Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

Bài giảng: Bệnh do shigella

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (135.48 KB, 8 trang )

BỆNH DO SHIGELLA
PGS. TS Nguyễn Đức Hiền
MỤC TIÊU HỌC TẬP
Sau khi học xong bài này, người học phải có khả năng:
1. Chẩn đoán được bệnh lỵ do Shigella
2. Điều trị được bệnh lỵ do Shigella
NỘI DUNG
1. Định nghĩa.
- Nhiễm Shigella là bệnh lý viêm nhiễm cấp tính ở đường tiêu hoá do trực
khuẩn Shigella gây nên.
- Biểu hiện bệnh lý thay đổi từ thể tiêu chảy phân nước nhẹ cho đến các thể
nặng nề với đau bụng quặn, mót rặn, tiêu phân nhày máu, sốt và dấu hiệu
nhiễm trùng nhiễm độc.
- Shigella còn gây các biểu hiện bệnh lý ở ngoài đường tiêu hoá như viêm
kết mạc, viêm âm đạo, viêm phổi, viêm khớp, viêm màng não, nhiễm
khuẩn huyết...
- Biểu hiện ở đường tiêu hoá thường tự khỏi trong vài ngày. Dùng kháng
sinh sớm có tác dụng giúp hồi phục sớm và rút ngắn thời gian thải vi
khuẩn ra phân.
2. Tác nhân gây bệnh.
Năm 1897: Shigella được Shiga đầu tiên xác định là nguyên nhân gây lỵ.
2.1. Đặc điểm vi khuẩn.
- Shigella là trực khuẩn Gram âm không di động, thuộc họ Enterobateriaceae.
Dựa vào đặc điểm kháng nguyên thân O và các đặc tính sinh hoá, người ta
chia làm 4 nhóm chính: A, B, C, D như sau :
- Shigella dysenteriae: Nhóm A
- Shigella flexneri: Nhóm B
- Shigella boydii: Nhóm C
- Shigella sonnei: Nhóm D.
1
- Shigella dysenteriae 1 (còn gọi là trực khuẩn Shiga) hay gây dịch và tử vong


cao hơn các týp khác.
2.2. Độc tố.
- Shigella có nội độc tố có bản chất lipopolysaccharide, có hoạt tính sinh học
giống như nội độc tố của các loài Enterobacteriaceae khác.
- Ngoài ra trực khuẩn Shiga còn tiết ra ngoại độc tố có tác dụng ức chế sự
sinh tổng hợp protein, có hoạt tính như một enterotoxin. Có ý kiến cho rằng
đây là nguyên nhân gây nên các triệu chứng nhiễm độc thần kinh hay gặp ở
trẻ em.
- Sau khi được tiết ra, độc tố sẽ gắn dính vào cảm thụ thể bản chất là
glycoprotein ở màng tế bào. Sau đó phần hoạt hoá được chuyển vào bên trong
tế bào và ngăn cản sự tổng hợp protein ở phần 60S của ribosome.
3. Dịch tễ học.
Bệnh lý do Shigella có thể thấy ở khắp thế giới, và vẫn còn hay gặp ở các
nước có điều kiện sống thấp kém, vệ sinh cá nhân và cộng đồng kém hiệu
quả.
3.1. Nguồn bệnh.
Người là vật chủ duy nhất. Người lành mang vi khuẩn, người bệnh, người
đang thời kỳ hồi phục thải nhiều vi khuẩn trong phân và lây bệnh cho người
xung quanh.
3.2. Đường lây truyền bệnh.
- Người bệnh không được điều trị tiếp tục thải vi khuẩn ra phân đến sáu tuần
sau khi khỏi bệnh và là nguồn lây quan trọng.
- Vi khuẩn được tìm thấy rất nhiều trên các đồ dùng của người bệnh, đặc biệt
là bồn vệ sinh. Vi khuẩn có thể xuyên qua giấy vệ sinh, nhiễm tay người bệnh
và cấy dương tính ở tay bẩn sau nhiễm khuẩn ba giờ.
- Bệnh lây chủ yếu trực tiếp từ người sang người qua tay bẩn. Vi khuẩn nhậy
cảm với sự khô ráo, nhưng sống được nhiều tháng ở nhiệt độ thích hợp trong
thức ăn và nước.
- Lây gián tiếp qua trung gian như đồ dùng, thực phẩm, nước, do ruồi nhặng.
- Bệnh có thể gây dịch ở những nơi sống chật chội, điều kiện vệ sinh cá nhân

