Tải bản đầy đủ (.pdf) (36 trang)

(Tiểu luận FTU) nghiên cứu kinh nghiệm xử lý của một số quốc gia trên thế giới nhằm duy trì tính bền vững của nợ công

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (388.26 KB, 36 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
= = = = =  = = = = =

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CƠNG
NGHIÊN CỨU KINH NGHIỆM XỬ LÝ CỦA MỘT SỐ
QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI NHẰM DUY TRÌ TÍNH BỀN
VỮNG CỦA NỢ CƠNG
Nhóm 4
Nguyễn Thị Hồng Diệu: 1413320013
Nguyễn Thị Huệ Chi: 1411320011
Giảng viên: Dr.Nguyễn Thị Lan

Hà Nội – 04/2017
1

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG............................................................4
1.1. Các khái niệm................................................................................................4
1.1.1. Khái niệm nợ cơng và tính bền vững của nợ cơng....................................4
1.1.1.2. Khái niệm tính bền vững của nợ công....................................................5
1.1.2. Nguyên nhân và hậu quả của nợ công.......................................................6
1.2. Một số cơng cụ quản lý và duy trì nợ cơng của Việt Nam..........................11
1.2.1. Một số ơng cụ quản lí nợ công của Việt Nam.........................................11
1.2.2. Một số công cụ duy trì nợ cơng của Việt Nam........................................12
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ NỢ CÔNG CỦA CÁC QUỐC GIA
TRÊN THẾ GIỚI.....................................................................................................13


2.1. Quốc gia thất bại trong việc quản lý nợ công - Philippines........................13
2.2. Các nước thành cơng trong quản lí nợ cơng...............................................16
2.2.1. Các quốc gia có nợ cơng thấp, bền vững:................................................16
2.2.2. Các nước nợ công cao, bền vững.............................................................21
CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM
..................................................................................................................................29
3.1. Đánh giá thực trạng nợ công hiện nay ở Việt Nam.....................................29
3.2. Những khuyến nghị rút ra từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới.......30
3.2.1 Những khuyến nghị rút ra từ kinh nghiệm của các nước có nợ cơng thấp
bền vững.............................................................................................................30
3.2.2. Những khuyến nghị rút ra từ kinh nghiệm của các nước có nợ cơng cao
bền vững.............................................................................................................32
KẾT LUẬN..............................................................................................................35

2

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


LỜI MỞ ĐẦU
Đối với mọi quốc gia, vay nợ là một nguồn lực tài chính có vai trị quan trọng trong
việc bổ sung vốn góp phần cân đối cán cân ngân sách Nhà nước. Dù là các nước “nghèo”,
các nước đang phát triển hay những nước phát triển đều cần đi vay để đáp ứng các nhu
cầu sử dụng của chính phủ. Bởi vậy, trong suốt chiều dài lịch sử kinh tế thế giới đến nay,
hầu như khơng có nền kinh tế nào - dù chậm phát triển, đang phát triển hay phát triển tránh được mối lo nợ công.
Thông thường, nguyên nhân đầu tiên và cũng là chính yếu dẫn tới khủng hoảng nợ
công là khả năng quản trị tài chính cơng yếu kém và những khoản chi tiêu của chính phủ
q lớn, vượt q kiểm sốt. Do đó, bảo đảm an tồn và bền vững nợ cơng đã trở thành
bài toán đa số các quốc gia đều phải tính đến, trong đó có Việt Nam.
Đó cũng chính là lí do tiểu luận về vấn đề “Nghiên cứu kinh nghiệm xử lý của một

số quốc gia trên thế giới nhằm duy trì tính bền vững của nợ cơng” ra đời. Thông qua
việc nghiên cứu thực tiễn, tham khảo các đánh giá của chuyên gia và phân tích số liệu về
nợ cơng cả ở trong nước lẫn nước ngồi, nhóm tác giả hi vọng rằng tiểu luận này có thể
mang đến cho người đọc cái nhìn tổng quan nhất về thực trạng nợ cơng ở Việt Nam.
Nhóm tác giả định hướng giới thiệu những bài học về quản lý nợ công bền vững của một
số quốc gia trên thế giới, từ đó đề ra giải pháp cho những vấn đề tồn tại trong quản lý nợ
công ở nước ta.
Do hạn chế về thời gian và năng lực, bài tiểu luận chắc chắn có những thiếu sót. Rất
mong nhận được sự góp ý từ quý độc giả để bài viết được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!

3

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NỢ CÔNG
1.1. Các khái niệm
1.1.1. Khái niệm nợ cơng và tính bền vững của nợ công
1.1.1.1. Khái niệm nợ công:
Theo MOF (Luật quản lý Nợ cơng số 29/2009/QH12): Nợ cơng bao gồm nợ chính
phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Trong đó:
- Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được
ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do
Bộ tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính
khơng bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện
chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
- Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài hính, tín
dụng vay trong nước, nước ngồi được chính phủ bảo lãnh.
- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực

thuộc trung ương (sau đây gọi chung là ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc
ủy quyền phát hành.

