1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
HOÀNG THỊ HẢI YẾN
PHONG CÁCH TRUYỆN NGẮN
LÊ MINH KHUÊ
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số : 60 22 32
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. TRỊNH BÁ ĐĨNH
HÀ NỘI, 2010.
2
Lời cảm ơn
Đợc sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy giáo hớng dẫn: PGS TS Trịnh Bá
Đĩnh trong suốt quá trình tìm đọc tài liệu, thiết lập đề cơng, cũng nh phơng pháp
nghiên cứu, đến nay bản luận văn của tôi đã hoàn thành. Nhân dịp này, cho phép tôi
xin đợc bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới thầy giáo Trịnh Bá
Đĩnh(Viện Văn học Việt Nam), ngời đã tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian làm
việc.
Đồng thời nhân dịp này tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới sự dạy bảo, giúp đỡ và
động viên về mọi mặt của các thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ Văn trờng Đại học S
phạm 2, cũng nh Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa và Phòng quản lí sau Đại học
của nhà trờng đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình đào tạo.
Lời cuối cùng tôi muốn đợc bày tỏ lòng biết ơn của mình tới những ngời thân
trong gia đình, bạn bè luôn ở bên động viên, giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian
học tập và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2010
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hải Yến
3
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đề tài: Phong cách truyện ngắn Lê Minh Khuê là
công trình nghiên cứu của riêng tôi, kết quả luận văn là trung thực, cha từng đợc ai
công bố trong bất kì công trình khoa học nào.
Hà Nội, ngày 15 tháng 09 năm 2010
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Hải Yến
4
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU1
1. Lí do chọn đề tài 10
2. Mục đích nghiên cứu 10
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5. Phương pháp nghiên cứu 11
6. Giả thuyết khoa học 11
NỘI DUNG 12
Chương 1:
KHÁI NIỆM VỀ PHONG CÁCH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ
HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT
LÊ MINH KHUÊ 12
1.1. Khái niệm phong cách 12
1.1.1. Ở nước ngoài 13
1.1.2. Ở trong nước 19
1.2. Những tiền đề tạo nên phong cách Lê Minh Khuê 21
1.2.1. Quá trình hoạt động xã hội và sáng tác 21
1.2.2. Quan niệm nghệ thuật của Lê Minh Khuê 27
Chương 2:
ĐẶC TRƯNG NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT TỰ SỰ
TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA LÊ MINH KHUÊ 38
5
2.1. Đặc trưng nội dung 38
2.1.1. Lựa chọn, xử lí đề tài 38
2.1.1.1. Đề tài chiến tranh 38
2.1.1.2. Đề tài thế sự 43
2.1.2. Người phụ nữ - nhân vật chính của truyện ngắn Lê Minh Khuê 50
2.1.2.1. Người phụ nữ với những nỗi đau 51
2.1.2.2. Người phụ nữ với vẻ đẹp tâm hồn 55
2.2. Đặc sắc bút pháp: tổ chức cốt truyện và kết cấu 58
2.2.1. Cốt truyện 58
2.2.1.1. Cốt truyện nhiều chi tiết sự kiện 61
2.2.1.2. Cốt truyện tâm lý 64
2.2.2. Kết cấu 70
2.2.2.1. Kết cấu vòng tròn 71
2.2.2.2. Kết cấu mở 74
Chương 3:
GIỌNG ĐIỆU VÀ NGÔN TỪ TRONG
TRUYỆN NGẮN LÊ MINH KHUÊ 80
3.1. Khái niệm giọng điệu 80
3.2. Các sắc thái giọng điệu 81
3.2.1. Giọng tự hào, ngợi ca 81
3.2.2. Giọng mỉa mai, châm biếm 84
3.2.3. Giọng trữ tình, suy tư, chiêm nghiệm giàu chất triết lý 88
3.3. Ngôn từ 92
3.3.1. Ngôn từ mang màu sắc trong trẻo 93
3.3.2. Ngôn từ sử dụng nhiều khẩu ngữ 95
3.3.3. Ngôn từ giàu tính đối thoại 97
6
3.3.4. Ngôn từ nội cảm 99
KẾT LUẬN 101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
7
MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nói đến phong cách nghệ thuật, trước hết là nói đến những sáng tạo đạt đến
trình độ nghệ thuật cao của một nhà văn. Việc nghiên cứu phong cách nghệ thuật, vì
thế sẽ giúp cho người nghiên cứu khám phá được những nét độc đáo trong sáng tác
của nhà văn, từ đó khẳng định tài năng và vị trí của họ trong nền văn học dân tộc.
Lê Minh Khuê thuộc vào một trong số ít các nhà văn đương đại có bản sắc
riêng và có những thành tựu nghệ thuật được thừa nhận không chỉ ở trong nước mà
một số truyện của chị đã được đánh giá tốt ở nước ngoài. Trước hết là với thể loại
truyện ngắn. Bắt đầu đến với truyện ngắn từ cuối những năm 60, từ đó đến nay đã gần
50 năm, Lê Minh Khuê vẫn bền bỉ theo đuổi thể loại này và gặt hái được không ít
những thành công. Chị trở thành một trong những cây bút nữ hàng đầu Việt Nam. Hai
lần giành giải thưởng của Hội nhà văn (năm 1987 với tập Một chiều xa thành phố in
năm 1986, năm 2000 với tập Trong làn gió heo may in 1999), một lần đoạt giải của
tạp chí Văn nghệ quân đội năm 1994 với tập Bi kịch nhỏ in 1993. Và mới đây chị
vinh dự là nhà văn đầu tiên đoạt giải thưởng văn học quốc tế mang tên văn hào Hàn
Quốc Byeong-zu Lee lần thứ nhất (tháng 4/2008), với tập truyện ngắn: The Stars,
The Eart, The River (Những ngôi sao, trái đất, dòng sông) do nhà xuất bản
Curbstone Press ấn hành ở Mỹ,1998).
