Tải bản đầy đủ (.pdf) (61 trang)

(Tiểu luận FTU) nghiên cứu về một số cuộc hủng hoảng nợ công trên thế giới và bài học cho việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (578.83 KB, 61 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGОẠI THƯƠNG
KHОА TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
---------***--------

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CƠNG
Nghiên cứu về một số cuộc hủng hoảng nợ cơng trên thế giới và
bài học cho Việt Nam
NHĨM: 15
Hoàng Thị Ánh – MSV 1513320008
Nguyễn Thị Tú Oanh – MSV 1513320050
Phương Khánh Hạ - MSV 1510320070
Giáо viên hướng dẫn: TS NGUУỄN THỊ LАN

Hà Nội – 12/2017

1

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Mục Lục
PHẦN MỞ ĐẦU....................................................................................................................................4
CHƯƠNG I. Tổng quan về tình hình nghiên cứu nợ cơng trong nước và nước ngồi.....................5
1.

2.

Tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngồi....................................................................5
1.1

Tình hình nghiên cứu ở nước ngồi..................................................................................5



1.2

Các cơng trình nghiên cứu trong nước..............................................................................6

1.3

Thành tựu đã đạt được của các nghiên cứu và vấn đề mới cần khai thác........................7

Cơ sở lý thuyết...........................................................................................................................8
2.1

Khái niệm...........................................................................................................................8

2.2

Phân loại nợ Chính phủ..................................................................................................11

2.3

Bản chất của nợ cơng.......................................................................................................12

2.4

Rủi ro trong nợ cơng.......................................................................................................13

CHƯƠNG II. MỘT SỐ CUỘC KHỦNG HOẢNG TRÊN THẾ GIỚI...........................................17
1.

2.


3.

Khủng hoảng nợ cơng Mỹ.......................................................................................................17
1.1

Thực trạng........................................................................................................................17

1.2

Tác động...........................................................................................................................20

1.3

Ngun nhân....................................................................................................................21

1.4

Giải pháp ứng phó nợ công Mỹ......................................................................................22

Khủng hoảng nợ công Châu Âu.............................................................................................24
2.1

Thực trạng và Diễn biến cuộc khủng hoảng..................................................................24

2.2

Nguyên nhân cuộc khủng hoảng.......................................................................................28

2.3


Tác động của cuộc khủng hoảng.....................................................................................29

2.4

Giải pháp cho cuộc khủng hoảng...................................................................................30

Khủng hoảng nợ cơng Hy Lạp................................................................................................30
3.1

Ngun nhân....................................................................................................................30

3.2

Diễn biến...........................................................................................................................35

3.3

Chính sách áp dụng.........................................................................................................40

CHƯƠNG III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP VỀ CUỘC KHỦNG HOẢNG CỦA
VIỆT NAM..........................................................................................................................................42
1.

Ảnh hưởng từ các cuộc nợ công trên thế giới đối với Việt Nam...........................................42
1.1

Tác động từ nợ công của Mỹ 2011..................................................................................42
2


LUAN VAN CHAT LUONG download : add


2.

3.

2.2

Tác động từ khủng hoảng nợ công châu Âu..................................................................43

2.3

Tác động từ khủng hoảng nợ cơng Hy Lạp...................................................................46

Thực trạng chính sách.............................................................................................................46
2.1

Thu và chi ngân sách nhà nước.......................................................................................46

2.2

Thâm hụt ngân sách và nợ công......................................................................................51

2.3

Rủi ro nợ công Việt Nam..................................................................................................55

Kết luận và đề xuất giải pháp.................................................................................................57
3.1


Kết luận............................................................................................................................57

3.2

Đề xuất giải pháp.............................................................................................................57

Tài liệu tham khảo...............................................................................................................................60

3

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


PHẦN MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ với sức mạnh tồn cầu hóa
cùng nhiều chuyển biến khó lường, thế giới đã trải qua cơn khủng hoảng kinh tế tồn
cầu 2008-2009, chính phủ Hy Lạp tuyên bố vỡ nợ và hệ lụy của nó ảnh hưởng sang cả
một số nước châu Âu và được coi là một thất bại của tổ chức liên hiệp EU.Cho đến
hiện nay, khơng một quốc gia nào có thể “ thờ ơ” với vấn đề nợ công đang ngày càng
trở nên đáng báo động . Vấn đề vay và trả nợ ở Việt nam mới thực sự nổi lên nư một
vấn đề quan trọng kể từ khi có sự nối lại các hoạt động cho vay của các tổ chức tài
chính đa phương. Những khoản vay nợ nước ngồi ngày càng tăng về giá trị khoản
vay, doanh số vay và đa dạng về hình thức vay và trả nợ.
Trên thế giới có rất nhiều quốc gia đã phát triển có mức nợ cơng cao kỷ lục như
Hoa Kì và Nhật Bản, nhưng xét về tình hình kinh tế, con số đó vẫn nằm trong tầm kiểm
sốt của chính phủ. Nhưng đối với Việt Nam, một đất nước đang bước vào thời kì đang
phát triển với tốc độ chóng mặt thì tỷ lệ nợ công 64,98%( 2016) đang khiến nền kinh tế
trở nên khó khăn hơn dù vẫn nằm trong ngưỡng cho phép. Nợ cơng có thể là con dao
hai lưỡi, vừa là công cụ để thúc đẩy và đảm bảo an sinh xã hội nếu được sử dụng một

cách hiệu quả, vừa là nguyên nhân gây áp lực trả nợ và kìm hãm sự tăng trưởng nền
kinh tế nếu khơng được quản lí một cách thơng minh.
Việt Nam là một nền kinh tế “trẻ”, chưa có nhiều kinh nghiệm về vấn đề quản lí nợ
cơng cần phải tích cực nhìn nhận và học hỏi từ các nền kinh tế lớn để tìm ra hướng
quản lí thích hợp nhất đối với riêng mình. Xuất phát từ thực tế và tính cấp thiết của vấn
đề, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu về một số cuộc hủng hoảng nợ công
trên thế giới và bài học cho Việt Nam”.