4

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


1.1.1.2. Khái niệm tính bền vững của nợ cơng
Mặc dù được thảo luận từ rất lâu, tính bền vững của nợ cơng vẫn chưa được định
nghĩa rõ ràng. Cho đến nay, việc đánh giá tính ổn định và mức độ bền vững của nợ công
chủ yếu được thực hiện qua việc đánh giá các chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ nợ nước ngoài/xuất khẩu (NPV/X): Đo lường giá trị hiện tại rịng của nợ nước
ngồi liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu xuất khẩu. Ngưỡng an
toàn của tỷ lệ này là 150%.
- Tỷ lệ nợ nước ngoài/thu ngân sách nhà nước (NPV/DBR): Đo lường giá trị hiện tại
ròng của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồn thu ngân
sách nhà nước. Ngưỡng an toàn của tỷ lệ này là 250%.
- Một quốc gia được xem là an toàn nếu như tỷ lệ NPV/X nhỏ hơn 150%; tỷ lệ
NPV/DBR nhỏ hơn 250%. Theo mức ngưỡng của HIPCs, chỉ tiêu thứ hai chỉ được sử
dụng nếu như đáp ứng hai điều kiện: Tỷ lệ xuất khẩu/GDP (X/GDP) phải lớn hoặc bằng
30%; tỷ lệ thu ngân sách nhà nước/GDP (DBR/GDP) phải lớn hơn 15%.

5

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


1.1.2. Nguyên nhân và hậu quả của nợ công
1.1.2.1. Nguyên nhân gây ra nợ công

Thứ nhất, khi bội chi ngân sách lớn và kéo dài thì vay nợ sẽ trở thành nguồn lực chính
để bù đắp vào thâm hụt ngân sách. Đây là ngun nhân chính khiến tình hình nợ công
ngày càng trở thành gánh nặng lớn cho nền kinh tế. Chi tiêu công mở rộng gây sức ép lên
thâm hụt ngân sách của nhà nước. Thâm hụt thương mại ln duy trì ở mức cao và kéo
dài. Một tỷ lệ khá lớn vốn tài trợ cho thâm hụt cũng đến từ bên ngồi, trong đó số tiền vay
nợ (qua ODA, vay thương mại, phát hành trái phiếu chính phủ quốc tế) ngày càng lớn.
Thứ hai, vay nước ngoài quá nhiều sẽ gây tác động không tốt đến nền kinh tế. Thời
gian đầu, một dòng ngoại tệ lớn chảy vào trong nước sẽ làm giảm sức ép cân đối ngoại tệ.
Trung và dài hạn, việc Chính phủ phải cân đối nguồn ngoại tệ trả nợ gốc và lãi đẩy nhu
cầu ngoại tệ tăng cao, gây mất giá đồng nội tệ, tăng chi phí nhập khẩu máy móc thiết bị và
ngun liệu, tăng chi phí đầu vào của nền kinh tế, dẫn tới các nguy cơ lạm phát. Sự mất
giá của tiền đồng Việt Nam đã tạo ra nhiều khó khăn hơn cho các doanh nghiệp trong việc
trả nợ, khiến nợ công ngày càng gia tăng.
Thứ ba, thâm hụt ngân sách đã trở thành căn bệnh kinh niên, đầu tư lại không ngừng
mở rộng kéo theo lạm phát và lãi suất cao khiến cho việc hồn trả nợ cơng ngày càng trở
nên đắt đỏ. Trong khi các nước phát triển vẫn duy trì mức lãi suất sàn thấp lịch sử nhằm
kích thích sự phục hồi kinh tế và chấp nhận lạm phát trong chừng mực nhất định.
Thứ tư, đầu tư công cao và kém hiệu quả trong bối cảnh tiết kiệm của nhà nước giảm
là một trong những nguyên nhân làm tăng nợ công. Đầu tư công chưa hiệu quả là nguồn
gốc lớn nhất làm tăng nợ công. Đầu tư công ở châu Âu và Mỹ trở thành tâm điểm gây bất
ổn kinh tế toàn cầu và đã dẫn đến khủng hoảng nợ công 2010.

6

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


1.1.2.2. Hậu quả của nợ công quá cao
Khi một quốc gia có nợ cơng q cao, những hậu quả xấu về mặt kinh tế - chính trị
phải kể đến là:

 Nợ cơng lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân (private saving), dẫn đến hiện
tượng thoái lui đầu tư tư nhân.
Khi chính phủ tăng vay nợ, đặc biệt là vay trong nước, lúc này mức tích lũy vốn tư
nhân sẽ được thay thế bởi tích lũy n ợ chính phủ. Thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu
doanh nghiệp hay gửi tiết kiệm ngân hàng, dân chúng lại sở hữu trái phiếu chính phủ làm
cho cung về vốn giảm trong khi cầu tín dụng của chính phủ lại tăng lên, từ đó đẩy lãi suất
tăng, chi phí đầu tư tăng và có thể dẫn đến hiện tượng “thối lui đầu tư” khu vực tư nhân.
 Nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát
Lạm phát được tạo ra do hai nguyên nhân chính: Do tổng cầu tăng lên hoặc do chi phí
đẩy. Chính phủ tăng vay nợ bằng phát hành trái phiếu, một mặt làm tiêu dùng của chính
phủ tăng lên, một mặt sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất lên cao. Khi tăng vay nợ trong nước, lãi
suất tăng làm tăng chi phí đầu tư, tăng giá thành và giá bán sản phẩm. Bên cạnh đó lãi
suất tăng, người nắm giữ trái phiếu chính phủ cảm thấy mình trở nên giàu có hơn và có
thể tiêu dùng nhiều hơn. Tiêu dùng tư nhân tăng, chi tiêu cơng của chính phủ tăng dẫn đến
cầu hàng hóa, dịch vụ tăng, tạo áp lực lạm phát trong ngắn hạn, từ đó tác động tiêu cực
đến tốc độ tăng trưởng thực của nền kinh tế (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ
lạm phát). Khi chính phủ tăng vay nợ nước ngồi, một dịng ngoại tệ lớn sẽ chảy vào
trong nước có thể giảm sức ép cân đối ngoại tệ trong ngắn hạn. Về mặt dài hạn, áp lực trả
nợ cả gốc và lãi bằng ngoại tệ sẽ đẩy cầu ngoại tệ tăng lên, đồng nội tệ giảm giá làm tăng
chi phí đầu vào khi nhập khẩu ngun liệu, máy móc, thiết bị... dẫn tới nguy cơ lạm phát.
Tỷ giá tăng làm chi phí thanh tốn nợ trở nên đắt đỏ hơn, nếu vượt quá sức chịu đựng
của ngân sách sẽ dẫn đến nguy cơ vỡ nợ.
 Nợ công làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội
Dù chính phủ lựa chọn phương án vay nợ trong nước hay vay nước ngồi thì đều có
tác động làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội. 2 Bản tin nợ
nước ngồi số 7 – Bộ Tài chính 7 Nếu vay nước ngoài, nguồn để trả nợ cả gốc và lãi chỉ

