Tải bản đầy đủ (.pdf) (130 trang)

Phong trào thanh niên huyện đak pơ, tỉnh gia lai (2007 2022)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.31 MB, 130 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TAO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN

TRƢƠNG CÔNG HƢƠNG

PHONG TRÀO THANH NIÊN
HUYỆN ĐAK PƠ, TỈNH GIA LAI (2007-2022)

Ngành: LỊCH SỬ VIỆT NAM
Mã số: 8229013

Ngƣời hƣớng dẫn: TS. ĐINH THỊ THẢO

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................1

1. Lý do chọn đề tài...............................................................................................1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài........................................3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................................6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .....................................................................6
5. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu.......................................................7
6. Đóng góp của đề án...........................................................................................8
7. Kết cấu của đề án .............................................................................................8
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐAK PƠ VÀ PHONG TRÀO THANH
NIÊN HUYỆN ĐAK PƠ, TỈNH GIA LAI TRƢỚC NĂM 2007..........................9
1.1. Những yếu tố tác động đến phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh
Gia Lai ..................................................................................................................9

1.1.1. Điều kiện tự nhiên...................................................................................9


1.1.2. Đặc điểm kinh tế ................................................................................... 12
1.1.3. Đặc điểm dân cư ................................................................................... 13
1.1.4. Những giá trị văn hóa và truyền thống đấu tranh cách mạng ................ 17
1.2. Khái quát phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai trước năm
2007 ....................................................................................................................19
1.2.1. Phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai giai đoạn 1945-2003...19
1.2.2. Phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai giai đoạn 2003-2007...22
Tiểu kết Chương 1...................................................................................................24
Chƣơng 2: NỘI DUNG PHONG TRÀO THANH NIÊN HUYỆN ĐAK PƠ,
TỈNH GIA LAI (2007-2022) ................................................................................. 26
2.1. Phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ (2007-2012) .....................................26
2.1.1. Chủ trương của Trung ương Đoàn, Tỉnh Đoàn, Huyện ủy và Huyện Đoàn
Đak Pơ.............................................................................................................26
2.1.2. Nội dung, kết quả thực hiện phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh
Gia Lai (2007-2012) .......................................................................................29
2.2. Phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ (2012-2017) .....................................35

2.2.1. Chủ trương của Trung ương Đoàn, Tỉnh Đoàn, Huyện ủy và Huyện Đoàn
Đak Pơ.............................................................................................................35
2.2.2. Nội dung, kết quả thực hiện phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ
(2012-2017) .................................................................................................... 38
2.3. Phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ (2017-2022) .....................................49
2.3.1. Chủ trương của Trung ương Đoàn, Tỉnh Đoàn, Huyện ủy và Huyện Đoàn
Đak Pơ.............................................................................................................49
2.3.2. Nội dung, kết quả thực hiện phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ
(2017-2022) .................................................................................................... 53
Tiểu kết Chương 2...................................................................................................69
Chƣơng 3: NHẬN XÉT VỀ PHONG TRÀO THANH NIÊN HUYỆN ĐAK PƠ,
TỈNH GIA LAI (2007-2022) ................................................................................. 71
3.1. Hiệu quả và tác động tích cực của phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia

Lai ................................................................................................................................... 71
3.1.1. Trên lĩnh vực tư tưởng - chính trị..........................................................71
3.1.2. Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng ...................................................... 75
3.1.3. Trên lĩnh vực kinh tế.............................................................................78
3.1.4. Trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục ..........................................................82
3.1.5. Trên lĩnh vực an sinh xã hội..................................................................84
3.2. Một số khó khăn, hạn chế và nguyên nhân ..................................................86
3.2.1. Khó khăn, hạn chế ................................................................................ 86
3.2.2. Nguyên nhân ......................................................................................... 89
3.3. Giải pháp đẩy mạnh phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai...........91
3.3.1. Trên lĩnh vực tư tưởng - chính trị..........................................................93
3.3.2. Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng ...................................................... 93
3.3.3. Trên lĩnh vực kinh tế.............................................................................95
3.3.4. Trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục ..........................................................96
3.3.5. Trên lĩnh vực an sinh xã hội..................................................................98
Tiểu kết Chương 3.................................................................................................100
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 101
DANH MỤC CƠNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CƠNG BỐ CỦA TÁC GIẢ . 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................... 105
PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Viết tắt Nghĩa, tên đầy đủ
ATGT An tồn giao thơng
BCĐ Ban chỉ đạo
CLB Câu lạc bộ
COVID Corona virut Diseases-Là bệnh đường hơ hấp cấp tính
truyền nhiễm gây ra bởi chủng Virus corona
CNH, HĐH

CNXH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
DTTS
ĐVTN Chủ nghĩa xã hội
FULRO Dân tộc thiểu số
Đoàn viên thanh niên
GDNN Front unifié de lutte des races opprimées – Mặt trận thống
GDTX nhất đấu tranh của các sắc tộc bị áp bức
HV
HSSV Giáo dục nghề nghiệp
KHKT Giáo dục thường xuyên
KHHGĐ Hội viên
LHTN Học sinh, sinh viên
NHCSXH Khoa học kỹ thuật
TNCS Kế hoạch hố gia đình
TNTP Liên hiệp thanh niên
TPT Ngân hành Chính sách xã hội
TNXP Thanh niên cộng sản
TNTN Thiếu niên tiền phong
TNXK Tổng phụ trách
TPHCM Thanh niên xung phong
Thanh niên tình nguyện
Thanh niên xung kích
Thành phố Hồ Chí Minh

TNHH DV Trách nhiệm hữu hạn dịch vụ
TDTT
TCCS Thể dục thể thao
THCS
THPH Tổ chức cơ sở
UBND Trung học cơ sở

UBMTTQ Trung học phổ thông
VHCN Ủy ban nhân dân
XHCN Uỷ ban mặt trận Tổ quốc
Văn hóa văn nghệ
Xã hội chủ nghĩa

1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, thanh niên ln
đóng vai trò quan trọng. Vai trò, sức mạnh và nhiệm vụ của thanh niên trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập trong
nhiều bài nói, viết của mình. Ngày 17/8/1947, trong “Thư gửi các bạn thanh niên”,
Người khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… Nước nhà
thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn
làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực
lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị tương lai đó” [35, tr.422].

