BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
............./...........
...../.....
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
BÙI HỒNG NGỌC
QUYỀN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT
NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8 38 01 02
TĨM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI – 2021
Cơng trình được hồn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Trần Ngọc Đường
Văn phòng Quốc Hội
Phản biện 1: TS. Trần Thúy Vân
Học viện Hành chính Quốc gia
Phản biện 2: GS. TSKH. Đào Trí Úc
Đại Học Quốc gia Hà Nội
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành
chính Quốc gia
Địa điểm: Phịng 344 tầng 3, Nhà A – Văn phịng khoa Luật, Học viện Hành
chính Quốc gia.
Số: 77 Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội
Thời gian: vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 21 tháng 1 năm 2021
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang
Web Ban QLĐT Sau Đại học, Học viện Hành chính Quốc Gia
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền chính trị là một trong những quyền con người, là giá trị mang tính tồn cầu, là thành quả đấu
tranh chung của toàn nhân loại nhằm chống lại áp bức, bạo lực và bất cơng. Các quyền chính trị ln là các
quyền khơng thể thiếu trong q trình giành, giữ quyền lực Nhà nước của nhân dân. Đó là kết quả của phong
trào đấu tranh chống lại chế độ phong kiến “cha truyền, con nối” giành quyền làm chủ về tay người dân. Đến
nay, quyền chính trị vẫn được coi là thước đo mức độ tự do, dân chủ của một quốc gia. Hiến pháp các nước trên
thế giới đều có các quy định về quyền chính trị. Tuy nhiên, tùy thuộc vào lịch sử lập hiến, truyền thống văn hóa tư tưởng và điều kiện của từng nước, số lượng và mức độ ghi nhận các quyền chính trị ở mỗi nước có sự khác
nhau.
Ở Việt Nam, từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn tôn
trọng, ghi nhận, bảo đảm và bảo vệ các quyền con người trong đó có các quyền chính trị. Việt Nam đã có năm
bản Hiến pháp là: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và
Hiến pháp năm 2013. Mặc dù ra đời trong những bối cảnh khác nhau nhưng cả năm bản Hiến pháp nêu trên đều
đã có những quy định về quyền chính trị của cơng dân, trong đó, Hiến pháp năm 2013 được đánh giá là ghi nhận
nhiều hơn các bản Hiến pháp trước về các quyền chính trị của cơng dân. Góp phần quan trọng thể chế hóa đường
lối, chính sách của Đảng về quyền con người.
Thực tế quyền chính trị của cơng dân tại Hiến pháp chưa được ghi nhận đầy đủ như các quyền dân sự,
quyền kinh tế, quyền văn hóa xã hội vì đây là một loại quyền lực gắn với quyền lực của Nhà nước, gắn với một
bên chủ thể là Nhà nước và các cơ quan của Nhà nước. Chính vì hai bên chủ thể một bên là nhà nước, một bên là
công dân nên loại quyền này chưa được đặt lên bàn cân, chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng để tìm ra các
giải pháp thúc đẩy quyền này trong bối cảnh Nhà nước đang thực hiện cơng cuộc cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa,
hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu đề tài “Quyền chính trị trong các bản Hiến pháp Việt
Nam” sẽ góp phần làm sâu sắc hơn cơ sở lý luận và thực tiễn quy định về các quyền chính trị của công dân trong
các bản Hiến pháp của Việt Nam, đề tài sẽ góp phần hiểu sâu hơn về việc hiến định quyền quan trọng này ở Việt
Nam.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài
Đối với việc nghiên cứu các quyền hiến định chính trị của cơng dân, hiện chúng ta đã có một số cơng
trình nghiên cứu như: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền dân sự và chính trị” (năm 1997) và đề tài:
“Sự phát triển của quyền dân sự, chính trị sau 15 năm đổi mới” (năm 2002) do Trung tâm Nghiên cứu quyền
con người thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện; “Các quyền hiến định về chính trị của
cơng dân Việt Nam”, NXB Tư pháp, 2006; Đề tài “Quyền con người trong Hiến pháp Việt Nam” do Ths. Bùi
Ngọc Sơn – Khoa Luật, Đại học Quốc gia thực hiện năm 2010.
Luận văn "Sự phát triển của quyền dân sự, chính trị qua các bản Hiến pháp Việt Nam" do tác giả Bùi
Thị Hòe - Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội thực hiện năm 2013 đã làm rõ mối quan hệ giữa Hiến pháp với các
quyền dân sự, chính trị; nêu và phân tích hệ thống các quyền dân sự, chính trị của con người được các Hiến pháp
1
Việt Nam ghi nhận và bảo vệ; đóng góp một số ý kiến góp ý nhằm tiếp tục hồn thiện dự thảo sửa đổi, bổ sung
Hiến pháp năm 1992.
Luận văn "Quyền tham gia chính trị ở Việt Nam hiện nay" do tác giả Nguyễn Công Khanh - Khoa luật
Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện năm 2014 đã cung cấp những vấn đề lý luận về quyền tham gia chính trị,
đồng thời nêu lên thực trạng của việc đảm bảo quyền tham gia chính trị, và có những tổng hợp đánh giá về
quyền chính trị ở Việt Nam hiện nay.
Bài viết "Quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của công dân trong Hiến pháp năm 2013" của tác
giả Phạm Tuấn Anh đăng trong cuốn sách chuyên khảo Thực hiện các quyền hiến định trong Hiến pháp năm
2013 - Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội đã nêu khái quát quy định về quyền tham gia quản lý nhà nước của
công dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam, đặc biệt chú trọng phân tích cách thức quy định nhóm quyền này
trong Hiến pháp năm 2013.
Trên thế giới cũng đã có rất nhiều các cơng trình nghiên cứu khoa học, sách, bài viết, bài báo về quyền
chính trị của cơng dân nói chung và ở trong Hiến pháp nói riêng. Đa phần các tác giả sẽ chủ yếu đề cập đến
quyền chính trị xoay quanh các vấn đề về quyền con người; nội dung bàn luận thường gộp quyền chính trị và
quyền cơng dân cùng với nhau hay so sánh quyền chính trị với các quyền khác như quyền văn hóa, kinh tế, xã
hội ở trong Hiến pháp chứ hiếm có tác giả tách riêng quyền chính trị ở trong Hiến pháp để phân tích sâu.
Qua nghiên cứu, nhận thấy các đề tài trên mới chỉ nghiên cứu góc độ nhất định về quyền chính trị hiến
định của cơng dân nói chung và quyền này trong pháp luật nói riêng, ít đề tài nào đi sâu phân tích và so sánh nội
dung các quyền chính trị trong Hiến pháp trên thế giới và các bản Hiến pháp của Việt Nam. Luận văn này sẽ góp
phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận, thực tiễn về quyền chính trị hiến định của cơng dân.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận, phân tích so sánh các bản Hiến pháp Việt Nam để làm rõ các quy định về
quyền chính trị của cơng dân trong Hiến pháp; xem xét, đánh giá thực trạng việc thực hiện quyền chính trị của
cơng dân hiện nay, từ đó có các giải pháp bảo đảm việc thực hiện quyền này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quyền chính trị hiến định để làm rõ nội dung quyền chính trị hiến định của
cơng dân.
- Nghiên cứu nội dung các quyền chính trị hiến định của cơng dân qua các bản Hiến pháp để làm rõ sự
phát triển của nhóm quyền này, đặc biệt là làm rõ nội dung quyền này trong Hiến pháp năm 2013.
- Nêu thực trạng của việc thực hiện quyền chính trị của cơng dân, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm
hồn thiện và đảm bảo thực hiện quyền chính trị hiến định của công dân hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn này là các bản Hiến Pháp Việt Nam, mà cụ thể là các quy định
về quyền chính trị của cơng dân trong các bản Hiến pháp.
Ngồi ra, luận văn còn nghiên cứu một số văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc thực hiện
quyền chính trị hiến định và Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi đối tượng: Luận văn chỉ giới hạn ở việc phân tích quy định về quyền chính trị của cơng dân
trong các Hiến pháp Việt Nam, có sự tham chiếu với quy định về quyền chính trị của cơng dân trong Cơng ước
về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hiệp quốc ...
- Phạm vi nội dung: nghiên cứu quy định hiến pháp về một số quyền chính trị cơ bản của công dân như
quyền: tham gia quản lý nhà nước, quyền ứng cử, bầu cử, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền tự do thông tin.
- Phạm vi không gian, thời gian: Các bản hiến pháp Việt Nam (Hiến pháp các năm 1946, 1980, 1992
(sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013), trong đó tập trung phân tích quy định về quyền chính trị
của cơng dân trong Hiến pháp 2013 để làm căn cứ đề xuất, kiến nghị đổi mới, hồn thiện quy định hiến pháp về
quyền chính trị hiện nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở áp dụng các phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng pháp luật
và nhân quyền.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong Luận văn này bao 4 gồm: Phương pháp phân
tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, trong đó luận văn chủ yếu dựa trên việc tập hợp và phân tích văn bản, tài liệu
và số liệu.
6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về quyền chính trị hiến định của cơng dân; phân tích cụ thể các quyền
chính trị hiến định trong các bản Hiến pháp Việt Nam Trên cơ sở thực trạng việc thực hiện các quyền chính trị
hiến định của cơng dân hiện nay; đối chiếu với các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người, luận văn đề xuất
những giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện các quyền chính trị.
