BỆNH SỐT MÒ
ThS. Phan Từ Khánh Phương
TÁC NHÂN GÂY BỆNH
Sốt mò là bệnh nhiễm trùng cấp tính do Rickettsia
orientalis (trước gọi là Orientia tsutsugamushi hay
R. tsutsugamushi).
Trung gian giữa virus và vi khuẩn, giống vi khuẩn
vì có lớp vỏ, bào tương, một nhân DNA hoặc RNA
và các hạt vùi bên trong, mặt khác giống virus vì
ký sinh nội bào bắt buộc. Chúng nhạy cảm với
kháng sinh.
TÁC NHÂN GÂY BỆNH
Ký sinh nội bào bắt buộc, bắt màu Giemsa 2
cực đậm, dài 1,2 - 3 m, rộng 0,5-0,8 m, hình
cầu hoặc cầu trực khuẩn, xếp thường thành
đám mầu tím đỏ, dưới kính hiển vi điện tử có
màng bọc.
TÁC NHÂN GÂY BỆNH
R.O. phát triển tốt trong điều kiện khí
hậu, địa lý nhiệt đới và bán nhiệt đới với
nhiệt tối ưu 27 - 280C (22 - 350C), mưa
nhiều (lượng mưa > 1300mm), độ ẩm cao
(> 85%), cây cối rậm, nhiều sông suối,
rừng núi rậm rạp.
MIỄN DỊCH
R. O. có nhiều typ huyết thanh đặc trưng cho từng vùng dịch
tễ, giữa các typ này lại không có MD chéo nên khó khăn cho
chẩn đoán và phòng bệnh bằng vắc-xin.
R. O. có một loại kháng nguyên polysaccarit giống kháng
nguyên OXk của trực khuẩn đường ruột Proteus mirabilis.
Phản ứng huyết thanh sử dụng kháng nguyên Oxk của P.
mirabilis để phát hiện kháng thể ở bệnh nhân bị sốt mò gọi là
phản ứng Weil-Felix.
DỊCH TỄ
Người ta ghi nhận sốt mò có mặt rất sớm, nhiều
tài liệu mô tả bệnh hết sức phong phú nhiều nơi ở
châu Á. Với nhiều tên gọi khác như sốt triền sông
Nhật Bản; giả thương hàn, sốt bụi rậm (scrub
typhus).
Trên thế giới, có ở Đông Nam Á, Nhật Bản, các
quần đảo Tây Thái Bình Dương, Nam Á, Trung
Quốc, Australia.
DỊCH TỄ
Nước ta, theo Bùi Đại, bệnh có mặt ở vùng Tây
Bắc, Sơn La, Nghệ Tĩnh, Mộc Châu.
Nam vĩ tuyến 17, trong thời tạm chiếm, một số y
văn ghi lính Mỹ đã mắc bệnh.
Tại bệnh viện Trung Ương Huế hiện nay, hầu như
tháng nào cũng có bệnh nhân sốt mò nhập viện.
DỊCH TỄ
Bệnh theo mùa, vùng địa lý rõ. Khu vực triền
sông, vùng bán sơn địa nhiều bụi rậm và dưới
đất nhiều chất mùn, quanh năm ẩm ướt; vùng
nông nghiệp, người hay lui tới vùng dịch tễ dễ
nhiễm bệnh.
Theo một nghiên cứu gần đây
Sốt mò có mặt ở hầu hết 24 tỉnh phía Bắc
(chưa kể phía Nam);
- Chiếm 38,51% số bệnh nhân sốt nhập viện,
không rõ căn nguyên.
- Khoảng 31,8% bệnh nhân sốt mò không rõ
nốt loét đặc trưng.
DỊCH TỄ
Nguồn bệnh: Là các động vật hoang dã như:
loài gậm nhấm (chủ yếu là chuột), thỏ, ., các
loài chim, hoặc gia súc (chó, lợn, gà)...và MÒ
Mò vừa là vật chủ vừa là vectơ truyền bệnh.
VÌ SAO GỌI LÀ BỆNH SỐT MÒ?
Véc-tơ trung gian truyền bệnh
Là ấu trùng mò. Bệnh lây truyền qua vết ấu trùng mò đốt.
Mò Trombiculidae (Leptotrombidium) thuộc họ ve bét, lớp nhện,
ngành chân đốt; kích thước bé dưới 1 mm, màu sắc từ vàng đến
da cam, còn gọi là mò đỏ; phát triển qua 4 giai đoạn: trứng, ấu
trùng, nhộng và mò trưởng thành; ấu trùng là giai đoạn duy nhất
ký sinh ở động vật có xương sống.
Trứng của mò bị nhiễm tồn tại trong đất ẩm nhiều chất mùn,
thành ấu trùng, chúng sẽ bám vào các động vật có xương sống,
vài ngày sau rơi xuống đất và phát triển thành nhộng rồi mò
trưởng thành.
Véc-tơ trung gian truyền bệnh
Cần lưu ý, chỉ có ấu trùng mò mới đốt người và súc vật và chỉ
đốt một lần trong chu kỳ sống.