4

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


CHƯƠNG I. Tổng quan về tình hình nghiên cứu nợ cơng trong nước và nước
ngồi.
1. Tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngồi.
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngồi
Đến nay, trên thế giới đã có nhiều cơng trình nghiên cứu lý thuyết thuyết và
các mơ hình thực nghiệm liên quan đến nợ công.
 Trong nghiê cứu External Debt Management in Low- Income Countries, các
tác giả Bangura Sheku, Damoni Kitabire, and Robert Powell cho rằng: đối với một
quốc gia, việc quản lí nợ phải bắt nguồn từ việc xác định chính xác nhu cầu vay nợ
nước ngồi.Nhu cầu vay phải được xây dựng dựa trên khả năng trả nợ. Theo
nghiên cứu và phân tích của các tác giả này, các quốc gia cần:(i) xác định nhu cầu
vay đảm bảo được khả năng thanh toán nợ (ii )cân đối giữa cơ cấu tiền vay với cơ
cấu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu, dự trữ ngoại hối để phòng ngừa rủi ro thanh
khoản dẫn đến vỡ nợ.
 Theo nghiên cứu số liệu về Nợ công của Quỹ Tiền Tệ IMF, khủng hoảng nợ
cơng ở các nước Châu Âu có khởi nguồn bắt đầu từ những năm 1990 tại Ý và Hy
Lạp (chỉ số nợ/GDP vượt quá 90%), tuy nhiên giai đoạn 1999-2007 là thời kì thành

tích tăng trưởng tốt và mơi trường tài chính ổn định đã che khuất những điểm yếu
dễ tổn thương của nền kinh tế châu Âu nói chung, cùng với sự chênh lệch đáng kể
giữa các nền kinh tế tại EU, vỡ nợ tại Hy Lạp dù có ảnh hưởng tiêu cực và có hệ
lụy lan truyền song vẫn chưa thể nhấn chìm cả hệ thống đồng tiền chung Châu Âu.
Từ khi nổi lên vấn đề khủng hoảng nợ Hy Lạp vào cuối năm 2011, đồng Euro đã
liên tục trượt giá so với USD, khiến các cơ quan chức năng của Mỹ và EU lo ngại
có bàn tay của các quỹ đầu cơ lớn. Cuộc khủng hoảng nợ ở châu Âu cũng đe dọa
đảo lộn trật tự tài chính, chính trị và quyền lực ở châu lục này. Đức và Pháp là
những quốc gia có khả năng giải cứu cao nhất, các nhà lãnh đạo ở 2 nước này có
thể sẽ là những người quyết định chính sách tài khóa cho Bồ Đào Nha, Ireland,
Italy, Hy Lạp và Tây Ban Nha. Tuy nhiên, hai nước này cũng đang phải đương đầu

5

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


với nhiều khó khăn về tăng trưởng và ngân sách. Thâm hụt ngân sách của Đức và
Pháp lần lượt ở mức 6,3% và 7,5% GDP.


Trong Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tại Davos, Thụy Sỹ, 2400

chuyên gia kinh tế cùng chọn “nợ công” làm vấn đề kinh tế chủ yếu mà toàn cầu
cùng đối mặt, tiếp theo là “chủ nghĩa bảo hộ thương mại” và “giám sát tài chính”.
Theo phân tích của WEF, trong năm 2009, nhiều nước trên thế giới đã triển khai
hàng loạt biện pháp kinh tế chưa từng có (như bơm tiền để cải thiện tính thanh
khoản của hệ thống tài chính - ngân hàng), hay triển khai nhiều biện pháp kích
thích kinh tế (nhằm ngăn chặn, hạn chế ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính
và suy thối kinh tế thế giới) đã khiến ngân sách của nhiều nước bị thâm hụt nặng

nề.


Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công của 10 quốc gia giàu

nhất thế giới sẽ tăng từ mức 78% GDP vào năm 2007 lên mức 114% GDP vào
năm 2014. Theo ước tính của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), nợ
công của các nước thành viên đã tăng vọt từ khoảng hai mươi năm nay, từ 59%
GDP vào năm 1987 lên 75% GDP vào năm 2007; nợ công sẽ tăng 30% từ năm
2007 đến năm 2017. Tại Mỹ, nợ công sẽ từ 63% GDP vào năm 2007 lên 103%
GDP vào năm 2017. Tại Anh, con số này từ 47% lên 125%, ở Nhật 170,6% tăng
lên 208%.
1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
Cơng trình nghiên cứu đầy đủ nhất về nợ công là dự án VIE/01/010 (2005)
của

bộ Tài chính do Chính phủ Đức, Australia và UNDP (chương trình phát

triển Liên hợp quốc) tài trợ. Dự án đã phân tích cụ thể tình hình kinh tế tại Việt
Nam, đưa ra các biện pháp thiết thực phù hơp với thực trạng quốc gia.
 Trên Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, Tài chính ( xuất bản bằng tiếng Anh), TS
Tào Khánh Hợp và ThS Đơc Đình Thu nhấn mạnh tính chất hai mặt của nợ
nước ngoài và tác động đến sự ổn định của nền kinh tế.

6

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


 Trung tâm Nghiên cứu Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

(BIDV) đã công bố báo cáo thực trạng nợ công tại Việt Nam giai đoạn 20112015 và đề xuất cho giai đoạn 2016-2020. Báo cáo cho thấy, trong giai đoạn
2011- 2015, nợ công đã gia tăng nhanh chóng với mức 16,7%/năm. Cuối năm
2015, dư nợ công lên đến 2.608 nghìn tỷ đồng, gấp 1,9 lần so với cuối năm 2011
(1.393 nghìn tỷ đồng). Nợ công/GDP ở mức 62,2%, áp sát ngưỡng kiểm soát
65% của Quốc hội.
 Với đề tài “Vấn đề nợ công tại các nước phát triển và tác động đến nền kinh
Việt Nam” trong cơng trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, TS.Nguyễn Đức Độ,
TS.Nguyễn Thị Minh Tâm và nhóm các tác giả (2010) đã đề cập đến tác động
của nợ công đến các biến sô vĩ mô.
1.3 Thành tựu đã đạt được của các nghiên cứu và vấn đề mới cần
khai thác.
Nhìn chung, các tài liệu nghiên cứu cả trong và ngoại nước đã đều cung cấp
khá đầy đủ cơ sở lí thuyết về nợ nước ngồi, một số bài phân tích cịn mang chiến
lược dự báo tương lai có độ chính xác cao. Tầm quan trong của nợ công đã được
các tác giả cân nhắc kĩ khi thực hiện đề tài, từ phân tích thực trạng để rút ra các
phương pháp quản lí nợ cơng một cách hiệu quả nhất.
NHƯỢC ĐIỂM CỦA CÁC CUỘC NGHIÊN CỨU
Như vậy, nghiên cứu nợ công ở Việt Nam dù đã đi sâu vào các vấn đề
khía cạnh trong việc quản lí khỏa nợ, đưa ra các đề xuất giải pháp nhưng chưa có
một nghiên cứu nào có xuất phát điểm từ các cuộc khủng hoảng tài chính cơng
trong q khứ , chưa đề cập nhiều đến các cuộc khủng hoảng nợ công lớn trên thế
giới, chưa đi sâu vào phân tích và tìm hiểu ngun nhân dẫn đến khủng hoảng. Từ
đó rút ra bài học trực tiếp cho Việt Nam từ chính những thất bại trong lịch sử. Đặc
biệt, các nghiên cứu trước được thực hiện khi Việt Nam đang trong thời kì tăng
trưởng tốc độ nhanh nhưng chưa ổn định, vấn đề nợ công vẫn đi theo khuynh
hướng áp dụng nguyên bản vào Việt Nam mà chưa có sự cải biến phù hợp.Hiện
7