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các cơ sở
đào tạo về luật học, đặc biệt là chuyên ngành pháp luật về quyền con người và chuyên ngành luật Hiến pháp.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung đề tài được chia thành
hai chương như sau:
3
Chương 1: Cơ sở lý luận về hiến pháp và quyền chính trị hiến định của cơng dân.
Chương 2: Quyền chính trị của cơng dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam và giải pháp bảo đảm thực
hiện quyền chính trị của công dân hiện nay.
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIẾN PHÁP VÀ QUYỀN CHÍNH TRỊ HIẾN ĐỊNH CỦA CÔNG DÂN
1.1. Khái lược về Hiến pháp
1.1.1. Khái niệm, nội dung và hình thức hiến pháp
- Khái niệm hiến pháp:
Có nhiều quan điểm và định nghĩa về hiến pháp. Tuy nhiên, hiểu một cách khái quát, hiến pháp là một
hình thức văn bản quy phạm pháp luật mang giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật; quy định những
vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước như: chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa xã hội; hình thức và bản chất nhà
nước; tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước; quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
- Nội dung chính của hiến pháp:
Các bản hiến pháp cổ điển (ra đời trước năm 1945), thường có nội dung ngắn gọn, xúc tích, chủ yếu tập
trung vào tổ chức bộ máy nhà nước (gồm các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, mối quan hệ chính quyền
trung ương với địa phương) và liệt kê các quyền con người cơ bản.
Các hiến pháp ra đời sau năm 1945, đặc biệt là từ sau năm 1990, thường có nội dung phong phú hơn,
bao trùm nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Bên cạnh các nội dung như trong hiến pháp cổ điển, hiến pháp
hiện đại thường quy định cụ thể hơn về các cơ quan nhà nước ở trung ương, quy định các cơ quan hiến định độc
lập (Kiểm toán, Ủy ban Bầu cử, Ủy ban Nhân quyền…), quy định về nhiều quyền trong lĩnh vực kinh tế, xã hội,
văn hóa… Một số hiến pháp cịn quy định những nội dung mang tính chính sách, định hướng như phát triển kinh
tế, văn hóa (như Hiến pháp Philippin 1986, hiến pháp các nước XHCN…). Kể từ thập kỷ 1980 trở lại đây, các
bản hiến pháp hiện đại quy định ngày càng nhiều thiết chế hiến định độc lập nhằm tăng cường giám sát sự lạm
quyền và phòng, chống tham nhũng.
- Hình thức hiến pháp:
Xét hình thức biểu hiện, có hai loại hiến pháp: hiến pháp thành văn và hiến pháp không thành văn.
Hiến pháp thành văn được lập thành một văn bản riêng và được tuyên bố chính thức là luật cơ bản của
nhà nước, có hiệu lực pháp lý tối cao. Hiện tại, hầu hết quốc gia trên thế giới có hiến pháp thành văn, do ở dạng
thức này hiến pháp có nội dung rõ ràng, cụ thể, dễ áp dụng hơn hiến pháp không thành văn. Hiến pháp thành văn
thơng thường có một văn bản duy nhất, nhưng đơi khi ngồi văn bản chính cịn kèm theo các bản tu chính hoặc
một văn bản khác.
Hiến pháp khơng thành văn là tập hợp các quy phạm, tập quán và tư tưởng phản ánh những giá trị cốt lõi
của một quốc gia, được thể hiện trong một số đạo luật, văn bản chính trị, pháp lý và thậm chí cả án lệ. Các quy
4
phạm, tập quán và tư tưởng này được coi như là các quy tắc mang tính hiến pháp, có hiệu lực tối cao, cho dù
chúng không cấu thành một văn bản riêng và khơng được tun bố chính thức là luật cơ bản của nhà nước.
Căn cứ vào thủ tục sửa đổi, có thể chia hiến pháp thành hai loại “cứng” (rigid constitution) và “mềm
dẻo” (flexible constitution), trong đó hiến pháp cứng đòi hỏi việc sửa đổi phải tuân theo những thủ tục đặc biệt,
cịn hiến pháp mềm dẻo thì có thể sửa đổi theo thủ tục lập pháp thơng thường của nghị viện.
Xét theo hai tiêu chí kể trên, Việt Nam có hiến pháp thành văn và thuộc dạng “mềm dẻo”.
1.1.2. Chức năng và tầm quan trọng của hiến pháp
- Chức năng của hiến pháp:
Hiến pháp có các chức năng cơ bản sau đây:
+ Thiết lập và trao quyền cho bộ máy nhà nước;
+ Giới hạn và kiểm soát quyền lực của các cơ quan nhà nước;
+ Bảo vệ, thúc đẩy các quyền con người, quyền cơng dân.
Ngồi các chức năng cơ bản nêu trên, một số hiến pháp cịn đóng vai trị là văn bản tun bố các giá trị
cốt lõi của một dân tộc và những định hướng phát triển của một đất nước.
- Tầm quan trọng của hiến pháp:
+ Đối với một quốc gia: Một bản hiến pháp tốt là nền tảng để tạo lập một thể chế chính trị dân chủ và
một nhà nước minh bạch, quản lý xã hội hiệu quả, bảo vệ tốt các quyền lợi của người dân. Đây là những yếu tố
không thể thiếu để một quốc gia ổn định và phát triển.
+ Đối với mỗi người dân: Một bản hiến pháp tốt giúp tạo lập một nền dân chủ thực sự, trong đó mọi
người dân có thể tự do bày tỏ tư tưởng, ý kiến và quan điểm về các vấn đề của đất nước và bản thân mình mà
khơng sợ hãi bị đàn áp hay trừng phạt. Ngoài ra còn đồng nghĩa với việc ghi nhận đầy đủ các quyền con người,
quyền công dân phù hợp với các chuẩn mực chung của cộng đồng quốc tế, cũng như các cơ chế cho phép mọi
người dân có thể sử dụng để bảo vệ các quyền của mình khi bị vi phạm.
+ Hiến pháp là phương tiện bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
1.1.3. Quyền con người, quyền công dân trong hiến pháp:
- Hiến pháp trên thế giới: Trên thế giới, các bản hiến pháp cổ điển chủ yếu chỉ đề cập các quyền dân sự
và các quyền chính trị. Các bản hiến pháp hiện đại mở rộng phạm vi các quyền con người, bao gồm cả các quyền
kinh tế, xã hội và văn hóa và các quyền của nhóm.
- Hiến pháp Việt Nam: Hiến pháp Việt Nam 1992, tại Điều 50, lần đầu tiên nhắc đến khái niệm “quyền
con người”. Tuy nhiên, điều khoản này lại đồng nhất quyền con người với quyền cơng dân. Nhìn chung, quyền
cơng dân trong các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được Hiến pháp 1992 quy định tương
đối đầy đủ nhưng một số quyền quan trọng trong luật nhân quyền quốc tế mà đã được ghi nhận phổ biến trong
5
hiến pháp trên thế giới nhưng chưa được ghi nhận trong Hiến pháp 1992, ví dụ như quyền sống, quyền tự do tư
tưởng, quyền thành lập, gia nhập cơng đồn, quyền bãi công…Trong số những quyền này, quyền sống đã được
bổ sung vào Hiến pháp năm 2013.
1.2. Quyền chính trị Hiến định của công dân
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trị quyền chính trị
1.2.1.1. Khái niệm về quyền chính trị
Theo từ điển bách khoa tồn thư mở wikipedia thì chính trị là “tồn bộ những hoạt động có liên quan
đến các mối quan hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội mà cốt lõi của nó là vấn đề giành
chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào cơng việc của nhà nước, sự xác định hình
thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước….”. Quan điểm khác cho rằng chính trị là “những vấn
đề về tổ chức và điều khiển bộ máy nhà nước, hoặc những hoạt động của một giai cấp, một chính đảng nhằm
giành hoặc duy trì quyền điều khiển bộ máy nhà nước”. Bản chất của quyền chính trị là quyền tổ chức và điều
khiển hoạt động của bộ máy nhà nước của người dân. Nói cách khác, quyền chính trị thực chất là quyền của
người dân được tham gia vào việc quản lý nhà nước, tham gia vào các cơng việc của chính phủ một cách
trực tiếp hoặc gián tiếp.
Quyền chính trị là quyền cơ bản nhất của con người, là những quyền được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh
và là cơ sở để các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và quyền phát triển được thực hiện. Đó là các quyền tự do
bầu cử, ứng cử, quyền khiếu nại, tố cáo, tham gia đóng góp ý kiến vào các cơng việc của Nhà nước. Những
quyền chính trị được Hiến pháp ghi nhận còn được gọi là quyền hiến định về chính trị của cơng dân.
1.2.1.2. Đặc điểm quyền chính trị Hiến định của cơng dân
Thứ nhất, xét về nguồn gốc, quyền chính trị ra đời sớm hơn quyền kinh tế, xã hội và văn hóa.
Thứ hai, các quyền hiến định về chính trị của cơng dân được xác lập trên cơ sở lí luận của chủ nghĩa
Mác- Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về các quyền dân tộc cơ bản
là độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, tự do, dân chủ, bình đẳng, hạnh phúc.
Thứ ba, những quyền chính trị hiến định của công dân là một loại quyền đặc biệt, gắn với quyền lực nhà
nước được quy định, đảm bảo thực hiện và có những thay đổi quy định phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của
Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử.