Ở người, ấu trùng mò thường bám vào cẳng, đùi rồi di chuyển
đến những nơi kín, có mồ hôi ẩm, dừng lại ở đó (thắt lưng, bẹn,
ngực, nách...), chúng cố định bằng cách chích vòi vào da, bơm
nước bọt vào vết đốt trong đó có O. tsutsugamuchi, nước bọt
chứa các enzyme tiêu protein tạo nên một chất nhão có chất
dinh dưỡng mà ấu trùng chỉ việc hút chúng,.Thời gian đốt kéo
dài trung bình 48-72 giờ, sau khi đã no ấu
trùng rơi xuống đất mùn để tiếp tục chu kỳ sống
Ấu trùng mò đốt vào ban mai và lúc trời sắp tối.
Ai?
Những người làm nông nghiệp, lâm nghiệp,
công tác kiểm lâm..., có điều kiện tiếp xúc côn
trùng truyền bệnh tại các bờ sông suối, hang đá
(có loài gặm nhấm), nơi nhiều bụi rậm.
Những người tham quan du lịch vào vùng bệnh
lưu hành.
Những người chưa tiếp xúc ổ dịch dễ mắc bệnh
hơn những người trong vùng dịch lưu hành.
SINH LÝ BỆNH
từ vết loét R.O. đột nhập vào hệ bạch huyết gây
viêm hạch tại chỗ rồi tiến tới gây viêm hạch
toàn thân, gây sưng, đau hạch; đồng thời chúng
đột nhập vào máu gây viêm nội mạc mạch máu
toàn thân gây tổn thương viêm nhiễm ở các
phủ tạng.
Kháng sinh chỉ kìm khuẩn, do đó, dù đã được
điều trị đặc hiệu, R.O. vẫn tồn tại trong cơ thể
nhiều tháng, nhiều năm trong các hạch và gây
tái phát bệnh.
SINH LÝ BỆNH (tt)
Bệnh cảnh lâm sàng nặng hay nhẹ phụ thuộc:
Độc lực chủng
Sức đề kháng của bệnh nhân
Cơ chế nhiễm độc-dị ứng của cơ thể đối với R.
O.
LÂM SÀNG
1. Ủ bệnh: từ 10 đến 15 ngày. Lúc đầu tại nơi ấu trùng
mò đốt có một nốt phỏng nước bằng hạt đỗ, không đau,
bệnh nhân thường không chú ý.
2. Khởi phát:
Sốt ≥ 38 – 40C, liên tục, kéo dài 15-20 ngày thậm chí
tới 27 ngày nếu không điều trị; Có khi rét run 1-2 ngày
đầu kèm theo sốt thường có nhức đầu nặng, đau mỏi cơ.
LÂM SÀNG (tt) 3. Thời kì toàn phát:
Nốt loét đặc trưng (điển hình của Sốt mò): thường ở
vùng da mềm, ẩm, như bộ phận sinh dục, vùng
hậu môn, bẹn, nách, cổ…
Đặc điểm nốt loét: không đau, không ngứa, thường
chỉ 1 nốt; hình tròn/bầu dục đường kính 1mm đến
2 cm; nốt phỏng ban đầu phát triển dần thành dịch
đục trên một nền sẩn đỏ, sau 4 - 5 ngày vỡ ra
thành một nốt có vảy nâu nhạt hoặc sẫm; sau một
thời gian, vảy bong để lộ nốt loét đáy nông, hồng
nhạt, không mủ, không tiết dịch. (6-18 ngày)
Nốt
loét
gặp
80%
các
trường
hợp.
Hạch khu vực nốt loét thường hơi sưng và đau, không
đỏ, vẫn di động, xuất hiện cùng với sốt hoặc sau 2 - 3
ngày, là chỉ điểm tìm nốt loét; Hạch toàn thân sưng
đau nhẹ hơn, trừ những ca nặng.
Ban dát sẩn mọc cuối tuần thứ nhất đầu tuần thứ hai,
mọc khắp người, trừ lòng bàn tay bàn chân, tồn tại vài
giờ đến 1 tuần, thưa. Khoảng 35 - 70% bệnh nhân
xuất hiện ban, đôi khi có đốm xuất huyết (dưới 10%).
LÂM SÀNG (tt)
Tình trạng nhiễm độc thần kinh thường nặng nề: nhức đầu như
búa bổ, dai dẳng nhiều ngày, có thể nhức cả 2 hố mắt. Mệt mỏi,
khó chịu, hoa mắt, chóng mặt, đi lại lảo đảo, ù tai, lưỡi run rẩy, có
cơn vã mồ hôi, đau cơ nhiều - có những trường hợp cũng li bì, thờ
thẫn, u ám như trong bệnh thương hàn.
Tiêu hóa: bón, gan lách có thể lớn nhẹ, ít đau.
Hội chứng
Hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc
Hội chứng ban-loét-hạch
Yếu tố dịch tễ sốt mò