Hiện nay Lê Minh Khuê được xem là nhà văn có bút lực mạnh trong thể loại
truyện ngắn. Do vậy chọn đề tài “Phong cách truyện ngắn Lê Minh Khuê” chúng
tôi mong muốn giúp bạn đọc hiểu sâu hơn về thể loại ngày càng được ưa thích này,
đồng thời thấy được đặc sắc riêng về phong cách nghệ thuật qua những đóng góp quý
báu của Lê Minh Khuê đối với văn học đương đại. Lịch sử văn học xét đến cùng là
8
lịch sử của những phong cách lớn. Bởi vậy, những tác gia tiêu biểu và tác phẩm xuất
sắc của họ luôn là đối tượng trung tâm của những nhà nghiên cứu văn học và của việc
dạy- học văn ở nhà trường phổ thông và đại học. Việc tiếp cận tác giả, tác phẩm từ
góc độ phong cách, theo đó sẽ có ý nghĩa lí luận- thực tiễn quan trọng.
Sinh ra trong cuộc kháng chiến chống Pháp, trưởng thành trong cuộc kháng
chiến chống Mĩ và từng trải qua những năm tháng hoà bình sau này, hơn 30 năm bền
bỉ thuỷ chung với thể loại truyện ngắn, Lê Minh Khuê đã chứng tỏ khả năng của
mình. Chị đã cho ra đời sáu tập truyện ngắn. Những truyện ngắn của chị đã được
người đọc và cả đồng nghiệp xem là những tác phẩm khá tiêu biểu của thế hệ nhà văn
đã đem cả tuổi thanh xuân của mình hiến dâng cho tổ quốc.Về tư liệu để tìm hiểu về
Lê Minh Khuê, dù chưa nhiều song cũng đã có một số lượng đáng kể. Dưới đây tôi
xin tổng thuật đại lược các bài và các hướng tìm hiểu tương đối nổi bật đối với bút
pháp nghệ thuật của nhà văn này. Trước tiên, tôi xin đề cập đến các nghiên cứu tương
đối quy mô là các luận văn, luận án trong nhà trường. Có thể kể : luận văn thạc sĩ ngữ
văn Truyện ngắn Lê Minh Khuê của Mai Thị Thuý Ninh, Đại học Sư phạm Hà Nội,
2002; khoá luận tốt nghiệp khoa ngữ văn Sự vận động của thể loại truyên ngắn Việt
Nam thời kì đổi mới (qua truyện ngắn Lê Minh Khuê) của Nguyễn Mai Phương,
Đai học Sư phạm Hà Nội, 2003; luận văn thạc sĩ Truyện ngắn Lê Minh Khuê (nhìn
từ thi pháp thể loại) của Cao Thị Hồng Đại học Sư phạm Hà Nội, 2003; luận văn
thạc sĩ Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Lê Minh Khuê của Đinh Lưu Hoàng
Thái, Đại học Sư phạm Hà Nội, 2006;…Tuy nhiên có giá trị gợi mở nhiều hơn cả là
các bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình có tên tuổi. Mặc dù mỗi tác giả đều có
những nhận xét, những khám phá ở những phương diện khác nhau nhưng đều thống
nhất trên cơ sở khẳng định những thành công mà bà đã đạt được.
9
Về tập truyện ngắn đầu tay Cao điểm mùa hạ, Lê Thị Đức Hạnh cho rằng:
“Nét riêng của Lê Minh Khuê, trước hết là ở khía cạnh ghi lại khá chân thực, sống
động vóc dáng của một tầng lớp thanh niên, đặc biệt là nữ ở một thời điểm trọng đại
của đất nước” [41, tr.27]. Đánh giá mức độ chân thực mà Lê Minh Khuê đạt được
trong phản ánh hiện thực, tác giả viết tiếp: “Quả là Lê Minh Khuê đã viết ra những
điều chị đã sống đã cảm và dân tộc ta đã đích thực trải qua một thời kì lịch sử như
thế” [41, tr.27]. Cùng đánh giá về tập truyện ngắn này Bùi Việt Thắng đã nhận xét: Lê
Minh Khuê đã “chắt chiu” những gì đã viết ra không ít từ 1969 đến 1974. “Nhân vật
của chị thuần phác, hồn nhiên nhưng không giản đơn; cảnh ngộ không có gì thật éo
le, gay cấn nhưng tiêu biểu. Người đời thấy ở ngòi bút này lối cảm đời sống theo con
đường của trực giác” [93, tr.3]. Mặc dù còn một vài hạn chế do “Lê Minh Khuê không
vượt ra ngoài được những hạn chế chung trong những điều kiện cuộc sống nhất
định… Cái nhìn chưa thực khách quan, đa diện và còn thiên về duy cảm” [44, tr.27],
song chị cũng đã để lại ấn tượng trong lòng người đọc.
Tập Đoạn kết không có được thành công như tập truyện ngắn đầu tay. Điều
này đã đươc Bùi Việt Thắng nhận xét: Đoạn kết “có những chỗ sồi sụt, lối văn hơi
rướn lên một tí thành ra nhiều chỗ lạc điệu, không hợp với tạng của Lê Minh Khuê”
[93, tr.3]. Cùng chung nhận xét với Bùi Việt Thắng, Thiên Hương cũng đã cho chúng
ta những nhận xét khá thẳng thắn và trung thực, những tập truyện ngắn trong tập này
có “kết cấu trùng lặp”, “công thức” [45, tr.3]. Tuy vậy, nhìn chung tập truyện ngắn
này “vẫn có sức thuyết phục và hấp dẫn nhất định” [45, tr.3].
Tập truyện ngắn thứ ba Một chiều xa thành phố là tập truyện ngắn thể hiện
những nỗ lực vượt mình của Lê Minh Khuê. Tập truyện đã tái hiện những thực tại
tinh thần trong đời sống xã hội sau chiến tranh. Lê Thị Đức Hạnh nhận thấy cảm hứng
chủ đạo của tập truyện là niềm “băn khoăn, day dứt, thậm chí có lúc thảng thốt trước
10
thực trạng tinh thần của đời sống xã hội sau chiến tranh xấu đi rõ rệt”; “với bút pháp
cường điệu, phóng đại, Lê Minh Khuê đã mô tả cái ác, cái trơ tráo, phi đạo lí đang
lấn lướt mà mọi người dường như bất lực” [41, tr.28].