kém, nguồn nước ô nhiễm, nơi có tập quán dùng phân tươi để bón hoa màu.
2
Bệnh hay bộc phát trong các tập thể như nhà dưỡng lão, trung tâm nuôi trẻ,
trường học, ký túc xá, nhà giam...
- Bệnh ngày càng được lưu ý ở những trường hợp đồng tính ái nam và là
nguyên nhân dẫn đến hội chứng Gay bowell.
3.3. Cơ thể cảm thụ.
- Đối tượng hay mắc bệnh là trẻ em 1 - 4 tuổi. Nữ nhiều hơn nam.
4. Sinh bệnh học.
- Do tính chất đề kháng với acid, Shigella sau khi xâm nhập vào đường tiêu
hoá, dễ dàng qua hàng rào acid của dạ dày.
- Trên người tình nguyện: Nuốt 200 vi khuẩn có thể gây bệnh ở 25% người
khoẻ mạnh. Sau thời kỳ ủ bệnh 24 - 72giờ, vi khuẩn qua ruột non đến xâm
nhập vào tế bào thượng bì của ruột già, tăng sinh trong nội bào gây nên phản
ứng viêm cấp tính lớp niêm mạc đại tràng. Giai đoạn này tương ứng với thời
kỳ tiền triệu với các triệu chứng nhiễm trùng không đặc hiệu hoặc đau bụng
và đi ngoài phân lỏng.
- Sau đó, lớp tế bào thượng bì sẽ bị huỷ hoại tróc ra và tạo nên các ổ loét nông
trên nền lớp niêm mạc viêm lan toả chứa nhiều chất nhầy và bạch cầu đa
nhân. Giai đoạn này bệnh nhân thải rất nhiều vi khuẩn theo phân ra ngoài.
- Tổn thương lúc đầu khu trú ở đại tràng sigma và trực tràng, sau bốn ngày có
thể lan đến phần trên của đại tràng; trường hợp nặng có viêm lan tỏa toàn bộ
khung đại tràng, lan đến đoạn cuối hồi tràng. Tiêu chảy xuất hiện do rối loạn
hấp thụ nước và điện giải bởi đại tràng viêm.
- Phản ứng viêm ở đại tràng thường nông. Riêng đối với Shigella dysenteriae
1 đôi khi có thể đưa đến vãng khuẩn huyết (Bacteremia). Thủng đại tràng
thường hiếm gặp.
- Ở trẻ em: nhiễm Shigella dysenteriae 1 với viêm đại tràng nặng có thể xuất
hiện "Hội chứng tán huyết urê huyết cao" do vỡ hồng cầu và lắng đọng cục
fibrin gây tắc mạch máu cầu thận.

- Miễn dịch thể dịch qua nhiễm Shigella có vai trò quan trọng, chủ yếu là loại
IgA.
5. Lâm sàng:
5.1. Thời kỳ ủ bệnh: Không có biểu hiện lâm sàng. Thường kéo dài 12 - 72
giờ (trung bình 1 - 5 ngày)
3
5.2. Thời kỳ khởi phát
- Đột ngột với các triệu chứng không đặc hiệu:
+ Hội chứng nhiễm trùng : Sốt cao 39 - 40°C đột ngột, thường kèm theo
ớn lạnh, đau nhức cơ toàn thân, mệt mỏi biếng ăn, buồn nôn hoặc nôn
mửa. ở trẻ nhỏ có thể co giật do sốt cao.
+ Triệu chứng tiêu hoá : Khởi đầu là tiêu chảy phân lỏng hoặc tiêu toàn
nước vàng, kèm theo đau bụng có thể dẫn đến mất nước và điện giải
nặng, suy thận cấp, nhưng thường không đến mức đe doạ tính mạng trừ
ở trẻ quá nhỏ và người già.
- Giai đoạn này kéo dài một đến ba ngày.
5.3. Thời kỳ toàn phát.
Bệnh diễn tiến thành bệnh cảnh lỵ đầy đủ với :
- Đi ngoài phân nhầy, nhiều lần, lượng phân càng lúc càng ít dần. Trường hợp
nặng có thể đến 20 - 40 lần/ngày.
- Mót rặn nhiều, ngày càng tăng, đau thắt ở vùng trực tràng, có thể dẫn đến sa
trực tràng ở người già, suy kiệt.
- Đau bụng quặn từng cơn, nhưng thường giảm sau vài ngày. Thể trạng suy
sụp nhanh chóng, người mệt mỏi, hốc hác, môi khô, lưỡi vàng bẩn.
- Khám bụng thường thấy đau rõ ở nửa dưới bụng bên trái, vùng đại tràng
sigma, hoặc đau toàn bộ khung đại tràng.
5.4. Diễn biến và các thể lâm sàng.
Thông thường sau một đến hai tuần không điều trị bệnh cũng cải thiện dần.
Tuy nhiên, bệnh cảnh lâm sàng có khi rất khác nhau như :
- Có thể nặng và cấp với sốt cao, lạnh run, tiêu chảy ồ ạt, rối loạn nước điện

giải, suy tuần hoàn, tử vong; thường là do nhiễm Shigella dysenteriae 1.
- Có thể nhẹ (thường là do nhiễm S. sonnei) với tiêu chảy nhẹ hoặc không
triệu chứng rõ, chỉ có đau bụng âm ỉ, tiêu phân lỏng thoáng qua sau đó tự
khỏi.
- Thể mãn tính: bệnh nhân đi ngoài mũi máu kéo dài làm mất nhiều đạm, rối
loạn nước điện giải kéo dài, suy kiệt.
4
- Ở trẻ em 1-4 tuổi thường bệnh cấp tính với sốt rất cao kèm co giật, biểu hiện
thần kinh như li bì, lơ mơ, đau đầu, cổ cứng. Một số trường hợp có thể tử
vong do hội chứng tán huyết urê huyết cao hoặc sốc nội độc tố.
5

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×