Quán triệt tư tưởng của Người, trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng
Cộng sản Việt Nam ln đề cao vai trị, vị trí của thanh niên; xác định thanh niên là
lực lượng xung kích cách mạng. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng lần thứ 4 (khóa VII), ngày 14/01/1993 “Về cơng tác thanh niên trong thời kỳ
mới” nhấn mạnh: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành cơng hay khơng, đất nước bước vào thế
kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt
Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tuỳ thuộc
vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; cơng tác

thanh niên là vấn đề sống cịn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định
sự thành bại của cách mạng” [53, tr.536-537].

Từ khi thành lập (26/3/1931) đến nay, Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí
Minh ngày càng khẳng định vai trò to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập
dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, hiện nay,
nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển theo
xu hướng tồn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế. Trước yêu cầu mới của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các cấp, các ngành cần phát huy tốt vai trò của thanh
niên và thanh niên cần tiếp tục khẳng định mình thực sự là lực lượng xung kích,
sáng tạo trong đời sống xã hội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự định hướng, dẫn dắt
của Đồn; cơng tác đồn và phong trào thanh niên ở nước ta đạt được nhiều thành
tựu trên tất cả các mặt: Giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức và truyền thống cách
mạng. Xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh. Tổ chức phát động nhiều phong trào

2

hành động trong thanh niên…. Hoạt động của Đoàn được đồn viên thanh niên đón
nhận, cấp ủy đảng và chính quyền đồng tình ủng hộ, các lực lượng xã hội đánh giá
cao. Uy tín và vị thế chính trị của tổ chức Đoàn trong thanh thiếu nhi và xã hội được
nâng lên; vị trí của thanh niên trong xã hội được đặt tương xứng với yêu cầu, nhiệm
vụ trong tình hình mới. Thanh niên thực sự là lực lượng đi đầu trong việc thực hiện
khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, sớm trở thành nước phát triển,
vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Cùng với những thành tựu của cơng tác đồn và phong trào thanh niên cả
nước, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai cũng đã
góp phần không nhỏ vào những thắng lợi, những thành công chung của tổ chức
Đồn. Tuy nhiên, trong thời kì hiện nay, sự nghiệp đổi mới đất nước đang đi vào
chiều sâu, sự phát triển khoa học-công nghệ và sự bùng nổ của thơng tin đang diễn ra

nhanh chóng; các thế lực không ngừng chống phá Đảng, Nhà nước dưới nhiều hình
thức; trình độ của cán bộ, đồn viên, thanh niên đã được nâng cao song chưa đáp ứng
yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới. Do vậy, địi hỏi Đồn Thanh niên cả
nước nói chung, huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai nói riêng cần phải có tư duy, tầm nhìn
mới, khơng ngừng đổi mới, sáng tạo trong hoạt động của Đoàn. Việc bồi đắp lý
tưởng cách mạng, giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa, góp phần xây dựng con người,
hình ảnh thanh niên trong thời kỳ mới không chỉ qua sinh hoạt, học tập mà phải qua
phong trào, sự mời gọi tham gia, tham dự của thanh niên trong việc thực hiện nhiệm
vụ chính trị, các phong trào xung kích, tình nguyện, sáng tạo, qua các hoạt động văn
hóa, nghệ thuật, thể thao, qua sự lan tỏa của các tấm gương sống đẹp.

Phong trào Thanh niên là hoạt động cuốn hút đông đảo thanh niên tự nguyện,
tự giác tham gia trong một khoảng thời gian nhất định; hướng vào thực hiện mục
tiêu chính trị, kinh tế, văn hố, xã hội, an ninh quốc phịng do Đồn Thanh niên
cộng sản (TNCS) Hồ Chí Minh làm hạt nhân lãnh đạo và tổ chức; nhằm đáp ứng
nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của thanh niên, phát huy tiềm năng thế mạnh của
lực lượng thanh niên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước yêu cầu
mới của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc tìm hiểu về cơng tác Đồn nói
chung; phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai trong giai đoạn 2007-
2022 nói riêng là cần thiết. Nó khơng chỉ có ý nghĩa khoa học mà cịn có giá trị thực
tiễn; khơng chỉ tái hiện lại bức tranh sinh động, chân thật của tuổi trẻ Đak Pơ về

3

tinh thần đồn kết, xung kích, tình nguyện trong cơng cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; mà còn khẳng định chủ trương, đường lối của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với thanh niên và phong trào thanh
niên là hoàn toàn đúng đắn. Việc nghiên cứu đề tài còn giúp tuổi trẻ trên địa bàn
huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai nhận thức được vai trị, sứ mệnh lịch sử của mình đối
với sự phát triển chung của huyện và các địa phương khác của tỉnh Gia Lai. Tìm

hiểu, nghiên cứu đề tài cịn góp phần bổ sung nguồn tài liệu giáo dục lịch sử, lòng
yêu nước, lòng tự hào dân tộc một cách toàn diện cho thế hệ trẻ. Trên cơ sở đó, khơi
dậy lịng tự hào dân tộc và động viên đội ngũ đoàn viên, thanh niên trong huyện
phát huy truyền thống vẻ vang của mình, nêu cao vai trị xung kích, nỗ lực phấn đấu
hồn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ trong thời kì thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.

Với những lí do trên, tơi quyết định chọn đề tài “Phong trào Thanh niên
huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai (2007 -2022) ” làm đề tài đề án tốt nghiệp Thạc sĩ
Lịch sử của mình.

