Tải bản đầy đủ (.pdf) (95 trang)

Giọng điệu truyện ngắn Lê Minh Khuê

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (780.68 KB, 95 trang )

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Giọng điệu nghệ thuật là một trong những yếu tố quan trọng của hình
thức tác phẩm văn học, là một trong những vấn đề phức tạp nhất của thi pháp
học hiện đại.Giọng điệu góp phần không nhỏ trong việc tạo nên phong cách
nghệ thuật của nhà văn. Có lẽ vì vậy mà từ lâu, vấn đề giọng điệu đã trở thành
mảnh đất màu mỡ của giới nghiên cứu, phê bình văn học. Đã có nhiều bài
viết, công trình coi nó như một đối tượng nghiên cứu. Trong giai đoạn văn
học sau 1975, đặc biệt là văn học từ thời kì đổi mới, khi cảm hứng sử thi đã
nhường bước cho cảm hứng đời tư thế sự, thì vấn đề tìm hiểu giọng điệu
nghệ thuật ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết.


Trong số những nhà văn Việt Nam đương đại, Lê Minh Khuê là nhà
văn đã sớm xác định cho mình một giọng điệu nghệ thuật rất đặc trưng, một
phong cách riêng, độc đáo. Bà được xem là nhà văn có bút lực mạnh trong thể
loại truyện ngắn nhờ một giọng điệu riêng không thể lẫn. Đó là một chất
giọng nữ đằm thắm nhưng tỉnh táo, trữ tình mà quyết liệt trước những vấn đề
của cuộc sống. Hiện nay, tuy đã nghỉ hưu nhưng Lê Minh Khuê vẫn tiếp tục
sáng tác và khẳng định vị trí của mình. Vì vậy mà bà đã gặt hái được không ít
thành công, trở thành một trong những cây bút nữ hàng đầu của văn học Việt
Nam. Nhà văn Lê Minh Khuê đã đoạt nhiều giải thưởng cao quý – hai lần
đoạt giải của Hội nhà văn Việt Nam, năm 1987 với tập “Một chiều xa thành
phố”, năm 2000 với tập “Trong làn gió heo may”. Năm 1994 giải thưởng
của tạp chí Văn nghệ quân đội với tập “Bi kịch nhỏ”. Và mới đây, tháng
4/2008, Lê Minh Khuê vinh dự đoạt giải thưởng văn học quốc tế lần thứ nhất
2



mang tên văn hào Hàn Quốc Byeong - zun Lee với tập truyện ngắn “Những
ngôi sao, trái đất, dòng sông” (The Stars, The Earth, The River). Đặc biệt,
truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của nhà văn đã được đưa vào giảng
dạy trong chương trình sách giáo khoa lớp 9. Có thể coi đây chính là thành
tựu nổi bật trong cuộc đời viết văn của Lê Minh Khuê.
Với một nhà văn có những thành tựu và đóng góp to lớn như vậy, thì
việc tiến hành nghiên cứu về giọng điệu nghệ thuật riêng của nhà văn ấy là
một điều cần thiết và hết sức thú vị với chúng tôi. Vì vậy, khi chọn đề tài
“Giọng điệu truyện ngắn Lê Minh Khuê”, chúng tôi mong muốn góp một
phần nhỏ bé của mình vào việc giúp bạn đọc nắm bắt được chất giọng riêng
của nhà văn trong sáng tác. Từ đó, chúng ta nắm được chìa khóa để đi sâu vào
thế giới nghệ thuật của Lê Minh Khuê, đồng thời có thêm cơ sở để hiểu một
cách khái quát về phong cách độc đáo cũng như những đóng góp có giá trị
của nhà văn này đối với văn học Việt Nam đương đại.
Vấn đề giọng điệu đến nay không còn là mới mẻ với các nhà nghiên
cứu và phê bình văn học. Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết, luận án,
luận văn viết về vấn đề này. Đó là M.Khrapchenco với “Cá tính sáng tạo của
các nhà văn và sự phát triển của văn học” , “Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực và
con người”, là M.Bakhtin với “Lí luận và thi pháp tiểu thuyết”, “Những vấn
đề thi pháp Đôxtoiepki”. Ở trong nước, có Trần Đình Sử với “Thi pháp thơ
Tố Hữu”, có Hoàng Ngọc Hiến với “Giọng điệu trong văn chương”, hay “Tập
bài giảng nghiên cứu văn học”, có Nguyễn Đăng Điệp với “Giọng điệu trong
thơ trữ tình”, có Nguyễn Đăng Mạnh, có Lê Lưu Oanh…Hiện nay, các công
trình nghiên cứu về Lê Minh Khuê có thể nói là chưa nhiều, chủ yếu là các
bài nghiên cứu, giảng dạy trong phạm vi nhà trường. Tuy nhiên, chúng ta có
thể kể đến các luận văn, luận án ngữ văn, như : luận văn thạc sĩ của Mai Thị
Thúy Ninh 2002, Đại học Sư phạm Hà Nội với đề tài “Truyện ngắn Lê Minh
3


Khuê”, luận văn thạc sĩ của Cao Thị Hồng, 2003, Đại học Sư phạm Hà Nội
với đề tài “Truyện ngắn Lê Minh Khuê, nhìn từ thi pháp thể loại”, luận văn
thạc sĩ của Đinh Lưu Hoàng Thái 2006, Đại học Sư phạm Hà Nội với đề tài
“Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Lê Minh Khuê”…Ngoài ra, còn một số
những bài viết nhỏ lẻ được đăng rải rác trên một số báo, tạp chí. Đó cũng là
những ý kiến, những tư liệu quý báu giúp cho quá trình nghiên cứu và tìm
hiểu về nhà văn Lê Minh Khuê được thuận lợi hơn. Nhìn chung những ý kiến
đánh giá về tác phẩm và tác giả Lê Minh Khuê hết sức đa dạng, có cả những ý
kiến đánh giá xuôi chiều và những ý kiến ngược chiều, thậm chí có những
cuộc tranh luận sôi nổi về nhà văn này. Dù chưa nhiều, nhưng các nhà nghiên
cứu đã đánh giá khá kĩ lưỡng vị trí cũng như những đóng góp của Lê Minh
Khuê. Có thể khái quát những nhận xét và đánh giá trên một số những nét lớn
sau :
1. Về sáng tác: Mặc dù đã sáng tác cả tiểu thuyết, nhưng thành tựu và
đóng góp mà Lê Minh Khuê đạt được chủ yếu ở thể loại truyện ngắn.
2. Về quan niệm: Lê Minh Khuê nhất quán quan niệm “tả chân”, tức là
nhà văn luôn nhìn thẳng vào hiện thực. Như thế, không có nghĩa là Lê Minh
Khuê lệ thuộc vào nó, mà nhà văn coi hiện thực như một phương tiện để
chuyển tải những suy nghĩ, nhận thức của mình về cuộc sống, con người. Kể
cả những sáng tác theo cảm hứng nhìn nhận lại quá khứ của Lê Minh Khuê
cũng dựa trên quan niệm này. Có thể coi Lê Minh Khuê là nhà văn có bản
lĩnh trong sáng tác.
3. Về nghệ thuật: Lê Minh Khuê đã có những đổi mới về bút pháp để
thích ứng với thời đại. Truyện ngắn của bà có giọng điệu riêng, đa thanh và
phức điệu.
Từ nhiều góc độ, các công trình, bài viết đã chú ý khai thác làm nổi
bật các phương diện sáng tác của nhà văn Lê Minh Khuê về nội dung và
4

nghệ thuật, thi pháp, thể loại, phong cách.

