Tải bản đầy đủ (.pdf) (25 trang)

Lẽ công bằng nguồn của pháp luật dân sự việt nam (tóm tắt)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.79 MB, 25 trang )

Cơng trình được hồn thành
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Người hướng dân khoa học: TS. TRAN KIEN

Phản biện 1: PGS.TS BÙI ĐĂNG HIẾU
Phản biện 2: TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG TRÂM

Luận văn được bảo vệ tại Hội đông châm luận văn, họp
tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vào hồi 8 giờ 30 phút, ngày 30 tháng 6 năm 2022

Có thể tìm hiểu luận văn tại
Trung tâm tư liệu Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm tư liệu - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội





MỤC LỤC CỦA LUẬN VĂN
Trang

Trang phụ bìa
Lời cam đoan

Mục lục
Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VÈ NGUỒN CỦA PHÁP


LUẬT DÂN Sự.................................................................................5

1.1.

Nguồn của pháp luật Dân sự........................................................... 5

1.1.1. Nguồn của pháp luật............................................................................ 5

1.1.2. Nguồn của pháp luật Dân sụ Việt Nam............................................ 10

1.2.

Lý thuyết về lẽ công bằng.............................................................. 18

1.2.1. Quan điểm về công lý, lẽ công bằng................................................. 18
1.2.2. Khái niệm về cơng lý.........................................................................24

1.2.3. Các hình thức tồn tại của công lý..................................................... 26

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÈ LẼ CƠNG BẰNG........ 32

2.1.

Q trình hình thành và phát triển công lý, lẽ công bằng ỏ’

Việt Nam.......................................................................................... 32
2.1.1. Cơng lí, lẽ cơng bằng trong pháp luật thời phong kiến....................33
2.1.2. Tư tưởng về cơng lí, cơng bằng trong pháp luật cận đại..................39

2.2.


Pháp luật hiện hành về lẽ công bằng........................................... 42

2.2.1. Khái niệm Lẽ công bằng................................................................... 44
2.2.2. Nguyên tắc áp dụng Lẽ công bàng................................................... 45

2.2.3. Điều kiện áp dụng lẽ công bàng........................................................50
2.2.4. Thẩm quyền áp dụng lẽ công bằng................................................... 51
2.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng lẽ công bằng............................ 53
2.2.6. Hệ quả pháp lý của việc áp dụng lẽ công bằng................................ 55
1


CHƯƠNG 3: THựC TRẠNG ÁP DỤNG LẼ CÔNG BẰNG VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT

VÈ ÁP DỤNG LẼ CƠNG BẰNG................................................. 56
3.1.

Thực trạng áp dụng dung lẽ cơng bằng....................................... 56

3.1.1. Áp dụng lẽ công bằng trên cơ sở Án lệ.......................................... 56
3.1.2. Áp dụng lẽ công bằng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án.................. 61
3.1.3. Áp dụng lẽ công bằng trong một số trường họp thực tiễn............. 71

3.2.

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về áp dụng lẽ
cơng bằng......................................................................................... 72


3.2.1. u cầu hồn thiện quy định pháp luật về lẽ công bằng................. 72
3.2.2. Một số kiến nghị nhàm nâng cao hiệu quả thực hiện về áp dụng

lẽ công bằng....................................................................................... 73

KẾT LUẬN................................................................................................ 80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................ 81

2


MỞ ĐẦU
Tính câp thiêt của đê tài và tình hình nghiên cứu
l.
Ngày nay, cùng với q trình tồn cầu hóa, hội nhập hóa đặt ra
những u cầu, địi hỏi các quốc gia luôn luôn vận động, phát triển để bắt

kịp các xu thế mới trên thế giới. Cùng với sự phát triển của kinh tế - xã

hội, pháp luật đóng một vai trò rất quan trọng tạo tiền đề phục vụ việc hội

nhập, tham gia sân chơi chung với các quốc gia lớn trên thế giới, và Việt
Nam cũng không nằm ngoại lệ. Ý thức được tầm quan trọng của pháp luật

trong quá trình phục vụ hội nhập quốc tế, nhất là các vấn đề liên quan đển

Dân sự nói chung, kinh doanh, thương mại ... nói riêng, Việt Nam đang
từng bước có những thay đổi tích cực để hịa mình vào dịng chảy chung.


Tuy nhiên, đe áp dụng được những chính sách mới vào thực tiễn thì địi
hỏi rất nhiều yếu tố, trong đó, yếu tố quan trọng nhất và là thay đổi tư duy

con người. Trong quá trình nghiên cứu Bộ Luật Dân sự, cũng như thực
tiễn làm việc, Bộ Luật Dân sự 2015 đã có những thay đổi hết sức tích cực

so với Bộ Luật Dân sự 2005 nhưng để áp dụng đi vào thực tiễn thì chưa đế

lại được những dấu ấn rõ nét.
Bộ Luật Dân sự 2005 quy định về nguồn luật được áp dụng để giải

quyết các vấn đề dân sự bao gồm: Bộ Luật Dân sự, Điều ước quốc tế mà Việt
Nam là thành viên, tập quán pháp, tương tự pháp luật. Theo xu thế chung của

thế giói, Bộ Luật Dân sự 2015 đã có những sửa đổi, bổ sung hơn về nguồn áp
dụng pháp luật so với Bộ Luật Dân sự 2005. Ngoài nhũng nguồn luật được

quy định cũ, Bộ Luật Dân sự 2015 cịn quy định thêm hai nguồn khác đó là

án lệ và lẽ công bằng. Ngày 28 tháng 10 năm 2015, Hội đồng thẩm phán Tòa
án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số: 03/2015/NQ-HĐTP về quy
trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Ngày tháng 4 năm 2015, có bốn án

lệ về dân sự đầu tiên được thơng qua. Từ đó đến nay, đã có tổng số 34 án lệ

3


về dân sự đã được thông qua và áp dụng trong thực tiễn giải quyết các tranh


chấp. Từ khi Bộ Luật Dân sự 2015 có hiệu lực đến nay đã bắt đầu xuất hiện
các bản án nhắc đến cụm từ lẽ công bằng và sử dụng lẽ công bàng với tư

cách là một nguồn luật áp dụng. Theo một số liệu thống kê khơng chính thức,
hiện nay có hơn 20 bản án có áp dụng lẽ cơng bằng. Tuy nhiên, việc áp dụng

lẽ công bằng vẫn chưa được hướng dẫn chi tiết, cụ thể, gây nhiều vướng mắc

cho các thẩm phán trong thực tiễn xét xử. Hiện nay, cũng chưa có nhiều cơng

trình nghiên cúu, bài viết liên quan đến nội dung này, bởi đây là một quy
định hết sức mới mẻ. Tuy đã được hình thành từ thời La Mã cổ đại, nhưng
hiện nay, quy định này chỉ được áp dụng rộng rãi đối với các quốc gia có hệ

thống pháp luật Anh - Mỳ (hệ thống Common Law). Nó như một làn gió

mới, thổi vào hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Civil Law), qua quá trình
phát triển theo xu hướng chung của xã hội.
Với mục đích nghiên cúu sâu hơn về nguồn áp dụng pháp luật “lẽ
công bằng”, tôi lựa chọn đề tài: “£ẽ công bằng — nguồn của pháp luật dân

sự Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sỹ luật học với mong

muốn sẽ góp phàn hồn thiện hơn nữa các quy định liên quan đến lẽ công

bằng nhằm khẳng định tàm quan trọng của một trong những nguồn áp dụng
pháp luật dân sự.