2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đoàn viên, thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, là nguồn lực mạnh mẽ thúc
đẩy sự phát triển của xã hội; có vị trí quan trọng trong suốt tiến trình lịch sử hình
thành và phát triển của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh ln phát huy vai trị xung kích trong sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc, đóng vai trị quan trọng vào sự phát triển chung của đất nước.
Do vậy, việc nghiên cứu về thanh niên nói chung, cơng tác đồn và phong trào
thanh niên nói riêng đã nhận được sự quan tâm khơng chỉ của những nhà hoạch
định chính sách, chủ trương, đường lối trong hệ thống chính trị mà cịn được nhiều
nhà khoa học tập trung nghiên cứu.

Tác giả Vũ Oanh với tác phẩm “Công tác thanh niên là nhiệm vụ ưu tiên
trong chiến lược con người” (1991) [48] đã phân tích, dẫn chứng các số liệu thống
kê về đóng góp của thanh niên trên các lĩnh vực xã hội trong các giai đoạn cách
mạng…. Cơng trình nhấn mạnh đến việc Đảng, Nhà nước cần ưu tiên đầu tư cho
công tác thanh niên, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên.

“Thanh niên với sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” của tác

giả Hồ Đức Việt (1996) [54] nhấn mạnh đến vai trị xung kích, sáng tạo của thanh

4

niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong cơng cuộc cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thanh niên càng có vị trí, vai trò quan trọng, bởi
lẽ thanh niên là nguồn nhân lực trẻ, chiếm hơn 50% lực lượng lao động của cả
nước. Ngồi ra, tác giả cũng phân tích những vấn đề cơ bản của công tác thanh
niên, phương pháp tổ chức, tập hợp và đoàn kết các tầng lớp thanh niên và nhiệm
vụ của Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong thời kì đổi mới.

Các cơng trình “Lịch sử Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong
trào thanh niên Việt Nam (1925 – 2012)” của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn và
“Lịch sử Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam và phong trào thanh niên Việt Nam (1925
– 2014)” tác giả Phạm Bá Khoa (2012, 2014) [17, 30] đã giới thiệu q trình hình
thành và phát triển của Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Đồng thời, phân
tích những đóng góp/vai trị của Đồn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
qua các thời kì lịch sử. Đặc biệt, tác phẩm “Lịch sử Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và
phong trào thanh niên Việt Nam (1925 – 2012)” khi đề cập đến lịch sử hoạt động của
Đồn cũng ít nhiều đề cập đến một số hoạt động của thanh niên tỉnh Gia Lai.

“Tổng quan tình hình thanh niên, cơng tác Đồn và phong trào thanh thiếu nhi
từ năm 2007 đến năm 2012” của Nguyễn Đắc Vinh (2012) [55] và “Tổng quan tình hình
thanh niên Việt Nam” của tác giả Nguyễn Phi Long (2014) [31] đã đi sâu tìm hiểu về
tình hình thanh thiếu nhi Việt Nam cũng như những phong trào của thanh thiếu nhi
Việt Nam, các đối tượng thanh niên. Đồng thời, đánh giá kết quả thực hiện các cuộc
vận động và các chương trình của Hội LHTN Việt Nam nhiệm kỳ VI và nêu ra
những yêu cầu đối với cơng tác mở rộng mặt trận đồn kết tập hợp thanh niên và
xây dựng, phát triển tổ chức Hội.


Tác giả Phạm Đình Nghiệp (2001) với tác phẩm “Giáo dục lý tưởng cách
mạng cho thanh niên hiện nay” [43] đi sâu phân tích cơ sở, phương pháp luận của
vấn đề giáo dục lý tưởng cách mạng cho thế hệ trẻ.

Đặc biệt, cuốn “Lịch sử Đồn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong
trào thanh niên tỉnh Gia Lai (1945 – 2015)” của Ban thường vụ Tỉnh đoàn Gia Lai
(Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 2021) [19], đã đề cập đến phong trào đấu
tranh và hoạt động của Đoàn thanh niên Gia Lai từ khi tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí
Minh tỉnh Gia Lai được thành lập (29/10/1945) đến năm 2015.

Gần đây, nhiều đề tài luận văn, luận án cũng đi sâu nghiên cứu về Đoàn

5

thanh niên, phong trào thanh niên và phong trào thanh niên tình nguyện trên phạm
vi cả nước hoặc là ở từng địa phương. Tiêu biểu là luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị
Hương với đề tài “Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh
niên tỉnh Thái Nguyên từ năm 1997 đến năm 2010” [28] và Luận án Tiến sĩ năm
2019 của Nguyễn Việt Hùng với đề tài “Phong trào Thanh niên tình nguyện ở Việt
Nam từ năm 2000 đến năm 2014” [27]. Các cơng trình này đã đề cập khái quát về
tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, phong trào thanh niên nói chung
và phong trào thanh niên tình nguyện nói riêng trên phạm vi địa phương hoặc trên
phạm vi cả nước trong những giai đoạn lịch sử nhất định.Trên cơ sở đó, làm rõ vai
trị của Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên trong
thời kì cơng nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước.

Ngồi ra, các cơng trình như “Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945 – 2005)”
của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Gia Lai [16]; “Lịch sử công tác tuyên giáo của
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Gia Lai (1945 – 2010)” [15] cùng với một số cuốn lịch sử
Đảng bộ địa phương như “Lịch sử Đảng bộ huyện Đak Pơ”, “Lịch sử Đảng bộ

huyện Kbang”, “Lịch sử Đảng bộ thị xã An Khê”, “Lịch sử Đảng bộ huyện
Kongchro” [12], [13], [14] cũng đề cập tới một số hoạt động của phong trào thanh
niên từng địa phương nói riêng, tỉnh Gia Lai trong giai đoạn 2007 đến 2022 nói
chung. Đây là cơ sở để có cái nhìn tổng qt và đối sánh về cơng tác đồn và phong
trào thanh niên huyện Đak Pơ với các địa phương khác trong tỉnh.