7

LUAN VAN CHAT LUONG download : add



có thể lấy từ các khoản thu thuế. Người dân phải chịu một khoản thuế cao hơn trong
tương lai để trả lãi cho các đối tượng ngoài quốc gia sẽ làm giảm thu nhập, giảm tiêu
dùng... từ đó giảm chất lượng cuộc sống. Vay trong nước có thể được coi là ít tác động
hơn bởi lý do chính phủ nợ chính cơng dân nước mình và cũng chính họ là người được
hưởng thụ các lợi ích do các khoản chi tiêu công tạo ra. Tuy nhiên, ngay cả khi một người
bị đánh thuế để trả lãi cho chính họ do đang sở hữu trái phiếu chính phủ thì vẫn có những
tác động khiến cho các hoạt động kinh tế của người đó bị bóp méo. Dù cho Chính phủ
dùng loại thuế nào (thuế thu nhập, thuế tiêu dùng, thuế tài sản…), đánh thuế dưới hình
thức nào (trực tiếp, gián tiếp) cũng sẽ dẫn đến những sai lệch trong các hoạt động kinh tế
của một cá nhân như thay đổi hành vi tiết kiệm, tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt
động kinh tế vi mô, vĩ mô khác như: sản xuất, việc làm... Bên cạnh đó, việc tăng thuế để
trả lãi vơ hình chung đã tạo ra sự phân phối lại thu nhập giữa những người nộp thuế và
người sở hữu trái phiếu chính phủ, theo đó người nộp thuế chắc chắn phải gánh chịu sự
suy giảm về thu nhập, tiêu dùng hoặc tiết kiệm.
 Nợ công gây bất ổn chính trị
Khi nợ cơng q lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách "thắt lưng buộc
bụng" để giảm thâm hụt ngân sách dễ dẫn tới những cuộc biểu tình phản đối của quần
chúng, gây căng thẳng, bất ổn chính trị, bởi những người nghèo, những người yếu thế
trong xã hội là những người chịu ảnh hưởng lớn nhất từ chính sách cắt giảm phúc lợi của
chính phủ. Cách đây 14 năm, năm 2001, Argentina đã phải đối mặt với tình trạng rối loạn
nghiêm trọng do các làn sóng biểu tình khắp nơi phản ứng các biện pháp "thắt lưng buộc
bụng", để rồi Tổng thống Argentina khi đó là ông Fernando de la Rúa đã phải từ chức, và
4 ngày sau đó, người kế nhiệm là Adolfo Rodríguez Sấ phải tun bố tình trạng vỡ nợ
quốc gia, với khoản nợ 90 tỉ USD – mức nợ lớn nhất trong lịch sử đất nước này.
 Nợ công cao khiến ngân sách không đủ để chống chọi với các cuộc khủng hoảng
trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tế tồn cầu mới thốt khỏi khủng hoảng, bắt đầu có
dấu hiệu phục hồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế mà chính phủ các nước đã chi
ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư,

kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làm chậm tốc độ tăng trưởng. Vấn đề đặt ra cho các
chính phủ là phải chèo lái để giải quyết được thâm hụt ngân sách nhưng không đẩy nền

8

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


kinh tế trở lại tình trạng suy thối, trong khi các biện pháp để giải quy ết hai vấn đề này
lại có tác động khơng thuận chiều.
 Các quốc gia có nợ cơng q cao sẽ phải đối mặt với nạn đầu cơ – nguy cơ kéo sụp
cả hệ thống kinh tế khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo
cáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác, niềm tin
của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn công
của các thế lực đầu cơ quốc tế. Nếu chính phủ muốn huy động tiền từ thị trường tài chính
sẽ phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó, rơi vào vịng xốy: tiếp tục bị tụt bậc tín
nhiệm. Việc đưa ra xếp hạng tín nhiệm trong thời điểm nhạy cảm, dễ tổn thương của nền
kinh tế có nguy cơ làm cho cuộc khủng hoảng thêm trầm trọng, có tác dụng như một "cú
huých", đẩy nền kinh tế lún sâu thêm vào khó khăn, bế tắc.
 Nợ cơng cao làm giảm sự độc lập về chính trị hoặc mất niềm tin vào khả năng lãnh
đạo quốc gia. Các quốc gia phải chịu sức ép từ phía chủ nợ và các tổ chức tài chính quốc
tế về việc phải thắt chặt chi tiêu, tăng thuế, giảm trợ cấp xã hội, và xa hơn nữa là những
yêu cầu về cải cách thể chế, thay đổi bộ máy quản lý, thay đổi các định hướng kinh tế...
Ngoài ra, việc lệ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nợ nước ngoài cũng sẽ làm giảm vị
thế của quốc gia trong các mối quan hệ song phương, đa phương với các đối tác là các
nước chủ nợ.
Cịn khi nợ cơng cao đến ngưỡng mà Chính phủ không thể trả nổi và buộc phải tuyên
bố vỡ nợ, nền kinh tế trong nước sẽ suy sụp, biểu hiện là:
- Thị trường chứng khoán sụp đổ và điểm tín dụng xuống cấp thê thảm.
- Các định chế tài chính sẽ đóng cửa. Tiền mất giá, lạm phát leo thang, trái phiếu và