2. Phạm vi và mục đích nghiên cứu
Lẽ cơng bằng là một nội dung hết sức mới mẻ trong quy định của


pháp luật Viện Nam. Trong khuôn khố luận văn thạc sỹ, phạm vi nghiên
cún bao gồm lý thuyết chung về lẽ công bằng, cũng như nghiên cún các

quy định về lẽ công bằng qua các thời kỳ của Việt Nam.
Thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi, mục đích người nghiên
cứu muốn tìm ra những quy định của thể hơn nữa đế việc áp dụng lẽ cơng
bằng có thể được sử dụng phổ biến, rộng rãi trong quá trình giải quyết
tranh chấp về dân sự tại Việt Nam.

4


3. Nhiệm vụ nghiên cứu đê tài
Để có thể đạt được mục đích đặt ra khi nghiên cứu đề tài, đòi hỏi

luận văn phải giải quyết các vấn đề sau:
Thứ nhất, trình bày lý thuyết chung về lẽ cơng bằng với tư cách là
một nguồn của pháp luật dân sự, nêu lên những quan điểm của những học

giả, luật gia ... có nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này.
Thứ hai, phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật dân sự Việt

Nam về lẽ công bằng qua các thời kỳ.
Thứ ba, nêu và phân tích thực trạng thi hành pháp luật Việt Nam về

áp dụng lẽ công bằng. Trên cơ sở đó phân tích ngun nhân của thực trạng
trên và đưa ra các giải pháp, đề xuất để đảm bảo tốt việc thực hiện những

quy định về áp dụng lẽ công bằng tại Việt Nam hiện nay.


4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy

vật lịch sử của chủ nghĩa Mac - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối

quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam. Theo đó, người viết đặt ra vấn đề
tiếp cận với những sự liên kết chặt chẽ về quá trình hình thành, phát triển
tư duy về lẽ công bàng, đưa ra sự so sánh đối với các hệ thống pháp luật
trên thế giới.

Một số phương pháp nghiên cứu chủ yếu được áp dụng:

Phương pháp phân tích, phương pháp diễn giải: Những phương pháp
này được sử dụng phố biến trong việc làm rõ lý thuyết chung về lẽ công bằng.
Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh: Những phương pháp
này được người viết vận dụng đế đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp
luật hiện hành có hợp lý hay khơng, đồng thời nhìn nhận trong mối tương

quan so với quy định liên quan hoặc pháp luật của các nước khác ...
5


Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch: Được vận dụng đề
triển khai có hiệu quả các vấn đề liên quan khi sử dụng lẽ công bằng, đặc

biệt là các kiến nghị hoàn thiện. Cụ thể như trên cơ sở đưa ra những kiến

nghị mang tính khái quát, súc tích người viết dùng phương pháp diễn dịch

để làm rõ nội dung của kiến nghị đó ...

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả đạt được của luận văn góp phần làm sáng tỏ phương diện lý
luận trong khoa học pháp lý của vấn đề về lẽ công bằng: Củ thể:

Xây dựng và đưa ra những tiêu chí cơ bản để xác định về lẽ cơng

bằng. Phân tích tình trang áp dụng lẽ cơng bằng hiện nay, chỉ ra những bất
cập của pháp luật và đưa ra phương hướng hồn thiện để có thể áp dụng lẽ

cơng bằng là một nguồn áp dụng pháp luật một cách rộng rãi tại Việt Nam.
Ngoài ra, nhừng giải pháp hoàn thiện pháp luật là cơ sở để các cơ

quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, bổ sung và hồn thiện pháp luật.
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích khơng chỉ với đội
ngũ giảng viên, sinh viên mà cịn có giá trị đối với các cán bộ đang làm

công tác giải quyết tranh chấp, xét xử ở Việt Nam.

6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung

chính của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:

Chương 1: Khái quát chung về nguồn của pháp luật Dân sự.
Chương 2'. Pháp luật Việt Nam về lẽ công bằng.


Chương 3: Thực trạng áp dụng lẽ công bằng và một số giải pháp
nhằm hoàn thiện pháp luật về áp dụng lẽ công bằng.

6


Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VÈ NGUỒN CỦA PHÁP LUẬT DÂN sự
1.1. Nguôn của pháp luật Dân sự

1.1.1. Nguồn của pháp luật
Mặc dầu cịn có khá nhiều quan niệm khác nhau về nguồn pháp luật

(khái niệm, phân loại) nhưng qua thực tiễn pháp luật và từ phương diện lý
luận có thể nêu khái niệm chung về nguồn pháp luật như sau:

Nguồn pháp luật là những hình thức chính thức thê hiện qua quy tắc
bắt buộc chung được nhà nước thừa nhận có giá trị pháp luật đe áp dụng

vào việc giải quyết các vụ việc trong thực tiễn pháp luật, là những cơ sở
được sử dụng trong xây dựng, ban hành pháp luật, cơ sở hình thành nên
nội dung pháp luật.
Xét về lịch sử và hiện tại trên phạm vi toàn thế giới, trong thực tiễn

pháp luật của các quốc gia đã và đang có những loại nguồn pháp luật như:
văn bản quy phạm pháp luật, tập quán pháp, tiền lệ pháp, họp đồng pháp

luật, các nguyên tắc chung của pháp luật, các học thuyết pháp luật, các quy

phạm tôn giáo, nguyên tắc công bằng, họp lý, lẽ phải, đạo đức và một số

loại nguồn pháp luật khác.