Bùi Việt Thắng, trong bài viết Để có sức bền ngòi bút cũng có chung những
nhận xét ấy: “Những thực trạng tinh thần trong đời sống xã hội sau chiến tranh được
Lê Minh Khuê quan tâm khai thác và thể hiện trong nhiều truyện”. Theo anh, đó là
“nỗi cô đơn của những con người đã trải nghiệm thử thách qua chiến tranh nay trở về
đời sống thường nhật”, là “Những biến động theo chiều hướng tiêu cực của một số
không ít người vốn nghiêng về lối sống thực dụng”. Cũng trong bài viết này, Bùi Việt
Thắng còn cho rằng: Lê Minh Khuê “tập trung thể hiện những biến động theo chiều
hướng tiêu cực ở một số người vốn nghiêng về lối sống thực dụng. Ở đây tác giả đã
men tới gần được quá trình tâm lí phức tạp của con người hôm nay và thể hiện nó
trong những khoảnh khắc tiêu biểu, mặc dù cái nhìn của Lê Minh Khuê chưa thật mới
mẻ” [93, tr.3]. Bùi Việt Thắng còn đưa ra nhận xét về cách thể hiện của Lê Minh
Khuê: “Đọc văn Lê Minh Khuê, chúng ta thấy khi viết, dường như chị tựa hẳn vào
những ấn tượng, cảm giác. Những ấn tượng này là mơ hồ, nhiều khi khó hiểu, cứ
bảng lảng, thành thử câu văn gợi nhiều liên tưởng. Lối viết này là do cách cảm nhận
đời sống bằng trực giác”. Và về nhân vật của chị: “Nhân vật của Lê Minh Khuê - đặc
biệt là nhân vật nữ - lúc nào cũng như đuổi bắt một cái gì đó không rõ ràng lúc nào
cũng thấy bất ổn ở chính mình và ở cuộc đời. Và nếu nói “Văn là người” thì ở
phương diện này, tác giả tự biểu hiện mình rất rõ. Đọc truyện ngắn Lê Minh Khuê
thấy rõ, thực ra chị chỉ nói về mình, về những cảm xúc của mình trước cuộc sống…”
[93]. Có thể nói tập truyện Một chiều xa thành phố thể hiện Lê Minh Khuê “đang ở
thời kì nỗ lực rất cao để vượt lên những gì đã có”; nghĩa là khẳng định chị đã đạt
được những thành công nhất định và tỏ ra là một “ngòi bút có sức bền”.
11
Tập truyện ngắn Bi kịch nhỏ đã để lại tiếng vang lớn trong nền văn học nước
nhà. Đã có nhiều bài viết, nhiều cách đánh giá không thống nhất, thậm chí trái chiều
nhau.
Xu hướng thứ nhất tập trung phê phán Bi kịch nhỏ. Đỗ Nguyên Chí chỉ ra
“những cái giả trong “Bi kịch nhỏ””. Trần Thanh đặt dấu hỏi lớn ““Bi kịch nhỏ” hay
bi kịch lớn?”. Trung Nguyễn phê phán tập truyện này không hề úp mở ““Bi kịch
nhỏ” là một tập truyện ngắn không trung thực”. Dương Tùng còn lên án Bi kịch nhỏ
trên tờ Tạp chí cộng sản. Phan Cung Việt thì cho rằng ““Bi kịch nhỏ” không mổ thì
tốt hơn” và Đậu Thị Vĩnh thì xếp Bi kịch nhỏ vào một trong số “bảy cuốn sách tai
tiếng”…
Gay gắt nhất trong số những ý kiến về Lê Minh Khuê và tập truyện ngắn này có
lẽ là bài viết của Đỗ Nguyên Chí và Trần Thanh trên Tạp chí Văn - Hội văn học nghệ
thuật thành phố Hồ Chí Minh. Đỗ Nguyên Chí viết: “Ai cũng biết sự thật ở ngoài đời
nhiều khi có ràng ràng ra đấy, để tránh tính khu biệt, khi đưa vô trang viết, nhà văn
còn phải tính toán, dòm ngó chán rồi mới đưa vô, huống chi đây là những điều không
thể có. Và trong sáng tác văn học, chỉ cần vài chi tiết bị cương lên, kích lên qúa sự
thật, người đọc sẽ lập tức phân vân hoài nghi” [21, tr.64]. Còn Trần Thanh thì có
nhận định chung về nội dung của cả tập truyện ngắn này: “Đọc qua chín truyện, cốt
truyện có khác, mức độ gay gắt có khác nhưng đều là bi kịch. Suốt một thời gian dài
và trong phạm vi không gian rộng lớn, đằng sau và bên trong chữ nghĩa, nổi bật lên
cách nhìn xuyên suốt, nhất quán của tác giả từ số phận cá nhân, gia đình đến toàn xã
hội. Qua từng trang sách, người đọc bị đè nặng trong bầu không khí oi bức, nặng nề,
ghê sợ, mất lòng tin với con người. Cán bộ với nhân dân, tình cha con, vợ chồng, bầu
bạn, tình yêu đôi lứa,… đều hiện lên hầu hết qua các nhân vật đểu giả, lừa lọc, độc
ác, thô bỉ, ngu dốt, tối tăm. Trừ một vài cử chỉ nhỏ nhặt có thể gọi là tốt bụng của một
12
vài nhân vật xuất hiện thoáng qua không đáng chú ý, nói chung các nhân vật khác
đều là tội nhân hoặc nạn nhân sinh ra từ một đất nước chỉ toàn lưu lạc chiến tranh
đau khổ, cảnh địa ngục đến thế là cùng” [92, tr.66]. Tập truyện Bi kịch nhỏ là kết
quả của sự gán ghép tuỳ tiện, nếu không nói là xuyên tạc, lộ liễu, diễn đạt hoàn toàn
theo sự chủ quan, định kiến của mình. Riêng truyện ngắn “Bi kịch nhỏ”, Trần Thanh
cho rằng “Với truyện ngắn này, tác giả viết ra từ lòng u uất, chất chứa những cay
đắng, bất bình, chủ quan, một chiều, chỉ thấy màu xám, cái u tối, không hề cho người
đọc thấy được một mảng sáng nào dù le lói ở cuối đường” [92, tr.69]. Nhìn chung
những ý kiến chê trách Lê Minh Khuê đều xuất phát từ góc độ xã hội học thô sơ trong
việc xem xét tác phẩm nghệ thuật.