đồng nội tệ sẽ chỉ còn là mớ giấy lộn. Tiền gửi trong ngân hàng “bốc hơi” vì mất giá trị.
- Mọi chương trình do chính phủ tài trợ đều ngưng hoạt động (y tế, cảnh sát, an
ninh, quốc phòng, giáo dục, cầu, đường, năng lượng v…v…). Quỹ hưu trí tan vỡ, trường
học ngưng hoạt động.
- Các thương vụ đóng cửa và nạn thất nghiệp tràn lan. Mọi mặt hàng khan hiếm kể
cả nhu yếu phẩm. Giá cả tăng vọt. Đời sống của người dân sẽ bị đảo lộn hoàn toàn.
- Nội loạn sẽ xảy ra và khơng có người để duy trì trật tự cơng cộng. Nạn đói và cướp
bóc sẽ xảy ra. Hiện tượng vơ kỷ luật, vơ trật tự, vơ tổ chức sẽ hồnh hành.

9

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


- Xuất hiện kẻ lợi dụng cuỗm tiền bạc quốc gia và trốn ra nước ngoài. Mối nguy hại
sâu xa hơn là con cháu của quốc gia đó sẽ phải trả nợ dài hạn – thậm chí có thể suốt đời,
và kéo dài nhiều thế hệ. Tiền trả các món nợ đó sẽ cướp đi cơ hội đầu tư để phát triển đất
nước. Quốc gia đó sẽ tiếp tục đi giật lùi so với đà phát triển của thế giới, và có thể bị chi
phối, khai thác, thao túng bởi những thành phần xấu trong cộng đồng dân tộc cũng như
ngoại bang.
Qua những hệ lụy kể trên chúng ta có thể thấy, việc nghiên cứu làm rõ bản chất kinh
tế của nợ công trên nền tảng các quan điểm của kinh tế học về nợ công là điều hết sức cần
thiết. Nó sẽ giúp các nhà làm luật xây dựng các quy định pháp luật phù hợp với tình hình
kinh tế – xã hội nhằm đạt được hiệu quả trong sử dụng nợ công ở Việt Nam. Đồng thời,
thông qua việc nghiên cứu một các cụ thể và toàn diện về nợ cơng, Chính phủ sẽ có một
cái nhìn đúng đắn về các khoản nợ để từ đó đề ra những biện pháp kịp thời và hiệu quả
nhằm cân đối chi tiêu ngân sách và giữ nợ công trong nước ln ở mức ổn định. Tránh để
xảy ra tình trạng “nước đến chân mới nhảy” gây nên những hậu quả xấu về mặt kinh tế chính trị khơng thể cứu vãn.

10


LUAN VAN CHAT LUONG download : add


1.2. Một số cơng cụ quản lý và duy trì nợ công của Việt Nam
1.2.1. Một số ông cụ quản lí nợ cơng của Việt Nam
Chiến lược quản lý nợ và các chỉ tiêu an tồn nợ: do Bộ Tài chính xây dựng, báo cáo
Chính phủ trình Quốc hội. 
Kế hoạch vay trả nợ công trung hạn cho giai đoạn 5 năm: do Bộ Tài chính xây dựng,
báo cáo Chính phủ trình Quốc hội (tương ứng với công cụ mục tiêu định hướng huy động,
sử dụng vốn vay nợ công trong giai đoạn 5 năm theo quy định của Luật hiện hành, do
Quốc hội phê duyệt), gồm các nội dung như đánh giá thực trạng nợ công và công tác quản
lý nợ công trong giai đoạn thực hiện Chiến lược trước đó; mục tiêu, định hướng huy
động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ cơng,…
Chương trình quản lý nợ trung hạn cho giai đoạn 3 năm: do Bộ Tài chính xây dựng,
trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (tương tự như quy định hiện nay tại Luật Quản lý
nợ công về thẩm quyền phê duyệt).
Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hàng năm: do Bộ Tài chính xây dựng, trình Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt (tương tự như quy định hiện nay tại Luật Quản lý nợ công về thẩm
quyền phê duyệt), gồm các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về huy động, sử dụng vốn
vay, trả nợ và cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý nợ trong giai đoạn 3 năm liền kề để
thực hiện các chỉ tiêu an toàn về nợ đã được Quốc hội xác định trong mục tiêu, định
hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công.
Quản lý rủi ro đối với danh mục nợ công: nội dung này kế thừa một số quy định hiện
nay tại Quyết định số 56/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản
lý và xử lý rủi ro đối với danh mục nợ công, đồng rời rút kinh nghiệm từ những vướng
mắc thời gian qua trong triển khai công tác này và tham khảo kinh nghiệm, thông lệ quốc
tế.
Giám sát, phân tích, đánh giá bền vững nợ công: đây là nội dung công cụ mới, được
bổ sung nhằm tăng cường công tác giám sát, trách nhiệm của các cơ quan trong cung cấp

thông tin phục vụ công tác giám sát và các nội dung cơ bản của công tác giám sát và phân
tích bền vững nợ và tần suất thực hiện công cụ quản lý giám sát. 