Thứ tư, các quyền hiến định về chính trị của cơng dân được xác lập đồng thời với các quyền hiến định
khác của công dân, góp phần tạo nên một hệ thống thống nhất các quyền hiến định của cơng dân Việt Nam về
chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội.
Thứ năm, các quyền hiến định về chính trị của cơng dân ngày càng được mở rộng, phù hợp với tình hình
và nhiệm vụ mới của cách mạng và với trình độ phát triển kinh tế,chính trị, tư tưởng, văn hóa và dân trí của xã
hội.
6
Thứ sáu, quyền chính trị hiến định của cơng dân là những quyền dễ thực hiện hơn các quyền kinh tế, xã
hội và văn hóa và chúng có thể được công nhận về mặt pháp lý và được áp dụng ngay lập tức sau khi phê chuẩn
Cơng ước, chúng ít phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
1.2.1.3. Vai trị của quyền chính trị Hiến định của công dân
Xét trong bối cảnh lịch sử tư tưởng, lịch sử đấu tranh bảo vệ nhân quyền thì nhiều quyền chính trị được
nhắc đến đồng thời với quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Mặc dù có vị trí ngang nhau, nhưng các quyền chính trị
có các vai trò sau: Là “thước đo” cho mức độ dân chủ của một quốc gia; nội dung các quyền thể hiện sự ghi
nhận của một quốc gia trong việc tôn trọng quyền cơng dân; có mục đích đảm bảo cho con người có quyền tham
gia đầy đủ vào đời sống dân sự, chính trị của nhà nước mà khơng bị phân biệt đối xử và đàn áp; bảo vệ các
quyền tự do của con người, chống lại những hành vi xâm phạm khơng có lý do chính đáng từ phía chính phủ
hoặc các tổ chức khác.
1.2.2. Nội dung các quyền chính trị trong hệ thống các quyền được Hiến pháp ghi nhận
1.2.2.1. Các quyền chính trị Hiến định của cơng dân
- Quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội của công dân.
Quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của công dân là việc công dân tham gia vào bộ máy quản lý
Nhà nước, tổ chức xã hội hoặc hoạt động với tư cách cá nhân để thực hiện các công việc của nhà nước, hoặc xã
hội một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, gắn với các hoạt động: xây dựng chính sách, pháp luật, tuyên truyền, phổ
biến chính sách, pháp luật, ra quyết định, khiếu nại, tố cáo, kiến nghị,... Công dân tham gia quản lý Nhà nước và
xã hội đều nhằm mục tiêu đảm bảo sự ổn định và phát triển của xã hội.
Điều kiện tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của công dân: Hiến pháp 2013 quy định, công dân đủ
mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng
nhân dân (HĐND). Việc thực hiện các quyền này do luật định. Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu
quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân. Để thống nhất thực hiện, Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội
(ĐBQH) và đại biểu HĐND năm 2015 xác định rõ “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng
hòa XHCN Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử
vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Điều 5 Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 (Luật TCYD) cũng quy định "Cơng dân
nước Cộng hịa XHCN Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên tính đến ngày trưng cầu ý dân có quyền bỏ phiếu để biểu
quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân", trừ trường hợp khơng được ghi tên, bị xóa tên trong danh sách cử
tri tại Khoản 1 và Khoản 2 điều 25 Luật này.
+ Trường hợp hạn chế quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội bao gồm:
Trường hợp không được bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND: Luật Bầu cử ĐBQH, đại
biểu HĐND năm 2015 quy định một số trường hợp không được bầu cử (Điều 30), không được ứng cử ĐBQH và
đại biểu HĐND (Điều 37) khi có hành vi vi phạm pháp luật hình sự.
7
Những trường hợp không được bỏ phiếu để biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân bao gồm:
(i) Người bị kết án tử h́ ình đang trong thời gian chờ thi hành án; (ii) Người đang phải chấp hành hình phạt tù mà
khơng được hưởng án treo; nếu đến trước thời điểm bắt đầu bỏ phiếu 24 giờ mà được trả tự do thì những người
này được bổ sung tên vào danh sách cử tri và nhận thẻ cử tri để bỏ phiếu 13 trưng cầu ý dân; (iii) Người đã có
tên trong danh sách cử tri nếu đến thời điểm bắt đầu bỏ phiếu bị kết án tử hình, phải chấp hành hình phạt tù mà
khơng được hưởng án treo thì UBND xã xóa tên người đó trong danh sách cử tri và thu hồi thẻ cử tri (Điều 25
Luật Trưng cầu ý dân).
+ Hình thức tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
Trong thực tế, mức độ tham gia quản lý nhà nước và xã hội của mỗi công dân rất khác nhau, do sự chi
phối của các yếu tố, trong đó quan trọng nhất là việc lựa chọn hình thức tham gia quản lý. Điều 6 Hiến pháp
2013 quy định: “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông
qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”.
Hình thức tham gia trực tiếp:
Cơng dân thực hiện tham gia quản lý nhà nước và xã hội của mình bằng cách tham gia ứng cử ĐBQH
hoặc ứng cử vào HĐND các cấp. Khi trúng cử, trở thành ĐBQH hoặc đại biểu HĐND, cơng dân có thể trực tiếp
tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội thông qua việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Cơng dân
có thể tham gia hoạt động trong các cơ quan nhà nước thông qua cơ chế tuyển dụng theo quy định pháp luật.
Cơng dân cịn có thể tham gia thảo luận, cho ý kiến trực tiếp đối với các vấn đề ở tầm quốc gia khi Nhà nước tổ
chức trưng cầu dân ý dựa trên quy định của Luật Trưng cầu ý dân.
Kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước, đấu tranh với tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền,
tham nhũng, lãng phí và những hiện tượng tiêu cực trong bộ máy nhà nước. Tùy thuộc vào tính chất cơng việc và
vị trí việc làm, cơng dân có thể tham gia quản lý Nhà nước thông qua cơ chế kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh
giá và đấu tranh chống tiêu cực trong bộ máy nhà nước, làm trong sạch đội ngũ, đảm bảo sự vận hành hiệu quả
của bộ máy quản lý Nhà nước.
Công dân tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật: Phương thức tham gia là cơ quan,
tổ chức chủ trì soạn thảo có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân tham gia góp ý về
dự thảo văn bản; tổ chức lấy ý kiến của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Quyền và nghĩa vụ của
cơng dân tham gia vào việc xây dựng chính sách, pháp luật được ghi nhận tại Điều 28 Hiến pháp năm 2013,
Điều 6, Điều 36, Điều 57 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.
Ngoài ra, cơng dân có thể tham gia bàn và quyết định trực tiếp những vấn đề liên quan đến đời sống ở cơ
sở.
Hình thức tham gia gián tiếp:
Cơng dân thực hiện quyền tham gia QLNN bằng việc thực hiện quyền bầu cử ĐBQH và đại biểu
HĐND. Để thực hiện quyền lực nhà nước được Nhân dân trao cho, ĐBQH và đại biểu HĐND phải chịu sự giám
sát, chất vấn của cử tri (công dân) về các yêu cầu, nhiệm vụ QLNN (Điều 79 và Điều 115 Hiến pháp 2013).
8
Công dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội thơng qua các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã
hội, xã hội nghề nghiệp. Khi cơng dân có u cầu và ý kiến, các tổ chức sẽ tập hợp lại để chuyển tới các cơ quan
có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Nhà nước cũng cho phép cơng dân thơng qua tổ chức mà mình là thành viên
tham gia nhiều hơn trong hoạt động quản lý của Nhà nước.
Công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội thông qua hoạt động kiểm tra, giám sát của Mặt trận tổ
quốc, Cơng đồn, Thanh tra nhân dân…
- Quyền bầu cử và ứng cử của công dân
Quyền Bầu cử và Ứng cử là quyền chính trị quan trọng bảo đảm cho cơng dân có thể tham gia vào việc
thành lập ra những cơ quan quan trọng nhất của mỗi quốc gia.
+ Quyền Bầu cử.
Bầu cử là một q trình đưa ra quyết định của cơng dân hoặc của thành viên một tổ chức để chọn ra các
cá nhân nắm giữ các chức vụ thuộc chính quyền, thuộc ban lãnh đạo của một tổ chức, cơ quan, đơn vị nào đó.
Muốn cho cuộc bầu cử diễn ra một cách thắng lợi cũng như để đảm bảo cho cuộc bầu cử được tiến hành một
cách dân chủ cần phải tiến hành theo nhiều nguyên tắc.
Nguyên tắc Bầu cử trực tiếp: Nội dung của nguyên tắc bầu cử trực tiếp là cử tri tín nhiệm người nào thì
trực tiếp bỏ phiếu cho người ấy làm ĐBQH hay đại biểu HĐND mà không thông qua người nào hay cấp nào
khác. Nguyên tắc này nhằm mục đích để cử tri trực tiếp lựa chọn người đủ tín nhiệm vào cơ quan quyền lực Nhà
nước bằng lá phiếu của mình mà khơng phải thơng qua bất kì một khâu trung gian nào. Nguyên tắc bầu cử trực
tiếp được đảm bảo thực hiện bằng nhiều quy định trong Luật bầu cử ĐBQH, Luật bầu cử đại biểu HĐND và
những văn bản dưới luật khác.