Xu hướng thứ hai nhìn nhận và đánh giá truyện ngắn Lê Minh Khuê với một
thái độ bình tĩnh, khách quan. Thuộc xu hướng này gồm các bài viết của Bảo Ninh,
Ngô Thị Kim Cúc, Bùi Việt Sĩ, Phạm Xuân Nguyên, Bùi Việt Thắng, Lê Đức Hạnh…
Theo Bùi Việt Sĩ thì ““Bi kịch nhỏ” là một tập truyện gây một ấn tượng mạnh, chín
truyện ngắn – chín truyện khác nhau nhưng mang một nỗi buồn nghẹn ngào của tác
giả trước nỗi đau của thân phận con người. Tác giả chỉ cố gắng khuôn mình vào một
công việc là kể chuyện và nhà văn suy ngẫm về những truyện xảy ra một cách bình
tĩnh, như trò chuyện riêng với ai đó chứ không nói to cho nhiều người biết. Không ồn
ào, không cho cái gì cũng to tát. Với công việc là kể chuyện, tác giả đã đưa người đọc
vào một thế giới bình thường mà hàng ngày ta đã gặp với biết bao số phận nhân vật”.
Còn Bùi Việt Thắng thì nhận xét: ““Bi kịch nhỏ” có thể là nghiệm một phép thử của
Lê Minh Khuê trong truyện ngắn, dường như chị muốn nhập cuộc hơn, muốn uyển
chuyển và hiện đại hơn trong cách viết” [98]. Phạm Xuân Nguyên cũng đồng tình với
cách thể hiện của Lê Minh Khuê trong Bi kịch nhỏ, với quan niệm: “Quá khứ phải
nhìn thẳng vào nó để nó không còn cơ hội lặp lại theo chiều hướng xấu, chiều hướng
13
ác, để hiện tại thanh thản đi tới”. “Văn học phản ánh hiện thực thì hiện thực phản
ánh làm sao có thể cắt khúc biệt lập quá khứ và hiện tại, hôm qua và hôm nay”. Phạm
Xuân Nguyên khẳng định: “Truyện ngắn ““Bi kịch nhỏ” của Lê Minh Khuê là một cố
gắng của chị, của thể loại truyện ngắn và của văn học hôm nay đi tìm lại lịch sử qua
thân phận con người” [80]. Nhà văn Bảo Ninh thì cho rằng: “Vấn đề không phải ở
xung đột, ở mâu thuẫn, ở bi kịch giữa các nhân vật trong truyện mà là bi kịch trong
lòng người đọc”… Nhìn chung các ý kiến này đều thống nhất ghi nhận sự tìm tòi của
Lê Minh Khuê.
Tất cả ồn ào rồi cũng qua, thời gian và bạn đọc đã trả lại cho tập truyện này giá
trị đích thực. Cho tới nay, người ta không thể phủ nhận được những thành công của
Lê Minh Khuê không chỉ trên phương diện tìm tòi, khám phá hiện thực mà còn trên
phương diện đổi mới cách thể hiện những tìm tòi, khám phá đó.
Những tập truyện ngắn gần đây như: Những dòng sông, buổi chiều, cơn mưa;
Một mình qua đường cùng một số tập truyện ngắn đăng rải rác trên các báo và tạp
chí khác không gây ồn ào như tập Bi kịch nhỏ; nhưng không vì thế mà bạn đọc không
hào hứng tiếp nhận. Giống như một người đàn bà vào độ tuổi bốn mươi, những trang
viết của Lê Minh Khuê đằm thắm hơn, tuy vẫn là chính mình. Chị tiếp tục mổ xẻ,
vạch trần sự tha hoá, xuống cấp, thậm chí mất hết cả nhân tính của con người. “Người
đọc cảm thấy như Lê Minh Khuê đang trăn trở, vật lộn tìm kiếm một cách nhìn, cách
thể hiện mới” [41, tr.28]. Lê Thị Đức Hạnh cũng khẳng định sự tìm tòi đó có mặt
thành công nhưng cũng có mặt còn hẫng hụt. Nhưng dù sao cũng đáng khích lệ, đem
đến cho người đọc không chỉ sự ghê sợ đối với sự mục ruỗng, tha hoá của con người,
mà còn đem lại cho người đọc cơ sở để tin tưởng rằng “cuộc đời này vẫn còn có
những nét đẹp nét trong” [41, tr.28].
14
Tập truyện ngắn được chú ý gần đây nhất của Lê Minh Khuê là Những ngôi
sao, trái đất, dòng sông. Tập truyện vừa đạt giải thưởng văn học quốc tế mang tên
văn hào Hàn Quốc Byeong – Julee. Thông báo của hội đồng giải thưởng viết : “Là
một nhà văn nữ hàng đầu, Lê Minh Khuê ban đầu được biết đến bằng những tác
phẩm viết về các cô gái trong cuộc chiến tranh giữ nước. Tác phẩm thời hậu chiến
của bà quan tâm đến hậu quả chiến tranh đối với đất nước mình, những vấn đề sau
khi đất nước thống nhất, sự nghèo đói và tình trạng xói mòn văn hoá, tinh thần khi
đất nước chuyển đổi sang một xã hội tiêu thụ. Những vấn đề này được thể hiện bằng
một văn phong đẹp, chua xót và trang nghiêm”.
Tìm hiểu dư luận xung quanh những tập truyện ngắn của Lê Minh Khuê, chúng
tôi nhận thấy người đọc rất ngưỡng mộ Lê Minh Khuê của Những ngôi sao xa xôi,
Con sáo nhỏ của tôi, Cao điểm mùa hạ,… nhưng lại “không chịu được” Lê Minh
Khuê của Bi kịch nhỏ, Đồng đô la vĩ đại, Làn nước dịu dàng,… Trong một bài trả
lời phỏng vấn trên báo ttvnonline.net, Lê Minh Khuê cũng đã từng nói về điều này:
“Khác chăng là cách chọn cốt truyện, đề tài. Chữ nghĩa không khác nhau. Cách nghĩ
cũng vậy. Chỉ có một người trẻ và một người tuổi xê xế. Tuổi trẻ thì vui tươi, ngu dại.