11

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


1.2.2. Một số cơng cụ duy trì nợ cơng của Việt Nam
Nhà nước có nhiều cơng cụ duy trì nợ cơng, trong nghiên cứu này, nhóm tác giả xin
đưa ra một số công cụ chủ yếu, được sử dụng nhiều hơn cả. Các cơng cụ có thể kể ra là:
- Phát hành trái phiếu chính phủ
Chính phủ có thể phát hành Trái phiếu chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân. Trái
phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là khơng có rủi ro tín dụng vì Chính phủ
có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn. Trái phiếu
chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi ro tín
dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể khơng có đủ ngoại tệ
để thanh tốn và ngồi ra cịn có rủi ro về tỷ giá hối đối.
- Vay trực tiếp
Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế
siêu quốc gia (ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế)... Hình thức này thường được Chính phủ của
các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đó khả năng vay nợ bằng hình thức
phát hành trái phiếu chính phủ của họ khơng cao.
- Quỹ tích lũy trả nợ
Mới đây vào ngày 07 tháng 01 năm 2013, chính phủ Việt nam đã quyết định thành
lập “Quỹ tích lũy trả nợ”. Nguồn thu của Quỹ tích lũy trả nợ bao gồm:
Các khoản thu hồi nợ từ các khoản vay về cho vay lại của Chính phủ;
 Phí bảo lãnh chính phủ;
 Thu hồi các khoản tạm ứng vốn từ Quỹ này theo quy định của Chính phủ;
 Lãi tạm ứng vốn và lãi từ hoạt động cơ cấu lại nợ chính phủ;

 Lãi tiền gửi hoặc uỷ thác quản lý nguồn vốn của Quỹ tích lũy trả nợ;
 Các khoản thu hợp pháp khác

12

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ NỢ CÔNG CỦA CÁC QUỐC
GIA TRÊN THẾ GIỚI
Trong 50 năm qua, thế giới đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ nợ công của các
nước, đặc biệt là các khoản nợ nước ngoài mà nguyên nhân chính là để bắt kịp tốc độ tăng
trưởng kinh tế chung của thế giới, nhiều nước buộc phải vay nợ nước ngồi để phát triển
kinh tế. Nhìn lại suốt chiều dài lịch sử kinh tế thế giới đến nay, hầu như khơng có nền
kinh tế nào - dù chậm phát triển, đang phát triển hay phát triển - tránh được mối lo khủng
hoảng nợ công. Thực tế cho thấy khủng hoảng nợ công chỉ xảy ra khi chính phủ của một
quốc gia khơng thể trả nợ đúng hạn nên phải tuyên bố phá sản hoặc đề nghị cộng đồng
quốc tế cứu trợ. Kinh nghiệm của những nước có nợ cơng thấp bền vững và những nước
có nợ công cao bền vững trong chiến lược quản lý nợ công tại thời điểm hiện nay sẽ là bài
học hữu ích cho Việt Nam tham khảo.
2.1. Quốc gia thất bại trong việc quản lý nợ công - Philippines
Trong quá khứ, nhiều cuộc khủng hoảng nợ đã từng diễn ra, điển hình là Philippines.
Năm 2004, nợ của khu vực cơng bằng 125% tổng sản phẩm quốc nội (GDP); thanh toán
lãi suất và nợ đang là một gánhnặng lớn đối với nền kinh tế nước này chiếm đến 68% chi
tiêu của Chính phủ trong năm 2004. Bên cạnh đó, trong những năm qua hệ số tín nhiệm
của Philippines bị hạ thấp trong bảng xếp hạng của các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm
quốc tế, điển hình là dịng FDI vào nước này càng giảm dần, năm 2004 chỉ cịn 0,1 tỷ
USD.
Trước đó, thời điểm 1983 – 1984 tình hình kinh tế vĩ mơ vơ cùng ảm đạm các nguồn
thu để trả nợ gần như cạn kiệt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm từ 5,15% năm 1980

xuống còn 1,87% năm 1983 và lao đột ngột xuống - 7,32% năm 1984. Tốc độ tăng trưởng
xuất khẩu cũng giảm dần, thậm chí mang giá trị âm trong giai đoạn 1982 - 1985. Dự trữ
ngoại tệ quá mỏng, vào hai năm trước khủng hoảng năm 1982 chỉ có hơn 7 tuần nhập
khẩu. Tình trạng nợ nần cũng khơng có gì khả quan. Từ một nước khơng có nợ q hạn
trước năm 1975, Philippines bắt đầu xt hiện nợ quá hạn năm 1976 và nợ quá hạn tăng
với tốc độ chóng mặt từ 1 triệu đơ la trong những năm 1976 - 1982 lên đến 762 triệu đô la
năm 1985 và đẩy Philippines rơi vào khủng hoảng nợ. Vào cuối thập niên 70, lãi suất thế

13

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


giới tăng cao và cơn sốc dầu mỏ lần thứ hai đã đẩy chi phí vay vốn lên cao; sự suy thối
của các quốc gia cơng nghiệp và do vậy giảm nguồn cung cấp vốn từ bên ngoài. Lãi suất
thời kỳ này còn cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Các khoản
vay mượn vốn rẻ trước khi có cơn sốt dầu mỏ đến thời hạn trả nợ làm luồng vốn chảy ra
bên ngoài càng ngày càng tăng. Thâm hụt ngân sách triền miên do chương trình mở rộng
đầu tư và quốc phịng đầy tham vọng của chính quyền Marcos. Chi ngân sách tăng nhanh
chóng, lên đến cực điểm trong chiến lược vận động tranh cử hoang phí trong lịch
sử Philippines từ 1969; chênh lệch giữa tỷ lệ tích lũy và tỷ lệ đầu tư khiến cho nợ của
Philippines tích lũy ngày càng cao. Cơ cấu đầu tư không hợp lý, theo, Philippines thời
điểm này đang theo đuổi một chiến lược xuất khẩu đa dạng hóa, tập trung vào lĩnh vực
sản xất hàng cơng nghiệp với các ngành công nghiệp non trẻ được bảo hộ với quy mơ sản
xuất lớn trong khi đó Philippines lại là một nước nơng nghiệp thâm dụng lao động. Chính
việc phân bố nguồn lực không dựa trên lợi thế so sánh này chẳng những đã không tạo
được nguồn thu ngoại tệ để trả nợ mà còn làm gia tăng gánh nặng nợ do việc nhập khẩu tư
liệu sản xuất và gia tăng tính kém hiệu quả của nền kinh tế. Bên cạnh đó, hệ thống tài
chính yếu kém tác động mạnh mẽ lên nền kinh tê vĩ mơ nói chung, lên tính thanh khoản
và khả năng trả nợ nước ngồi nói riêng. Hậu quả là nợ nước ngồi gia tăng, tiết kiệm tài