Như vậy, cho đến thời điểm hiện tại, chưa có cơng trình nghiên cứu chun
biệt nào về cơng tác Đoàn và phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai
trong giai đoạn 2007-2022. Qua nghiên cứu, phân tích, đánh giá các tài liệu và các
cơng trình nghiên cứu về những nội dung liên quan trực tiếp, gián tiếp đến đề tài đề
án, tơi thấy rằng các cơng trình, đề tài kể trên chỉ mới tiếp cận một cách khái quát
hoặc riêng lẻ về thanh niên, phong trào thanh niên cả nước nói chung hoặc tỉnh Gia
Lai nói riêng mà chưa tập trung nghiên cứu về cơng tác Đồn và phong trào thanh
niên ở từng địa phương trong cả nước trong đó có huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai. Tuy
vậy, kết quả nghiên cứu của các cơng trình kể trên là những đóng góp có giá trị đối
với việc tìm hiểu về cơng tác đồn và phong trào thanh niên ở huyện Đak Pơ, tỉnh
Gia Lai giai đoạn 2007-2022. Trên cơ sở khai thác các nguồn tài liệu, kế thừa kết
quả nghiên cứu của các học giả, các nhà nghiên cứu đi trước, chúng tôi hi vọng sẽ
giải quyết thỏa đáng mục tiêu đặt ra của đề tài.

6

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu đề tài nhằm tái hiện diện mạo, nội dung phong trào Thanh niên
huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai giai đoạn 2007-2022.
- Đánh giá những kết quả đạt được cũng như tác động/vai trò của phong
trào Thanh huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai trong công cuộc đổi mới đất nước thời kỳ
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trên cơ sở phân tích những khó khăn, hạn chế và
nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế; chỉ ra những yêu cầu cần thực hiện

và giải pháp để đẩy mạnh phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai
trong thời gian tiếp theo.
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích, làm rõ những yếu tố tác động đến phong trào Thanh niên huyện
Đak Pơ, tỉnh Gia Lai giai đoạn 2007-2022.
- Khái quát phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ trước năm 2007.
- Làm rõ nội dung, thành tựu, hạn chế của phong trào Thanh niên huyện Đak
Pơ, tỉnh Gia Lai qua ba giai đoạn: 2007-2012, 2012-2017 và 2017-2022.
- Nhận xét, đánh giá những tác động của phong trào Thanh niên huyện Đak
Pơ. Đồng thời chỉ ra những thời cơ, thách thức và giải pháp đẩy mạnh phong trào
Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai trong thời kì mới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia
Lai giai đoạn 2007-2022.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Đề tài nghiên cứu trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm
2022 (khoảng thời gian thực hiện Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX, X
và XI). Tuy nhiên, khi trình bày khái quát về hoạt động của cơng tác Đồn và phong
trào thanh niên ở địa phương giai đoạn 2007-2022, tác giả cũng đề cập đến thời
gian trước năm 2007.
- Không gian: Đề tài nghiên cứu trong phạm vi huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai
hiện nay.

7

- Nội dung: Tập trung tìm hiểu những yếu tố tác động đến phong trào Thanh
niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai; khái quát về phong trào Thanh huyện Đak Pơ
trước năm 2007; nội dung, thành tựu, hạn chế, tác động của phong trào Thanh niên
huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai giai đoạn 2007-2022.


5. Nguồn tài liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 Nguồn tài liệu
Để phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng nhiều nguồn tài liệu
khác nhau.
Nguồn tài liệu thành văn:
- Tác phẩm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin bàn về thanh niên.
- Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo Đảng,
Nhà nước viết về thanh niên, thiếu niên, nhi đồng.
- Văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của Đoàn thanh niên về thanh niên
và công tác thanh niên.
- Các tác phẩm của một số tác giả, tổ chức nghiên cứu về phong trào thanh
niên cả nước nói chung và trên địa bàn huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai nói riêng.
- Các báo cáo hằng năm và báo cáo nhiệm kỳ của các cấp bộ Đoàn về cơng
tác Đồn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên giai đoạn 2007-2022 như
văn kiện Đại hội đại biểu Đồn TNCS Hồ Chí Minh huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai lần
thứ I, II, III, IV của Ban Chấp hành huyện Đoàn Đak Pơ, tỉnh Gia Lai và các báo
cáo tổng kết cơng tác Đồn và phong trào thanh thiếu nhi các nhiệm kỳ của một số
huyện, thị, thành Đoàn.
- Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam có liên quan và một
số bài viết đăng trên báo, tạp chí.
Các nguồn tài liệu khác:
- Tài liệu lịch sử địa phương; nhân chứng lịch sử, điền dã…
- Các nguồn tài liệu trên Internet.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, quan điểm, đường lối của
Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về lịch sử, về thanh niên và phong trào thanh niên.

8

- Sử dụng và kết hợp phương pháp lịch sử, phương pháp lơgic. Ngồi ra, cịn

sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như: phương pháp nghiên cứu tài liệu và xử
lý thơng tin, phương pháp nghiên cứu lý thuyết, phân tích, tổng hợp, thống kê,… để
giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra.

6. Đóng góp của đề án
Đề án hồn thành sẽ có một số đóng góp sau:
- Góp phần hệ thống hố các nguồn tài liệu liên quan đến cơng tác Đồn và
phong trào thanh niên ở huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai từ năm 2007 đến năm 2022.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống về phong trào Thanh niên dưới góc độ sử
học góp phần làm rõ những nội dung, vai trò và những tác động, hiệu quả tích cực
trong phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ từ năm 2007 đến năm 2022. Rút ra bài
học kinh nghiệm, đề xuất những giải pháp nhằm phát huy hiệu quả các hoạt động
của thanh niên huyện Đak Pơ trong thời gian tiếp theo.
- Đề án cịn góp phần cung cấp nguồn tài liệu tham khảo để viết tiếp về lịch
sử Đồn TNCS Hồ Chí Minh và phong trào thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai;
là nguồn tài liệu sử dụng cho việc giảng dạy lịch sử địa phương; đồng thời, phục vụ
cho công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống cho tuổi trẻ trên địa bàn huyện
Đak Pơ, tỉnh Gia Lai.
7. Kết cấu của đề án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung
của đề án được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Khái quát về huyện Đak Pơ và phong trào Thanh niên huyện Đak
Pơ, tỉnh Gia Lai (17 trang)
Chương 2: Nội dung phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai
(2007-2022) (45 trang)
Chương 3: Nhận xét phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ, tỉnh Gia Lai
(2007-2022) (30 trang)