LUAN VAN CHAT LUONG download : add



nay khi tình hình kinh tế đã đi vào lộ trình, Chính phủ rất cần học hỏi từ q khứ
để tránh sai lầm, nhất là từ các nước tiến bộ có mối quan hệ kinh tế gần gũi với
chúng ta, đồng thời phân tích thực trạng thực tế để có chiến lược giải quyết vấn đề
nợ công một cách bền vững và hiệu quả.
2. Cơ sở lý thuyết
2.1 Khái niệm
Trong mỗi quốc gia, vào từng giai đoạn nhất định với quá trình quản lý kinh tế
xã hội của mỗi quốc gia, Nhà nước sẽ cần huy động nguồn lực từ trong và ngoài
nước. Các khoản thu truyền thống như thuế, lệ phí, phí nếu khơng đáp ứng đủ nhu
cầu chi tiêu của Nhà nước đó thì phải nghĩ đến giải pháp đi vay nợ để có thể chi trả
cho những khoản chi tiêu của Chính phủ, Nhà nước đó phải có trách nhiệm chi trả
cho khoản nợ đó.
Để có cái nhìn tổng q về nợ cơng của thế giới hay cũng như của Việt Nam,
trước hết chúng ta phải nắm rõ được khung lý thuyết cơ bản và đầy đủ vè nợ cơng
và các khái niệm liên quan đến nó.
Theo Luật quản lý nợ công ( năm 2009, do quốc hội ban hành) đã quy định về
quản lý nợ công, bao gồm các hoạt dộng vay, sử dụng vốn vay, trả nợ và các
nghiệp vụ quản lý nợ công. Cũng theo Luật này, nợ cơng bao gồm: nợ Chính phủ,
nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương.
-

Nợ chính phủ là các khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước
được kí kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các
khoản vay khác do BTC kí kết, phát hành, ủy quyền phát hành. Nợ chính
phủ khơng bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát
hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ, nợ của các doanh nghiệp nhà nước
tự vay tự trả.

-


Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài
chính, tín dụng vay trong nước, nước ngồi được Chính phủ bảo lãnh.

8

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


-

Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương ( giờ được gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký
kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành.

Tuy nhiên, theo quan điểm của IMF và WB: nợ công ( public debt) là toàn bộ
nghĩa vụ trả nợ của khu vực công, bao gồm nghĩa vụ trả nợ của khu vực chính phủ
và của khu vực các tổ chức cơng.
 Khu vực chính phủ bao gồm chính quyền trung ương, chính quyền
liên bang và chính quyền địa phương. Các tổ chức cơng là các tổ
chức cơng phi tài chính, các tổ chức tài chính cơng, NHTW, các tổ
chức NN nhận tiền gửi ( trừ NHTW) và các tổ chức tài chính cơng
khác ( IMF và WB, 2011).
Bên cạnh đó, ta cũng nên hiểu “ Nợ quốc gia” là gì? Nợ quốc gia là tổng các
khoản nợ mà một quốc gia có trách nhiệm và có nghĩa vụ phải thanh tốn cho các
cá nhân, tổ chức quốc tế. Nợ quốc gia bao gồm các khoản vay nợ của Cính phủ,
các khoản vay nợ nước ngồi do doanh nghiệp ( có hay khơng có sự bảo lãnh của
chính phủ, bao gồm cả vay thương mại,…)
Theo IMF (2010), nợ cơng cịn là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công. Khu vực
công được biểu thị bằng mơ hình sau:


9

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Khu vực
cơng
Khu vực
chính phủ
Chính phủ
trung ương
Chính quyền
liên bang

Khu vực các tổ
chức cơng
Các tổ chức cơng
phi tài chính

Các tổ chức cơng tài
chính
Ngân hàng Trung
ương
(NHTW)

Chính quyền
địa phương

:

Nguồn:
IMF(2010)

Các tổ chức nhà
nước nhận tiền gửi
(trừ NHTW)

Các tổ chức tài
chính cơng khác

Từ sơ đồ trên có thể thấy, bên trái, bao gồm nợ chính phủ tại các cấp chính
quyền, từ trung ương đến địa phương; bên phải, hay khu vực các tổ chức công bao
gồm các tổ chức cơng tài chính và phi tài chính. Các tổ chức cơng phi tài chính
được có thể là các tập đồn nhà nước khơng hoạt động trong lĩnh vực tài chính như
điện lực, viễn thơng…, hoặc cũng có thể là các tổ chức như bệnh viện và các
trường đại học cơng lập. Các tổ chức cơng tài chính là các tổ chức nhận hỗ trợ từ
Chính phủ và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, thực hiện các dịch vụ nhận tiền
gửi và trả lãi thuộc khu vực cơng, cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính, bảo hiểm
hay quỹ lương hưu.

10

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nợ cơng, nhưng cũng rất ít sự khácb iệt
lớn trong các định nghĩa trên. Do vậy có thể coi các khoản nợ của khu vực các tổ
chức công là các khoản nợ mà chính phủ sẽ bảo lãnh trong trường hợp các tổ
chức này vỡ nợ.
2.2 Phân loại nợ Chính phủ

 Theo nguồn hính thành:
 Nợ nước ngồi
 Nọe trong nước
 Theo phương thức huy động các khoản nợ:
 Các khoản nợ huy động bằng phát hành trái phiếu Chính
phủ
 Nợ do Chính phủ bảo lãnh
 Nợ ODA

 Theo tính chất ưu đãi của các khoản nợ:
 Các khoản nợ thương mại
 Các khoản nợ ưu đãi
-

Mục đích của nợ cơng
Khơng phải dễ dàng mà Chính phủ, các tập đồn hay doanh nghiệp nhà
nước hoặc các cấp chính quyền địa phương có thể vay nợ. Mục đích của
việc vay nợ được quy định rất rõ trong Luật quản lý nợ cơng.
Theo đó Quốc hội quy định Chính phủ chỉ được phép vay nợ với các
mục đích như sau: đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của
ngân sách trung ương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước; bù đắp
thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ vay ngắn hạn; cơ cấu lại
khoản nợ, danh mục nợ chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh; cho
doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lại
theo quy định của pháp luật; hoặc các mục đích khác nhằm bảo đảm an
ninh tài chính quốc gia (Điều 18 Luật quản lý nợ công).
11

LUAN VAN CHAT LUONG download : add



Các khoản vay nợ mà Chính phủ bảo lãnh cũng khơng phải tùy tiện. Cụ
thể, Chính phủ chỉ bảo lãnh cho các doanh nghiệp thực hiện: các chương
trình dự án đầu tư được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định
chủ trương đầu tư; các chương trình, dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án
trong lĩnh vực năng lượng, khai thác, chế biến khoáng sản hoặc sản xuất
hàng hóa, cung ứng dịch vụ xuất khẩu phù hợp với định hướng phát triển
kinh tế - xã hội của đất nước; các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực, địa
bàn được Nhà nước khuyến khích đầu tư theo quy định của pháp luật về
đầu tư và các quy định của pháp luật có liên quan; hoặc các chương trình
dự án được tài trợ bằng khoản vay thương mại gắn với nguồn vốn ODA
dưới dạng tín dụng hỗn hợp (Điều 33 Luật quản lý nợ công).
Tương tự như thế, các khoản vay nợ của chính quyền địa phương cũng
phải phục vụ cho những mục đích đã quy định: đầu tư phát triển kinh tế xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương theo quy định của
Luật ngân sách nhà nước; hoặc đầu tư vào các dự án có khả năng hoàn vốn
tại địa phương (Điều 37 Luật quản lý nợ công).
2.3 Bản chất của nợ công
-