chính thấp và dễ bị tổn thương. 
Thứ nhất, hệ thống ngân hàng thiếu tính cạnh tranh, phân khúc và mang nặng cách
quản lý của ngành độc quyền. Hệ thống ngân hàng Philippines bị phân khúc thành hai
phần, một phân khúc thuộc về thị trường tài chính khơng chính thức và phân khúc còn lại
thuộc về hệ thống ngân hàng chính thức. Hệ thống ngân hàng chính thức chủ yếu là các
ngân hàng thuộc sở hữu Nhà nước được đánh giá bằng các tiêu chuNn khác hẳn ngân
hàng tư nhân, tập trung cho vay một số ít doanh nghiệp lớn thuộc các ngành sản xuất công
nghiệp và điện tử. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ và hộ sản xuất không tiếp cận được với
nguồn vốn chính thức phải vay thị trường phi chính thức với lãi suất cao.
Thứ hai, hệ thống tài chính yếu kém khơng thu hút được nguồn vốn trong nước và
cho vay với hạn mức tín dụng đã giới hạn số khách hàng vay mượn và đặt hệ thống tài
chính phải đối mặt với nhiều rủi ro và dễ bị tổn thương. Các ngân hàng không ngừng

14

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


vay mượn nước ngoài khi nguồn vốn thế giới dồi dào và không ngừng mở rộng bảo lãnh
cho các doanh nghiệp.
Thứ ba, hệ thống giám sát yếu kém khiến cho các luật lệ. của Ngân hàng Trung ương
kém hiệu quả.
Thứ tư, trong khi hệ thống tài chính yếu kém khơng kiểm sốt được tỷ giá hối đối lại
thực hiện tự do hóa luồng vốn khá sớm, dẫn đến hiện tượng chảy máu vốn tăng cao. Việc
cố định tỷ giá buộc Ngân hàng Trung ương phải thường xun sử dụng nghiệp vụ
trung hịa hóa để giữ tỷ giá cố định làm tăng tích tụ nợ và giảm cơ hội sử dụng ngoại tệ dự
trữ để đầu tư; việc cố định tỷ giá cũng làm cho sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu
giảm làm giảm nguồn thu ngoại tệ trả nợ.
Những lý do trên khiến Philippines luôn lâm vào trạng thái thiếu khả năng trả nợ và
dẫn đến dễ tổn thương trước những cú sốc từ bên ngoài và khi các doanh nghiệp lớn rơi

vào tình trạng khó khăn tài chính khi lãi suất thế giới tăng cao do cơn sốt dầu mỏ lần thứ
hai.

15

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


2.2. Các nước thành cơng trong quản lí nợ cơng
2.2.1. Các quốc gia có nợ cơng thấp, bền vững:
2.2.1.1. Nga
Kinh tế Nga là nền kinh tế lớn thứ 12 trên thế giới sau Hàn Quốc (11) và Canada (10)
tính đến năm 2016 với GDP 3.745 tỉ USD. Nguồn thu chủ yếu của Nga dựa vào xuất khẩu
hàng hóa, cụ thể là dầu mỏ, khí đốt, kim loại và gỗ, các mặt hàng này chiếm 80% kim
ngạch xuất khẩu. Cuối năm 2008 và đầu năm 2009, nền kinh tế bắt đầu suy thoái sau 10
năm phát triển, cho đến khi nền kinh tế ổn định trở lại vào cuối 2009 và đầu 2010. Mặc dù
bị suy thoái nhưng nền kinh tế vẫn không bị ảnh hưởng nặng bởi cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu so với các nước láng giềng, một phần là do chính sách kinh tế thích hợp đã
giúp nền kinh tế khơng bị suy thối nặng. Tính đến tháng 4 năm 2016, nợ cơng của Nga
đạt 13.7% GDP là nước có mức nợ cơng gần như thấp nhất Châu Âu do từ năm 2004,
Tổng thống V.Putin đã đặt ra nhiệm vụ cho Chính phủ là phải giảm đến mức thấp nhất
mức nợ công từ các khoản vay của nước ngoài.
Theo trang tin tradingeconomics.com, nước Nga ghi nhận nợ chính phủ năm 2015
tương đương 17,70%/GDP trong năm 2015. Nợ cơng/GDP của Nga nằm ở mức trung
bình 24,92% từ năm 1999 đến năm 2015, trong đó cao nhất là năm 1999 với mức 99,00%
và mức thấp nhất là 6,50% trong 2008.