Qua những thống kê và đánh giá sơ bộ như trên, có thể thấy những
phương diện liên quan đến giọng điệu văn chương Lê Minh Khuê đều đã
được tìm hiểu ở nhiều mức độ khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề nhìn nhận giọng
điệu Lê Minh Khuê ở mức độ chuyên sâu thì đến nay chưa có bài viết hoặc
công trình nào quan tâm đúng mức.

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2.1. Vận dụng những lí thuyết về giọng điệu để tiếp cận ruyện ngắn
của Lê Minh Khuê nhằm mục đích nắm bắt được chính xác những gam giọng
điệu chính của nhà văn. Trên cơ sở đó, thêm một lần khẳng định những đóng
góp của Lê Minh Khuê cho nền văn học hiện đại nước nhà.
2.2. Thông qua việc tìm hiểu giọng điệu truyện ngắn Lê Minh Khuê,
luận văn chỉ rõ những khác biệt về giọng điệu của văn học đương đại so với
văn học giai đoạn trước 1975.

3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Luận văn trình bày những vấn đề lí thuyết về giọng điệu.
3.2. Chỉ ra những đặc sắc trong giọng điệu của Lê Minh Khuê nhằm
làm nổi bật những đóng góp của nhà văn.

4. ĐÔI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn sẽ hướng trọng tâm nghiên cứu vào tìm hiểu giọng điệu
truyện ngắn Lê Minh Khuê qua việc tìm hiểu những phương diện sau: các yếu
tố chi phối sự hình thành giọng điệu, các giọng điệu chủ đạo trong truyện
ngắn của Lê Minh Khuê, từ đó xác định vị trí và đóng góp của nhà văn.
5

4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát toàn bộ truyện ngắn của Lê Minh Khuê đã được in

trong các tập :
1. Cao điểm mùa hạ (1978)
2. Truyện ngắn Lê Minh Khuê (1994)
3. Trong làn gió heo may (1999)
4. Một mình qua đường (2006)
5. Lê Minh Khuê truyện ngắn chọn lọc (2002)
6. Những ngôi sao, Trái đất, Dòng sông (2008)
Nhiệm vụ của luận văn là tìm hiểu giọng điệu nghệ thuật trong truyện
ngắn Lê Minh Khuê, vì vậy những tài liệu lí luận về lí thuyết giọng điệu cũng
được chúng tôi quan tâm khai thác.
Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát thêm một số tác phẩm của những
nhà văn cùng thời để so sánh và đối chiếu, nhằm làm rõ những đặc sắc nghệ
thuật truyện ngắn Lê Minh Khuê.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu đã được xác định, đề tài sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau :
5.1. Phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học
Tác phẩm văn học là một cấu trúc hoàn chỉnh, trong đó các yếu tố tạo
nên cấu trúc có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng. Luận văn đặt yếu tố giọng
điệu trong mối quan hệ biện chứng để xem xét sự hình thành và những đặc
điểm đặc thù của giọng điệu truyện ngắn Lê Minh Khuê. Đặc biệt trong sự
thống nhất biện chứng giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học.
Giọng điệu là yếu tố hình thức mang tính nội dung, thể hiện nội dung và tư
tưởng của tác phẩm văn học.
6

5.2. Phương pháp nghiên cứu hệ thống
Phương pháp nghiên cứu hệ thống cho phép xem xét giọng điệu trong
hệ thống các yếu tố không chỉ của tác phẩm, mà rộng hơn trong sự chi phối

của các yếu tố khác thuộc quá trình sáng tạo và môi trường văn hóa - lịch sử.
Điều đó giúp cho việc cắt nghĩa các vấn đề giọng điệu Lê Minh Khuê được
đầy đủ hơn và thấu đáo hơn. Nhất là khi nghiên cứu giọng điệu truyện ngắn
Lê Minh Khuê trong giai đoạn sáng tác thời kì chiến tranhgiải phóng dân tộc,
thống nhất đất nước trước 1975 và thời kì phát triển kinh tế thị trường với
những biến đổi phức tạp của xã hội và con người sau 1975.
5.3. Phương pháp so sánh - lịch sử
Phương pháp so sánh - lịch sử cho phép tìm hiểu sự tiến triển của các
yếu tố thi pháp. Phương pháp này giúp chỉ ra sự chuyển giọng điệu truyện
ngắn Lê Minh Khuê ở những thời điểm khác nhau cùng với những cung bậc
khác nhau của cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn. Trong những
điều kiện có thể, phương pháp so sánh – lịch sử cũng giúp cho việc tìm hiểu
sự độc đáo trong giọng điệu Lê Minh Khuê so với các nhà văn khác.

6. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
6.1. Có được những kết luận khoa học về giọng điệu trong sáng tác
của Lê Minh Khuê, tiếp tục mở rộng con đường đi vào thế giới nghệ thuật của
tác giả.
6.2. Đóng góp một tài liệu học tập, nghiên cứu về Lê Minh Khuê và
giọng điệu nghệ thuật trong văn học Việt Nam đương đại.



7

PHẦN NỘI DUNG


CHƯƠNG 1: GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ GIỌNG ĐIỆU


1.1. CÁC QUAN NIỆM VỀ GIỌNG ĐIỆU

Từ trước tới nay trong văn học, chúng ta thường bắt gặp khái niệm
“hơi văn”, “khí văn” hay “tone”. Đó đều là những cách gọi khác nhau của
giọng điệu. Với tư cách là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn học, giọng
điệu đã thu hút được sự quan tâm của giới phê bình nghiên cứu. Các nhà
nghiên cứu, phê bình văn học đã nhận ra vai trò quan trọng của giọng điệu
nghệ thuật trong việc khẳng định tài năng, phong cách của người nghệ sĩ.
Trong Những vấn đề thi pháp học hiện đại giáo sư Trần Đình Sử khẳng
định “Phân tích tác phẩm văn học mà bỏ qua giọng điệu tức là tước đi cái
phần quan trọng tạo nên bản sắc độc đáo của nhà văn”. Nhà nghiên cứu văn
học Hoàng Ngọc Hiến lại cho rằng: “Câu văn có hồn là câu văn có giọng,
ngữ điệu, bởi vì từ ngữ của bài văn được chọn có thông báo nhiều điều quan
trọng nhưng bài văn không có giọng đọc lên vẫn nhạt nhẽo vô vị. Sự phong
phú, tính đa nghĩa, ý vị đậm đà của bài văn trước hết là ở giọng. Năng khiếu
văn ở phần tinh tế nhất là năng lực bắt được trúng cái giọng của văn bản
mình đọc và tạo ra được giọng đích đáng cho tác phẩm mình viết”[2].
Tuy nhiên, cho đến nay, mặc dù đã xuất hiện trong không ít các công
trình nghiên cứu, nhưng giọng điệu vẫn là một khái niệm cần tìm hiểu để
được lập luận một cách chặt chẽ hơn. Nói một cách khác, khái niệm này
dường như vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Vì vậy, chúng ta vẫn thấy
8