1.1.2. Nguồn của pháp luật Dân sự Việt Nam
Như đã phân tích rõ nét về khái niêm nguồn của pháp luật nêu trên,

nguồn của pháp luật dân sự được hiểu là những hình thức chính thức thê
hiện các quy tắc bẳt buộc chung được Nhà nước thừa nhận, có giá trị
pháp luật để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc dân sự trong thực
tiễn, là cơ sở được sử dụng trong xây dựng, ban hành pháp luật, cơ sở

hình thành nên nội dung pháp luật dân sự.

Theo quy định pháp luật dân sự hiện hành, Việt Nam chỉ thừa nhận
và cho phép áp dụng đối với một số nguồn nhất định.

7


Thú' nhât, thỏa thuẫn
Khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân xác

lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do,
tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm

điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với


7

4^














các bên và phải được chủ thể khác tơn trọng”.
Có thể thấy, nguồn quan trọng nhất của pháp luật Dân sự là sự tự do

thỏa thuận. Trước khi áp dụng các loại nguồn khác để giải quyết xung đột,

pháp luật cho phép các bên thỏa thuận với nhau. Điều này được thể hiện rõ
và khẳng định tại Điều 5, Điều 6 BLDS năm 2015 khi hướng dẫn áp dụng

tập quán, áp dụng tương tự pháp luật. Theo đó, trường họp các bên khơng

có thỏa thuận và pháp luật khơng quy định thì có thể áp dụng tập qn. Và
Trường họp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân
sự mà các bên khơng có thỏa thuận, pháp luật khơng có quy định và khơng

có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh
quan hệ dân sự tương tự.
Điều 5 BLTTDS năm 2015 quy định: “Đương sự có quyền quyết


định việc khởi kiện, u cầu Tịa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc
dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện,

đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu đó. Trong quá trinh giải quyết vụ việc dân sự, đương

sự có quyền chấm dứt, thay đối yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với

nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không
trái đạo đức xã hội”.

Tiếp đến tại điểm a khoản 2 Điều 205 BLTTDS năm 2015 quy định
về ngun tắc hịa giải, theo đó, các đương sự phải “tó/7 trọng sự tự nguyện
thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ

lực, bẳt buộc đương sự phải thỏa thuận khơng phù họp với ý chỉ của mình”.

8


Thú’ hai, văn bản quy phạm pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức thế hiện các quyết định của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo những trình tự, thủ tục

pháp lý nhất định, trong đó quy định những quy tắc xử sụ có tính bắt buộc
chung đối với tất cả các chủ thể pháp luật, được áp dụng nhiều lần trong
đời sống. Văn bản quy phạm pháp luật là loại nguồn pháp luật do các cơ


quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp xây dựng, ban hành.

Thứ ba, tập quán
Khoản 1 Điều 5 BLDS năm 2015 có nêu định nghĩa khái niệm về tập

quán như sau:
Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền,
nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình
thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và

áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc
trong một lĩnh vực dân sự.

Thứ tư, áp dụng tương tự pháp luật
Các vấn đề về dân sự rất phức tạp và đa dạng nên đơi khi chưa có
quy định áp dụng trực tiếp cho một số vấn đề nhưng đã có hướng áp dụng

cho hồn cảnh tương tự. Từ đó, pháp luật dân sự theo hướng ghi nhận khả
năng áp dụng tương tự. Khái niệm áp dụng tương tự pháp luật biết đến tại
BLDS 2005, tại Điều 3 có quy định rằng: trong trường họp pháp luật

khơng có quy định và các bên khơng có thỏa thuận thì có the áp dụng tập

qn, nếu khơng có tập qn thì áp dụng quy định tương tự pháp luật.

Thú’ tư, án lệ
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, án lệ được hiểu là Quyết định
hoặc bản án của Tòa án cấp trên có giá trị bắt buộc đối với Tịa án cấp

dưới; tịa phán án cũng phải tơn trọng quyết định trước đó của bản thân

mình. Theo luật học, án lệ được hiểu là: Bản án đã tuyên hoặc một sự giải

9


thích, áp dụng pháp luật được coi như một tiên lệ làm cơ sở đê các thâm
phán sau đó có thế áp dụng trong các trường họp tương tự.
Như vậy, án lệ là quyết định, lập luận, nguyên tắc hoặc sự giải thích

pháp luật do Tịa án đưa ra khi giải quyết một vụ việc cụ the được nhà
nước thừa nhận làm mẫu hoặc làm cơ sở để tòa án dựa vào đó đưa ra quyết
định hoặc lập luận để giải quyết vụ việc khác xảy ra về sau có nội dung

hoặc tính tiết tương tự.

Thứ năm, lẽ cơng bằng
Khái niệm lẽ công bằng lần đầu tiên được xuất hiện trong BLDS
2015 và được coi là một nguồn của pháp luật dân sự Việt Nam. Tuy nhiên,

lẽ công bằng vẫn còn là khái niệm rất mơ hồ và chưa được nhìn nhận rõ
nét. Mặc dù được cơng nhận là một trong nhũng loại nguồn của pháp luật

Dân sự, nhưng lẽ công bàng chỉ được sử dụng khi không the áp dụng các

loại nguồn khác. Vì thế, thực tiễn áp dụng lẽ công bằng chưa được phổ

biến rộng rãi, nhất là văn bản quy phạm pháp luật vẫn là một trong những
nguồn pháp luật được sử dụng chủ yếu tại Việt Nam. Là một khái niệm
hồn tồn mới mẻ vì vậy các nghiên cứu về lẽ cơng bằng cịn rất ít, thực
tiễn áp dụng cũng chưa được thơng kê chính xác.


1.2. Lý thuyết về lẽ công bằng
Việc áp dụng đa dạng các loại nguồn pháp luật sẽ đem lại nhiều lợi

ích thiết thực cho cá nhân, cộng đồng và nhà nước. Nguyên tắc thưọng tôn

pháp luật trong nhà nước pháp quyền khơng có nghĩa là chỉ sử dụng một
mình pháp luật do nhà nước ban hành. Trái lại, chính trong nhà nước pháp
quyền và xã hội dân sự lại rất cần sử dụng đa dạng các loại nguồn pháp
luật, đặc biệt là án lệ, lẽ công bằng. Mặc dù đều là những quy định mới

được áp dụng tại BLDS 2015, tuy nhiên án lệ đã được phát triến nhanh
chóng và trở thành một trong những nguồn luật được áp dụng phổ biến

trong thực tiễn xét xử. Trái lại, lẽ công bằng dường như là một khái niệm
10


cịn rât mẻ trong hệ thơng pháp luật Việt Nam. Khi nhăc đên lẽ công băng,
chúng ta thường nghĩ đến khái niệm cơng lý, bởi ở đâu có cơng lý, ở đó có

cơng bằng và ngược lại. Tuy nhiên, cho đến bây giờ, chúng ta vẫn chưa thể

định nghĩa được rõ nét, thế nào là công lý, thế nào là lẽ công bàng.