9


Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN ĐAK PƠ VÀ PHONG TRÀO

THANH NIÊN HUYỆN ĐAK PƠ, TỈNH GIA LAI TRƢỚC NĂM 2007

1.1. Những yếu tố tác động đến phong trào Thanh niên huyện Đak Pơ,
tỉnh Gia Lai

1.1.1. Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý, điều kiện giao thơng: Huyện Đak Pơ nằm ở phía đơng tỉnh Gia
Lai, có tọa độ từ 108o25’00” đến 108o47’45” kinh Đơng và từ 130o74’20” đến
140o3’15” vĩ Bắc. Diện tích tự nhiên của tồn huyện là 50.373,35 ha. Phía đơng
giáp thị xã An Khê và tỉnh Bình Định; phía tây giáp huyện Mang Yang (được ngăn
cách bởi dãy đèo Mang Yang); phía nam giáp huyện Kơng Chro; phía bắc giáp
huyện Kbang.

Về giao thơng, Đak Pơ có vị trí khá thuận lợi khi nằm ở giao điểm của quốc
lộ 19 (theo hướng đông - tây) và đường Trường Sơn Đông (theo hướng bắc - nam).
Theo quốc lộ 19, từ Đak Pơ có thể ngược về phía tây để đến thành phố Pleiku hoặc
xi theo hướng đông để xuống thị xã An Khê, thành phố Quy Nhơn. Từ năm 2011,
khi đường Trường Sơn Đông chạy qua địa bàn huyện được hoàn thiện đã mở ra cho
Đak Pơ một hướng tiếp cận mới. Theo tuyến đường này, Đak Pơ được nối với các
huyện, thị phía đông của tỉnh Gia Lai và các tỉnh Kon Tum, Đăk Lăk, Lâm Đồng;
phía tây các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam. Trong những năm kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước, đường Trường Sơn Đông cũng là một bộ phận quan trọng trong
tuyến hành lang Bắc - Nam qua tỉnh Gia Lai.

Từ trung tâm huyện đến các xã có các trục giao thơng chính do Trung
ương và tỉnh quản lý như: Quốc lộ 19, đường Trường Sơn Đông, đường tỉnh 667
với tổng chiều dài đi qua huyện trên 60 km, kết cấu đường cấp IV (mặt đường

bê-tơng nhựa). Đường trục xã có chiều dài 93,15 km, đã bêtơng hóa, nhựa hóa,
cấp phối cứng 71,28 km, đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thơng vận tải.
Đường trục thơn, làng, xóm có chiều dài 140,66 km, đã được bê-tơng hóa, cấp
phối cứng 26,05 km đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải.

Với vị trí địa lí thuận lợi, mạng lưới giao thơng khá hồn chỉnh đã góp phần
quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an
ninh của huyện. Đây cũng là một trong những cơ sở, điều kiện thuận lợi góp phần
nâng cao chất lượng cơng tác đồn và phong trào thanh niên ở địa phương.

10

Đặc điểm địa hình: Huyện Đak Pơ nằm ở sườn Đơng dãy Trường Sơn, địa
hình thấp dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông, với ba dạng chủ yếu, được
phân thành ba tiểu vùng khá rõ rệt: Địa hình núi thấp trung bình: Phân bố ở phía
đơng - đơng bắc huyện và chiếm 38,5% tổng diện tích tự nhiên tồn huyện. Đất đai
chủ yếu của dạng địa hình này là đất mùn đỏ vàng, đất đỏ vàng. Ở dạng địa hình
này có thể mở rộng diện tích đất nơng nghiệp. Trong thung lũng, trên địa hình bằng
thấp một số nơi đã bị khai phá làm nương rẫy, hình thành các thảm cỏ và cây bụi,
cây rải rác xen các nương rẫy. Địa hình núi cao: Kéo dài từ phía tây bắc Đak Pơ
(giáp huyện Mang Yang) tới phía nam huyện (giáp huyện Kơng Chro). Phía tây,
dạng địa hình này theo thung lũng sơng Ba từ vị trí giáp với vùng núi xã Ya Hội, tới
hết ranh giới phía đơng của huyện, giáp với vùng núi thấp tỉnh Bình Định. Dạng địa
hình này có bề mặt bằng phẳng. Chân dốc dải đồi là các dịng suối đổ về sơng Ba và
Đak Hway. Địa hình trũng thấp: Phân bố ở hướng đơng - đông nam của huyện. Bề
mặt bằng phẳng, chủ yếu là đất xám trên granít. Ven sơng suối có đất phù sa, dốc tụ.
Hiện nay, đây là vùng sản xuất nông nghiệp chủ yếu của huyện, với các loại cây
trồng chính là mía, hoa màu, lương thực [8, tr.24].