Nguyên tắc Bầu cử phổ thông: Yêu cầu của nguyên tắc này là Nhà nước phải bảo đảm để cuộc bầu cử
thực sự trở thành một cuộc sinh hoạt chính trị rộng lớn, tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền bầu
cử của mình, bảo đảm tính dân chủ, công khai và sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân trong bầu cử
mà không có sự phân biệt đối xử (trừ những người mất trí hay những người bị tước quyền bầu cử trên cơ sở của
pháp luật).
Nguyên tắc Bầu cử bình đẳng: Nội dung của nguyên tắc bình đẳng là mỗi cử tri có một phiếu bầu đối
với một cuộc bầu cử và giá trị phiếu bầu như nhau không phụ thuộc vào giới tính, địa vị xã hội, sắc tộc, tơn
giáo,... Ngun tắc này được thể hiện trong các quy định của pháp luật về quyền bầu cử và ứng cử của cơng dân.
Ngun tắc bình đẳng cịn địi hỏi phải có sự phân bổ hợp lý cơ cấu, thành phần, số lượng đại biểu.
Nguyên tắc Bầu cử bỏ phiếu kín: Nguyên tắc bỏ phiếu kín thể hiện ở việc loại trừ sự theo dõi và kiểm
sốt từ bên ngồi đối với việc thể hiện ý chí (sự bỏ phiếu) của cử tri. Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm
bảo tự do đầy đủ sự thể hiện ý chí của cử tri một cách khách quan nhất.
+ Quyền Ứng cử.
9
Quyền ứng cử là quy định của pháp luật về khả năng của công dân thể hiện nguyện vọng của mình được
bầu làm đại biểu. Về nguyên tắc so với quyền bầu cử, quyền ứng cử được pháp luật đòi hỏi cao hơn về chất.
Quyền ứng cử của công dân thể hiện ở sự chấp thuận việc người khác đề cử mình hoặc việc cơng dân tự ra ứng
cử. So với quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân có những u cầu cao hơn về độ tuổi. Cơng dân từ mười
tám tuổi trở lên thì có quyền bầu cử, nhưng phải đủ hai mươi mốt tuổi trở lên mới có quyền ứng cử. Ngồi quy
định về tuổi, Hiến pháp và các luật bầu cử hiện hành không quy định điều kiện nào khác đối với quyền ứng cử
của công dân nhưng để thực hiện quyền ứng cử của công dân phải đạt được một số tiêu chuẩn nhất định.
- Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân.
Theo khoản 1 điều 2 Luật khiếu nại năm 2011 quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức
hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem
xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền
trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết
định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”.
Theo luật tố cáo năm 2018 quy định: “Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá
nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân” (khoản 1 điều 2).
Giữa khiếu nại và tố cáo có điểm chung là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ
quan, tổ chức khi bị xâm phạm. Khiếu nại và tố cáo đều có chung căn cứ là vi phạm pháp luật. Mặc dù giữa
khiếu nại và tố cáo có quan hệ gần gũi nhau nhưng giữa chúng có sự khác nhau về nội dung, tính chất, đặc biệt là
sự điều chỉnh của pháp luật.
Về chủ thể: chủ thể của khiếu nại là công dân, tổ chức, cơ quan – những người có quyền lợi liên quan
trực tiếp tới hành vi vi phạm pháp luật, còn chủ thể của tố cáo chỉ có thể là cơng dân - người khơng có quyền và
lợi ích liên quan trực tiếp tới hành vi vi phạm pháp luật.
Về đối tượng: đối tượng của khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính mà người khiếu nại
cho rằng quyết định hay hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối tượng
của tố cáo là những hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe
doạ gây thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Về mục đích: mục đích của người khiếu nại là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cịn
mục đích của người tố cáo là nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước, tập thể nói chung.
Về trách nhiệm pháp lý: người khiếu nại không phải chịu trách nhiệm khi khiếu nại khơng có căn cứ cịn
người tố cáo phải chịu trách nhiệm pháp lý khi cố tình tố cáo sai sự thật. Khiếu nại và tố cáo còn khác nhau về
thẩm quyền, trình tự, thủ tục, phương thức giải quyết.
Khiếu nại và tố cáo có những vai trị rất lớn trong hoạt động quản lý nhà nước và xã hội vì vậy chúng ta
phải có các biện pháp hữu hiệu để đảm bảo pháp chế xung quanh hoạt động này. Khiếu nại, tố cáo là những
10
quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và là phương tiện có hiệu quả để cơng dân tự bảo vệ
các quyền lợi của mình khi bị xâm hại trong lĩnh vực quản lý nhà nước. Thông qua họat động khiếu nại và tố cáo
của nhân dân đã khẳng định mối quan hệ cần thiết giữa nhà nước và công dân; thể hiện rõ nguyên tắc quyền lực
nhà nước trong quản lý hành chính nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân. Cơng dân sử dụng quyền khiếu nại, tố
cáo là hình thức dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia vào quản lý hành chính nhà nước, quản lý xã hội trong
sạch, vững mạnh; sẽ tạo cơ hội thuận lợi để công dân phát huy một cách có hiệu quả nhất quyền làm chủ của
mình, đồng thời giúp các chủ thể quản lý hành chính nhà nước có những thơng tin phản hồi quan trọng từ đối
tượng quản lý.
- Các quyền chính trị hiến định khác của công dân.
+ Quyền tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thơng tin.
Tự do ngơn luận, tự do báo chí, tiếp cận thơng tin, hội họp, lập hội, biểu tình đã được quy định trong
Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013) và được cụ thể hóa trong nhiều đạo luật, nghị
định, như: Điều 11 Luật Báo chí (2016), Điều 3 Luật Tiếp cận thơng tin (2016), Nghị định 72/2013/NĐ-CP,
ngày 15-07-2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thơng tin trên mạng,…. Nhìn
chung, cả về cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn cho thấy, pháp luật Việt Nam đã tương thích với luật quốc tế về
quyền con người; tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do ngơn luận, báo chí, tiếp cận
thơng tin nói riêng.
+ Quyền tự do hội họp và tự do lập hội.
Tự do lập hội, tự do hội họp là một trong những quyền cơ bản của công dân Việt Nam được ghi nhận
xuyên suốt trong tất cả các bản Hiến pháp mà Quốc hội Việt Nam thông qua từ trước đến nay. Quyền lập hội
cũng được thực thi trong thực tế, cho thấy những ý kiến trái chiều về vấn đề này là thiếu khách quan, cố tình
xuyên tạc vấn đề nhân quyền tại Việt Nam. Hiến pháp Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự lập hội và sẽ chẳng ai
bị hạn chế nếu các hội ấy hoạt động thực sự vì con người, vì lợi ích của nhân dân. Tuy nhiên, thành lập các tổ
chức độc lập để rồi trở thành đối lập với các tổ chức trong hệ thống chính trị Việt Nam thì tự thân việc làm đó đã
đi ngược lại với lợi ích của nhân dân, vi phạm luật pháp Việt Nam, luật pháp quốc tế. Điều này hiển nhiên không
được chấp nhận ở Việt Nam.
1.2.2.2. Các quyền chính trị trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm 1948 (UDHR) và Công
ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR)
Tun ngơn nhân quyền năm 1948 có ý nghĩa vơ cùng quan trọng nhưng do đây chỉ là một bản “tun
ngơn”, mang tính chất khuyến nghị nên khơng có hiệu lực pháp lý ràng buộc với các quốc gia. Chính vì vậy, cần
thiết phải chuyển tải các nội dung của Tun ngơn sang hình thức Cơng ước quốc tế có giá trị bắt buộc các quốc
gia ký kết, phê chuẩn phải tuân theo trở thành vấn đề cấp thiết được nhiều nước ủng hộ. Sau nhiều tranh cãi,
ngày 4 tháng 2 năm 1952, Đại hội đồng Liên hiệp quốc đã thông qua Nghị quyết số 543 (VI) giao cho Ủy ban
Nhân quyền của Liên hiệp quốc song song soạn thảo hai Công ước riêng biệt phù hợp với đặc thù của hai nhóm
quyền căn bản là Cơng ước về các quyền dân sự, chính trị và Cơng ước về các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội.
11
Đến năm 1966, cả hai Công ước này đã được Đại hội đồng Liên hiệp quốc nhất trí thơng qua. Một số quyền
chính trị được ghi nhận rộng rãi và cần được đảm bảo thực hiện trên thực tế. Cụ thể như sau:
- Quyền tham gia vào đời sống chính trị.
Theo Điều 21 Tun ngơn nhân quyền năm 1948 thì tất cả mọi người đều có quyền tham gia vào quản lý
của đất nước mình trực tiếp hoặc thơng qua những người đại diện đã được tự do lựa chọn. Điều 25 ICCPR tái
khẳng định “Mọi cơng dân, khơng có bất kỳ sự phân biệt nào... và khơng có bất kỳ sự hạn chế bất hợp lý nào,
đều có quyền và cơ hội để: a) tham gia điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những
đại diện do họ tự do lựa chọn; b) Bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thơng
đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín, nhằm đảm bảo cho 10 cử tri được tự do bày tỏ ý nguyện của mình; c)
được tiếp cận với các chức vụ công ở đất nước mình trên cơ sở bình đẳng ”.
- Quyền tự do lập hội và tự do hội họp một cách hịa bình.