1.2.1. Quan điểm về công lý, lẽ công bằng
Công lý là sự báo thù, ngang bằng
Công lý là được hưởng những gì xứng đáng
Cơng lý là nghĩa vụ hồn lại, trả lại
Cơng lý là sự trung thành với với các cam kết, thỏa thuận tài sản

Công lý là quyền bất khả xâm phạm mà tạo hóa ban cho con người

và là tiêu chí đánh giá hệ thong pháp luật
Cơng lý là phương thức tổỉ đa hóa lọi ích cho xã hội
Công lý là sự tôn trọng quyền tự do phố quát của con người
Công lý là quan niệm về lối song tot đẹp

1.2.2. Khái ttìệm về cơng lý
Trên thế giới, khái niệm công lý, lẽ công bằng đã hình thành, xuất

hiện tại thời kỳ La Mã cố đại. Trong quyển Institutes của Justinian đã có
định nghĩa về cơng lý là quyết tâm mang tính thường trực và vĩnh cửu trong
việc thừa nhận những quyền vốn có thuộc về mỗi người. Tuy nhiên, khái

niệm công lý tại Việt Nam hiện nay chỉ xuất hiện trong các tài liệu ngôn
ngữ từ điển, với quan niệm chung nhất của xã hội với lương tri, đạo lý, lẽ
phải, lẽ công bằng, sự đúng đắn, họp tình, hợp lý, thấu đáo, thỏa đáng. Theo

từ điển Tiếng Việt, công lý được hiểu là cái lẽ phù họp với đạo lý và lợi ích

chung của xã hội; sự nhận biết đúng đắn và tôn trọng theo lẽ phải các quyền

lợi chính đáng của mọi người, hay cịn có nghĩa là lẽ phải, lẽ cơng bằng,

phù họp với pháp luật đương thời, không thiên lệch, không tư vị.
Ngồi ra, dưới góc độ về ngơn ngữ, cịn phải kể đến định nghĩa khái

niệm của GS Nguyễn Lân trong cuốn Từ và Ngữ Tiếng Việt, Công lý là

11



sự nhận biêt đúng đăn và tôn trọng theo lẽ phải các qun lợi chính đáng

của mọi người. Cơng: khơng thiên vị, lý: lý lẽ. Công lý là lẽ công bằng
mọi người đều cơng nhận.

1.2.3. Các hình thức tồn tại của công lý
Công lý phân phối
Công lý cải tạo
Công lý tương giao
Công lý tự nhiên

Chưong 2

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LẺ CƠNG BẰNG
2.1. Q trình hình thành và phát triển công lý, lẽ công bằng ở
Việt Nam
Từ thực tiễn quá trình dựng nước, giữ nước và xây dựng đất nước,

phát triển kinh tế - xã hội, người Việt Nam phải chống chọi với thiên tai,
dịch họa, trong điều kiện đó con người đã gắn bó, liên kết với nhau
trong cộng đồng, sự gắn bó với q hương và hình thành tinh thần yêu
quê hương đất nước, yêu thương con người. Những tình cảm đó là cội

nguồn hình thành tư tưởng, ý thức dân tộc, một nền cơng lí đề cao chủ

nghĩa yêu nước, chủ nghĩa nhân đạo, đề cao chính nghĩa và đạo lí, bảo
vệ cơng lí cũng là một giá trị truyền thống dân tộc. “Đạo lí” là lẽ phải,
“chính nghĩa” cũng là điều phải, tức là đứng về lẽ phải, tranh đấu cho lẽ


phải là đấu tranh cho cơng lí. Trong quan niệm của người Việt, sự xâm
lăng, thù hận, trả thù, hay báo thù, ... là cái xấu, cái ác; sự tơn trọng, hịa

họp vì cuộc sống hạnh phúc, là đạo lí, cái tốt, cái đẹp, là cơng lí. Điều

này đã minh chứng bằng lịch sử dân tộc Việt Nam, được khái quát thành
“đánh kẻ chạy đi, chứ không đánh kẻ chạy lại”, “khép lại quá khứ, hướng

tới tương lai”.

12


2.1.1. Cơng lí, lẽ cơng băng trong pháp luật thời phong kiên

2.1.2. Tư tưởng về cơng lí, cơng bằng trong pháp luật cận đại
Như vậy, pháp luật Việt Nam thời kỳ cận đại đã có những quy định
rất rõ ràng thể hiện việc áp dụng các nguồn của pháp luật dân sự, và cũng

đã có quy định về lẽ cơng bằng. Mặc dù chưa được khái quát rõ được khái
niệm về lẽ công bằng, nhưng chúng ta cũng đã thấy được tư tưởng tiến bộ

của pháp luật thời kỳ này. Khi mà pháp luật dân sự hiện đại, cụ thể là
BLDS 1995 và BLDS 2005 đã khơng có quy định về vấn đề này.

2.2. Pháp luật hiện hành về lẽ công bằng

2.2.1. Khái niệm Lẽ công bằng
Các nhà nghiên cứu trên thế thời và ở Việt Nam có những quan điểm


nhìn nhận và đưa ra các định nghĩa khác nhau về lẽ công bàng nhưng theo
Khoản 3, Điều 45 BLTTDS năm 2015: “Ảẽ công bằng được xác định trên
cơ sở lẽ phải, được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp vói ngun

tắc nhãn đạo, khơng thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các
đương sự trong vụ việc dân sự đó

2.2.2. Nguyên tắc áp dụng Lẽ công bằng
Quan hệ pháp luật dân sự là quan hệ về tài sản và quan hệ nhân thân

phát sinh khách quan trong xã hội có tư hữu, có nhà nước và có pháp luật.
Vì quan hệ dân sự phát sinh theo nhu cầu của mồi cá nhân, mồi gia đình và

cộng đồng. Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành nhằm điều chỉnh các
quan hệ về tài sản và nhân thân phát sinh trong xã hội. Pháp luật được ban
hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo một trật tự nhất định và
JL














thống nhất, thể hiện rõ bản chất của một nhà nước trong từng thời kỳ. Pháp
luật phát sinh từ các quan hê xã hội, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội,
nhưng không theo kịp các quan hệ xã hội ngày một phát sinh đa dạng,

phong phú và phức tạp. Do đó, có những tranh chấp phát sinh trong đời

sống xã hội, cần giải quyết nhưng khơng có quy định của pháp luật để áp

dụng. Vì vậy, như một dự liệu của giải pháp nhằm điều chỉnh kịp thời các
13


tranh châp dân sự phát sinh mà chưa có luật đê áp dụng, khơng có tập qn

để giải quyết, thì cần phải có một cơ chế như một giải pháp để giải quyết.