Đứng tuổi rồi ai chẳng hoài nghi, tuyệt vọng. Tôi thích cái phần hoài nghi trong tôi.
Nó đúng với cuộc sống mà tôi đang trải”.
Lấy phong cách học là chìa khoá để khai phá vẻ đẹp của các tác phẩm văn
chương của Lê Minh Khuê không phải là vấn đề quá xa lạ đối với các nhà nghiên cứu.
Trong bài viết bao quát sự nghiệp truyện ngắn Lê Minh Khuê từ những ngày đầu sáng
tác đến năm 1992, Lê Thị Đức Hạnh khẳng định: Lê Minh Khuê là “cây bút truyện
ngắn sung sức, là một cây bút nữ có nhiều đóng góp về truyện ngắn. Từ hồn nhiên
trong trẻo đến sắc sảo, nghiêm ngặt, chị luôn có một chất giọng riêng” [41, tr.28].
Người viết cũng ghi nhận những tìm tòi nghệ thuật của Lê Minh Khuê ở thời điểm
15
đầu những năm chín mươi: “Việc đổi mới bút pháp những năm gần đây là dấu hiệu
đáng mừng”. Đây là những ý kiến hết sức quý giá, những nhận định xác đáng. Tuy
nhiên sự bao quát chủ yếu vẫn theo hướng điểm từng tập truyện. Hơn nữa trong
khuôn khổ một bài báo ngắn, tác giả không có điều kiện đi sâu phân tích cụ thể, tỉ mỉ
những nhận định của mình.
Đáng chú ý nữa là bài viết của Hồ Anh Thái: Lê Minh Khuê - Người đàn bà
viễn thị. Hồ Anh Thái nhận thấy người đàn bà ấy “nhiều lúc như người bồng bềnh
trong một cõi riêng xa vắng và lơ đãng” [90, tr.445], viết văn tuy có những lúc khá
“dữ”, nhưng nhìn chung xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm là chất giọng “điềm
đạm, thấu hiểu và đầy kiềm chế” [90, tr.449]. Điều mà Lê Minh Khuê thường phản
ánh trong tác phẩm của mình dù là trước hay sau 1975 là “tâm trạng xã hội qua
những thời kì khác nhau” [90, tr.436]. Những tác phẩm viết dưới thời kì chống Mĩ
mang “cái náo nức quên mình trong trẻo… hồn nhiên đến lạ kì trong những ước mơ”
[90, tr.43]. Nhưng sau này, cái náo nức đó dần nhường chỗ cho “nỗi day trở thường
xuyên của lương tâm trước sự sa sút của nhân tính, của lòng vị tha trước sự gia tăng
của cái ác, cái đạo đức giả. Người ta lắng thấy trong những tác phẩm dữ dội đó nỗi
chua xót, nỗi đau, nỗi tiếc thương những giá trị đang bị xói mòn, đang dần mất. Lắng
kĩ hơn thì nghe được cả những ước ao không cất thành lời” [90, tr.438].
Nói tóm lại, khi nhận định về truyện ngắn Lê Minh Khuê có nhiều ý kiến khác
nhau, nhưng hầu hết đều nhất quán trên cơ sở khẳng định đây là một cây bút có “sức
bền”, “từ hồn nhiên, trong sáng đến sắc sảo nghiêm ngặt (…) luôn có một chất giọng
riêng (…) đi vào một số mặt trong đời sống, chú ý nhiều đến đạo đức, nhân sinh,
nhân tình thế thái… Việc đổi mới bút pháp trong những năm gần đây là dấu hiệu
đáng mừng. Lê Minh Khuê là một cây bút đang sung sức” [93, tr.28].
16
Văn chương là một thế giới muôn màu, muôn vẻ. Khai thác và tìm kiếm vẻ đẹp
của văn chương là một việc làm chưa bao giờ có điểm dừng. Về Lê Minh Khuê đã có
không ít bài nghiên cứu, nhưng nghiên cứu truyện ngắn Lê Minh Khuê với tư cách là
một đối tượng của phong cách học một cách có hệ thống thì cho tới nay chưa có một
công trình nào. Do đó chúng tôi mạnh dạn giải mã truyện ngắn Lê Minh Khuê dưới
góc độ phong cách học.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
2.1. Tiếp cận, lí giải truyện ngắn Lê Minh Khuê từ góc nhìn lí luận về phong
cách nghệ thuật.
2.2.Từ đó nêu bật được những đóng góp nghệ thuật riêng của truyện ngắn Lê
Minh Khuê đối với sự phát triển của văn học hiện đại Việt Nam.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
3.1. Luận văn trình bày những vấn đề lý thuyết về phong cách nghệ thuật, tìm
hiểu cơ sở hình thành và các biểu hiện chủ yếu trong phong cách nghệ thuật của nhà
văn.
3.2. Chỉ ra những đặc sắc trong phong cách truyện ngắn của Lê Minh Khuê, vị
trí của nhà văn trong bức tranh văn học đương đại so với một số tác giả khác cùng
thời.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
4.1. Đối tượng nghiên cứu.
Luận văn sẽ hướng trọng tâm vào tìm hiểu bút pháp của hầu hết truyện ngắn Lê
Minh Khuê qua những phương diện chủ yếu như: các kiểu lựa chọn đề tài, đặc trưng
nhân vật, cốt truyện và kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu. Các vấn đề quan niệm nghệ
thuật và quá trình sáng tác của nhà văn cũng được đề cập tới ở mức độ nhất định,
phục vụ cho việc soi sáng bút pháp của nhà văn.
17
4.2. Phạm vi nghiên cứu.
Luận án khảo sát toàn bộ truyện ngắn của nhà văn Lê Minh khuê đã được tập
hợp trong các tập Cao điểm mùa hạ (1978), Đoạn kết (1981), Một chiều xa thành
phố (1987), Bi kịch nhỏ (1993), Trong làn gió heo may (1999), Lê Minh Khuê
truyện ngắn (2000), The Stars, The Earth, The River (Những ngôi sao, trái đất,
dòng sông), và một số truyện ngắn đăng rải rác trên các báo và tạp chí. Ngoài ra các
bài trả lời phỏng vấn của tác giả, tư liệu báo chí bổ trợ cũng được chúng tôi lưu ý xem
xét.