Điều 20 UDHR quy định “1. Ai cũng có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hịa bình. 2. Khơng ai
bị bắt buộc phải tham gia bất cứ một hiệp hội nào”. Tái khẳng định Điều 20 của UDHR, tại Điều 21 và Điều 22
ICCPR quy định về quyền hội họp hịa bình và quyền tự do lập hội trong hai điều riêng biệt.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền chính trị
1.3.1. Điều kiện kinh tế, xã hội
Pháp luật xã hội chủ nghĩa có nội dung do bản chất của quan hệ kinh tế xã hội chủ nghĩa quy định. Được
xây dựng và quy định bởi quan hệ sản xuất với nhiều thành phần kinh tế trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trị
chủ đạo, do đó pháp luật xã hội chủ nghĩa có nội dung chủ yếu là những quy định đảm bảo tính dân chủ, thể hiện
ý chí nguyện vọng của nhân dân, là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực của mình, là cơng cụ trong tay nhà
nước xã hội chủ nghĩa để bảo vệ và xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Do đó hệ thống pháp luật của Việt
Nam, đặc biệt là Hiến pháp có những quy định tích cực để nhân dân thực hiện quyền lực của mình như việc hiến
định các quyền chính trị của công dân để công dân tham gia làm chủ đất nước.
1.3.2. Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chủ trương của Đảng
Hệ thống pháp luật của nước ta trong quá trình xây dựng có sự ảnh hưởng của các học thuyết, quan điểm
của các nhà khoa học có ảnh hưởng rất lớn đến nội dung các quy định, có thể kể đến học thuyết, tư tưởng được
coi là nền tảng lãnh đạo của Đảng cộng sản như chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc gắn kết
giữa quyền con người với quyền độc lập dân tộc có thể coi là sáng tạo lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi
cách mạng tháng Tám thành công, ngay tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
yêu cầu tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên càng sớm, càng tốt với mục đích để nhân dân thực hiện quyền tự do chính
trị, quyền dân chủ, quyền cơng dân của mình là bầu ra Quốc Hội, và Quốc Hội có quyền thơng qua một bản Hiến
pháp ghi nhận các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân. Sau đó Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận một số quyền
chính trị của cơng dân.
12
Pháp luật Việt Nam là sự thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng Cộng
sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời của nhân dân lao động, là lực lượng lãnh đạo
nhà nước và xã hội. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng là những định hướng mang tính chất chiến lược
liên quan đến vấn đề đối nội và đối ngoại, ln giữ vai trị chỉ đạo đối với nội dung, phương hướng xây dựng
pháp luật ở Việt Nam. Do đó, mọi quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật đều phải phù hợp với đường
lối, chính sách của Đảng.
1.3.3. Các cơng ước quốc tế
Là thành viên của nhiều điều ước quốc tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng các
tập quán quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, các nguyên tắc của pháp luật quốc tế nói chung và các quy định
về trách nhiệm quốc gia được quy định trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, phê chuẩn hoặc gia
nhập. Trong quá trình xây dựng Hiến pháp cho thấy Nhà nước ta đã quyết tâm đưa các nguyên tắc cơ bản được
ghi nhận trong các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết vào văn bản pháp luật tối cao
của đất nước. Các quyền chính trị hiến định của cơng dân vì vậy đã được nội luật hóa và có vị trí quan trọng
trong hệ thống các quyền con người.
1.4. Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền chính trị của cơng dân.
Khi các quyền chính trị của cơng dân được thừa nhận, ghi nhận bởi nhà nước thông qua Hiến pháp và
pháp luật thì cũng đồng thời phải được tôn trọng, bảo đảm thực hiện và thúc đẩy phát triển. Nếu các quyền chính
trị bị xâm phạm khơng thể thực thi thì cũng có nghĩa là Nhà nước không bảo đảm thực hiện các quyền này của
công dân. Do đó, các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền chính trị của cơng dân bao gồm các yếu tố như sau:
Thứ nhất, điều kiện địa lý – tự nhiên thuận lợi, kinh tế phát triển, xã hội ổn định là các yếu tố tiền đề
quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.
Thứ hai, thế chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển, biện pháp quản lý đề ra cũng là một
trong các yếu tố bảo đảm thực thi quyền chính trị của cơng dân. Đây là các công cụ giúp việc bảo đảm thực hiện
quyền được hiệu quả hơn, thể hiện sự tôn trọng từ các chủ thể có trách nhiệm bảo đảm quyền.
Thứ ba, các chủ thể hay nguồn lực thực thi công tác bảo đảm thực hiện các quyền chính trị của công dân
đầy đủ, không bị thiếu hụt, nhận thức tốt vai trị của mình và thực hiện cơng tác lãnh đạo, quản lý tốt cũng sẽ là
một trong các yếu tố quan trọng góp phần bảo đảm thực hiện quyền chính trị một cách nhanh chóng và hiệu quả.
Thứ tư, sự phát triển của thơng tin đại chúng cũng góp phần làm bảo đảm thực hiện quyền con người nói
chung và quyền chính trị nói riêng.
13
Chương 2
QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA CƠNG DÂN TRONG CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM VÀ CÁC
GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN CHÍNH TRỊ CỦA CƠNG DÂN HIỆN NAY
2.1. Quyền chính trị của cơng dân trong các bản Hiến pháp trước Hiến pháp năm 2013
2.1.1. Các quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp năm 1946
Hiến pháp năm 1946 là cơ sở pháp lý cho việc xác lập các quyền cơ bản của công dân, thể hiện mối quan
hệ pháp lý cơ bản giữa nhà nước và công dân ở Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt Nam, Hiến
pháp năm 1946 long trọng tuyên bố 2 quyền cơ bản mang tính nguyên tắc của người dân Việt Nam trong một
nước tự do, độc lập là: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn
hóa” (Điều 6); “Tất cả cơng dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật…” (Điều 7). Hai điều luật này thể
hiện tính nhân đạo, tính tiến bộ và sự ưu việt của chế độ chính trị và xã hội nước ta, đồng thời mang tính phổ
quát đối với tất cả các quyền hiến định khác của công dân. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước vẫn còn cảnh
chiến tranh, Hiến pháp năm 1946 khơng thể quy định nhiều quyền chính trị mà chỉ dành riêng một số điều trong
chương II (Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân) quy định các quyền chính trị cơ bản của cơng dân.
Quyền chính trị quan trọng hàng đầu trong Hiến pháp năm 1946 quy định là quyền “được tham gia chính
quyền và cơng cuộc kiến quốc tùy theo tài năng và đức hạnh của mình” (Điều 7). Sự độc đáo ở đây là Hiến pháp
quy định việc tham gia chính quyền và cơng cuộc kiến quốc ấy tùy vào tài năng, đức độ của mỗi người tham gia
chứ không bắt buộc phải tham gia hay phải tham gia khi mình khơng có tài năng hoặc tham gia vượt quá khả
năng của bản thân.
Quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân được quy định tại Điều 18: “Tất cả công dân Việt Nam, từ
18 tuổi trở lên, khơng phân biệt gái trai đều có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người mất cơng
quyền. Người ứng cử phải là người có quyền bầu cử, phải ít ra là 21 tuổi và phải biết đọc, biết viết chữ quốc
ngữ. Công dân tại ngũ cũng có quyền bầu cử và ứng cử”. Chế độ bầu cử ở nước ta được thực hiện trên nguyên
tắc phổ thông đầu phiếu, tự do, trực tiếp và kín (Điều 17).
Quyền bãi miễn đại biểu mà mình đã bầu ra của công dân được quy định tại Điều 20. Điều đáng chú ý ở
đây là Hiến pháp quy định chủ thể của quyền bãi miễn đại biểu dân cử là “nhân dân” chứ không phải chỉ là cử
tri, thể hiện tính chất dân chủ rộng rãi của Nhà nước ta. Điều 41 Hiến pháp quy định Nghị viện nhân dân phải
xem xét vấn đề bãi miễn một nghị viện khi nhận được đề nghị của một phần tư tổng số cử tri tỉnh hay thành phố
đã bầu ra nghị viên đó và nếu hai phần ba tổng số nghị viên ưng thuận đề nghị bãi miễn thì nghị viên đó phải từ
chức. Cũng theo điều 61 Hiến pháp, nhân viên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban hành chính có thể bị bãi miễn và
việc bãi miễn đó sẽ do luật định.
Quyền phúc quyết về hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia của công dân được quy
định tại Điều 21 Hiến pháp. Theo Điều 32, nếu 2/3 tổng số nghị viện đồng ý thì Nghị viên phải đưa ra cho nhân
dân phúc quyết những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia. Đối với việc sửa đổi Hiến pháp, Điều 70 quy định:
“Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra tồn dân phúc quyết”.
14
2.1.2. Các quyền chính trị của cơng dân trong Hiến pháp năm 1959
Hiến pháp năm 1959 vừa kế thừa, vừa phát triển những quy định của Hiến pháp năm 1946 về các quyền
chính trị của cơng dân và những bảo đảm của Nhà nước cho các quyền ấy. Có hai quyền mà Hiến pháp năm
1946 ghi nhận không được quy định lại trong Hiến pháp năm 1959 là quyền phúc quyết về hiến pháp và những
việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia (Điều 21 Hiến pháp năm 1946) và quyền tham gia chính quyền và kiến
quốc (Điều 7 Hiến pháp năm 1946).