một sự thật, đó là giữa các nhà nghiên cứu vẫn chưa có sự thống nhất cao về
khái niệm này.
Theo nhà nghiên cứu Lê Huy Bắc trong Bách khoa thư Mĩ có định
nghĩa: “Tone là âm thanh được xét trong sự can thiệp của trường độ, cường
độ, âm sắc và âm lượng của nó”. Đây chính là cách quan niệm về giọng điệu
trên lập trường của ngôn ngữ học. Nhà phê bình văn học K. Danziger và
S.John trong cuốn “Nhập môn phê bình văn học” năm 1961 đã đưa ra nhận

định về “tone” - “là phạm trù có liên quan đến tất cả các yếu tố tạo nên văn
phong (style)(…) bao gồm: cách diễn đạt, hình tượng, cú pháp, âm thanh và
nhịp điệu (…) là một biểu hiện của một thái độ về phía đối tượng (object)
được nêu rõ hay ngụ ý. Đến năm 1971, trong cuốn “Từ điển thuật ngữ văn
học”, M.H. Abrams đã nêu một cách cụ thể hơn. Theo ông, “tone” có nghĩa
“là thái độ của người phát ngôn văn học đối với người nghe (auditor) của anh
ta”. Cùng hướng với các tác giả trên, năm 1989, Katie Wales trong “Từ điển
phong cách học” quan niệm, “tone” “được dùng với nghĩa một phẩm chất âm
thanh đặc biệt nào đó có liên quan đến những xúc cảm hoặc tình cảm đặc biệt
nào đó”[2].
Khrapchenkô trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển
của văn học, khi bàn về giọng điệu nghệ thuật lại cắt nghĩa theo một phạm vi
hết sức rộng: “Giọng điệu, hiểu theo nghĩa rộng của từ đó không phải chỉ là
màu sắc xúc cảm của thiên truyện hay của hành động kịch mà là một cái gì
hơn thế”.
Giáo sư Trần Đình Sử trong cuốn Thi pháp truyện Kiều đã cho rằng:
“Giọng điệu trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật toát ra từ bản thân
tác phẩm và mang một nội hàm tư tưởng thẩm mĩ…Giọng điệu văn học là
hiện tượng “siêu ngôn ngữ học”, phụ thuộc vào cấu trúc nghệ thuật của tác
phẩm, khuynh hướng nghệ thuật của tác giả và của thời đại. Giọng điệu là
9

biểu hiện của thái độ, cảm xúc của chủ thể đối với đời sống”. Hay trong một
công trình khác, ông khẳng định: “Giọng điệu là một yếu tố đặc trưng của
hình tượng tác giả…Giọng điệu ở đây không giản đơn là một tín hiệu âm
thanh có âm sắc đặc thù để nhận ra người nói mà là một giọng điệu mang nội
dung tình cảm, thái độ ứng xử trước các hiện tượng đời sống” [54, tr.142]. Có
thể thấy, trong quan niệm của Trần Đình Sử, giọng điệu là một hiện tượng đã
vượt ngoài “tầm kiểm soát” của ngôn ngữ, và được tạo nên bởi mối quan hệ
giữa thái độ, cảm xúc của nhà văn với hiện thực cuộc sống. Như vậy, quan

niệm này không chỉ chú ý tới khía cạnh thái độ cảm xúc, lập trường tư tưởng,
tình cảm của tác giả, mà còn chú ý tới tính chi phối của phạm vi hiện thực (đề
tài) tới giọng điệu.
Theo cách khác, Lê Huy Bắc trong bài viết Giọng và giọng điệu
trong văn xuôi hiện đại lại không thể hiện một cách trực tiếp quan niệm của
mình, mà thông qua việc phân biệt giọng và giọng điệu để giới hạn nội hàm
của khái niệm. Theo ông: “Giọng điệu là âm thanh xét ở góc độ tâm lí, biểu
hiện các thái độ : buồn, vui, hờ hững…”. Với cách giới hạn này, có thể nói Lê
Huy Bắc đã phát hiện ra bản chất của giọng điệu. Tuy nhiên nó vẫn chưa là
một khái niệm đầy đủ.
Trong chuyên luận Giọng điệu trong thơ trữ tình, tác giả Nguyễn
Đăng Điệp đã có sự nghiên cứu khá kĩ càng về giọng điệu trong văn học. Tác
giả đã bày tỏ khá rõ nét quan niệm về vấn đề này. Nguyễn Đăng Điệp cho
rằng: “Giọng điệu biểu thị thái độ, cảm xúc, tư thế của chủ thể phát ngôn qua
lời văn nghệ thuật. Không thể có giọng điệu nếu không có những rung động
sâu sắc, những nỗi đau, những xót xa trước thân phận con người, không xẻ
chia với họ niềm vui và tình yêu cuộc sống”.
Như vậy, tuy chưa hoàn toàn thống nhất với nhau nhưng các nhà phê
bình, nghiên cứu đều ít nhiều có sự gặp gỡ nhau ở khía cạnh này hay khía
10
cạnh khác trong quan niệm về giọng điệu. Từ các quan niệm, nhận thấy giọng
điệu đã được nhìn nhận chủ yếu theo khuynh hướng: giọng điệu là biểu hiện
của lập trường tư tưởng, thái độ của nhà văn với hiện thực cuộc sống.