Bản chất kinh tế của nợ công là nợ công xuất phát từ thâm hụt ngân sách,
tổng chi tiêu của chính phủ lớn hơn các tổng thu mà mình nhận được. Để
làm giảm mức thâm hụt ngày, chính phủ phải tăng nguồn thu ngân sách,
hoặc cắt giảm chi tiêu. Cắt giảm chi tiêu không phải là một việc dễ dàng
trong ngắn hạn, khi những kế hoạch chi tiêu của chính phủ đã được hoạch
định cụ thể.
Chính vì thế, chính phủ chỉ có thể tìm cách gia tăng nguồn thu của

mình:
Có hai cách để gia tăng nguồn thu chính phủ. Thứ nhất, chính phủ có
thể tăng thuế, vốn là nguồn thu trực tiếp và lớn nhất của mình. Tuy nhiên, tăng

thuế có thể có ảnh hưởng tiêu cực, đó là làm giảm tiêu dùng, giảm động lực lao
12

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


động và sản xuất dẫn đến suy thoái kinh tế. Thứ hai, chính phủ có thể tăng
nguồn thu thơng qua vay nợ, cả vay trong nước và vay quốc tế. Để làm được
việc này, chính phủ sẽ yêu cầu Ngân hàng trung ương bán cổ phiếu cho giới
đầu tư tư nhân trong nước và quốc tế. Các khoản vay này sẽ làm gia tăng nợ
cơng. Như vậy có thể thấy nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt ngân sách.
Như vậy, có thể thấy nợ cơng chính là hậu quả trực tiếp của bội chi ngân
sách. Ngoài ra sự dễ dàng vay nợ để đầu tư cũng làm gia tăng thêm nợ công
cho Nhà nước.
-

Tác động của nợ cơng
 Tác động tích cực: Trong thời kì suy thối kinh tế, Chính phủ có
thể vay nợ để gia tăng chi tiêu, đầu tư vào các cơng trìn cơng
cộng, nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế.
 Tác động tiêu cực: Nợ công sẽ dẫn đến gia tăng lãi suất, tăng tỷ
giá đồng nội tệ, thâm hụt thương mại tăng, gia tăng lạm phát.
2.4 Rủi ro trong nợ công

Những hậu quả mà nợ công cũng như thâm hụt ngân sách mang lại cho nền kinh tế
được nhìn thấy thong qua bản chất kinh tế của nợ công. Cho dù nợ công và thâm hụt
chính sách thương mại tồn tại có thể kích thích tang trưởng nhưng những hậu quả mà
nó đem lại cho nền kinh tế là không thể coi thường và cần phải có sự cảnh giác trước
những hậu quả đó. Bất cứ một quốc gia trên thế gới khơng thể tránh khỏi việc sử dụng
nợ công đề bù đắp cho thâm hụt ngân sách vì thế rủi ro trong nợ cơng được đánh giá là

đóng vai trị rất quan trọng. Các cuộc khủng hoảng nợ trong lịch sử đã giúp rất nhiều
nhà kinh tế đưa ra những kết luận dựa trên các cuộc khủng hoảng đó.
Sự khác biệt về nền kinh tế cũng như những thể chế đi kèm với nó của các quốc
gia mà việc đưa ra một thước đo cụ thể về rủi ro trong nợ công cho tất cả các quốc gia
là một điều rất khó. Dựa trên nghiên cứu của các nhà kinh tế, rủi ro trong nợ cơng đến
từ ba nguồn chính: rủi ro thanh toán, rủi ro thanh khoản, rủi ro từ bất ổn vĩ mô.
13

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


2.4.1 Rủi ro thanh toán
-

Thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại
Thâm hụt ngân sách hay còn gọi là bội chi ngân sách nhà nước, là tình trạng

tổng chi tiêu của ngân sách nhà nước vượt quá các khoản thu “khơng mang tính hồn
trả” của ngân sách nhà nước. Điều đó đồng nghĩa với việc Chính phủ buộc phải đi vay
nợ để bù đắp sự bội chi này, liệu quốc gia đó có thể trả được các khoản nợ công này
trong tương lại hay không? Là câu hỏi đặt ra cho rủi ro đầu tiên này. Để phản ánh mức
độ thâm hụt ngân sách người ta thường sử dụng chỉ tiêu tỉ lệ thâm hụt so với GDP hoặc
so với tổng số thu trong ngân sách nhà nước. Đối với tổng tồn bộ nợ cơng, chính phủ
được xem là có khả năng thanh tồn nếu như giá trị chiết khấu của cánh cân ngân sách
trong tương lai sẽ lớn hơn hoặc bằng giá trị hiện nay của khối lượng nợ. Tương tự đối
với nợ cơng nước ngồi, nguồn ngoại tệ bền vững đến từ xuất khẩu ròng hay cán cân
thương mại vì vay bằng ngoại tệ thì sẽ phải trả bằng ngoại tệ. Chính vì vậy, khả năng
thanh tốn nợ cơng phụ thuốc vào “khơng gian tài chính” của chính phủ đó. Nói đơn
giản, nợ nhiều nhưng làm ra nhiều khác với nợ nhiều nhưng làm ra ít. Ở đây có một
khái niệm quan trọng là tỷ lệ “Nợ/GDP”. Moody, một hãng đánh giá tín nhiệm, thường

dựa vào tỷ lệ này để xếp hạng độ an toàn và ổn định của các quốc gia. Các nước có thể
xếp hạng dựa vào mức độ “Nợ/GDP” và khả năng trả nợ bền vững.
Không những không thể bù đắp nợ công cũng như nợ cơng nước ngồi mà cịn
có khả năng làm gia tang nợ công nếu thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại kéo
dài. Tốc độ tang trưởng GDP lớn hơn tốc độ gia tang nợ công đồng nghĩa với việc quy
mô nợ sẽ giảm đi. Việc định giá đồng nội tệ quà cao sẽ làm giảm xuất khẩu, tang nhập
khẩu dẫ đến thâm hụt thương mại và gia tang nợ cơng nước ngồi. Xét dến quy mơ nợ
cơng trên GDP, thì tốc độ tang trưởng GDP cũng ảnh hưởng trực tiếp đến đến khản
năng trả nợ.
Quy mô nợ:

14

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Không phải lúc nào nợ công cao cũng dẽ ngay lập tức mang lại những kết cục bi
đát. Thực tế trên thế giới cho thấy những cuộc khủng hoảng nợ cơng chỉ diễn ra khi
chính phủ quốc gia đó khơng thể trả nợ đúng hạn, cả nợ gốc và nợ lãi, nên phải tuyên
bố phá sản quốc gia hoặc cầu cứu sự trợ giúp quốc tế.
Nợ công phản ánh và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và khả năng tài chính của
một nền kinh tế. Chính vì vậy, việc đánh giá khoản nợ của một quốc gia có an tồn hay
khơng trở nên vơ cùng cần thiết đối với các nhà đầu tư cũng như chính bản thân chính
phủ của quốc gia đó.
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới chưa có tiêu chuẩn chung về mức ngưỡng an
tồn đối với các chỉ tiêu về nợ công để áp dụng cho tất cả các nước. Việc xác định các
chỉ tiêu an tồn về nợ cơng của từng nước tường được dựa trên cơ sở đánh giá thực
trạng nợ, tình hình kinh tế vĩ mỗ, chính sách tài khóa, tiền tệ, nhu cầu về vốn đầu tư
phát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia và có thể tham khảo khuyến nghị của IMF/WB
về ngưỡng an toàn nợ nước ngoài theo phân loại chất lượng khn khổ thể chế và

chính sách,.
Ngưỡng nợ nguy hiểm thường được định nghĩa như một mức độ mà nếu như
khối lượng nợ (tính trên phần trăm GDP) vượt quá ngưỡng này, nền kinh tế sẽ gặp
nhiều rủi ro bất ổn vĩ mơ, mà điển hình nhất là suy giảm tăng trưởng. Chính vì vậy,
nhiều nghiên cứu sử dụng các mơ hình định lượng để xác định mối quan hệ giữa các
mực nợ công và tang trưởng. Bên cạnh đó, khối lượng nước ngồi cũng đóng một
vaitrof quan trọng trong việc đánh giá rủi ro của nền kinh tế, đặc việc là tại các quốc
gia đang phát triển, khi các quốc gia này khó có thể, hoặc khơng có điều kiện, vay nợ
nước ngồi bằng đồng tiền của mình (orginal sin).
2.4.2 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro thanh khoản là khả năng xảy ra tổn thất về nợ công do không huy động
được vốn, thiếu các tài sản tài chính có tính thanh khoản để thực hiện đầy đủ, kịp thời
các nghĩa vụ nợ đến hạn theo cam kết hoặc phải tìm nguồn mới với chi phí cao bất
15

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


thường. Khả năng thanh khoản cũng như khả năng trả nợ nhanh của Chính phủ cịn đo
lường được rủi ro từ nợ cơng. Để đảm bảo cho sự an tồn của bất kì quốc gia nào khi
vay nợ, khơng chỉ xem xét đến khả năng thanh tốn mà cịn cần phải xem xét đến khả
năng thanh khoản của Chính phủ nước đó. Một quốc gia có thể thanh tốn về lý thuyết
bởi quốc gia đó có thể chi trả các khoản nợ của mình để bù đắp thâm hụt ngân sách
bằng cách tăng nguồn thu trong tương lại nhưng quốc gia đó cũng có khả năng vỡ nợ
trong ngắn hạn nếu như đánh mất khả năng thanh khoản. Điều này sẽ xảy ra khi thị
trường đánh mất niềm tin vào quốc gia này, khiến nó khơng thể tiếp cận nguồn tài
chính cần thiết trong ngắn hạn, nếu có thể tiếp cận được thì sẽ là một lãi suất rất cao.
Vì vậy, từ một cuộc khủng khoảng thanh khoản có thể chuyển hồn tồn thành khủng
hoảng thanh tốn.
Theo như Manasse và Roubini (2005), tình thanh khoản chỉ thực sự nghiêm

trọng nếu nợ ngắn hạn vượt quá 130%. Để đo lường tính thanh khoản, có thể sử dụng tỉ
lệ nợ ngắn hạn so với lượng dữ trữ. Đối với nợ công trong nước, chính phủ có thể dễ
dàng trả nợ bằng cách tăng cung tiền và chấp nhận lạm phát. Do đó, rủi ro thanh khoản
thường đến từ các khoản nợ nước ngồi. Rất nhiều bằng chứng có thể kể ra về việc nợ
nước ngồi ngắn hạn có thể dẫn đến khủng hoảng. Những cuộc khủng hoảng tại
Mexico và Đông Á đã nổ ra tại những thời điểm mà dư nợ ngắn hạn vượt quá khối
lượng tài sản tại các quốc gia này. Tuy nhiên, vẫn cần phải thận trọng với mối quan hệ
nhân quả này, bởi không phải nợ ngắn hạn nhiều là nguyên nhân chính dẫn đến khủng
hoảng. Nếu một quốc gia có lịch sử nợ cơng tốt cùng một lượng dự trữ ngoại hối lớn
đột nhiên bị đẩy ra khỏi các thị trường tài chính vì một vài lý do nào đó khơng liên
quan đến thời gian đáo hạn các khoản nợ của mình, dự trữ ngoại hối có thể suy giảm và
quốc gia đó sẽ gặp khó khăn trong việc trả các khoản nợ trong dài hạn.
2.4.3 Rủi ro từ bất ổn vĩ mơ
Ngồi những rủi ro trong khả năng thanh toán nợ và khả năng thanh khoản, nền
kinh tế còn gặp nhiều rủi ro do những bất ổn từ các biến số vĩ mơ có thể ảnh hưởng
trực tiếp lên nợ 27 công. Các biến số này bao gồm tăng trưởng, nguồn thu ngân sách
16

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


chính phủ, lạm phát và tỉ giá. Những biến số thể hiện khả năng thanh toán cũng như
khả năng sẵn sàng trong việc trả nợ của nền kinh tế.
Tăng trưởng kinh tế có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của nền kinh tế, bởi
nó thể hiện rằng liệu quốc gia đó có đang phát triển bền vững và ổn định hay không.
Điều này sẽ quyết định đến khả năng tiếp cận với các nguồn tài chính mới nhằm bù đắp
các khoản nợ công cũng như thâm hụt ngân sách của mình.
Thơng thường các quốc gia có nợ cơng cao là các quốc gia đang phát triển hoặc
các nền kinh tế mới nổi, nơi chính phủ cịn đóng vai trò quan trọng thúc đẩy kinh tế.
Các quốc gia hay các nền kinh tế này thường xuất khẩu các hàng hóa thơ, giá trị gia

tăng thấp, trong khi lại có nhu cầu nhập khẩu máy móc thiết bị cơng nghệ cao với chi
phí lớn. Chính vì vậy, thâm hụt thương mại là chuyện thường thấy, đồng nghĩa với việc
các quốc gia này phải có thặng dư cán cân vốn để bù đắp mức thâm hụt này. Do các
khoản tín dụng nước ngồi từ xuất khẩu thường khơng bù đắp đủ, các quốc gia này
phải thường xuyên vay nợ mới để trả các khoản nợ cũ. Và để có điều kiện tiếp tục vay
nợ, các quốc gia này phải thể hiện một bộ mặt tích cực trong phát triển kinh tế. Nếu
mức tăng trưởng đang suy giảm hoặc thậm chí nền kinh tế tăng trưởng âm, sẽ rất khó
cho các quốc gia này trong việc tiếp cận thêm các nguồn vốn tín dụng mới.
CHƯƠNG II. MỘT SỐ CUỘC KHỦNG HOẢNG TRÊN THẾ GIỚI
1. Khủng hoảng nợ công Mỹ
1.1 Thực trạng
Trong lịch sử nợ cơng của Mỹ , đã có hai lần đạt mức cao kỷ lục: sau thế chiến
thứ hai đạt mức 110%/GDP và năm 2011 với 14300 tỷ USD, gần bằng 100%/GDP.
Con số này vượt quá cao so với mức an toàn cho phép của nền kinh tế, đe dọa trực tiếp
đến sự phục hồi kinh tế của nước Mỹ và kinh tế chung toàn cầu bởi Mỹ hiện đang là
quốc gia có tầm ảnh hưởng bậc nhất trên thế giới.
 Vào năm 2011, theo số liệu của tờ báo ,nợ Liên bang của Mỹ tính
đến ngày 2/8/2011 đã vượt mức 238 tỷ USD/ngày. “Nguy cơ vỡ nợ” bao trùm toàn bộ
17