Theo Hiến pháp năm 1959, Quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân được quy định tại Điều 23 với
những bổ sung quan trọng và cần thiết hơn. Độ tuổi để được quyền bầu cử và ứng cử giống với độ tuổi đã được
quy định trong Hiến pháp năm 1946 nhưng điểm mới ở đây là: nếu Hiến pháp năm 1946 chỉ đưa ra một yếu tố yếu tố giới tính (nam, nữ) để quy định căn cứ không được hạn chế quyền bầu cử và quyền ứng cử của cơng dân
thì Hiến pháp năm 1959 quy định một loạt các yếu tố khác nữa về dân tộc, nguồn gốc xuất thân, thành phần xã
hội, tín ngưỡng, tơn giáo, tình trạng tài sản, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú. Ngồi ra, Hiến pháp
năm 1959 cịn bổ sung ngun tắc bình đẳng vào các nguyên tắc bầu cử đã được quy định trong Hiến pháp năm
1946. Các quy định của Hiến pháp năm 1959 về quyền bầu cử, quyền ứng cử của công dân và về các nguyên tắc
bầu cử là cơ sở pháp lý để Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội
nước Việt Nam dân chủ cộng hòa năm 1959 – đạo luật bầu cử đầu tiên ở nước ta.
Về quyền công dân đối với việc bãi miễn đại biểu dân cử. Nếu Hiến pháp năm 1946 quy định trực tiếp
quyền của nhân dân được bãi miễn đại biểu mà mình đã bầu ra (Điều 20) thì Hiến pháp năm 1959 quy định
quyền này một cách gián tiếp: “Đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp có thể bị cử tri bãi
miễn trước khi hết nhiệm kỳ nếu tỏ ra khơng xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân” (Điều 5). Như vậy đã có
một số điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng và cần thiết: một là, không phải nhân dân thực hiện quyền bãi miễn đại
biểu dân cử như trước đây mà chỉ các cơng dân là “cử tri” mới có quyền này; hai là, cử tri bãi miễn đại biểu dân
cử trong thời gian còn nhiệm kỳ đại biểu và ba là, cử tri chỉ có thể bãi miễn đại biểu dân cử khi đại biểu đó
khơng cịn tín nhiệm đối với nhân dân nữa.
Quyền trưng cầu dân ý trong Hiến pháp năm 1959 chưa được quy định cụ thể hành một điều riêng mà
được công nhận gián tiếp tại khoản 5 Điều 53 về quyền hạn của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội có quyền " Quyết định việc trưng cầu ý kiến nhân dân".
Đối với hai quyền chính trị mới là quyền khiếu nại và quyền tố cáo của công dân (Điều 29), Hiến pháp
năm 1959 quy định đối tượng của khiếu nại, tố cáo là “hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước”; nơi
mà công dân gửi khiếu nại, tố cáo hoặc trực tiếp tới trình bày về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ
quan nhà nước là “bất cứ cơ quan nhà nước nào” nhằm tạo điều kiện cho công dân thực hiện các quyền này một
cách dễ dàng, không vướng một rào cản nào cả, đồng thời, cũng nâng cao trách nhiệm của tất cả các cơ quan nhà
nước trong việc nhận khiếu nại, tố cáo của dân hay trực tiếp tiếp dân. Đặc biệt, lần đầu tiên Hiến pháp năm 1959
quy định bảo đảm của Nhà nước đối với các quyền này như sau: “Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét
và giải quyết nhanh chóng. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền
được bồi thường” (Điều 29). Quy định này có ý nghĩa trong việc nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước
15
trong việc xét và giải quyết kịp thời nhanh chóng những khiếu nại, tố cáo của dân nhằm củng cố lịng tin của
nhân dân vào “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” (Lời nói đầu trong Hiến pháp năm 1959).
2.1.3. Các quyền chính trị của cơng dân trong Hiến pháp năm 1980
Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện nước nhà thống nhất, cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội,
do đó, các quy định về các quyền chính trị cơ bản của cơng dân và bảo đảm pháp lý cho việc thực hiện các
quyền đó đã có bước phát triển đáng ghi nhận. Hiến pháp năm 1980 lần đầu tiên ghi nhận một trong những
nguyên tắc cơ bản của việc xác lập và bảo đảm thực hiện các quyền cơ bản của công dân ở nước ta là: “Quyền
của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Nhà nước bảo đảm các quyền của cơng dân; cơng dân phải
làm trịn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội”.
Việc Hiến pháp năm 1980 quy định quyền chính trị mới là quyền tham gia quản lý các công việc của
Nhà nước và của xã hội đánh dấu sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của Nhà nước về vị trí, vai trò của
nhân dân trong quản lý nhà nước và quản lý xã hội, thể hiện tính chất dân chủ rộng rãi của Nhà nước ta. Trên
thực tế, Hiến pháp năm 1980 đã khôi phục lại quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân đã được quy định
trong Hiến pháp năm 1946.
Quyền trưng cầu ý dân trong Hiến pháp năm 1980 được gián tiếp ghi nhận tại khoản 6, điều 100, về
nhiệm vụ và quyền hạn của Hội đồng Nhà nước. Theo đó Hội đồng Nhà nước có quyền "Quyết định việc trưng
cầu ý kiến nhân dân".
Đối với quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân, Hiến pháp vẫn quy định công dân từ 18 tuổi trở
lên có quyền bầu cử và từ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử ĐBQH và HĐND, trừ những người mất trí và những
người bị pháp luật hoặc Tịa án nhân dân tước quyền đó. Các quy định trong Hiến pháp năm 1980 về quyền bầu
cử, quyền ứng cử của công dân và các nguyên tắc bầu cử được cụ thể hóa trong Luật bầu cử đại biểu Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1983, Luật
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 1989.
Đối với việc bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, khác với Hiến pháp năm 1959,
Hiến pháp năm 1980 quy định trực tiếp quyền này của các công dân là cử tri: “Cử tri có quyền bãi miễn đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, nếu đại biểu đó khơng xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”
(Điều 7).
Về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân (Điều 73) Hiến pháp năm 1980 quy định “Các điều kiện khiếu
nại, tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng” và “Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường”
nhưng Hiến pháp 1980 đã bổ sung hai điểm quan trọng: một là, “Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng
của cơng dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh”; hai là, “Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu
nại, tố cáo”. Quy định bổ sung này vừa nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, vừa để bảo vệ quyền lợi
và sự an toàn của người khiếu nại, tố cáo.
2.1.4. Các quyền chính trị của công dân trong Hiến pháp năm 1992
16
Hiến pháp năm 1992 ra đời sau 12 năm thực hiện Hiến pháp năm 1980, ở thời điểm mà sự nghiệp đổi
mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo bắt đầu từ năm 1986 đang đòi hỏi việc tiếp tục với nội
dung sâu sắc và toàn diện hơn, với bước đi vững chắc nhằm đưa đất nước ta tiến tới một giai đoạn phát triển
mới” và chúng ta “đã giành được những thành tựu tuy mới bước đầu nhưng rất quan trọng trên tất cả các lĩnh
vực. Trong các quy định của Hiến pháp năm 1992 về các quyền chính trị của cơng dân có những điểm sửa đổi,
bổ sung quan trọng nhằm mở rộng các quyền về chính trị của cơng dân cho phù hợp với điều kiện dân chủ hóa
xã hội hiện nay ở nước ta.
Điều 53 quy định 4 quyền chính trị của công dân liên quan đến việc tham gia quản lý nhà nước và xã
hội. Nếu Hiến pháp năm 1980 quy định một cách chung chung “Cơng dân có quyền tham gia quản lý công việc
của Nhà nước và xã hội” [17] (Điều 65) thì Hiến pháp năm 1992 nói rõ ràng và cụ thể hơn những công việc mà
công dân có thể tham gia giải quyết như thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ
quan nhà nước, biểu quyết khi nhà nước trưng cầu dân ý, trên cơ sở đó xuất hiện 3 quyền chính trị mới tương
ứng với ba loại hoạt động mà công dân được phép tiến hành. Ở đây cần lưu ý rằng, Hiến pháp năm 1992 đã khôi
phục quyền biểu quyết của công dân đã được quy định trong Hiến pháp năm 1946 (Điều 21) nhưng trong Hiến
pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980 thì khơng có quyền này. Đây chính là cơ sở pháp lý để xây dựng và ban
hành Luật Trưng cầu ý dân.
Đối với quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân (Điều 54), Hiến pháp năm 1992 có một số điểm sửa
đổi, bổ sung quan trọng:
Một là, nếu trước đây Hiến pháp năm 1980 gộp tín ngưỡng với tơn giáo thì nay Hiến pháp năm 1992
tách “tín ngưỡng” khỏi “tơn giáo” thành hai đặc điểm độc lập về nhân thân là căn cứ không được dựa vào để
phân biệt đối xử dẫn tới hạn chế quyền bầu cử và quyền ứng cử của công dân;
Hai là, về tuổi để được bầu cử và được ứng cử, Hiến pháp năm 1992 thay các câu: “từ mười tám tuổi trở
lên đều có quyền bầu cử” và “từ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có thể được bầu” đã được quy định trong Điều 57
Hiến pháp năm 1980 bằng các câu: “đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử” và “đủ hai mươi tuổi trở lên
đều có quyền ứng cử”.