16

LUAN VAN CHAT LUONG download : add



Biểu đồ gia tăng nợ công của Nga từ 2006 - 2016. Nguồn : tradingeconomics.com
Nhìn vào biểu đồ cho thấy gia tăng nợ công của Nga trong giai đoạn 2006 – 2016 là
rất chậm. Trong khi đó từ năm 2014 kinh tế Nga đã bị bao vây bởi lệnh cấm vận, song
chính phủ Nga vẫn khơng chọn gia tăng nợ cơng làm nền tảng thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế. Điều này chứng tỏ Moscow sẽ không sử dụng tối đa liệu pháp gia tăng nợ công trong
điều hành kinh tế. Để đối phó với thâm hụt ngân sách, trong khoản vay 10 rúp thì 9 rúp sẽ
lấy từ thị trường nội địa. Năm 2012-2014 tổng số tiền vay trong nước hàng năm là 2
nghìn tỉ rúp (khoảng 67 tỷ dollar) và chỉ có 200 tỷ rúp (khoảng 6,7 tỷ dollar) là vay mượn
bên ngồi. Trong đó, việc thực thi chính sách nợ này sẽ được tiến hành trên nền đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, hạ thấp lạm phát, nâng chút ít mức giá thấp hơn giá
hydrocarbon và bình ổn tỷ giá bản tệ quốc gia. Kết quả là đến năm 2014 thâm hụt ngân
sách của Nga cần phải giảm từ 2,7 xuống 2,3%, cho phép tích lũy quĩ tự chủ. Với tính
tốn rằng các thu nhập cơ bản từ việc bán dầu mỏ và khí đốt sẽ được dùng để trang trải
các khoản chi trong nước, trong đó có kinh phí xã hội, vai trị “lực sĩ” đấu tranh với thâm
hụt ngân sách vẫn sẽ là các khoản nợ công.
Các chính sách về nợ cơng của Liên bang Nga trong những năm gần đây được thực
hiện để phù hợp với các mục tiêu:

17

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


 Duy trì một gánh nặng nợ thấp là một lợi thế cạnh tranh quan trọng đối với Nga.
Ổn định thị trường vốn trong nước hướng tới việc tài trợ cho nhu cầu, ngân sách
 Duy trì xếp hạng tín dụng cao, thực hiện các quy định cần thiết để nâng mức xếp
hạng tín dụng
 Đảm bảo thị trường trong và ngồi nước tiếp tục đón nhận Liên Bang Nga, có

những điều khoản hợp lý và giảm chi phí cho các khoản vay từ khách hàng vay của Nga
 Tăng cường hệ thống quản lý hiện đại của các khoản nợ công của Nga, mở rộng
các hoạt động thiết thực của các cơ quan tài chính nhà nước Nga
 Hỗ trợ khu vực doanh nghiệp Nga thơng qua khuyến khích áp dụng một chiến lược
nợ nước ngoài thận trọng.
Bên cạnh đó, các mức thực tế của khoản vay sẽ phụ thuộc vào việc thực hiện ngân
sách liên bang và các điều kiện thị trường trong và ngoài nước. Mức nợ trong nước và
nước ngồi tổng hợp sẽ vẫn ơn hịa và bền vững. Có thể thấy, nước Nga theo đuổi một
chính sách về nợ cơng rất thận trọng, phát huy tối đa nguồn lực trong nước, không “vung
tay quá trán” như một số nước Châu Âu, điều đó khiến cho nền kinh tế Nga ít bị ảnh
hưởng bởi khủng hoảng kinh tế 2008-2009, cũng như vẫn đứng vững trước lệnh trừng
phạt đến từ phía hoa Kỳ và các nước Châu Âu.

18

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


2.2.1.2. Indonesia
Indonesia là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, được đánh giá là nền kinh tế
năng động nhất ASEAN. Giống như các quốc gia khác trong khu vực, Indonesia cũng
phải đối mặt với nợ công nhưng nhờ có chính sách phù hợp, nợ cơng của nước này vẫn
duy trì ở mức thấp.
Từ những năm 1960, Indonesia giành độc lập, việc đầu tiên cần làm là tái thiết đất
nước. Với nền kinh tế lạc hậu và gặp nhiều thương tổn do chiến tranh, Indonesia khơng
cịn cách nào khác là phải vay nợ nước ngoài để phát triển đất nước. Cho đến năm 1990,
nợ nước ngồi cịn được chính phủ sử dụng để tài trợ thâm hụt ngân sách. Khoản nợ mà
nước này phải gánh ngày càng chồng chất địi hỏi Indonesia phải có một chính sách nhằm
đưa đất nước tránh khỏi nguy cơ vỡ nợ. Trước bối cảnh đó, việc đầu tiên là phải tìm ra
ngun nhân gây bùng nổ vay nợ ở nước này. Chính phủ Indonesia đã tìm ra những

ngun nhân sau:
 Xây dựng chứng khốn nợ theo chính sách của chính phủ- gia tăng vai tò của khu
vực tư nhân như một kênh đầu tư
 Rủi ro tiền tệ ở mức tương đối vì chính phủ Indonesia áp dụng chính sách ngoại
hối hàng năm đồng Rupi giảm giá 5% so với USD. Điều này khuyến khích vay mượn từ
bên ngồi của khu vực kinh doanh
 Thiếu tính thanh khoản của nền kinh tế do chính sách tiền tẹ cố định nhằm duy trì
lạm phát một chữ số, gia tăng lãi suất trong nước, chính vì thế vay mượn nước ngoài là
một biện pháp lý tưởng
 Hạn chế những tổ chức quỹ ngồi ngân hàng vì thị trường vốn khơng phát triển
Sau khi tìm ra ngun nhân, chính phủ Indonesia đã có những chính sách phù hợp
nhằm cứu vớt nền kinh tế có nguy cơ chìm trong nợ nần.
 Thứ nhất, giải quyết gánh nặng nợ trong ngắn hạn để ngừng áp lực lên thâm hụt
ngân sách trong suốt giai đoạn khủng hoảng (1998) và điều chỉnh cơ cấu thông qua câu
lạc bộ Paris và London
 Thứ hai, thực hiện hoán đổi nợ qua hỗ trợ của câu lạc bộ Paris