2.2.3. Điều kiện áp dụng lẽ công bằng
Lẽ công bằng là một quy định của pháp luật. Tuy nhiên, các yếu tố

cấu thành lẽ công bằng không được pháp luật quy định cụ thể gồm những

gì. Nhưng lẽ công bằng là một chuẩn mực pháp lý được thể hiện trong các

quan hệ xã hội và thể hiện rõ phương thức pháp lý trong việc áp dụng. Từ
cơ sở lý luận này, cách thức áp dụng lẽ công bằng đề giải quyết tranh chấp
dân sự, cần xác định theo các điều kiện sau đây:

Tranh chấp đang được xem xét giải quyết thuộc đối tượng điều chỉnh
của luật dân sự (Quan hệ về tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ và

quan hệ về nhân thân phi tài sản);
Các bên tranh chấp khơng có thỏa thuận hoặc khơng thỏa thuận

được, pháp luật khơng có quy định, khơng có tập qn, khơng có quy định

để áp dụng tương tự, khơng có án lệ. Thẩm quyền áp dụng lẽ cơng bằng
thuộc tòa án các cấp.

2.2.4. Thẩm quyền áp dụng lẽ công bằng
Theo quy định hiện hành, thẩm quyền áp dụng lẽ cơng bằng thuộc

tồ án đang xét xử vụ án. Để bảo bảo tính khách quan và cơng bằng trong

q trình giải quyết tranh chấp và bảo vệ các quyền, lợi ích họp pháp của

các bên đương sự. Khi áp dụng lẽ cơng bằng, tồ án có vai trị quan trọng
trong việc điều khiển quá trình tranh tụng và tuân theo những nguyên tắc,
thủ tục tố tụng dân sự, bảo đảm quyền bình đẳng của các bên đương sự

trong quá trình tranh tụng. Trong quá trình tranh tụng để áp dụng lẽ cơng
bằng, chủ toạ phiên tồ phải tạo mọi điều kiện cần thiết cho những người

tham gia tranh tụng bày tỏ quan điểm của mình và có quyền u cầu họ

dừng trình bày những ý kiến, chứng cứ khơng liên quan đến vụ án.

2.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến áp dụng lẽ công bằng
Áp dụng lẽ công bằng là áp dụng quy định của pháp luật về lẽ công

14



băng. Nhưng quy định lẽ công băng không thê hiện rõ nội hàm, mà quy
định khái quát. Vì vậy, khi áp dụng lẽ công bằng cần phải xem xét các yếu

tố có liên quan đến phạm vi tranh chấp, đặc điểm của tranh chấp, các bên

chủ thể của tranh chấp và các chủ thể khác có liên quan.
Áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp theo nguyên tắc bảo

đảm quyền bình đắng về mặt pháp lý của các bên chủ thể. Quyền bình

đẳng của các bên chủ thể trong tranh chấp được xác định dựa vào tiêu chí
lẽ công bằng.

2.2.6. Hệ quả pháp lý của việc áp dụng lẽ công bằng
Việc áp dụng lẽ công bằng để giải quyết tranh chấp dân sự là nhằm
giải quyết kịp thời, dứt điểm những tranh chấp dân sự phát sinh trong xã hội
trong trường hợp chưa có quy phạm, khơng có tập qn, khơng có luật đế

áp dụng tưong tự, khơng có án lệ để áp dụng. Áp dụng lẽ cơng bằng giải

quyết các tranh chấp dân sự góp phần bảo đảm cho các quyền dân sự chính

đáng của chủ thể được bảo đảm thực hiện, đồng thời giữ gìn mối đoàn kểt
trong nhân dân, bảo đảm cho các quyền, lợi ích họp pháp của các bên chủ

thể trong quan hệ pháp luật dân sự, thưoug mại được bảo đảm thực hiện.

Chưong 3

THựC TRẠNG ÁP DỤNG LẼ CÔNG BẰNG VÀ MỘT SỐ

GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÈ ÁP DỤNG

LẼ CƠNG BẰNG
3.1. Thực trạng áp dụng dung lẽ cơng bằng

3.1.1. Áp dụng lẽ công bằng trên cơ sở An lệ
Án lệ số 04/2016/AL:
Án lệ số 07/2016/AL:

3.1.2. Áp dụng lẽ công bằng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án
Trong thời gian qua lẽ công bằng đã được áp dụng để giải quyết các
vụ việc dân sự hay chưa. Đen thời điếm hiện tại, chưa có bất kỳ số liệu,

15


thơng kê nào vê việc đã có bao nhiêu bản án, qut định của Tịa án đã áp
dụng lẽ cơng bằng để giải quyết các vụ việc dân sự.

3.1.3. Áp dụng lẽ công bằng trong một số trường họp thực tiễn
Trong thực tế, có rất nhiều vụ án mà đương sự đã cố tình tấu tán tài

sản để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ bằng cách xác lập một giao dịch khác
với bên thứ ba. Mặc dù BLTTDS đã có những quy định về việc áp dụng

biện pháp khẩn cấp tạm thời, tuy nhiên không phải trường hợp nào cũng có

the áp dụng và có hiệu quả. Trong vụ kiện tranh chấp về họp đồng vay tài

sản, nguyên đơn yêu cầu Tòa án hủy “Hợp đồng tặng cho nhà ở” giữa bị
đơn với người thứ ba vì cho rằng, bị đơn có tài sản nhưng khơng thực hiện

nghĩa vụ trả nợ mà lại đem tài sản đó tặng cho người khác để trốn tránh

nghĩa vụ trả nợ.
Rõ ràng trong trường họp này, cả pháp luật và tập qn đều khơng

có quy định nào cấm một người tặng cho tài sản khi bản thân họ chưa
thực hiện nghía vụ trả nợ cho người khác. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền

lợi hợp pháp của người cho vay tài sản, Thẩm phán có thể dựa vào
nguyên tắc Lẽ công bằng cũng như các quy định về thực hiện nghĩa vụ

dân sự nói chung, với quan điểm pháp lý rằng: Khi một người chưa thực

hiện một nghĩa vụ tài sản đối với người khác, thì họ khơng có quyền tặng
cho tài sản thuộc sở hữu của mình cho người thứ ba, để hủy bỏ giao dịch

tặng cho nhà ở nói trên. Và, chúng ta có thể nói rằng, trong trường họp
này, Lẽ cơng bằng đã được tòa án áp dụng để khắc phục những thiếu sót

mà trước đó luật pháp đã chưa tiên liệu được.