Ba là, Hiến pháp năm 1992 thay câu: “có thể được bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp” đã
được quy định tại Điều 57 Hiến pháp năm 1980 bằng câu: “có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND theo quy định
của pháp luật”. Công dân ứng cử ĐBQH và đại biểu HĐND phải tuân theo các quy định của các đạo luật về bầu
cử ĐBQH và đại biểu HĐND các cấp. Điều 7 Hiến pháp năm 1992 tiếp tục quy định các nguyên tắc bầu cử như
đã được quy định trong Điều 7 Hiến pháp 1980 đó là: phổ thơng, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
Quyền của cử tri được bãi nhiệm ĐBQH và đại biểu HĐND khi đại biểu đó khơng cịn tín nhiệm đối với
nhân dân được quy định tại Điều 7 với sự thay từ “bãi miễn” bằng từ “bãi nhiệm” cho chuẩn xác về ngữ nghĩa.
Quyền này của cử tri được Hiến pháp quy định một cách gián tiếp: “Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Hội đồng
nhân dân bãi nhiệm…”.
2.2. Quy định về quyền chính trị trong Hiến pháp năm 2013
17
Hiến pháp 2013 được ban hành có sự tiếp nối và bổ sung từ các bản Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959,
Hiến pháp 1980, và Hiến pháp 1992. Quyền chính trị của công dân được ghi nhận trong chương II “quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”.
2.2.1. Quyền tham gia quản lí nhà nước và xã hội của cơng dân
Quyền tham gia quản lí đất nước và xã hội là quyền của công dân tham gia thảo luận vào các công việc
chung của đất nước trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phạm vi của cả nước và trong địa
phương; quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước về xây dựng bộ máy nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội.
Điều 28 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lí Nhà nước và xã hội”. Đây là quyền cơ
bản về chính trị của công dân đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân
làm, dân kiểm tra, giám sát”. Đây là điều để bổ sung nội dung Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia
quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.
Quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước: Với tư tưởng “nhà nước là của nhân dân, tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, Hiến pháp năm 2013 quy định “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có
quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 29). So với các Hiến pháp trước thì quy định này
có vẻ tiến bộ hơn nhưng xét về bản chất thì quyền phúc quyết và quyền biểu quyết hoàn toàn khác nhau. Theo
quy định của Hiến pháp năm 2013 thì người dân chỉ được biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý kiến. Như
vậy, nếu cơ quan nhà nước khơng tổ chức thì người dân cũng khơng thực hiện được quyền này. Quy định như
vậy đã làm bó chặt một quyền quan trọng của người dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
Cũng giống như Hiến pháp 1992, cơng dân có thể tham gia quản lý Nhà nước và xã hội thông qua
ĐBQH và đại biểu HĐND. Hiến pháp 2013 bổ sung thêm hình thức dân chủ trực tiếp, bên cạnh việc khẳng định
lại nội dung của Điều 2 Hiến pháp 1992. Dân chủ trực tiếp có thể thực hiện thơng qua hình thức trưng cầu ý dân,
được quy định tại khoản 15, Điều 70. Trưng cầu ý dân còn được quy định trong trường hợp sửa đổi Hiến pháp,
được quy định tại khoản 3, Điều 120.
2.2.2. Quyền bầu cử, ứng cử của công dân
Điều 27 quy định về quyền bầu cử và ứng của của cơng dân. Theo đó, cơng dân đủ mười tám tuổi trở lên
có quyền bầu cử và đủ hai một tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Để tránh tùy tiện
trong việc hạn chế quyền bầu cử, ứng cử của công dân, pháp luật quy định những trường hợp không được bầu
cử, ghi tên vào danh sách cử tri, đó là: “Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của Tịa án đã
có hiệu lực pháp luật, người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình
phạt tù mà khơng được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự thì khơng được ghi tên vào danh sách
cử tri” điều 30 Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (2015).
Quyền bầu cử, ứng cử được thực hiện theo bốn ngun tắc: phổ thơng, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu
kín. Các ngun tắc đó thống nhất với nhau, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng
nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn. Để bảo đảm các quyền trên, Quốc hội đã thông qua Luật Bầu cử ĐBQH
(1997), được sửa đổi, bổ sung năm 2001, 2010; Luật Bầu cử đại biểu HĐND (2003), được sửa đổi, bổ sung năm
2010; Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND (2015).
18
Như vậy, công dân Việt Nam không kể tôn giáo, dân tộc, giới tính… khi đáp ứng đủ điều kiện theo luật
định thì có quyền bầu cử hoặc ứng cử dựa trên tinh thần tự nguyện. Có thể nói đây là quyền chính trị rất quan
trọng, là vinh dự, trách nhiệm nghĩa vụ của mỗi công dân.
2.2.3. Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân
Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân được quy định tại Điều 30 Hiến pháp 2013 “mọi người có quyền
khiếu nại tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá
nhân”. Ở đây, chủ thể không chỉ giới hạn trong khái niệm công dân mà mở rộng ra thành mọi người, tức mọi
thành viên trong xã hội. Theo đó, cơng dân, cơ quan, tổ chức khi có căn cứ cho rằng quyền lợi bị xâm hại bởi
một quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền
trong cơ quan hành chính nhà nước thì có quyền khiếu nại.
Nếu Hiến pháp 1959, Hiến pháp 1980 khơng quy định cơng dân có quyền khiếu nại tố cáo với cơ quan
nào của nhà nước thì Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013 quy định rõ “cơ quan nhà nước có thẩm quyền”. Việc
quy định cụ thể như vậy nhằm giảm bớt công việc của cơ quan khơng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tố cáo
đông thời quy định rõ trách nhiệm của cơ quan giải quyết; khắc phục tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, kéo dài
thời gian giải quyết cho người dân. Pháp luật cũng quy định: “Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về
vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật”. Pháp luật có quy định rất rõ ràng về mức
bồi thường cho người bị hại.
Khoản 3 điều 30 Hiến pháp 2013 quy định: “nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại tố cáo hoặc lợi
dụng quyền khiếu nại tố cáo để vu khống, vu cáo người khác.” Pháp luật cũng định ra chế tài xử phạt đối với
hành vi trả thù người khiếu nại tố cáo. Nhà nước bảo vệ quyền lợi cho người khiếu nại, tố cáo về mọi mặt không
chỉ thể hiện tính nhân bản mà cịn thúc đẩy nhân dân thực hiện quyền này để góp phần xây dựng đất nước. Về cơ
bản Điều 30 Hiến pháp 2013 là sự ghi nhận lại Điều 74 Hiến pháp năm 1992 bằng quy phạm pháp luật có hiệu
lực pháp lí cao nhất đảm bảo cho các công dân được thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và buộc các cơ quan nhà
nước, các nhà chức trách phải xem xét và giải quyết kịp thời. Đồng thời, Hiến pháp 2013 đã có bước phát triển
mới khi coi quyền này không những là quyền của công dân mà là quyền của con người khi thay thế thuật ngữ
“cơng dân có quyền” bằng thuật ngữ “mọi người có quyền”.
2.2.4. Các quyền chính trị hiến định khác của công dân
Theo Điều 25 Hiến pháp năm 2013, cơng dân có quyền tự do ngơn luận, tự do báo chí, tiếp cận thơng
tin. Nếu như Hiến pháp 1992 chỉ quy định “Cơng dân có quyền được thơng tin” (Điều 69) thì Hiến pháp năm
2013 tại Điều 25 đã thay chữ “được thông tin” bằng cụm từ “tiếp cận thông tin”.
Quyền tự do hội họp và tự do lập hội: Trên cơ sở quan điểm của Đảng trong điều kiện phát triển kinh tế
thị trường định hướng XHCN và xây dựng nhà nước pháp quyền, quyền tự do hội họp, lập hội được quy định tại
Điều 25, Hiến pháp năm 2013 “Cơng dân có quyền tự do hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền
này do pháp luật quy định”.
2.3. Một số nhận xét về quyền chính trị hiến định trong các bản Hiến pháp
19
2.3.1. Ưu điểm
Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, tuy khơng trực tiếp ghi
nhận một số quyền chính trị, mà ghi nhận một cách gián tiếp thông qua hiến định. Hiến pháp năm 1946 đã quy
định khá rõ và cụ thể hình thức tham gia trực tiếp của cơng dân vào quản lý nhà nước dưới dạng quyền phúc
quyết: "Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba tổng số nghị
viện đồng ý. Cách thức phúc quyết sẽ do luật định" (Điều 32). Hiến pháp năm 1959 tại chương III, khi quy định
về "Quyền lợi và nghĩa vụ cơ bản của công dân", mặc dù ghi nhận nhiều quyền cụ thể của công dân nhưng
không đề cập tới các quyền chính trị đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1946. Hiến pháp năm 1980, quyền
chính trị của cơng dân được phục hồi. Điều 56 ghi nhận dưới dạng: cơng dân có quyền tham gia quản lý cơng
việc của nhà nước và của xã hội. Hiến pháp năm 1992, quyền chính trị của cơng dân được chính thức ghi nhận
và được ghi nhận một cách đầy đủ hơn Hiến pháp năm 1980.
Kế thừa các bản Hiến pháp trước, quyền chính trị trong Hiến pháp năm 2013 đã có một số vấn đề mới:
Thứ nhất, Hiến pháp 2013 quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về các quyền chính trị của công dân như: quyền
bầu cử, ứng cử và quyền tham gia công việc quản lý nhà nước và xã hội; Quyền bình đẳng của các dân tộc....