1.2. ĐỊNH NGHĨA VỀ GIỌNG ĐIỆU

Từ điển thuật ngữ văn học, mục từ “Giọng điệu”, các soạn giả đã đưa
ra khái niệm về giọng điệu như sau : “Thái độ, tình cảm, lập trường tư tưởng,
đạo đức của nhà văn đối với đối tượng được miêu tả thể hiện trong lời văn
quy định cách xưng hô, gọi tên, dùng từ, sắc điệu tình cảm, cách cảm thụ xa

gần, thân sơ, thành kính hay suồng sã, ngợi ca hay châm biếm(…) Giọng điệu
phản ánh lập trường xã hội, thái độ tình cảm và thi hiếu thẩm mĩ của tác giả,
có vai trò rất lớn trong việc tạo nên phong cách nhà văn và tác dụng truyền
cảm cho người đọc, Thiếu một giọng điệu nhất định, nhà văn chưa thể viết ra
một tác phẩm, mặc dù đã có đủ tài liệu và sắp xếp trong hệ thống nhân vật.
Không nên lẫn lộn giữa giọng điệu và ngữ điệu là phương tiện biểu hiện của
lời nói, thể hiện qua cách lên giọng, xuống giọng, nhấn mạnh, nhịp
điệu…,chỗ ngừng. Giọng điệu là một phạm trù thẩm mĩ của tác phẩm văn
học. Nó đòi hỏi người trần thuật, kể chuyện hay nhà thơ trữ tình phải có khẩu
khí, có giọng điệu. Giọng điệu trong tác phẩm gắn với cái giọng điệu “trời
phú” của mỗi tác giả, nhưng mang nội dung khái quát nghệ thuật, phù hợp
với đối tượng thể hiện. Giọng điệu trong tác phẩm thường đa dạng, có nhiều
sắc thái trên cơ sở một giọng điệu cơ bản, chủ đạo, chứ không đơn điệu”
[25,tr.134].
Như vậy, xét về mọi phương diện thì khái niệm trên đây là tương đối
hoàn chỉnh, có thể bao quát mọi khía cạnh của giọng điệu. Chúng tôi chấp
11
nhận khái niệm này như một lí thuyết công cụ để soi sáng cho sự nghiên cứu
của mình.
Tuy nhiên để tránh có thể có cách hiểu lệch lạc về giọng điệu, chúng tôi
thấy cần có sự phân biệt khái niệm này với một số khái niệm gần gũi với nó.
Trước hết cần thấy rằng, giọng điệu khác với giọng. Giọng là âm
thanh, là “chất giọng” mang tính vật lí, là cái mà mỗi người đều được thừa
hưởng một cách bẩm sinh. Giọng mang đầy đủ những đặc tính của âm thanh,
như có cường độ, trường độ, cách phối âm…Còn giọng điệu cũng có bản chất
là âm thanh, nhưng được nhìn nhận từ góc độ tâm lí và thể hiện thái độ, tình
cảm của con người.
Giọng điệu cũng khác với ngữ điệu. Tuy cả hai khái niệm này cũng có
cùng một phương tiện biểu hiện là âm thanh, nhưng chúng lại thuộc hai lĩnh
vực khác nhau. Ngữ điệu thuộc phạm vi của ngôn ngữ học, là hiện tượng của

câu và nó có các chức năng biểu cảm. Còn giọng điệu lại là hiện tượng “siêu
ngôn ngữ”, thuộc phạm vi của lí luận văn học, nó phụ thuộc vào cấu trúc nghệ
thuật của tác phẩm, khuynh hướng nghệ thuật của tác giả và của thời đại.

1.3. CƠ SỞ HÌNH THÀNH GIỌNG ĐIỆU

Tìm hiểu giọng điệu trong văn chương, có một vấn đề khiến chúng ta
không thể không quan tâm, đó chính là cơ sở tạo nên giọng điệu. Đây chính là
những cơ sở chủ quan và khách quan tác động đến sự sáng tạo của nhà văn
khi hình thành giọng điệu.
1.1.1.
Đề tài và cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong sáng

tác
“Đề tài là một trong những phương diện của nội dung tác phẩm, nó chỉ
phạm vi hiện thực cụ thể đã được nhà văn nhận thức, lựa chọn và phản ánh
12
trong tác phẩm” [11,tr.116], hay nói như G.N Pospelov, “đề tài là cơ sở của
sự nhận thức, nói cách khác là đối tượng của sự nhận thức” [53,tr.98].
Mỗi tác phẩm văn học, bao giờ cũng có ít nhất một đề tài, thậm chí có
những tác phẩm chứa nhiều đề tài. Đề tài là một khái niệm về loại của hiện
tượng đời sống được miêu tả. Có bao nhiêu loại hiện tượng đời sống, có bấy
nhiêu đề tài trong văn học. Đề tài mang tính khách quan nhưng cũng thể hiện
dấu ấn chủ quan của người cầm bút. Việc nhà văn lựa chọn đề tài này chứ
không phải là đề tài kia để thể hiện đã cho thấy rõ tính khuynh hướng trong
lập trường tư tưởng của nhà văn.
Mỗi nền văn học, thậm chí mỗi giai đoạn văn học đều có những đề tài
trung tâm. Đó chính là mảng hiện thực tập hợp những sự kiện, những hiện
tượng, những diễn biến quan trọng nhất của đời sống xã hội.
Đề tài là một trong những cơ sở quan trọng để hình thành nên giọng

điệu của nhà văn trong tác phẩm. Trước mỗi phạm vi hiện thực khác nhau,
nhà văn cần có những giọng điệu tương ứng. Khi tái hiện hiện thực, nhà văn
phải căn cứ vào hiện thực đó để có những giọng điệu phù hợp. Theo Nguyễn
Đăng Điệp, “cảnh mùa thu khác cảnh mùa xuân, người nông dân khác người
trí thức…Miêu tả và tái hiện hiện thực nào giọng điệu phải phù hợp với đối
tượng ấy” [12,tr.57].
“Cảm hứng vốn là lớp nội dung đặc thù của tác phẩm văn học” [46,
tr.268]. Trong tác phẩm văn học, cảm hứng là sự say mê khẳng định những
chân lí, lí tưởng, là thái độ phủ định những gì xấu xa, giả dối, những cái tiêu
cực, là thái độ ngợi ca, đồng tình với những nhân vật chính diện, là sự phê
phán những thế lực đen tối, các hiện tượng tầm thường. Theo G.N Poxpêlôp
trong Dẫn luận nghiên cứu văn học: “Cảm hứng để chỉ trạng thái phấn
hứng cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất cuộc sống mà họ
miêu tả. Sự chiếm lĩnh ấy bao giờ cũng bắt nguồn từ lí tưởng xã hội của nhà
13
văn nhằm phát triển và cải tạo thực tại”. Cảm hứng không phải là những phút
ngẫu hứng nhất thời có tính bột phát mà nó là cả một trạng thái, một quá trình
của sự phát triển tình cảm, cảm xúc của nhà văn. Và tình cảm, cảm xúc ấy
phải gắn với một lí tưởng nhất định.
Như thế, cảm hứng không phải là những tình cảm, cảm xúc, những lí
tưởng tầm thường mà là những tình cảm mạnh mẽ mang tư tưởng, là một ham
muốn tích cực đưa đến hành động. Đó có thể là những tình cảm xã hội mang
tầm thời đại.
Mỗi tác giả, thậm chí là mỗi tác phẩm lại có những cảm hứng chủ đạo
riêng. Từ điển thuật ngữ văn học quan niệm, cảm hứng chủ đạo là : “Trạng
thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với
một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc
của người tiếp nhận tác phẩm” [25,tr.44]. Trong dòng chảy tình cảm đa dạng,
phong phú có tính chất phức hợp của tác phẩm, cảm hứng chủ đạo như một
chủ âm. Cũng có khi, có cả một hệ thống những cảm hứng xuyên thấm, đan