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về áp dụng lẽ

cơng bằng
3.2.1. u cầu hồn thiện quy định pháp luật về lẽ cơng bằng
Thứ nhất, cần có những quy định hướng dẫn cụ thể đối về áp dụng lẽ


cơng bằng. Ngồi quy định tại Điều 6 BLDS năm 2015, Điều 45 BLTTDS
năm 2015, chế định về lẽ công bằng chưa được nhắc đến trong một văn

16


bản quy phạm pháp luật nào khác. Cũng chua có một văn bản duới luật

nào hướng dẫn cụ thể đến việc áp dụng lẽ cơng bằng. Vì vậy, áp dụng lẽ
cơng bằng trong thực tiễn gây ra rất nhiều khó khăn trong hoạt động xét

xử. Khi nghiên cứu các bản án hiện nay, chúng ta dễ dàng nhận rằng,
HĐXX trong phần nhận định của mình, thường sử dụng những từ như
“hợp tình” “là họp lý” để nói về những tình tiết vụ án mà không được pháp
luật điều chỉnh. Qua đó cũng đã thể hiện được lẽ cơng bằng đã được áp
dụng trong thực tiễn xét xử. Tuy nhiên, trong các bản án đó, HĐXX chưa

nêu ra được lẽ cơng bằng được thể hiện ra sao, lý do để áp dụng lẽ cơng

bằng đó. Vì vậy, cần có những quy định cụ thể, chi tiết việc áp dụng lẽ
công bằng trong các bản án xác định rõ ràng rằng căn cứ để HĐXX ra bản

án, quyết định là dựa trên lẽ công bằng và các yếu tố của lẽ công bằng

được mơ tả, viện dẫn cụ thể.


xe

e


Thứ hai, đối với thẩm quyền xét xử trong các vụ án áp dụng lẽ công

bằng. Theo quy định tại BLTTDS năm 2015, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ

án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân, trừ trường họp
quy định tại Điều 65 của Bộ luật này. Trong trường hợp đặc biệt thì Hội
đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân
[8, Điều 63]. Khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ án dân sự, Hội
thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán [10, Điều 11, Khoản 2]. Cũng

theo Điều 85 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, tiêu chuẩn của hội
thẩm nhân dân là:

1. Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp

nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, có
bản lĩnh chính trị vững vàng, có uy tín trong cộng đồng dân cư, có tinh

thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.

2. Có kiến thức pháp luật.
3. Có hiểu biết xã hội.
4. Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.
17


Như vậy, hội thâm nhân dân có thê là những người không trải qua
đào tạo về pháp lý. Tuy nhiên, đối với những vụ án dân sự phức tạp, khơng


có điều luật để áp dụng, đòi hỏi người xét xử phải có một kiến thức chun
mơn tốt, kiến thức xã hội cũng như kinh nghiệm sống phải thật phong phú.
Đối với những vụ việc phức tạp như vậy, yêu cầu đối với HĐXX cũng

phải có những quy định khác để chặt chẽ hơn. Vì vậy, đối với những vụ án

khơng có điều luật quy định, khơng có tập qn để áp dụng, khơng thể áp
dụng tương tự pháp luật thì cần thiết HĐXX phải là các thẩm phán, và một

trong ba thẩm phán trong HĐXX phải là thẩm phán trung cấp thì mới đáp
ứng được yêu cầu giải quyết những vụ việc nêu trên.

3.2.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện về áp
dụng lẽ công bằng
Thứ nhất, lẽ công bằng cũng cần được ghi nhận như một nguồn thành

văn như án lệ. Án lệ được hiểu l mt bn ỏn ó tuyờn hoc mt s gii
ã

ã

ã

ã

ô/

ã

ã


ã

<^2

thớch, áp dụng pháp luật được coi như một tiền lệ làm cơ sở để các thẩm
phán sau đó có thể áp dụng trong các trường họp tương tự.
Thực tế hiện nay, mặc dù chưa có số liệu thơng kê chính xác, nhung

việc áp dụng lẽ công băng đê giải quyêt vụ án đã được các thâm phán áp

dụng nhiều trên thực tế. Tuy nhiên, vì chưa có các hướng dẫn chi tiết, cụ

thể về việc áp dụng lẽ công bằng, vì vậy việc các thẩm phán áp dụng lè

cơng bàng trong thực tiễn xét xử đã thực sự đúng như bản chất hay chưa,
các thẩm phán có áp dụng lẽ cơng bằng một cách chính xác hay khơng.
Đen nay, những thắc mắc đó vần chưa có lời giải đáp.

Vì vậy, nên chăng việc Hội đồng thẩm pháp Tòa án nhân dân tối cao
cần nghiên cứu, đánh giá các bản án có áp dụng lẽ cơng bàng. Từ đó, ban

hành nghị quyết hướng dẫn về việc áp dụng lẽ công bằng, là cơ sở để các
thẩm phán sau đó có thể áp dụng một cách chính xác, hiểu quả nhất.
Thứ hai, trao đổi nghiệp vụ, tập huấn kiến thức, chia sẽ kinh nghiệm
18


trong thực tiễn áp dụng lẽ công bằng, Hiện nay, việc áp dụng lẽ công bằng


chưa được quan tâm, chú trọng. Bằng chứng là việc khơng có một thống
kê chính xác nào về việc áp dụng lẽ công bằng trong các bản án, quyết

định của Tòa án. Thiết nghĩ, lẽ cơng bằng là một khái niệm cịn rất mới tại
Việt Nam, ngành Tịa án nói riêng và nên tư pháp nói chung cần có những

nghiên cứu, quan tậm đặc biệt hơn nữa. TANDTC cần có những thống kê
chính xác, các bản án có áp dụng lẽ cơng bằng phải bắt buộc công bố trên

cổng thông tin điện tử của TANDTC. Đó là một nguồn quan trọng để nhà
làm luật, các thẩm phán, các luật gia có thể nghiên cứu, đưa ra những đóng

góp bổ ích để ngày càng hồn thiện hơn về chế định lẽ cơng bằng.
Mặt khác, ngành tịa án cũng cần tổ chức những hội thảo đặc biệt,

những chuyên đề liên quan đến việc áp dụng lẽ công bằng. Những vụ án

áp dụng lẽ công bằng cần được nghiên cứu chuyên sâu, xem xét, đánh giá
kỹ lưỡng, qua đó có thể đúc rút nhiều kinh nghiệm sâu sắc để áp dụng các
vụ việc có tính chất tương tự.