Thứ hai, Hiến pháp năm 2013, về bố cục và kết cấu vị trí về các quyền chính trị của cơng dân hợp lý
hơn, vị trí các điều luật được sắp xếp logic và khoa học. Ngôn ngữ diễn đạt về các quyền chính trị của cơng dân
vừa rõ ràng, minh bạch nhưng lại đủ bao quát và cụ thể.
Thứ ba, Một số quyền chính trị khác được quy định ngắn gọn, súc tích, rõ nghĩa.
Thứ tư, Nhà nước ta đã ban hành nhiều bộ luật, văn bản dưới luật tạo hành lang pháp lý cho công dân
thực hiện quyền.
2.3.2. Hạn chế
- Việc công dân tham gia bầu cử, ứng cử, thực hiện quyền dân chủ gián tiếp vẫn cịn mang nặng tính
hình thức.
- Các quy định liên quan đến quyền giám sát của cơng dân có phần nghiêng về việc xác định quyền mà
chưa chú trọng đúng mức tới xây dựng cơ chế, thủ tục và các điều kiện đảm bảo thực hiện quyền.
- Quá trình triển khai thực hiện các quy định về quyền khiếu nại, tố cáo của công dân còn một số bất cập,
hạn chế về thủ tục giải quyết, về thẩm quyền cũng như phương thức giải quyết khiếu nại, tố cáo làm ảnh hưởng
đến hiệu quả thực hiện quyền, gây bức xúc và mất lòng tin của công dân đối với cơ quan nhà nước.
- Chế định trưng cầu ý dân đã được thừa nhận ngay từ Hiến pháp năm 1946 nhưng đến nay vẫn cịn vắng
bóng các quy định về tổ chức thực thi cũng như về giá trị pháp lý của hình thức này.
2.3.3. Nguyên nhân
- Cơ quan nhà nước chưa thực sự tạo ra cơ chế pháp lý hữu hiệu để công dân thực hiện quyền tham gia
quản lý nhà nước.
20
- Chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước chưa đáp ứng được với nhu
cầu của xã hội đang trong quá trình dân chủ hóa tồn diện và hội nhập quốc tế.
- Các quy định pháp luật về quyền khiếu nại, tố cáo và chế định trưng cầu ý dân hiện vẫn đang được tiếp
tục nghiên cứu, hồn thiện do vậy vẫn cịn một số bất cập, hạn chế đang được tổng kết thực tiễn để có giải pháp
sửa đổi, bổ sung, xây dựng hồn thiện.
- Các cơ quan nhà nước nhìn chung vẫn chưa nhận thức được một cách đầy đủ về tầm quan trọng của
việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chưa bị ràng buộc pháp lý và chưa thực sự thiện chí trong việc tạo
điều kiện thuận lợi để công dân tham gia vào hoạt động quản lý nhà nước.
2.4. Thực trạng việc bảo đảm thực hiện quyền chính trị trong các bản Hiến pháp Việt Nam
Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên đặt nền móng cho sự xuất hiện của các quyền chính trị
đầu tiên, đánh dấu cột mốc quan trọng khi Việt Nam giành độc lập chủ quyền, thừa nhận và ghi nhận các quyền
chính trị của cơng dân rằng cơng dân có quyền tham gia vào cơng kiến quốc và chính quyền. Tuy nhiên đặt trong
bối cảnh lịch sử đất nước vẫn cịn nhiều rối ren cho nên dù quyền chính trị của công dân được hiến định nhưng
việc bảo đảm thực hiện các quyền này cho cơng dân vẫn cịn gặp nhiều khó khăn. Hiến pháp năm 1959 tiếp tục
kế thừa và ghi nhận các quyền chính trị của cơng dân, trong đó có sự sửa đổi, xóa bỏ, bổ sung để phù hợp với
yêu cầu tình hình thực tiễn. Hệ thống pháp luật Việt Nam đã có thêm nhiều các văn bản pháp luật ra đời để nhằm
đáp ứng mục tiêu tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ các quyền con người nói chung và quyền chính trị nói riêng.
So với Hiến pháp năm 1946 và 1959 thì Hiến pháp 1980 đã có nhiều cải thiện đáng kể trong việc ghi
nhận quyền chính trị nhưng vẫn cịn nhiều mặt hạn chế trong việc bảo đảm thực hiện quyền chính trị của công
dân. Ở thời điểm này, việc tập trung phát triển kinh tế - xã hội, mở rộng quan hệ quốc tê được ưu tiên hàng đầu
nên việc thể chế hóa pháp luật đa phần nhằm đảm bảo thực hiện, thúc đẩy phát triển các quyền dân sự, kinh tế,
văn hóa và xã hội nhiều hơn.
Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng nội dung về quyền nhiều hơn so với Hiến pháp năm 1992. Từ năm
2014 đến nay, Việt Nam đã bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh nhằm đảm bảo
quyền con người nói chung và quyền chính trị nói riêng phải kể đến như: Luật Trưng cầu ý dân 2015, Luật tín
ngưỡng, tơn giáo 2016, Luật Báo chí 2016, Luật tiếp cập thông tin 2016, sửa đổi, bổ sung Luật tố cáo 2018,...
Việc bổ sung, sửa đổi, ban hành mới các văn bản luật không chỉ đáp ứng nhu cầu thực tiễn mà cịn thể hiện việc
Nhà nước tơn trọng, ghi nhận, bảo đảm và thúc đẩy phát triển các quyền chính trị của công dân như thế nào. Đây
là một nỗ lực hết sức có ý nghĩa, tạo khn khổ pháp lý quan trọng cho việc bảo đảm trên thực tế các quyền
chính trị. Cùng với việc hồn thiện hệ thống pháp luật trong nước, Việt Nam còn tiếp tục đẩy mạnh tăng cường
hợp tác quốc tế để bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền nói chung, quyền chính trị nói riêng.
2.5. Các giải pháp đổi mới, hoàn thiện quy định của Hiến pháp về quyền chính trị
Thứ nhất, Nhà nước phải công nhận, ghi nhận ngày càng đầy đủ, cơ bản bằng các thể chế pháp luật.
Thứ hai, Nhà nước phải có biện pháp bảo đảm thực hiện và thúc đẩy các quyền chính trị của cơng dân đã
được cơng nhận trong pháp luật. Đồng thời phải chủ động xây dựng và triển khai thực hiện có hiệu quả các thể
21
chế, chiến lược, kế hoạch, chương trình phát triển và biện pháp quản lý cụ thể để công dân được thụ hưởng và
phát triển các quyền của mình.
Thứ ba, Nhà nước phải ngăn chặn sự vi phạm quyền chính trị của cơng dân từ phía các cơ quan nhà
nước; ngăn chặn tình trạng phân biệt đối xử, hoặc sự hình thành các thế lực đe dọa việc thực hiện các quyền
chính trị của cơng dân trên các lĩnh vực.
Thứ tư, Nhà nước chủ động xây dựng thể chế và thiết chế cũng như các chiến lược, kế hoạch, chương
trình phát triển, biện pháp quản lý cụ thể để bảo đảm cho mọi người được hưởng thụ các quyền chính trị đến
mức cao nhất có thể.
Thứ năm, Tiếp tục nâng cao nhận thức về vai trò của Hiến pháp trong việc bảo đảm các quyền chính trị.
Thứ sáu, tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên lĩnh vực quyền con người nói chung nhằm nâng cao
năng lực xây dựng và thực thi pháp luật, năng lực bảo vệ và giám sát việc bảo đảm thực hiện quyền con người,
quyền chính trị của công dân.
22
KẾT LUẬN
Quyền chính trị là quyền cơng dân được tham gia vào quá trình giành, giữ và thực thi quyền lực nhà
nước. Quyền chính trị hiến định của cơng dân được phân theo 4 nhóm quyền: quyền tham gia quản lý nhà nước
và xã hội; quyền bầu cử ứng cử; quyền khiếu nại, tố cáo; các quyền chính trị khác.
Hiện nay, Hiến pháp năm 2013 đang được thực thi. Việc hiện thực hóa quyền chính trị của cơng dân
trong Hiến pháp 2013 là sự tiếp nối, kế thừa các bản Hiến pháp trước đây; tạo nền tảng pháp lý cao nhất bảo đảm
quyền chính trị được thực hiện.
Qua đánh giá thực trạng việc bảo đảm thực hiện quyền chính trị của công dân hiện nay cho thấy bên
cạnh những kết quả đạt, các quy định và việc thực thi quyền chính trị ở Việt Nam hiện nay cịn có mặt chưa phù
hợp với pháp luật quốc tế, xu thế hội nhập của thời đại. Những hạn chế, bất cập đó đòi hỏi phải đưa ra được các
giải pháp khắc phục kịp thời nhằm hoàn thiện hệ thống bảo đảm pháp lý thực hiện quyền chính trị của cơng dân
ở nước ta trong thời gian tới. Các giải pháp cơ bản là tiếp tục hồn thiện hệ thống thể chế, chính sách, pháp luật
về quyền chính trị của cơng dân; cần có sự xóa bỏ các rào cản liên quản đến chính sách, pháp luật, tổ chức thực
hiện pháp luật về quyền chính trị của cơng dân; đẩy mạnh cơng tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, ý
thức về quyền của công dân,... Khi các giải pháp này được thực hiện đồng bộ sẽ giúp nâng cao hiệu quả việc bảo
đảm quyền con người nói chung, quyền chính trị nói riêng khi Việt Nam đang trên đà xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
23