xen nhưng bao giờ cũng có một cảm hứng giữ vai trò chủ đạo, như “sợi chỉ
đỏ” xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm.
Cảm hứng trong tác phẩm văn học được biểu hiện rất tinh vi. Nó chủ
yếu khêu gợi, gợi mở chứ không phải biểu hiện thẳng đuột, một chiều. Nó
quyện hoà nhuần nhuyễn trong từng yếu tố của tác phẩm. Nó toát ra từ lời
văn nghệ thuật, từ tình huống, từ nhân vật…Và cảm hứng phải thật sự mãnh
liệt mới có đủ sức để chinh phục người đọc, mới trở thành một thứ “năng
lượng” tinh thần được dồn nén chỉ chực bùng phát trước người đọc.
Như trên đã nói, cảm hứng được thể hiện rất tinh vi trong từng yếu tố
của tác phẩm, trong đó có giọng điệu. Vì vậy có thể khẳng định, cảm hứng và
giọng điệu có một mối liên hệ mật thiết, mang tính chất biện chứng. Mối liên
hệ này đã được Khrapchenkô khẳng định: “Những đặc tính cơ bản của giọng
14
điệu trong tác phẩm nghệ thuật của nhà văn, sự ưu tiên của phong cách cũng
có liên quan mật thiết với cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn”
[26,tr.172]
Mối liên hệ giữa cảm hứng chủ đạo và giọng điệu có thể hiểu như là
sự tương ứng giữa chúng. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến đã phát biểu
trong bài viết Giọng điệu văn chương: “Cảm hứng nào, giọng điệu ấy nhưng
cũng có thể ngược lại, giọng điệu định hướng hình thành cảm hứng”. Vậy có
thể hiểu, cảm hứng chính là nguồn gốc, là nguyên do sinh ra cảm hứng. Với
cảm hứng này, tất có giọng điệu này, với cảm hứng kia, tất có giọng điệu kia.
Nói một cách khác, cảm hứng chủ đạo thường có tính quy định giọng điệu của
tác phẩm. Ví như cảm hứng yêu nước thường đi với giọng điệu ngợi ca, tự
hào; cảm hứng hiện thực phê phán thường đi có giọng điệu châm biếm, trào
lộng, đả kích; cảm hứng lãng mạn thường có giọng điệu trữ tình. Cảm hứng
cao cả thì giọng điệu cao cả, theo đó nhà văn sẽ có cách sử dụng từ ngữ cho
phù hợp. Như thế giọng điệu chính là sự cụ thể hoá của cảm hứng. Giọng điệu
mờ nhạt, rời rạc sẽ không thể hiện rõ được tính chất của cảm hứng nhà văn.
Nếu nhà văn biết kết hợp hài hoà hai yếu tố này, có nghĩa là ông ta đã bước

đầu tạo nên dấu ấn cho phong cách của mình.
Giọng điệu vốn được coi là yếu tố rất khó nắm bắt. Song với sự phân
tích trên đây, chúng tôi cho rằng, sẽ không quá khó khăn nếu chúng ta căn cứ
vào cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của nhà văn hay của tác phẩm để “bắt
trúng” giọng điệu.

1.1.2.
Cái nhìn nghệ thuật của tác giả trong tác phẩm
.

Theo giáo sư Trần Đình Sử: “Cái nhìn nghệ thuật là một năng lực tinh
thần đặc biệt của con người, nó có thể thâm nhập vào sự vật, bảo lưu sự toàn
15
vẹn thẩm mĩ của sự vật. Do đó cái nhìn được vận dụng muôn vẻ trong nghệ
thuật” [54,tr.139]. Mỗi nhà văn luôn có một cái nhìn nghệ thuật độc đáo với
hiện thực cuộc sống. Cái nhìn được thực hiện thông qua những tri giác, cảm
giác và sự quan sát của tác giả. Đó có thể là cái nhìn bao quát hay bộ phận.
Nó luôn xuất phát từ một tác giả cụ thể, mang đậm dấu ấn cá nhân, thị hiếu
thẩm mĩ và thái độ của tác giả ấy. Do vậy cái nhìn nghệ thuật luôn cho thấy
chiều sâu tư tưởng và sự sáng tạo của người nghệ sĩ.
Cái nhìn nghệ thuật có hai phương diện, một là điểm nhìn của người
trần thuật và nhân vật, hai là cái nhìn trong khách thể. Nó được thể hiện trong
chi tiết nghệ thuật của tác phẩm. Tìm hiểu chi tiết nghệ thuật của tác phẩm, ta
đã tiếp cận với cái nhìn nghệ thuật của nhà văn, tức là đã bước vào phạm vi ý
thức của họ. “Cái nhìn của nhà văn càng tinh bao nhiêu thì anh ta càng thâm
nhập sâu vào thực chất của sự vật, những khái quát sự vật của anh ta, những
khám phá sáng tạo của anh ta càng lớn” [26,tr.89]. Mỗi nhà văn có sự tập
trung chú ý vào một khách thể khác nhau. Có trường hợp, một khách thể có
thể thu hút được sự chú ý của nhiều nhà văn, nhưng cái nhìn của các nhà văn
không bao giờ trùng lặp. Ở cùng một khách thể ấy, mỗi người trong số họ lại

chú ý đến một khía cạnh riêng biệt.
Cái nhìn nghệ thuật và giọng điệu có mối liên hệ mật thiết bởi cùng là
sự thể hiện của hình tượng tác giả. Hình tượng tác giả được bộc lộ ở 3 phương
diện: cái nhìn nghệ thuật; giọng điệu và sự tự thể hiện của tác giả thành hình
tượng. Ba yếu tố này không tách rời mà luôn hoà quyện nhuần nhuyễn trong
tác phẩm văn học.
Hiện thực cuộc sống phong phú đa dạng, “nhà văn là người thư kí
trung thành của thời đại” (H.Banzăc). Nhưng không phải hiện thực nào khi đi
vào tác phẩm cũng được tái hiện giống nhau. Theo Nguyễn Đăng Điệp, “ngay
cả khi đứng trước một đề tài, nếu cái nhìn, thái độ của chủ thể khác nhau thì
16
giọng điệu cũng khác nhau” [12,tr.50]. Điều này giúp chúng ta lí giải hiện
tượng, trên cùng một phạm vi hiện thực, với mỗi tác giả khác nhau lại có
những tác phẩm khác nhau với những giọng điệu khác nhau. Như vậy có thể
kết luận, cái nhìn nghệ thuật nhiều chiều với cùng một phạm vi đề tài sẽ cho
chúng ta những giọng điệu khác nhau.