Tiếp theo, là yếu tố về con người. Theo kinh nghiệm các nước, kể cả

các nước có nền tư pháp lâu đời và phát triển, xét xử theo lẽ công bằng là
một cơng việc khó khăn và phức tạp của tịa án nói chung và các thẩm

phán nói riêng, bởi hai lẽ. Một là nguyên tắc hàng đầu của thẩm phán khi

xét xử là “độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” và các thẩm phán đều được
đào tạo để xét xử theo phương thức cơ bản là áp dụng luật pháp hiện hành


đế ra các phán quyết cho các vụ án. Xét xử theo lẽ công bàng là việc
không được đào tạo hoặc không quen thuộc. Hai là khi không có cơ sở luật

định, thấm phán bắt buộc phải dựa vào nhận thức và lương tâm của mình
về lẽ cơng bằng. Neu một thẩm phán nào đó khơng có lẽ công bằng ngự trị
trong nhận thức và lương tâm, do suy thối đạo đức hay những tác động
bên ngồi thì việc ban hành những bản án tùy tiện và thiên vị là điều

khơng tránh khỏi. Khi đó hy vọng của người dân vào lẽ cơng bằng chỉ cịn

19


dựa vào các thâm phán của tòa câp trên và vai trò kiêm sát tư pháp của các

kiếm sát viên. Với đặc thù trong hoạt động nghề nghiệp, bên cạnh những

yêu cầu chung về phẩm chất đối với cán bộ, cơng chức Tồ án, Thẩm phán
cịn có những u cầu riêng biệt trong thực thi nhiệm vụ và ứng xử trong

đời thường. Do đó, việc xây dựng một bộ “cơng cụ pháp lý” làm thước đo
giá trị đạo đức, phẩm chất, để mỗi Thẩm phán lấy đó làm tiêu chuẩn tự tu
dưỡng, rèn luyện; để Nhà nước, Nhân dân và xã hội có thể giám sát, đánh

giá được năng lực, phẩm chất của Thẩm phán trong quá trình thực thi và
bảo vệ công lý là rất cần thiết; nhất là trong giai đoạn hiện nay, chúng ta
đang đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Từ
những đặc thù nghề nghiệp nêu trên, Thẩm phán cần được hình thành bởi
những yếu tố sau:


Một là, bản lĩnh nghề nghiệp

Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Do đó, Thẩm

phán là nghề nghiệp gắn liền với tính độc lập, tự chủ, tự quyết; khả năng
phân tích và đưa ra phán quyết chính xác, hợp lý, họp tình trên cơ sở pháp
luật. Đây chính là những yểu tố phản ánh bản lĩnh nghề nghiệp của Thẩm

phán; được hình thành, củng cố và phát triển trên cơ sở các phẩm chất
quyết đốn, khách quan, vơ tư, khơng bị chi phối bởi những tác động bên
ngoài, nhất là những tác động mang tính chất vụ lợi cá nhân. Trong nhiều
vụ án, người Thẩm phán phải ra những quyết định trong điều kiện, tình

huống khó khăn; cơng tâm xem xét, nhận định chính xác sự thật khách

quan để có được phán quyết đúng đắn. Đó chính là những thách thức thể
hiện bản lĩnh chính trị, nhân cách và đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán.

Hai là, tinh thần trách nhiệm và sự chuyên cần
Tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán được thể hiện ở sự tận tuy và
không chậm trễ trong thực hiện các công việc được giao, bảo đảm đúng

thời hạn theo quy định của pháp luật. Pháp luật chậm trễ là pháp luật thiếu
20


trách nhiệm và vơ tâm, làm kéo dài tình trạng pháp lý căng thăng của
người dân. Thẩm phán có tinh thần trách nhiệm là người ý thức cơng việc
mình làm, dám chịu trách nhiệm về các hành vi của mình; khẩn trưcmg


nhưng thận trọng khi xem xét, đánh giá các chứng cứ và áp dụng pháp luật
trong từng vụ án cụ thể.

Ba là, sự vô tư, khách quan và công bằng trong thực thi công vụ
Đây là một trong những nhân tố bảo đảm cho Thẩm phán thực hiện tốt
nhiệm vụ xét xử, thực thi công lý. Sự công bằng, công minh là đặc trưng

tiêu biểu của hoạt động xét xử. Quyền được xét xử công bằng là quyền của

công dân đã được Hiến pháp và pháp luật tố tụng ghi nhận. Bởi lẽ đó, trong

xét xử, Thẩm phán khơng được thiên vị; không được phân biệt đối xử các
quyền con người; khơng vì ác ý, cảm tình hoặc có bất kỳ định kiến nào khác

để làm sai lệch kết quả xét xử; không được phát biểu hay đưa ra bất cứ bình
luận nào có thể làm ảnh hưởng tới vụ việc mình đang giải quyết.

Bon là, sự liêm chính

Liêm chính tư pháp là địi hỏi co bản của mọi quốc gia về một nền tư

pháp trong sạch, với đội ngũ cán bộ tư pháp liêm khiết, dấn thân cho việc
duy trì, bảo vệ lẽ phải và cơng lý. Liêm chính là giá trị hình thành nên

nhân cách, là phẩm chất cốt lõi của người Thẩm phán. Liêm chính là phẩm
chất để đấu tranh loại bở tham nhũng; sự suy thối về tư tưởng, chính trị;

phẩm chất đạo đức, làm xói mịn tính cơng bằng của Tịa án. Vì vậy, Thẩm


phán không được lợi dụng quyền năng pháp lý của mình để thúc đẩy lợi
ích cá nhân; khơng được để bất kỳ ai, khơng phụ thuộc vào vị trí cơng tác
và địa vị của họ, các đồng nghiệp, người thân thích, bạn bè hoặc người

quen tác động, ngăn cản, làm sai lệch hoạt động xét xử.
Năm là, năng lực chuyên nghiệp
Thẩm phán có đạo đức nghề nghiệp phải là người có trình độ chun
mơn và nghiệp vụ tinh thơng để ban hành các bản án hay quyết định khách
21


quan, đúng pháp luật, bảo vệ được quyên và lợi ích hợp pháp của công
dân. Năng lực được coi là yếu tố đầu tiên tạo nên đạo đức nghề nghiệp của

