫu nên nghiên
cứu chỉ tuyển được các đối tượng phá thai từ các cơ sở y tế tư nhân nên bị thiếu đi
những đối tượng phá thai ở các cơ sở y tế nhà nước, bên cạnh đó, nghiên cứu cũng
chỉ tiến hành được trên số ít đối tượng là phụ nữ trẻ nên kinh nghiệm rút ra được ở
đối tượng này còn hạn chế[77]. Từ kết quả của nghiên cứu này cho thấy, những vấn
đề tâm thần của người phụ nữ đi phá thai chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố, từ nhận
thức của chính bản thân đối tượng đến sự kỳ thị về mặt văn hóa – xã hội.
Một nghiên cứu mơ tả cắt ngang hồi cứu sử dụng phương pháp định tính qua
một bản khảo sát mở trên Web đã được tiến hành trên 10 đối tượng. Những phụ nữ
tham gia đã trả lời các câu hỏi mở và đưa ra những mức độ tự báo cáo hồi cứu về


×