1.3.3.
Cá tính sáng tạo của nhà văn

Một nền văn học, có thể ví như bầu trời sao. Trên đó, những ngôi sao
lấp lánh, có sức sống vượt thời gian chính là những nhà văn có cá tính sáng
tạo.
Theo Khrapchenkô: “Nhà văn là một cá tính sáng tạo độc lập và đi
vào quá trình văn học với đặc tính quyết định đó của mình”. Cũng theo ông:
“Sự phát triển của nghệ thuật, nhất là nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa,
không tách khỏi sự thể hiện rõ nét của những cá tính sáng tạo” [26,tr.88].
Vậy thế nào là cá tính sáng tạo? Từ điển thuật ngữ văn học định
nghĩa : Cá tính sáng tạo là “các đặc điểm phẩm chất toàn vẹn của một nghệ sĩ
bao gồm các mặt triết học, mĩ học, tâm lí xã hội, thị hiếu, phong cách ngôn

ngữ nghệ thuật” [25,tr.35].
Một nhà văn vĩ đại phải là người có tài năng, có những nét riêng độc
đáo. Cái riêng đó càng nổi bật bao nhiêu thì cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ
càng mạnh mẽ bấy nhiêu, và theo đó đóng góp của họ càng có giá trị bấy
nhiêu. Tuy nhiên, độc đáo không phải chỉ là sự khác biệt so với cách thể hiện
của những cá tính khác trong văn học, mà quan trọng hơn, nhà văn ấy phải
góp phần làm phong phú thêm thế giới tinh thần của con người và nền văn
hoá chung của nhân loại. Khrapchenkô nhấn mạnh: “Vai trò của cá tính sáng
tạo không chỉ được xác định bởi tính đặc thù xét trong thực chất nội tại, nó
17
còn được xác định bởi tính đặc thù được thể hiện trong việc tạo ra những giá
trị nghệ thuật có ý nghĩa chung”[26,tr.91].
Chúng ta cần loại trừ cách hiểu cho rằng, lặp lại cái tôi của nhà văn
nhiều lần là sẽ có được cá tính sáng tạo. Điều đó chỉ có thể tạo nên một cá
tính giả tạo, chứ không thể là một cá tính chân chính. Tsêkhôp cho rằng: “Sự
độc đáo của tác giả không chỉ thể hiện trong phong cách, nó còn được thể
hiện trong tư duy, trong quan niệm ”[26,tr.92].
Đề cao cá tính sáng tạo, không có nghĩa là chúng ta cực đoan hoá nó,
biến nó trở thành chủ nghĩa cá nhân như ở một số nhà văn, họ coi sáng tác
chẳng qua là sự “khám phá ra bản thân mình và chỉ bản thân mình mà thôi.
Cái quan trọng và đáng chú ý không phải là thế giới hiện thực trong đó con
người đang sống, đáng chú ý là cái thế giới riêng biệt được tạo ra bởi nhà
nghệ sĩ vốn không hề biết bất kỳ sự hạn chế nào trong sự du hý tự do của trí
tuệ và trí tưởng tượng” [26,tr.92]. Việc nhà văn quá đề cao cái tôi, chú trọng
những tâm trạng và tình cảm cá nhân sẽ khiến họ đánh mất đi những mối liên
hệ với thế giới bên ngoài. Và như vậy nhà văn ấy đã tự huỷ hoại tài năng của
mình.
Cá tính sáng tạo không phải là một khái niệm trừu tượng biểu hiện một
cách chung chung vô hình, mà ngược lại nó hết sức cụ thể. Cá tính sáng tạo
được biểu hiện “tập trung ở cái nhìn nghệ thuật độc đáo, ở cách cảm, cách

nghĩ của nhà văn có khả năng đề xuất những nguyên tắc, biện pháp nghệ
thuật mới mẻ, tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật trong việc biểu hiện những nội
dung mới của đời sống và tư tưởng” [25,tr.25]. Đánh giá một nền văn học có
thực sự lớn hay không, người ta thường làm một công việc thủ công, đó là
tính đếm xem nền văn học ấy có được bao nhiêu cá tính sáng tạo. Vì vậy có
thể khẳng định, cá tính sáng tạo là “một hiện tượng lịch sử” [26,tr.106]
18
Giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng giúp khẳng định cá
tính sáng tạo của nhà văn. Một nhà văn có cá tính sáng tạo bao giờ cũng là
nhà văn có một tâm hồn với những đặc điểm khá khu biệt. Đó là một tâm hồn
với những cá tính riêng, sở thích riêng và quan trọng hơn có những kinh
nghiệm lịch sử riêng. Những đặc điểm ấy tạo nên cho nhà văn những ưu thế
riêng để quyết định “vùng thẩm mỹ” riêng trong sáng tác. Mỗi nhà văn có một
“vùng thẩm mỹ”. Điều đó làm cho ta dễ hiểu mỗi nhà văn luôn có một giọng
điệu chủ đạo xuyên suốt sáng tác của mình. Nhiều khi trong văn học, đọc một
tác phẩm, thông qua giọng điệu có thể nhận ra đó là tác phẩm của nhà văn
nào. Đúng như Turghenev đã từng phát biểu: “Cái quan trọng trong tài năng
văn học…và tôi nghĩ rằng có thể trong bất kì một tài năng nào, cái mà tôi
muốn gọi là tiếng nói của mình. Đúng thế, cái quan trọng là tiếng nói của
mình, cái quan trọng là cái giọng điệu riêng biệt của chính mình không thể
tìm thấy trong cổ họng của bất kì người nào khác…muốn nói được như vậy và
muốn có được cái giọng ấy thì phải có cái cổ họng được cấu tạo một cách
đặc biệt, giống như của loài chim vậy. Đó chính là đặc điểm phân biệt chủ
yếu của một tài năng sống độc đáo”[26,tr.90].

1.4. GIỌNG ĐIỆU NHƯ MỘT YẾU TỐ TÍCH CỰC THỂ HIỆN
PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN

Không phải là không có lí khi Khrapchenkô cho rằng: “Là một yếu tố
cấu thành của tác phẩm nghệ thuật, của sáng tác của nhà văn nói chung,

phong cách là một hệ thống phức tạp. Trong hệ thống đó trước hết cần phải
chú ý tới sự tổng hợp của những phương tiện giọng điệu” [26,tr.167]. Như
vậy, giọng điệu là yếu tố hàng đầu thể hiện phong cách nghệ thuật của nhà
văn.
19
Phong cách theo giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, là một “phạm trù thẩm
mĩ…nhà văn phải thật sự có tài năng, phải thật sự sáng tạo ra những tác
phẩm có giá trị nghệ thuật cao mới được coi là nhà văn có phong cách… Mỗi
nhà văn có phong cách tạo ra cho mình một thế giới nghệ thuật riêng. Thế
giới nghệ thuật ấy, dù phong phú đa dạng thế nào, vẫn có tính thống
nhất…Phong cách bao gồm những đặc điểm độc đáo của các tác phẩm của
một nhà văn từ nội dung đến hình thức” [49,tr.8]
Dấu ấn phong cách trong giọng điệu chính là “chất riêng” độc đáo ,
không thể lẫn của mỗi nhà văn, mà nói như Turghênev là “không thể tìm thấy
trong cổ họng của bất kì người nào khác” [26,tr.90]. Cái chất riêng ấy quy tụ
lại ở giọng điệu đặc trưng thường thấy của nhà văn, nó thường được biểu hiện
ở giọng điệu chủ đạo xuyên suốt sáng tác của nhà văn ấy. Tại sao giọng điệu
lại là yếu tố hàng đầu thể hiện phong cách nghệ thuật của nhà văn ? Có thể lí
giải theo cách của Khrapchenkô trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự
phát triển của văn học: “Do chỗ giọng điệu gắn liền với việc dùng hình
tượng để miêu tả đối tượng của sáng tác, cho nên nó có đặc điểm của cách
nhìn nhận riêng của cá nhân đối với đời sống”.