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Nhà Trắng và toàn bộ nước Mỹ khi đạt mức kịch trần vay nợ.Bộ Tài chính Mỹ 3/8 cho
biết, nợ công của nước này đã vượt 100% tổng sản phẩm quốc nội GDP, ngay khi
lưỡng viện Quốc hội Mỹ thông qua dự luật về nâng trần nợ công và cắt giảm ngân
sách.
 Căn cứ vào các dữ liệu của Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, Mỹ đã gia nhập lại vào
nhóm các nước có nợ cơng cao hơn GDP gồm Nhật Bản (229%) , Hy Lạp (152%),
Jamaica (137%), Leanon (134%), Italy (120%), Ireland (114%) và Iceland (103%).




Ngày 25/7/2011, Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF cảnh báo, Mỹ sẽ đối mặt với “cú sốc

nặng” nếu nước này không sớm nâng trần nợ công. Trong một báo cáo về kinh tế Mỹ,
các chuyên gia tuyên bố cần nhanh chóng nâng trần nợ liên bang để tránh một cú sốc
nặng cho nền kinh tế và các thị trường tài chính thế giới. Ban gia đốc IMF kêu gọi nhà
chức trách Mỹ cắt giảm chi tiêu từng bước để tránh bị đánh tụt hạng tín nhiệm tài
chính.

18

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


 Mặt khác khi hơn 70% trái phiếu Bộ tài chính Mỹ do nhà đầu tư tư nhân bên
ngồi nắm giữ đáo hạn trong 5 năm tới, việc nhà đầu tư kém tin tưởng vào nước Mỹ
sẽ khiến chi phí lãi vay của Chính phủ và lĩnh vực tư nhân của Mỹ tăng lên. Thêm
vào đó, theo thơng báo của Bộ Tài chính, tổng số trái phiếu của chính phủ Mỹ mà
Trung Quốc nắm giữ trong tháng một giảm 5,4 tỷ USD, xuống còn 1155 tỷ USD,
giảm liên tục trong ba tháng liên tiếp. Hàng loạt các quỹ đầu tư lớn nhất trên thế giới
về trái phiếu chính phủ Mỹ cũng bắt đầu bán tháo. Ngay cả quỹ đầu tư Pimco- quỹ
đầu tư lớn nhất thế giới về trái phiếu chính phủ và là một chi nhánh của tập đồn tài
chính bảo hiểm Allianz khổn lồ cũng đã bán dần trái phiếu khi ngân hàng Trung
ương Mỹ (FED) khơng cịn tiếp tục mua trái phiếu chính phủ kể từ cuối tháng 6.
Chưa dừng lại ở đó, Quỹ đầu tư của Jim Rogers-chủ tịch Rogers Holding và Beeland
Interests Inc thông báo sẽ ngừng việc cho chính phủ Mỹ vay tiền. Những động thái
trên đã khiến trái phiếu của chính phủ Obama mất giá mạnh, dẫn đến phải nâng lãi
suất và tăng khối lượng nợ ngân sách.


19

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


 Nếu xét về mặt con số, thâm hụt ngân sách Mỹ trong những năm đó đều là
những con số khổng lồ.Năm 2009 thâm hụt 1420 tỷ USD, năm 2010 giảm xuống còn
1290 tỷ USD, năm 2011 thâm hụt đạt 9,8% GDP tương đương 1450 tỷ USD.
Năm 2011 được coi là một năm đen tối của nền kinh tế thế giới không chỉ riêng
Mỹ.Theo IMF, nợ công không chỉ là vấn đề của riêng chính phủ Obama mà cịn của rất
nhiều quốc gia lớn khác trên thế giới như Nhật Bản, Anh, Pháp,...
1.2 Tác động
Đối với nền kinh tế Mỹ.
Nước Mỹ nhanh chóng rơi vào tình trạng khơng có khả năng thanh toán, rủi ro
vỡ nợ, lãi suất trái phiếu liên bang tăng cao, đồng USD liên tục mất giá, lạm phát , thất
nghiệp , kinh tế suy thoái, bộ máy cơng quyền đình trệ, phúc lợi xã hội và lương hưu
không được chi trả kéo theo hệ lụy về ổn định chính trị xã hội.Đồng thời, vị thế quốc tế
của Mỹ cũng bị suy giảm do bị đánh tụt hạng trên bảng xếp hạng bậc tín nhiệm từ A+
xuống mức A cùng triển vọng tiêu cực.Standar &Poor’s hạ mức tín nhiệm AAA của
Mỹ xuống cịn AA+.Hệ quả trực tiếp đối với thị trường đầu tư Mỹ là việc tăng lãi suất
tín dụng và giảm giá của trái phiếu, lợi nhuận của trái phiếu nhanh chóng giảm một
cách nghiêm trọng.Về dài hạn, tài sản của Mỹ sẽ phải được định giá lại, khả năng vay
nợ với lãi suất thấp giảm mạnh khiến chính phủ gặp phải khó khăn thanh kjoanr và
chịu áp lực trả nợ.
Đối với thế giới.
Bởi Mỹ là một nền kinh tế lớn quan trọng nên vấn đề công nợ của Mỹ tác động
rất sâu tới nền kinh tế tồn cầu.Đồng đơ la Mỹ vẫn đóng vai trị là đồng tiền chủ đạo
trên thị trường tài chính và tiền tệ, việc đồng tiền mất giá kéo theo nhiều mối quan hệ
làm ăn trên các khu vực khác bị ảnh hưởng. Kinh tế thế giới bị ảnh hưởng theo , nhịp

độ phục hồi và tăng trưởng rất chậm. Mỹ là thị trường lớn của nhiều quốc gia khác, là
đối tác quan trọng trong nhiều hiệp định thương mại, là thị trường gần như điều tiết
toàn bộ nền kinh tế,...nhưng lại đang gặp vấn đê trong chính nội bộ nhà nước.
20