Vì nhiệm vụ của luận án là tìm hiểu phong cách nghệ thuật của truyện ngắn Lê
Minh Khuê, vì vậy, những tài liệu lý luận về phong cách học liên quan đến đề tài cũng
được quan tâm khai thác. Chúng tôi cũng khảo sát thêm một vài tác phẩm của những
nhà văn Việt Nam cùng thời để so sánh và đối chiếu.
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu đã được xác định, đề tài sử dụng các phương
pháp nghiên cứu cơ bản sau: Phương pháp cấu trúc – hệ thống, phương pháp thống kê
– phân loại, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, …
6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
6.1. Có được những kết luận khoa học về phong cách nghệ thuật trong sáng tác
của Lê Minh Khuê, tiếp tục mở rộng con đường đi vào thế giới nghệ thuật của tác giả.
6.2. Đóng góp một tài liệu học tập, nghiên cứu về Lê Minh Khuê và phong cách
nghệ thuật trong văn học Việt Nam đương đại.
18
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM VỀ PHONG CÁCH VÀ NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH
PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT LÊ MINH KHUÊ
1.1. Khái niệm phong cách.
Từ “phong cách” xuất hiện cách đây hơn 2000 năm, từ thời Hi Lạp cổ đại. Theo
nghiên cứu của L.I. Timôphêep: xưa kia, người Hi Lạp dùng từ “Stylos” để chỉ cái
que có hai đầu, đầu nhọn dùng để viết, đầu tù dùng để xoá trên một tấm bảng nhỏ có
xoa sáp; đến người Pháp dùng chữ “Style” nhưng ban đầu có nghĩa là nét chữ, sau dần
dần có nghĩa là bút pháp với những đặc điểm ngôn ngữ và thể văn; cuối cùng mới có
nghĩa là phong cách.
Ngày nay, từ “phong cách” được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực với
nhiều cách hiểu khác nhau. Có ba cách hiểu phổ biến:
Trước hết, trong đời sống sinh hoạt hàng ngày phong cách là “những lối, những
cung cách sinh hoạt làm việc, hoạt động, xử sự tạo nên cái riêng của một người hay
một loại người nào đó”. [112], ví như phong cách lãnh đạo, phong cách sống giản dị. .
.
Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, phong cách là “dạng của ngôn ngữ sử dụng
trong những yêu cầu chức năng điển hình nào đó, khác với những dạng khác về đặc
điểm từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm” [112], chẳng hạn phong cách ngôn ngữ khoa học,
phong cách ngôn ngữ chính luận,. . .
Phong cách từ bình diện lí luận phê bình văn học nghệ thuật, đó lại là “những
đặc điểm có tính chất hệ thống về tư tưởng và nghệ thuật, biểu hiện trong sáng tác của
một nghệ sỹ hay trong các sáng tác nói chung thuộc cùng một thể loại” [112].
19
Như vậy, trong tư duy nghiên cứu cần phân biệt rõ ba phạm trù phong cách:
phong cách trong sinh hoạt hàng ngày, phong cách ngôn ngữ và phong cách nghệ
thuật.
Trong giới phê bình lí luậnvăn học, hiện đang tồn tại một số lượng rất lớn
những quan niệm, định nghĩa khác nhau về phong cách. Nói như Viện sĩ M.B.
Khrapchencô thì “những định nghĩa này xoè ra như cái quạt giữa sự thừa nhận phong
cách là một phạm trù lịch sử thẩm mĩ rộng nhất, bao quát và sự nhìn nhận nó như
những đặc điểm của những tác phẩm văn học riêng lẻ” [50, tr.258].
Trong phạm vi luận văn này chúng tôi không có điều kiện để trình bày tất cả
các quan niệm, định nghĩa về phong cách nghệ thuật nhà văn mà chỉ có thể dẫn ra một
vài quan niệm tiêu biểu, lấy đó làm cơ sở để đi đến một quan niệm đúng đắn hơn cả
về phong cách nghệ thuật
1.1.1. Ở nước ngoài
Theo tổng kết của Viện sĩ M.B. Khrapchencô trong công trình Cá tính sáng
tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, những định nghĩa khác nhau về
phong cách có thể chia làm bốn nhóm chính (tương ứng với bốn góc độ nhìn nhận
khác nhau).
Trước hết, xem xét phong cách theo nghĩa rộng nhất, đặt phong cách trong mối
quan hệ với phương pháp, thế giới quan, cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, một số
nhà nghiên cứu đã có những quan niệm về phong cách rất đáng chú ý.
Trong một công trình nghiên cứu của mình, Đ.Likhachev cho rằng: “phong
cách nghệ thuật…kết hợp trong bản thân nó sự cảm thụ chung về hiện thực vốn có ở
nhà văn và phương pháp nghệ thuật được quy định bởi những nhiệm vụ mà nhà văn
đặt ra cho mình. Với ý nghĩa đó, khái niệm phong cách có thể được áp dụng vào
20
những loại nghệ thuật khác nhau và giữa chúng có thể có những sự tương ứng đồng
loại” [50, tr.258].
Ar.Grigôrian cũng có ý kiến tương tự: “phong cách không thể vô can với
phương pháp, với thế giới quan, với bút pháp, với cá nhân người nghệ sĩ với cách
hiểu của nghệ sĩ về thời đại với vẻ đặc thù dân tộc trong sáng tác của anh ta…Phong
cách là sự thống nhất cao nhất của tất cả những phạm trù đó” [50, tr.258].
Hai quan niệm trên về phong cách mang nghĩa khái quát cao trong mọi loại
hình nghệ thuật, tuy thế lại có chỗ rõ ràng. Ví như Ar.Grigôrian phát hiện ra sự thống
nhất của phong cách và phương pháp, thế giới quan nghệ sĩ nhưng không chỉ ra được
những đặc trưng của phong cách. Mặt khác, ông mới chỉ thấy phong cách nổi bật ứng
với mỗi nhà văn mà chưa thấy phong cách của nhà văn đó thể hiện qua từng nhóm tác
phẩm.