Tiểu kết
:

Từ những phân tích có tính chất lí thuyết trên đây, chúng tôi có thể rút
ra những kết luận khái quát như sau:
Thứ nhất : Từ lâu, các nhà nghiên cứu, phê bình đã thấy được tầm quan trọng
của giọng điệu. Nó được coi như một cơ sở quan trọng để nhận diện lập

trường, tư tưởng, thái độ của nhà văn, một tiêu chí tin cậy để khảo sát mức độ
thành công của tác phẩm.
20
Thứ hai : Khái niệm giọng điệu đã được nhiều nhà nghiên cứu phát biểu,
nhưng nó vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Tuy nhiên, khái niệm được đưa
vào Từ điển văn học được coi là hoàn chỉnh hơn cả.
Thứ ba : Giọng điệu được hình thành trên cơ sở của nhiều yếu tố. Song có thể
kể đến các yếu tố cơ bản sau : Cảm hứng chủ đạo của nhà văn trong sáng tác;
Cái nhìn nghệ thuật của tác giả và phạm vi hiện thực được phản ánh trong tác
phẩm ; Cá tính sáng tạo của nhà văn.
Thứ tư : Giọng điệu là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên
phong cách nghệ thuật độc đáo của nhà văn trong sáng tác.



















21
CHƯƠNG 2 : GIỌNG ĐIỆU TRUYỆN NGẮN
LÊ MINH KHUÊ TRƯỚC 1975

2.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH

2.1.1.
Đề tài chiến tranh


Đề tài chiến tranh là một trong những đề tài quen thuộc nhất của văn
học dân tộc ta - một dân tộc có lịch sử bốn ngàn năm đánh giặc giữ nước.
Qua hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mĩ, nước ta có hẳn một
nền văn nghệ kháng chiến với những tác phẩm xuất sắc. Văn học thời kì này
tập trung chủ yếu vào nhiệm vụ phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu; vì vậy
xuất hiện nhiều tác phẩm được sáng tác theo khuynh hướng sử thi.
Trong dòng chảy văn học ấy, Lê Minh Khuê là một trong những tác giả
nữ viết nhiều và viết hay về cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc. Hội
đồng giải thưởng giải văn học quốc tế Byeong - Julee khẳng định: “Là một
nhà văn nữ hàng đầu, Lê Minh Khuê ban đầu được biết đến bằng những tác
phẩm viết về những cô gái trong cuộc chiến tranh giữ nước”.
Lê Minh Khuê không viết về chiến tranh với cảm thức của một người
đứng bên lề của nó, mà nhà văn viết với tâm thế của một người trong cuộc.
Mười sáu tuổi, cô nữ sinh Lê Minh Khuê đã rời ghế nhà trường, gia nhập vào
đội ngũ những cô thanh niên xung phong và bắt đầu sáng tác. Truyện ngắn
đầu tay “Nơi bắt đầu những bức tranh” được in trên báo Văn nghệ năm
1971 đã mở đầu cho hàng loạt những tác phẩm có đề tài chiến tranh của nhà
văn: Những ngôi sao xa xôi, Cao điểm mùa hạ, Con trai của những người
22
chiến sĩ, Tình yêu người lính, Mẹ, Bạn bè tôi…sau này là những truyện ngắn

được tập hợp in trong tập Cao điểm mùa hạ.
Đề tài chiến tranh được Lê Minh Khuê triển khai thành nhiều đề tài
nhỏ, có những đề tài đã hiện lên ngay từ tên tác phẩm: có đề tài về tình yêu
(Tình yêu người lính), có đề tài về tình đồng chí, đồng đội (Bạn bè tôi, Cao
điểm mùa hạ, Những ngôi sao xa xôi…), có đề tài về tình mẫu tử (Mẹ), có
đề tài về lòng dũng cảm và tinh thần chiến đấu hi sinh (Con trai của những
người chiến sĩ, Cao điểm mùa hạ, Con sáo nhỏ của tôi)…Phân chia như vậy
chỉ có ý nghĩa về hình thức, vì thực chất những đề tài này được Lê Minh
Khuê khéo léo lồng ghép, đan cài. Vì thế mà có thể ở cùng một tác phẩm của
nhà văn chúng ta có thể thấy nhiều đề tài cùng một lúc.
Nhân vật chính trong các tác phẩm viết về chiến tranh của Lê Minh
Khuê chủ yếu là những cô gái thanh niên xung phong trên những cung đường
Trường Sơn, những người lính trên tuyến lửa. Đây chính là lực lượng chủ lực
của cuộc chiến - những người trực tiếp làm lên chiến thắng. Viết về đề tài
chiến tranh, tâm thế của Lê Minh Khuê cũng như hầu hết các tác giả cùng
thời, đó là luôn nhìn cuộc chiến tranh vệ quốc của dân tộc bằng cái nhìn sử thi
ít nhiều có tính thi vị hóa. Vì vậy nhà văn luôn đặt nhân vật của mình vào
những môi trường có thể phát huy tối đa những phẩm chất tốt đẹp. Dù ở hoàn
cảnh nào thì ở họ, Lê Minh Khuê vẫn phát hiện được những điểm chung, đó
là những chàng trai, những cô gái tuổi đời còn rất trẻ, hầu hết đều vừa rời ghế
nhà trường. Họ là những thanh niên có phẩm chất tốt đẹp, vì say mê lí tưởng,
vì lòng yêu quê hương tha thiết, lòng căm thù giặc mãnh liệt mà lên đường
chiến đấu. Ở những người lính ấy luôn sáng ngời lòng dũng cảm và tinh thần
chiến đấu, hi sinh bản thân vì Tổ quốc. Những chàng trai, cô gái ấy chính là
hình ảnh đại diện cho lớp lớp thế hệ thanh niên Việt Nam trong cuộc kháng
23
chiến chống Mĩ. Phẩm chất của họ là kết tinh phẩm chất của cả cộng đồng, là
phẩm chất mang tính thời đại.
Một điều đáng chú ý nữa ở nhân vật truyện ngắn Lê Minh Khuê trước
1975, đó là hình tượng nhân vật đám đông. Hình tượng nhân vật này xuất