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


1.3 Nguyên nhân
 Thứ nhất, nguồn thu từ thuế thấp. Quan điểm của các nhà lãnh đạo Mỹ là duy
trì một môi trường kinh doanh tự do và hạn chế những can thiệp của chính phủ. Để
thực hiện phương châm này, Mỹ duy trì mức thuế thấp, qua đó kích thích kinh tế tăng
trưởng để gia tăng thu ngân sách, khơng theo đuổi chính sách đánh thuế cao để tăng thu
ngân sách. Trên thực tế, Mỹ là nước có mức thuế thấp nhất so với các nước phát triển
và được coi là “thiên đường của các doanh nghiệp”. Mức thuế huy động so với tổng
GDP ở Mỹ chỉ bằng khoảng ¾ so với các nước phát triển khác. Xu thế chung của Mỹ
là tiếp tục không đánh thuế cao và sẵn sàng đi vay để bù đắp thâm hụt ngân sách, vì
vậy, thâm hụt ngân sách ln là vấn đề thường trực của Chính phủ Mỹ.
 Thứ hai, chi tiêu cơng gia tăng. Chính phủ Mỹ gia tăng chi tiêu trong 2 thập kỷ
gần đây cho các khoản: 1) gia tăng chi tiêu phúc lợi và y tế; 2) gia tăng chi tiêu quốc
phòng. Chi tiêu cho y tế của Chính phủ Mỹ đã tăng từ mức 390 tỷ USD (năm 2001) lên
847 tỷ USD (năm 2010), tăng hơn 2 lần. Chi tiêu cho quốc phòng tăng từ 366 tỷ USD
(năm 2001) lên 872 tỷ USD (năm 2010), xấp xỉ 2,4 lần(4). Vì vậy, tỷ lệ trong tổng chi
tiêu ngân sách tăng từ 20,9% lên 23,6% đối với y tế và tăng từ 19,7% lên 24,3% đối
với quốc phòng trong giai đoạn 2001 - 2010. Chi tiêu y tế của Mỹ gia tăng là do những
cải cách y tế gần đây nhằm cung cấp phúc lợi y tế cho người dân Mỹ, nơi mà chế độ
phúc lợi được cho là tương đối thấp so với các nước phát triển khác. Còn sự gia tăng
mạnh mẽ chi tiêu quốc phòng trong thập kỷ đầu thế kỷ XXI là bởi Mỹ phát động cuộc
chiến chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu và theo đuổi mục tiêu siêu cường của Hoa
Kỳ. Mức chi tiêu cho quốc phòng của Mỹ tương đương 5% GDP, bỏ xa mức chi tiêu

quốc phòng của các nước. Các gói cứu trợ kích thích kinh tế của Mỹ sau khủng hoảng
cũng làm cho gánh nặng nợ công của Mỹ gia tăng mạnh, như gói cứu trợ 700 tỷ USD
(năm 2008) của cựu Tổng thống G. Bu-sơ và gói kích thích kinh tế 780 tỷ USD (năm
2010) của Tổng thống B. Ơ-ba-ma.
 Thứ ba, mơi trường quốc tế thuận lợi cho việc vay nợ. Sự thuận lợi của Mỹ
trong việc vay nợ nước ngoài là do: 1) nhu cầu trái phiếu Chính phủ Mỹ gia tăng và các
nước đều sẵn sàng mua trái phiếu Chính phủ Mỹ. Chẳng hạn, nhờ đẩy mạnh xuất khẩu,
21

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


các nước như Trung Quốc (có nguồn dự trữ ngoại hối trên 3 nghìn tỷ USD), Nhật Bản
(có trên 1 nghìn tỷ USD) và một số quốc gia xuất khẩu dầu mỏ khác đều đầu tư vào trái
phiếu Chính phủ Mỹ dù đây là một khoản đầu tư không mang lại lợi nhuận cao nhưng
có độ tin cậy và ổn định. 2) lãi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ đang có xu hướng giảm
nên áp lực về vấn đề trả lãi vay của Mỹ không quá lớn.
Bên cạnh sự “rẻ hơn” của lãi suất đi vay, một nhân tố quan trọng khác đóng góp
vào sự “thuận lợi” cho việc đi vay là giá trị của đồng đô-la Mỹ giảm so với tất cả các
đồng tiền mạnh trên thế giới (thậm chí cả với đồng nhân dân tệ của Trung Quốc). Khi
đồng đơ-la mất giá, việc đi vay chỉ có lợi cho người đi vay, vì một đồng hơm nay mua
được nhiều hàng hóa hơn so với lúc phải trả. Với sự giảm xuống của lãi suất và sự mất
giá của đồng đô-la Mỹ, Mỹ khá ung dung trong việc đi vay để chi tiêu.
1.4 Giải pháp ứng phó nợ cơng Mỹ
Mặc dù khó có khả năng xảy ra khủng hoảng nợ công, song nhằm giảm nợ công
và chi tiêu công, Mỹ đã cơng bố chương trình cắt giảm ngân sách mạnh mẽ: Riêng
chương trình y tế chăm sóc sức khỏe trong giai đoạn 2010 - 2020 đã cắt giảm 700 tỷ
USD(7).
Chính phủ nước này cũng đang đẩy mạnh thực hiện các giải pháp khác với mục
tiêu của Mỹ là sẽ giảm 4.000 tỷ USD thâm hụt ngân sách trong lộ trình kéo dài 12 năm

(2010 - 2022). Trong này, có 1.000 tỷ USD đến từ việc tăng doanh thu, 2.000 tỷ khác
đến từ cắt giảm chi tiêu và 1.000 tỷ USD sẽ đến từ các khoản tiết kiệm khác. Cụ thể,
Chính phủ Mỹ đã áp dụng những giải pháp cơ bản sau:
 Thứ nhất, cắt giảm chi tiêu. Mức chi tiêu phải cắt giảm khoảng 20% - 30%,
trong đó cắt giảm một số chi tiêu bắt buộc (chi phí phúc lợi xã hội, y tế, …) với mức
917 tỷ USD trong giai đoạn 2013 - 2023; giảm 400 tỷ USD trong các kế hoạch chi tiêu
quân sự trong hiện tại và tương lai. Đợt cắt giảm chi tiêu quốc phòng dự kiến được
thực hiện vào tháng 1-2013.

22

LUAN VAN CHAT LUONG download : add




Thứ hai, tăng doanh thu thông qua việc tăng thuế. Cùng với việc cắt

giảm chi tiêu, giải pháp tiếp theo là thực hiện tăng thuế. Đề xuất ngừng chương trình
giảm thuế cho người giàu (thu nhập trên 250.000 USD/ năm) và xóa bỏ một số ưu đãi
thuế khác. Mục tiêu thu ngân sách phải tăng thu thuế lên 20% - 30%. Thực tế, hiện có
45% số hộ gia đình tại Mỹ khơng phải đóng thuế và có 3% số người thu nhập cao
đóng góp tới 52% tổng số các loại thuế, do đó, một cuộc “cải cách cơ cấu” về chính
sách thuế là cần thiết, tuy nhiên, cải cách chính sách thuế sẽ là một phương án khơng
dễ dàng.
Dự tính, kế hoạch cắt giảm chi tiêu và tăng thuế sẽ hạ mức thâm hụt ngân sách
của Chính phủ Mỹ xuống còn 2,5% GDP (năm 2015) và xuống gần 2% GDP (năm
2020), so với tỷ lệ 10,9% GDP (năm 2010).