Tài nguyên đất: Theo kết quả điều tra của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế

nông nghiệp (miền Trung, trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000, kết quả điều tra bổ sung phục
vụ chương trình đánh giá đất đai vùng Tây Nguyên giai đoạn 1997 – 1999), địa bàn
huyện Đak Pơ có các loại đất như: Nhóm đất phù sa sơng suối, thích hợp cho việc
trồng lúa nước. Nhóm đất xám, xám bạc màu, thích hợp trồng cây đậu đỗ và cây
cơng nghiệp hằng năm (mía, bắp, lạc, đậu tương...). Đất vàng đỏ trên đá granít và
biến chất, thích hợp với trồng hoa màu, lương thực và cây ăn quả. Nhóm đất đen, là
dấu tích cịn lại của lớp bazan cổ, do quá trình xâm thực, bóc mịn của sơng Ba tạo
nên, tầng rất mỏng từ 30 - 50 cm, nhiều nơi trơ sỏi đá. Nhóm đất dốc tụ, giàu mùn,
rất chua, thích hợp với cây lúa nước. Hiện nay, môi trường đất của huyện Đak Pơ đã
có dấu hiệu ơ nhiễm do việc sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật và thuốc
kích thích tăng trưởng cho cây trồng khơng hợp lý. Ngồi ra, việc canh tác thiếu
hợp lý trên các vùng sinh thái đặc thù cũng là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng
thối hóa, bạc màu và rửa trơi. Chất thải từ các hoạt động công nghiệp, dịch vụ và
sinh hoạt chưa được xử lý thích hợp cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng ơ
nhiễm mơi trường đất của huyện.

Tài nguyên rừng: Đak Pơ là một huyện có tài nguyên rừng vào loại trung bình

11

của tỉnh, với tổng diện tích là 22.791 ha, chiếm 45,25% tổng diện tích tự nhiên. Rừng
Đak Pơ có các loại cây gỗ quý như: hương, trắc, cẩm lai... nhưng hiện nay đã cạn kiệt;
các loài cây đặc sản cho giá trị kinh tế và dược liệu cao như: sa nhân, quế, vằng đắng,
sâm đất...

Khí hậu: Ở vị trí địa lý chuyển tiếp giữa vùng duyên hải với Tây Nguyên, khí
hậu của vùng trũng Đak Pơ là khí hậu nhiệt đới ẩm, chịu ảnh hưởng đồng thời của cả
vùng khí hậu Tây Nguyên và duyên hải, với hai mùa mưa và khô. Mùa mưa từ tháng 8
đến tháng 12, lượng mưa lớn (1.700 - 1.900 mm) với khoảng 120 - 160 ngày mưa,
chiếm 80 - 90% lượng mưa cả năm. Mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 năm sau. Mức độ

khô hạn ở Đak Pơ không gay gắt như cao nguyên Pleiku. Nhiệt độ trung bình tại huyện
là 22 – 250C. Tổng lượng mưa trung bình năm của huyện từ 1.900 - 2.200 mm, phân bố
khơng đồng đều giữa hai phía đơng và tây. Hướng gió thịnh hành ở Đak Pơ thay đổi
theo mùa rõ rệt. Chế độ gió mang sắc thái của gió mùa khu vực Đơng Nam Á. Về mùa
đơng, hướng gió chiếm ưu thế là hướng đơng bắc với tần suất xấp xỉ 70%. Mùa hè, gió
thịnh hành có hướng gần như đối lập với hướng gió mùa đơng, trong đó hướng tây và
tây nam chiếm ưu thế tuyệt đối, xấp xỉ 90% [8, tr.25].

Ngồi ra, hàng năm, Đak Pơ cịn xảy ra một số hiện tượng thời tiết khác như
sương giá. Hiện tượng này thường xuất hiện khoảng 4 - 5 ngày. Những năm lạnh
nhất có đến 15 ngày sương giá, tập trung chủ yếu vào tháng 01 với tần suất khoảng
60% và tháng 12 với tần suất khoảng 30%. Mặc dù những ngày sương giá xảy ra
không nhiều và chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, nhưng đây là hiện tượng thời tiết có
tác động xấu đến cây trồng. Ở cách xa biển, lại có dãy Trường Sơn ngăn cản ở phía
đơng nên địa bàn của huyện khơng bị ảnh hưởng trực tiếp bởi các cơn bão mà chỉ bị
ảnh hưởng do mưa lớn và gió mạnh.

Sự đa dạng, phong phú của các dạng địa hình, đất đai và khí hậu đã tạo điều
kiện thuận lợi để phát triển kinh tế mang sắc thái riêng của từng khu vực địa hình.
Đó cũng là cơ sở để đoàn viên thanh niên huyện Đak Pơ thực hiện tốt các phong
trào cách mạng của Đoàn như Phong trào Tuổi trẻ sáng tạo (sáng tạo trong lao
động, sản xuất, kinh doanh,…). Tuy nhiên, địa hình phức tạp, đất đai bị ô nhiễm,
các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất, đi lại,
sinh hoạt của cư dân. Đồng thời cũng ảnh hưởng đến cơng tác đồn và phong trào
thanh niên trên địa bàn huyện.

12

1.1.2. Đặc điểm kinh tế


Cư dân Đak Pơ sinh sống chủ yếu bằng nghề nông. Để có đất đai làm ruộng,
làm rẫy trồng các loại cây lương thực, thực phẩm, việc khai khẩn đất đai rất được
nông dân coi trọng. Trước năm 1932, nông dân đến Đak Pơ nói riêng, An Khê và
tồn vùng Kon Tum (bao gồm cả Gia Lai) khai khẩn đất đai hoàn toàn tự do. Từ
năm 1932, theo Chỉ dụ ngày 01/9 (năm Bảo Đại thứ 7), Chính phủ Nam Triều đề ra
những quy định cụ thể về vấn đề khẩn hoang trên vùng cao nguyên. Theo Chỉ dụ
này, cứ mỗi mẫu tây (1 ha) bằng 2 mẫu An Nam (mỗi mẫu An Nam bằng 5.000
m2). Ai muốn khai khẩn 20 mẫu An Nam trở lại thì chỉ cần xin và được các quan
bản tỉnh duyệt, cịn trên 20 mẫu thì phải trình ra Bộ Hộ. Tính đến thập niên 1930, số
đất đai mà nhân dân tổng Tân Phong (trong đó có một số làng ở Đak Pơ) khai khẩn
được là 920,8 mẫu đất và 112,7 mẫu ruộng. [8, tr.53]

Hiện nay, ở Đak Pơ, nơng nghiệp vẫn giữ vai trị nền tảng. Đảng bộ và chính
quyền các cấp của huyện đã bám sát điều kiện thực tế và những lợi thế của địa
phương để tiếp tục phát triển kinh tế-xã hội. Xác định nơng nghiệp giữ vai trị nền
tảng cho tăng trưởng kinh tế nên huyện Đak Pơ đã duy trì phát triển nơng nghiệp
với các loại cây trồng lợi thế như: mía, mì, bắp, dưa hấu… Huyện đã đầu tư cơ giới
hóa, xây dựng các mơ hình sản xuất hàng nơng nghiệp theo hướng thương phẩm tập
trung.