Nhiều nhà nghiên cứu thiên về việc lí giải phong cách theo kiểu ngôn ngữ học.
Chẳng hạn, theo ý kiến của V.Turbin: “Phong cách là ngôn từ được xét trong
mối quan hệ của nó với hình tượng, đó là tác động qua lại thường xuyên giữa những
khái niệm và ý nghĩa nảy sinh trong ngôn từ vốn đặt vào một văn cảnh nghệ thuật [50,
tr.259].
V. Jirmunski cũng khẳng định: “Phong cách nghệ thuật của mỗi nhà văn là sự
biểu hiện thế giới quan của anh ta. Thế giới quan đó được thể hiện trong các hình
tượng bằng các phương tiện ngôn ngữ. Bởi vậy không thể nghiên cứu phong cách
nghệ thuật cá nhân của nhà văn trong tính mục đích chức năng của nó và tách rời nội
dung – tư tưởng của tác phẩm” [50, tr.260].
Hạn chế của cách hiểu này là xem phong cách như một hiện tượng chủ yếu có
tính chất ngôn ngữ, dẫn đến việc đồng nhất giữa phong cách nghệ thuật với phong
cách ngôn ngữ. Theo đó, người ta chỉ thấy phương diện ngôn ngữ mà không thấy
21
được đối tượng của sự miêu tả nghệ thuật cũng như vai trò và sự phối hợp của các
biện pháp nghệ thuật trong việc tác động vào các giác quan của con người.
Việc nghiên cứu phong cách trong sự thống nhất chỉnh thể nghệ thuật của nhà
văn cũng được chú ý nhiều hơn
V. Kôvalev nhận định rằng: “Phong cách, đó là sự thống nhất chỉnh thể của
nhà văn… đó là liên hệ qua lại giữa mhững yếu tố trong hệ thống nghệ thuật của nhà
văn, là những quy định lẫn nhau của những yếu tố đó” [50, tr.260].
Quan niệm trên thừa nhận phong cách là sự độc đáo ở cả hai mặt nội dung và
hình thức tác phẩm. Đáng tiếc là hai nhà nghiên cứu vẫn chưa nói được công lao sáng
tạo của người nghệ sĩ trong việc sáng tạo những thủ pháp thu hút và thuyết phục độc
giả. Người ta sẽ dễ đánh đồng giữa phong cách có tiềm năng sáng tạo lớn với phong
cách có tiềm năng sáng tạo nhỏ. Đây là điều khó chấp nhận trong phê bình và nghiên
cứu văn học.
Khác với những quan niệm trên về hiện tượng phong cách, V. Đneprôv, Ya.
Elxberg và nhiều nhà nghiên cứu khác lại coi phong cách như là hình thức toàn vẹn có
tính nội dung.
V. Đneprôv nhận xét: “Phong cách là mối liên hệ của những hình thức, mối liên
hệ đó bộc lộ thống nhất của nội dung nghệ thuật” [50, tr.261].
Phát triển ý kiến của V. Đneprôv, Ya. Elxberg nhấn mạnh “phong cách biểu
hiện sự toàn vẹn của hình thức có tính nội dung được hình thành trong sự phát triển,
trong tác động qua lại và trong sự tổng hợp các yếu tố của hình thức nghệ thuật dưới
ảnh hưởng của đối tượng và nội dung tác phẩm, của thế giới quan của nhà văn và
của phương pháp của anh ta vốn thống nhất với thế giới quan… Phong cách- đó là sự
thống trị của hình thức nghệ thuật” [50, tr.261].
22
Như vậy, quan niệm trên của hai nhà nghiên cứu quá nhấn mạnh vai trò của
hình thức, dẫn đến việc vi phạm nguyên tắc về mối quan hệ giữa nội dung và hình
thức của triết học duy vật biện chứng. Hơn nữa, quan niệm này chưa bao hàm được
chất lượng thể hiện phong cách. Bởi lẽ, các yếu tố tạo thành hình thức tác phẩm chỉ là
hình thức của một tác phẩm riêng biệt trong khi phong cách là hiện tượng bao trùm
lên toàn bộ các tác phẩm nghệ thuật.
Trên đây là một số quan niệm về phong cách (dẫn theo M.B.Khrapchencô).
Điều dễ nhận thấy là tất cả những quan niệm đó đều có những hạn chế đáng kể. Vì
vậy, đương nhiên một quan niệm đúng đắn hơn cả về phong cách phải khắc phục
được tất cả những hạn chế đó và lý giải được một cách xác đáng những đặc trưng của
phong cách.
M. B. Khrapchencô trong công trình nổi tiếng của mình (đã dẫn ở trên) đưa ra
một định nghĩa mới về phong cách. Đây là một định nghĩa đã được đông đảo các nhà
nghiên cứu ủng hộ và công nhận: “Phong cách cần phải được định nghĩa như phương
thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hình tượng đối với cuộc sống như phương thức thuyết
phục và thu hút độc giả” [50, tr.279].
Để hiểu quan niệm trên của M. B. Khrapchencô chúng ta cần phải xem xét ba
vấn đề quan trọng:
- Những yếu tố tạo thành hình thức của tác phẩm
- Những nhân tố quy định phong cách.
- Những yếu tố biểu hiện phong cách.
Có ba yếu tố cơ bản tạo thành hình thức tác phẩm, đó là: kết cấu - cốt
truyện, các biện pháp nghệ thuật thể hiện hình tượng, lời nói nghệ thuật. Sự kết hợp
chặt chẽ giữa ba yếu tố trên sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp: vừa khám phá, vừa
đánh giá được một phạm vi đời sống. Nói cách khác, hình thức nghệ thuật hoàn thiện
23
phải là hình thức thể hện vừa rõ, vừa đủ nội dung, biến tác phẩm thành chỉnh thể
thống nhất, sinh động. Như vậy, chỉ có hình thức ở một tác phẩm, còn phong cách là
hiện tượng rộng hơn, bao trùm cả nhóm tác phẩm. Bản thân các yếu tố tạo thành hình
thức của tác phẩm không phải là phong cách.
M. B. Khrapchencô đã chỉ rõ những nhân tố quy định phong cách như sau:
1- Những đặc điểm của cá tính sáng tạo.