Thẩm phán. Tinh thông về nghiệp vụ, thành thạo trong sử dụng những kỹ
năng là những yêu cầu bắt buộc đối với các Thẩm phán. Thẩm phán phải

luôn trau dồi và củng cố kiến thức, kỳ năng để bồi dưỡng năng lực; ln
cập nhật thơng tin về tình hình phát triển của luật pháp trong nước và luật

pháp quốc tế; các vấn đề quan trọng của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
nhằm tạo sự hiểu biết sâu sắc về mọi vấn đề của cuộc sống để áp dụng

pháp luật đúng đắn nhất.
Tóm lại, bản lĩnh nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, sự vô tư, khách

quan và công bằng trong thực thi nhiệm vụ; đức tính thanh liêm và trung
thực; sự đúng mực trong ứng xử... có quan hệ chặt chẽ với nhau; yếu tố
này là điều kiện hình thành phát triển yếu tố kia, tạo nên phẩm chất đạo


đức của Thẩm phán. Để có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, Thẩm phán

phải có tinh thần trách nhiệm, ln nâng cao trình độ chun mơn nghiệp
vụ và trau dồi phẩm chất đạo đức, chính trị. Hiểu biết sâu sắc về chuyên

môn nghiệp vụ; thành thạo, nhuần nhuyễn trong vận dụng pháp luật; nhạy
bén trong xử lý công việc sẽ giúp Thẩm phán độc lập, khách quan trong
giải quyết công việc.

Tất cả nhừng phẩm chất nêu trên có được khơng phải do bẩm sinh,

mà được hình thành, phát triển và hồn thiện qua q trình học tập, rèn
luyện, tu dưỡng thông qua hoạt động thực tiễn của Thẩm phán. Đe hình

thành những phẩm chất tốt đẹp đó, địi hỏi một q trình phấn đấu lâu

dài và bền bỉ; trong đó, yếu tố tự rèn luyện và tự bồi dường là đặc biệt

quan trọng đối với mỗi Thẩm phán.

Bên cạnh đó, khi thực hiện công vụ tại cơ quan; giao tiếp với các cơ
quan, tổ chức có quan hệ cơng tác và truyền thơng, báo chí; các cơ quan, tổ
chức, cá nhân nước ngoài; trong các hoạt động bên ngoài nhiệm vụ xét xử;

22


trong cuộc sông hàng ngày tại noi cư trú, trong gia đình, ở nơi cơng cộng,
Thấm phán phải xử sự phù hợp với các chuấn mực chung của xã hội; tuân


thủ tuyệt đối những quy tắc nghề nghiệp để không ảnh hưởng đến hoạt động

xét xử; như: không được phát biếu quan điểm về việc giải quyết vụ án khi
vụ án đó chưa hoặc đang trong q trình xét xử; khơng được lợi dụng vị trí

cơng tác để vụ lợi khi tham gia hoạt động xã hội ..,; phải nêu gương về đạo

đức, giáo dục ý thức tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật đối với

các thành viên trong gia đình cũng như dân cư nơi cư trú ...
Tóm lại, bản lĩnh nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm, sự vô tư, khách

quan và công bằng trong thực thi nhiệm vụ; đức tính thanh liêm và trung
thực; sự đúng mực trong ứng xử ... có quan hệ chặt chẽ với nhau; yếu tố

này là điều kiện hình thành phát triển yếu tố kia, tạo nên phẩm chất đạo

đức của Thẩm phán. Đe có bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng, Thẩm phán

phải có tinh thần trách nhiệm, ln nâng cao trình độ chun mơn nghiệp
vụ và trau dồi phẩm chất đạo đức, chính trị. Hiểu biết sâu sắc về chuyên

môn nghiệp vụ; thành thạo, nhuần nhuyễn trong vận dụng pháp luật; nhạy
bén trong xử lý công việc sẽ giúp Thẩm phán độc lập, khách quan trong
giải quyết công việc.

Tất cả những phẩm chất nêu trên có được khơng phải do bẩm sinh,
mà được hình thành, phát triển và hồn thiện qua q trình học tập, rèn
luyện, tu dưỡng thơng qua hoạt động thực tiễn của Thẩm phán. Để hình


thành những phẩm chất tốt đẹp đó, địi hỏi một q trình phấn đấu lâu

dài và bền bỉ; trong đó, yếu tố tự rèn luyện và tự bồi dưỡng là đặc biệt

quan trọng đối với mỗi Thấm phán.

23


KÊT LUẬN
Có một chân lý là: Pháp luật càng tốt, càng hồn thiện thì sẽ càng hạn
chế được sự sai trái hay lạm dụng của con người. Nhưng cũng có một chân

lý khác: Có con người đủ năng lực và đạo đức tốt thì mới có một hệ thống
tư pháp trong sạch, bảo vệ được công lý của xã hội và cơng bằng cho người
dân. Và cuối cùng thì có hay khơng có luật, lẽ cơng bằng phải ln là yêu

cầu tối thượng và đích đến của mọi bản án, bởi lẽ cơng bằng khơng phải là

điều gì xa lạ mà chính là cơng lý và lẽ phải của xã hội loài người.

Nghiên cứu các quy định pháp luật về lẽ cơng bằng có vai trị hết sức
quan trọng đối với sự phát triến của pháp luật Việt Nam nói chung cũng như
ngành Luật Dân sự nói riêng. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, hệ thống
quy phạm pháp luật điều chỉnh về lẽ cơng bằng cịn chưa cụ thể và có nhiều

bất cập trong q trình áp dụng vào thực tiễn. Do đó, vấn đề hồn thiện
pháp luật về lẽ cơng bằng giữ vai trị quan trọng trong thực tiễn áp dụng.
Hồn thiện pháp luật về lẽ cơng bằng nhàm khắc phục những hạn chế của


pháp luật hiện hành về nguyên tắc áp dụng pháp luật trong hệ thống pháp
luật Dân sự Việt Nam.

Việc nghiên cứu đề tài “Lẽ cơng bằng, nguồn của pháp luật Dân sự
Việt Nam” có ý nghĩa hết sức đặc biệt cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Bên

cạnh việc phân tích các vấn đề lý luận của chế định lẽ công bàng, luận văn

đồng thời nêu rõ thực trạng áp dụng lẽ công bằng trong thực tiễn xét xử tại

tòa án để từ đó đưa ra những giải pháp có thể áp dụng hiệu quả, phù hợp hơn.
Luận văn đã phân tích vấn đề áp dụng lẽ công bàng theo quy định
của pháp luật hiện hành. Từ việc phân tích, tìm hiểu để phát hiện ra những
tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp giúp hồn thiện
chính sách pháp luật về lẽ cơng bằng. Bên cạnh đó, luận văn cũng nghiên

cứu thực tiễn thi hành pháp luật về áp dụng lẽ cơng bàng để từ đó đưa ra
những kiến nghị hồn thiện pháp luật và những giải pháp có thể áp dụng

hiệu quả, phù hợp thực tiễn xã hội để hoàn thiện việc thực hiện pháp luật.
24


×