Do ở vị trí cửa ngõ giữa đồng bằng Nam Trung Bộ lên các cao nguyên phía
Tây, bên cạnh nghề nông, đồng bào người Kinh lên vùng Đak Pơ cịn tiến hành
bn bán, trao đổi hàng hóa với đồng bào dân tộc thiểu số. Trong vùng cũng sớm
hình thành những điểm bn bán, trao đổi hàng hóa giữa đồng bằng và cao nguyên
tại nguồn sở Cầu Bông, dưới triều Nguyễn (năm Minh Mạng thứ 10, 1829) là
Phương Kiệu. Về tình hình thương mại ở tồn vùng An Khê (trong đó có Đak Pơ)
giữa thế kỷ XIX, tư liệu của những người Pháp có mặt ở vùng này nhận xét: Tại
Bình Định, An Sơn là chợ lớn nhất, nơi hàng hóa từ cao ngun phía tây dồn về.
Nhưng luật của triều Nguyễn lúc đó quy định kèm theo hình phạt rất nghiêm khắc,
cấm người Việt vượt qua vùng An Sơn để định cư ở vùng đồng bào dân tộc thiểu

số, đồng thời cũng cấm người dân tộc thiểu số đi quá An Sơn để vào Trung Kỳ.
Trên thực tế, người Việt đã thiết lập được một sự giao thương đáng kể ở vùng cao,
họ thường xuyên đi lại mua bán trong vùng đồng bào Bahnar, nhưng không một ai

13

có thể nghĩ tới việc ở hẳn trong đó. Về phía đồng bào Bahnar, họ cũng xuống An
Sơn để mua và bán hàng, nhưng không bao giờ bước qua giới hạn mà nhà Nguyễn
đã quy định [8, tr.54-55].

Đến những năm 20 của thế kỷ XX, trên vùng An Khê đã hình thành những
chợ nổi tiếng như: chợ Đồn, chợ An Khê, chợ Trạm Gò (Cửu An), chợ Tú Thủy.
Hoạt động giao thương này đã tạo cho người Kinh ở An Khê một nghề khá phổ
biến đó là nghề bn bán, trao đổi với đồng bào các dân tộc thiểu số mà hồi đầu
thế kỷ trước thường được gọi là nghề “buôn Thượng”. Việc săn bắt, hái lượm
trong khu vực người Kinh cũng khá phát triển nhằm cung cấp thêm thực phẩm cho
cuộc sống mà ở đó nền kinh tế “tự cấp tự túc” giữ một vị trí quan trọng. Đak Pơ cũng
là nơi các nhà tư bản Pháp đến khai thác sớm trên đất Gia Lai. Từ cuối thế kỷ XIX,
Công ty Delignon đã lập đồn điền ở Chầu Bầu/Đak Jappau (vị trí này hiện ở thôn
Tân Thiện, xã Tân An, huyện Đak Pơ) với diện tích 1.500 ha. Cơ sở kinh tế tư bản
này cũng thu hút một bộ phận lao động người địa phương.

Hiện nay, Đak Pơ là địa phương có tuyến quốc lộ 19 nối với TP. Pleiku nên
huyện không bỏ lỡ cơ hội cho tiềm năng phát triển thương mại lâu dài. Hoạt động
thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện diễn ra sôi động, các mặt hàng đa dạng,
phong phú, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và
doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm 2023 ước đạt 195.943 triệu đồng. Tổng giá trị
sản xuất cơng nghiệp trên địa bàn, tính theo giá hiện hành ước đạt khoảng 270.526
triệu đồng (năm 2023); tính theo giá so sánh năm 2010 đạt 164.262 triệu đồng [53].
Huyện có 33 doanh nghiệp và 458 cơ sở kinh doanh hoạt động ổn định. Đây là một

lợi thế cho việc giao thương hàng hóa cũng như góp phần tạo đầu ra cho nông sản.

1.1.3. Đặc điểm dân cư

Vùng đất Đak Pơ ngày nay là địa bàn cư trú từ lâu đời của người Bahnar
thuộc ngữ hệ Môn - Khmer (Nam Á); là khu vực khơng thể tách rời với tồn vùng
An Khê và là một phần của Tây Sơn Thượng đạo - căn cứ địa buổi đầu của anh em
Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ) trong những năm 1771 - 1773.
Với những nỗ lực của anh em Tây Sơn, mối quan hệ Kinh - Thượng trên vùng
Thượng đạo (trong đó có Đak Pơ) ngày càng gắn kết.

Sau khi Nguyễn Phúc Ánh đánh bại nhà Tây Sơn (năm 1801) và lên ngôi
tháng 6/1802 (vua Gia Long), vùng đất Bình Định đã được tách ra khỏi dinh Quảng

14

Nam và đặt là dinh Bình Định. Năm Gia Long thứ 7 (1808), đổi dinh thành trấn.
Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) cho đổi các trấn thành tỉnh, theo đó trấn Bình Định
được gọi là tỉnh Bình Định. Vùng đất An Khê (bao gồm cả Đak Pơ ngày nay) thuộc
huyện Tuy Viễn, tỉnh Bình Định.