2- Sự phát triển về mặt sáng tác của người nghệ sĩ
3- Cùng với thế giới quan của người nghệ sĩ là tính chất của bản thân đối
tượng sáng tác, vẻ đặc thù của những xung đột xã hội.
4- Sự định hướng bên trong của nhà văn nhằm vào nhóm độc giả
5- Sự hình thành tính hoàn chỉnh bên trong của tác phẩm
M. B. Khrapchencô cũng cho rằng có bảy yếu tố biểu hiện phong cách là:
1- Phong cách, một kiểu máy phát năng lượng nghệ thuật riêng
2- Tính cấu trúc của một kiểu sinh thể nghệ thuật
3- Hệ thống giọng điệu - kết quả của sự biểu hiện nghệ thuật đặc trưng
4- Không gian thời gian và kiểu kết hợp không gian - thời gian mang
màu sắc riêng
5- Tính chất nhiều chức năng của ngôn ngữ nghệ thuật
6- Phong cách là sự lĩnh hội riêng – lĩnh hội cách tân đối với thế giới
7- Phong cách - kiểu sáng tạo riêng đem lại màu sắc mới cho thể văn
Theo đây có thể thấy: những nhân tố quy định phong cách chỉ đóng vai trò là
tác nhân trực tiếp đẫn đến sự hình thành phong cách chứ không phải là bản thân
phong cách; những yếu tố biểu hiện phong cách mới chính là những dấu hiệu của bản
thân phong cách. Vì vậy, khi tìm hiểu vấn đề phong cách, chúng ta phải phân biệt rõ
hai phương diện này
24
Trở lại với định nghĩa của M. B. Khrapchencô, tác giả luận văn chú ý những
cụm từ “phương thức biểu hiện cách chiếm lĩnh hình tượng”, “phương thức thuyết
phục và thuyết phục độc giả”, coi đây là chìa khoá để tìm hiểu quan niệm về phong
cách của Viện sĩ M. B. Khrapchencô.
Trên thực tế mỗi nhà văn có tài đều đi tìm những phương thức, những biện
pháp nghệ thuật cho phép họ tổ chức, sắp xếp, sáng tạo nên hình tượng nghệ thuật lôi
cuốn, hấp dẫn độc giả. Nhưng cụ thể, cái gì là sự biểu hiện “phương thức thuyết phục
và thu hút” ấy? Cách lí giải hợp lí hơn cả, theo M. B. Khrapchencô: “Phong cách
thuyết phục bằng cách thể hiện những đặc tính của sự vật; của những quá trình hiện
thực, của những tính cách con người” [50, tr.279]. Điều đó có nghĩa là chúng ta cần
quan tâm xem xét ba vấn đề.
- Thứ nhất, quan tâm xem nhà văn thích thú khai thác mặt thẩm mĩ nào của sự
vật (cái bi, cái hùng, cái đẹp, cái hài, cái xấu).
- Thứ hai, xem xét quá trình diễn biến cũng như sự biến đổi của hiện thực và
tác động lên nó.
Thứ ba, xem xét quá trình xây dựng những tính cách, những cá tính độc đáo.
Muốn vậy, chúng ta phải phát hiện và nhận diện được những thủ pháp nghệ
thuật mà nhà văn sử dụng. Từ cách hiểu về “phương thức thuyết phục” như trên, có
thể khẳng định: cái “lôi cuốn” của một phong cách không phải là sự “mua vui” giản
đơn, không phải là mốt, sự trang điểm bên ngoài nào đó đối với thực chất của nó, mà
là phẩm chất của tác phẩm ấy, phong cách ấy. Mặt khác sự thống nhất giữa hai mặt
“sự biểu hiện” và “sự thuyết phục” không phải là một đại lượng tự động nảy sinh mà
là một thành quả sáng tạo, là thước đo của tính nghệ thuật chân chính trong tác phẩm
văn học.
25
Xét đến cùng, phong cách chính là những thủ pháp nghệ thuật được dùng theo
cách riêng của mỗi nhà văn, nhằm tạo ra hiệu quả phát hiện những quá trình hiện
thực, phát hiện những đặc tính của sự vật. Định nghĩa của M. B. Khrapchencô về
phong cách là hoàn toàn xác đáng.
1.1.2. Ở trong nước.
Ở Việt Nam, vấn đề phong cách từ khá lâu đã được giới nghiên cứu và phê bình
văn học chú ý.
Vào những thập kỉ đầu của thế kỉ XX, người ta ít nhiều có bàn đến một vài khía
cạnh của phong cách nhưng chưa thật sâu sắc. Đáng chú ý là Hoài Thanh trong cuốn
Thi nhân Việt Nam đã nhận ra được nét độc đáo trong phong cách của các nhà thơ
mới, chẳng hạn “Hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, ảo não
như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính…” [91, tr.34]. Liền sau đó, Hoài Thanh kết
luận “Từ người này sang người khác sự cách biệt rõ ràng” [91, tr.34]. Tuy nhiên,
Hoài Thanh mới chỉ nhận ra được nét độc đáo về nội dung,chưa thực sự chú ý đến
những cách tân hình thức của các nhà Thơ mới. Mặt khác tác giả của Thi nhân Việt
Nam cũng chưa đưa ra một định nghĩa hay một quan niệm nào về phong cách.
Phải đến nửa sau thế kỉ XX, việc bàn luận về phong cách nghệ thuật mới bắt
đầu sôi nổi. Trong một số cuốn sách như Từ điển văn học, Từ điển thuật ngữ văn
học, giáo trình Lý luận văn học dùng trong các trường Đại học tổng hợp và Đại học
sư phạm do Hà Minh Đức, Phương Lựu, Nguyễn Văn Hạnh chủ biên đã đưa ra các
khái niệm cơ bản nhất về phong cách . Trong các công trình cụ thể như Tìm hiểu
phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều của Phan Ngọc, Nhà văn – tư tưởng và
phong cách của Nguyễn Đăng Mạnh, Con mắt thơ của Đỗ Lai Thuý… Khi đề cập
tới khái niệm này, các tác giả cũng đề xuất vấn đề dưới hình thức những cách hiểu