hiện ở hầu hết các tác phẩm. Họ đều là những tập thể anh hùng, gồm những
người lính có tên và không tên, chiến đấu và chiến thắng dựa trên sức mạnh
của tập thể, của tình đồng chí, đồng đội. Đặc điểm nhân vật truyện ngắn Lê
Minh Khuê trước năm 1975 cũng chính là đặc điểm chung của nhân vật văn
học cùng thời.
Sau năm 1975, Lê Minh Khuê có mảng tác phẩm tiếp tục triển khai đề
tài chiến tranh. Nhưng những tác phẩm về sau này được viết theo bút pháp
hoàn toàn khác. Nếu như trước năm 1975, số phận con người được đặt hoàn
toàn trong chiến tranh và được nhìn bằng cái nhìn sử thi, thì sau chiến tranh,
số phận của họ được nhìn bằng con mắt hiện thực và được đặt cả trong thời
chiến, cả trong thời bình. Họ không còn là những anh hùng, dũng sĩ nữa, mà
họ là những con người bình thường với số phận cá nhân. Nhìn chung những
tác phẩm này được viết theo khuynh hướng nhận thức lại quá khứ.
Như vậy, toàn bộ sáng tác của Lê Minh Khuê trước năm 1975 đều bám
sát đề tài chiến tranh. Chính điều này đã giúp cho tác phẩm của nhà văn hoà
vào dòng chảy chung của văn học dân tộc.

2.1.2
. Cảm hứng lãng mạn cách mạng

Khuynh hướng sử thi là đặc điểm bao trùm sáng tác của Lê Minh Khuê
trước năm 1975. Đi cùng với nó là cảm hứng lãng mạn cách mạng, thấm
nhuần tinh thần lạc quan chiến thắng.
24
Do đặc điểm của thời đại, Lê Minh Khuê cùng các nhà văn, nhà thơ
cùng thời luôn mang trong mình lòng yêu nước tha thiết và lòng tin chắc chắn
ở tương lai tươi sáng của dân tộc. Tinh thần này được phản ánh rõ nét trong
tác phẩm, trở thành cảm hứng lãng mạn cách mạng.
Trước hết, cảm hứng lãng mạn thể hiện thông qua việc Lê Minh Khuê
xây dựng trong truyện ngắn của mình những hình tượng nhân vật lí tưởng. Đó

là những chàng trai, cô gái tuổi đời còn rất trẻ, trong sáng, hồn nhiên, nhưng ở
họ lại có một lòng yêu nước tha thiết, một tinh thần chiến đấu anh dũng quả
cảm. Họ sẵn sàng hi sinh tính mạng, tuổi trẻ vì Tổ quốc. Đó là Mua (Con sáo
nhỏ của tôi), là Hoà (Con trai của những người chiến sĩ) Dường như chưa
bao giờ chúng ta thấy trong văn học một không khí sục sôi hết mình vì tư
cách công dân đến vậy.
Viết bằng cảm hứng lãng mạn, ngợi ca, Lê Minh Khuê luôn để cho
hướng vận động của cốt truyện, của mạch văn, của số phận, nhân vật đi từ
bóng tối ra ánh sáng, từ gian khổ đến niềm vui, từ hiện tại đến tương lai đầy
hứa hẹn. Nơi bắt đầu của những bức tranh không phải là sự vận động của số
phận mà nó là quá trình phát triển về nhận thức của nhân vật chính từ bóng tối
ra ánh sáng theo ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Cô phóng viên - hoạ sĩ Thanh
Mai từ chỗ sống thờ ơ, vô trách nhiệm trước vận mệnh của dân tộc (thể hiện
qua lời Mai nói với Vĩnh: “Con đường của chúng mình khác hẳn, có giống
mọi người đâu”),qua một thời gian sống giữa Hà Nội tràn đầy sự kiện, Mai
dần dần “hiểu sâu sắc đến nỗi đôi khi đau nhói ở tim”. Cô xung phong đi
công tác chiến trường, hoà mình vào cuộc sống chiến đấu và lao động của
những người lính. Nhìn lại mình trong quá khứ, cô đã tự dằn vặt: “Mình quá
tồi đi, không chịu mở mắt ra. Mà bạn bè thì dũng cảm, trong sạch biết bao
trong chiến tranh. Thế mà còn thốt ra một lời ngu xuẩn với anh Vĩnh”. Với cô
“trước đây, cuộc sống như một câu chuyện nào đó kể bằng tranh, trong một
25
cuốn sách bọc giấy xanh. Bây giờ đi chân không, giẫm lên sỏi nóng bỏng,
thấy đau thực sự”. Như vậy, điều mà Mai nhận thức được chính là lí tưởng
sống của bản thân, và đây cũng chính là lí tưởng cách mạng, là ý nghĩa của
cuộc chiến đấu mà toàn bộ dân tộc đang trải qua. Nhân vật Hòa trong “Con
trai của những người chiến sĩ” cũng có sự vận động về nhận thức như vậy.
Hòa cũng “đã vô tâm, bàng quan trước vinh quang gian khổ của cha mẹ,
trước sự hi sinh hiện tại của bạn bè cùng thế hệ đang chiến đấu ở mặt trận”.
Anh mải mê với thời trang, với trò chơi tình ái, sống cuộc sống vô nghĩa và

hoàn toàn không có lí tưởng. Chỉ đến khi được gặp Bình - người bạn thủa
nhỏ, được tận mắt chứng kiến tinh thần chiến đấu anh dũng quả cảm của bạn,
anh đã thức tỉnh, nhận ra lí tưởng sống đời mình. Đó là con đường chiến đấu,
hi sinh vì Tổ quốc, vì dân tộc để sao cho xứng đáng là “con trai của những
người chiến sĩ”.
Hướng vận động của số phận nhân vật còn chi phối cả cách nhà văn kết
thúc tác phẩm của mình. Cảm hứng lãng mạn càng rõ nét khi nhà văn không
lỡ để cho nhân vật mình yêu quí phải hi sinh khi mới 17 tuổi. Bà tìm cách để
bất tử hóa nhân vật. Sim đã hi sinh song cô đã hóa thân thành hàng ngàn,
hàng vạn cô thanh niên xung phong khác trên tuyến lửa. Bằng cách kết thúc
như vậy, nhà văn muốn xây dựng một hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng về
một thế hệ thanh niên Việt Nam thời chống Mĩ. Đó là những con người kiên
cường, anh dũng và bất tử.
Cùng cách kết thúc mở bằng hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng như
vậy là truyện ngắn “Bình minh ven biển”. Tấn - một bác sĩ quân y từ chiến
trường ra, cô đến thăm Thuỷ - một người bạn đang sống cùng gia đình ở một
thành phố biển Quảng Ninh. Thuỷ rủ Tấn, sau khi xuất ngũ hãy về thành phố
biển này để tạo dựng cuộc sống, cô đồng ý và trước mắt hai người hiện lên
hình ảnh “cái Cung thiếu niên của thành phố đang đặt những viên gạch đầu

×