Sau nhiều lần chia tách, thay đổi địa giới hành chính, năm 2003, thực hiện
Nghị định số 155/NĐ-CP, ngày 09/12/2003 của Chính phủ, phần đất phía tây và tây
nam của huyện An Khê cũ, gồm tồn bộ diện tích tự nhiên và dân số của các xã:
Phú An, Tân An, Cư An, An Thành, Hà Tam, Ya Hội, Yang Bắc được tách ra để
thành lập huyện Đak Pơ. Ở thời điểm mới thành lập, huyện Đak Pơ có 49.961,50 ha
diện tích tự nhiên và 34.563 nhân khẩu. Cũng theo nghị định này, xã Đak Pơ, thuộc
huyện Đak Pơ được thành lập, trên cơ sở 1.963 ha diện tích tự nhiên và 3.092 nhân
khẩu của xã An Thành [8, tr.17]. Đến cuối năm 2015, huyện Đak Pơ có tổng diện
tích 50.253 ha, gồm 8 đơn vị hành chính trực thuộc là thị trấn Đak Pơ và các xã:

Phú An, Tân An, Cư An, An Thành, Hà Tam, Ya Hội và Yang Bắc với 73 thôn,
làng, tổ dân phố, trong số đó có 34 làng đồng bào dân tộc thiểu số (gồm 31 làng
Bahnar và 3 làng dân tộc Hmông).

Huyện Đak Pơ có khoảng 20 thành phần dân tộc khác nhau. Hai dân tộc có
số lượng dân cư đơng nhất của huyện là dân tộc Kinh (29.090 người) và dân tộc
Bahnar (7.993 người). Các dân tộc có số lượng dân cư đứng sau hai dân tộc trên lần
lượt là: Hmông (566 người), Nùng (90 người), Mường (84 người), Tày (62 người),
Khmer (27 người), Jrai (24 người), Thái (20 người), Hoa (13 người). Các dân tộc
còn lại như: Hrê, Chăm, Cor, Ê Đê, Xơ Đăng, Mnông, Thổ, Ra Glai, Giẻ Triêng,
mỗi dân tộc chỉ có số lượng dưới 10 người.

Cư dân Đak Pơ có thể chia làm hai bộ phận. Bộ phận thứ nhất là cư dân tại
chỗ, sinh sống từ lâu đời trên địa bàn là dân tộc Bahnar. Bộ phận thứ hai là các dân
tộc đến vùng đất này lập nghiệp muộn hơn, gồm người Kinh và các dân tộc khác.

Người Bahnar là cư dân tại chỗ của huyện Đak Pơ, họ sinh sống ở 32 làng
trong huyện. Trong đó, 2 xã có các làng Bahnar nhiều nhất là Yang Bắc (15 làng)
và Ya Hội (8 làng). Dân tộc Bahnar nói ngơn ngữ Mơn - Khmer, thuộc dịng ngơn
ngữ Nam Á. Người Bahnar ở huyện Đak Pơ phần lớn thuộc nhóm địa phương Kon
Kơđeh. Riêng 5 làng thuộc xã Yang Bắc là: Bung Bang, Hven, Jro Ktu, Jro Dơng 1,
Jro Dơng 2 và các làng Bahnar ở xã An Thành thuộc nhóm địa phương Bahnar Roh.

15

Những vùng đất ven bờ sông, suối thường là nơi được người Bahnar ở Đak Pơ chọn
lập làng. Theo truyền thống, mỗi làng chỉ có hai lối ra, vào. Từ cổng làng phía đơng
vào là khu dân cư, rồi đến nhà rơng (gần bến nước) và cuối làng (phía mặt trời lặn)
là khu nhà mồ của làng.


Trong số các dân tộc được xếp vào bộ phận dân cư mới đến, người Kinh đã
có mặt trên vùng đất này khá sớm và hình thành nên các xóm làng đầu tiên từ cuối
thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Những cộng đồng người Kinh hình thành sớm nhất trên
vùng đất Đak Pơ hiện tại là: thơn Chí Cơng (xã Cư An), thơn Tân Phong (xã Tân
An). Riêng dân cư gốc ở thôn Tân Thiện (xã Tân An) là dân di cư từ huyện Hồi Ân
(Bình Định) lên năm 1959 theo chính sách dinh điền dưới thời chính quyền Ngơ
Đình Diệm.

Đến lập nghiệp ở vùng Đak Pơ, người Kinh vẫn tổ chức làng xóm theo hình
mẫu ở q hương. Nhưng cũng như trên những vùng đất mới khai phá ở phía nam,
làng xóm của Đak Pơ cũng là mơ hình “làng mở” để có thể tiếp nhận thêm những
cư dân mới muốn nhập làng. Những người chung sống trong xóm, làng ln có ý
thức cộng đồng, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau những lúc hoạn nạn, bảo vệ
nhau trước thú dữ và các hiểm họa. Ban đầu, quy mô của các làng thường nhỏ bé,
nhưng lâu dần, do có thêm những người mới đến xin nhập cư và những người sinh
sống ở đây sinh sôi phát triển lên, làm cho các làng ngày càng đông đúc.

Khi lập làng, bên cạnh hệ thống hương chức như ở đồng bằng gồm có lý
trưởng, phó lý, hương bộ, hương kiểm, hương mục, hương dịch, chánh tri bộ, phó
tri bộ thì các làng lập sớm ở Đak Pơ cịn có những chức vị riêng của vùng đất mới
như: Chủ mộ là những người mộ được nhiều dân lập làn; chủ tạo là những người
coi sóc việc làm đình chùa hoặc cúng một số tiền lớn vào việc làm đình chùa; chủ
khẩn là những người trơng coi việc khai khẩn ruộng đất. Ngồi ra, cịn có Thủ sắc là
những người giữ sắc thần, họ phải đem về nhà cất giữ cho khỏi mối mọt, đến ngày
tế mới đem ra đình. Phụng tế là người chánh tế của làng. Chủ bái là người coi việc
tế tự trong một xóm nhỏ.

Tên của các làng lập sớm ở Đak Pơ mang những nét chung của cả vùng đất
An Khê cũ, rất phổ biến tên làng có từ tố An có nghĩa là yên - yên ổn, tốt lành. Điều
đó phản ánh thực trạng từ cuối thế kỷ XVIII đến cuối thế kỷ XX, khi chế độ phong

kiến Việt bước vào giai đoạn suy vong, đời sống của nông dân Việt Nam vô cùng


×