Thứ ba, tái cấu trúc khu vực công. Mỹ cần những cải cách tài chính mạnh mẽ

để tái cấu trúc khu vực cơng. Các chính sách tái cơ cấu do Ủy ban Bowles - Simpson
đề xuất có thể giúp giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ, nhưng lại khơng
nhận được sự ủng hộ của Tổng thống Obama.
Vì vậy, tăng thuế, giảm chi tiêu hiện đang là những giải pháp chủ yếu để Mỹ cải
thiện tình hình tài chính cơng. Tuy nhiên xung quanh vấn đề thuế đã nổ ra nhiều cuộc
tranh cãi giữa các nghị sĩ của hai đảng.
Để thỏa hiệp về việc nâng cao mức trần nợ công, Đảng Cộng hòa và Đảng Dân
chủ Mỹ cũng đã cố gắng tìm cách thương thuyết: một là, giảm chi tiêu; hai là, tăng thu
thuế. Đảng Cộng hòa muốn nâng mức trần nợ lên cao kèm theo những điều kiện cắt bớt
chi tiêu của guồng máy nhà nước liên bang để giảm bớt số thiếu hụt ngân sách. Trong
khi Đảng Dân chủ nhấn mạnh đến việc tăng thu, bởi theo họ, để cấp hưu bổng xã hội
và chữa bệnh cho gần 80 triệu người Mỹ ra đời sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II sắp
tới tuổi về hưu, cần phải tăng thu nhập của nhà nước qua những khoản thuế lợi tức cá
nhân, thuế doanh nghiệp, thuế hưu bổng xã hội và y tế, thuế đánh trên di sản. Đảng
Dân chủ đề nghị tăng thuế đối với những người thu nhập trên 250.000 USD/năm.
23

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Ngược lại, Đảng Cộng hòa phản đối việc tăng số thu trên thuế và đề xuất phải cắt
những khoản chi tiêu, đặc biệt là những chương trình xã hội, y tế và hưu bổng.
Như vậy, các giải pháp giảm nợ cơng của Chính phủ Mỹ chủ yếu tập trung giải
quyết vấn đề trước mắt để tránh nguy cơ vỡ nợ và Mỹ vẫn còn thiếu các giải pháp lâu
dài để đưa nợ công trở về mức nợ bền vững.
2. Khủng hoảng nợ công Châu Âu.
2.1 Thực trạng và Diễn biến cuộc khủng hoảng
Trước khi xảy ra khủng hoảng

Trước năm 1999, để thỏa mãn các quy định về tài chính cơng trong Thỏa
ước ổn định và tăng trưởng (mức thâm hụt ngân sách không được vượt quá 3%
GDP và nợ công không được vượt quá 60% GDP), các chỉ tiêu này đều được
các quốc gia ứng viên tuân thủ nghiêm túc. Tuy nhiên, xu hướng này có dấu
hiệu đảo chiều khi Liên minh Kinh tế tiền tệ châu Âu (EMU) đi vào hoạt động.
Từ năm 2003, phần lớn các nước khu vực đồng Euro có tỷ lệ nợ trên 60%/GDP.
Điều này cho thấy các nước bắt đầu không tuân thủ nghiêm ngặt các quy định
trong EMU.
Trước cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008, nợ cơng trung bình của
EMU ổn định qua các năm ở mức xấp xỉ 70% GDP, tuy nhiên nợ cơng giữa các
nước thành viên lại có sự khác biệt tương đối lớn. Trong khi Ai-len, Tây Ban
Nha, Hà Lan duy trì mức nợ cơng dưới 60% GDP, thì hầu hết các nước khác nợ
cơng đều có xu hướng tăng lên, điển hình như Đức, Pháp và Bồ Đào Nha; nợ
công của Hy Lạp, Italia thường xuyên ở mức trên 100% GDP. Ai-len và Tây
Ban Nha ln duy trì được tình hình tài chính lành mạnh khi ngân sách thường
xuyên thặng dư và nợ công luôn ở mức thấp (nợ công Ai-len giảm đều đặn qua
các năm từ 48,6% năm 1999 cịn 27% năm 2007, nợ cơng Tây Ban Nha thường
xuyên ở mức xấp xỉ 50% GDP).
Trong và sau cuộc khủng hoảng
24

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Sau năm 2007, nợ công các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU)
đều có xu hướng tăng đáng kể, hầu hết nợ công của các quốc gia thuộc EU đều
vượt quá ngưỡng quy định của khối, do chính sách tài khố lỏng lẻo và khả
năng quản trị tài chính công kém hiệu quả.
Tháng 9/2008, cuộc khủng hoảng kinh tế tồn cầu nổ ra xuất phát từ
khủng hoảng tín dụng và nhà đất ở Mỹ đã tạo nên một “cú sốc” mạnh mẽ đến

nền kinh tế các nước thành viên EU. Để cứu vãn nền kinh tế, các quốc gia đều
phải tăng chi tiêu công, biến các khoản nợ tư nhân thành nợ công. Hệ quả là sau
thời điểm này, nợ cơng của EU đều có xu hướng tăng vọt, điển hình là Hy Lạp
và Italia đều ở mức trên 115% vào năm 2009.
Khi lợi tức trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục tăng
cao từ 3,47% vào tháng 01/2010, lên 9,73% vào tháng 07/2010 cũng chính là
dấu hiệu khởi đầu cho cuộc khủng hoảng nợ công diễn ra tại EU. Khủng hoảng
nợ công bắt đầu từ Hy Lạp, sau đó Ai-len trở thành nước thứ hai và tiếp tục lan
ra các quốc gia khác trong khu vực đồng Euro. Đỉnh điểm của cuộc khủng
hoảng nợ công là Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ai-len và Síp đã phải xin
cứu trợ quốc tế để tránh vỡ nợ. Đồng Euro liên tục mất giá, cuộc khủng hoảng
tài chính đã làm tổn thất hàng nghìn tỷ USD thu nhập tài chính của các nước
thành viên EU. Từ năm 2010, diễn biến nợ công của khu vực đồng Euro ngày
càng xấu đi khi nợ công tăng từ 65% năm 2007 lên 85% năm 2010 và ngân sách
liên tục trong tình trạng thâm hụt vượt quá mức giới hạn 3% mà EU đã đề ra.
Đối mặt với cuộc khủng hoảng này, EU đã xây dựng nên các cơ chế giải
cứu gồm nhiều giai đoạn nhằm hỗ trợ các nước thoát khỏi cảnh nợ nần, cứu vãn
các nền kinh tế tránh nguy cơ vỡ nợ. Cụ thể, tháng 5/2010, các Bộ trưởng Tài
chính các nước thuộc EU đã thành lập Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu (EFSF)
với trị giá 440 tỷEuro nhằm tài trợ vốn thông qua các khoản cho vay và bảo
lãnh, lấy lại niềm tin của thị trường. Tuy nhiên, do tính chất phức tạp và xu
hướng ngày càng mởrộng của cuộc khủng hoảng nợ, đến tháng 02/2012 các
nước EU đã thống nhất thay thế Quỹ Bình ởn tài chính châu Âu bằng “Cơ chế
25

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


×