19

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


 Thứ ba, trong trung và dài hạn, tiến tới giảm bớt sự phụ thuộc của quốc gia vài các
nguồn bên ngoài và đạt được mức độ an toàn trong tỷ lệ nợ cơng/GDP
 Thứ tư, khi khơng cịn sự trợ giúp từ câu lạc bộ Paris thì sẽ phát hành trái phiếu
toàn cầu
 Thứ năm, phát triển thị trường vốn nội địa 25
 Thứ sáu, quy định phát hành nợ công rõ ràng

20


LUAN VAN CHAT LUONG download : add


2.2.2. Các nước nợ công cao, bền vững
2.2.2.1. Nhật Bản
Nhật Bản là nền kinh tế đứng thứ ba thế giới, tuy nhiên tỷ lệ nợ công của nước này lại
đang đứng đầu thế giới. Cũng giống như phần lớn các nước, thành phần nợ công Nhật
Bản bao gồm trái phiếu chính phủ do Nhà nước phát hành, các khoản vay và chứng khoán
ngắn hạn nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách.
Theo thống kê của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), tỷ lệ nợ công của Nhật Bản đã vượt
mức 100% so với GDP lần đầu tiên vào năm 1997 khi Chính phủ cố gắng gia tăng chi tiêu
cơng, kích thích tiêu dùng nhằm đưa nền kinh tế thốt khỏi tình trạng trì trệ sau khi nền
kinh tế “bong bóng” bị vỡ. Tuy nhiên, những nỗ lực đó không đưa lại những kết quả như
mong muốn và Nhật Bản phải đối mặt với một giai đoạn giảm phát triền miên, chi phí
phúc lợi xã hội khơng ngừng gia tăng làm xói mịn nguồn thu từ thuế vốn ngày càng thiếu
hụt do liên tục bị cắt giảm dẫn tới hậu quả tất yếu là tỷ lệ nợ công ngày càng cao. Thâm
hụt ngân sách hàng năm của Nhật Bản là gần 10% GDP, cao hơn so với bất kỳ quốc gia
nào thuộc khu vực đồng Euro. Điều này cộng với tình trạng kinh tế trì trệ tạo nên tỷ lệ
nợ/GDP tăng 10% hàng năm. Tỷ lệ nợ cơng rịng (sau khi đã trừ đi những khoản như quỹ
lương hưu…) của Nhật Bản đã tăng gấp 10 lần và lên tới tỷ lệ 125% GDP sau gần hai
thập kỷ vừa qua.
Tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ và những nỗ lực khôi phục kinh tế
sau thảm họa động đất và sóng thần đã tiếp tục làm gia tăng số nợ công của Nhật Bản.
Năm 2011, tổng số nợ cơng của Chính phủ đã gấp đơi GDP. Số nợ cơng ngày càng gia
tăng trong năm 2012 khi Chính phủ Nhật Bản tiếp tục chi các khoản đầu tư lớn để tái thiết
những khu vực bị tàn phá bởi thảm họa động đất, sóng thần tháng 3/2011. Những khoản
chi tiêu này đã giúp nền kinh tế lớn thứ ba thế giới ổn định hơn, tuy nhiên, các gói kích
thích kinh tế và các can thiệp vào thị trường tiền tệ nhằm ghìm giá đồng Yen hỗ trợ cho
ngành sản xuất đã làm tăng nợ công của Nhật Bản tới mức kỷ lục là 983.300 tỷ Yen

(12.400 tỷ USD), tính tới thời điểm tháng 9/2012.
Trong số nợ khổng lồ trên, nợ trái phiếu Nhật Bản là 803,74 nghìn tỷ Yen, nợ từ các
định chế tài chính là gần 54,2 nghìn tỷ Yen và 125,3 nghìn tỷ Yen hối phiếu cho các nhu

21

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


cầu tài chính ngắn hạn. Tỷ lệ nợ cơng tính trên đầu người của Nhật Bản là 7,71 triệu Yen
là mức nợ công cao nhất trong số các nước phát triển.
Ngoài ra, Nhật Bản sẽ phát hành 8.000 tỷ Yen trái phiếu có ngân sách bổ sung cho
năm tài khóa 2012. Bộ Tài chính Nhật Bản dự báo, nợ cơng của nước này trong năm tài
khóa sẽ kết thúc vào ngày 31/3 vượt 1 triệu tỷ Yen. Đây thực sự là mối nguy hại lớn với
Nhật Bản trong bối cảnh nền kinh tế chưa thực sự ổn định sau thảm họa động đất - sóng
thần cùng những tác động khó tránh từ cuộc khủng hoảng nợ công của khu vực Eurozone.
Theo dự báo của IMF, nợ công trong năm 2013 của Nhật Bản sẽ lên tới 245% GDP cao
nhất thế giới và gấp đơi Mỹ.
Ngun nhân
Tình trạng nợ cơng hiện nay của Nhật Bản là hậu quả tất yếu của những giải pháp mà
Chính phủ đã tiến hành trong quá khứ trong nỗ lực đưa nền kinh tế ra khỏi giai đoạn suy
thối triền miền. Có thể nêu những ngun nhân chính sau:
Thứ nhất, chi tiêu cơng kích thích tăng trưởng kinh tế: Giải pháp truyền thống
Chính phủ Nhật Bản thường sử dụng để khắc phục tình trạng khủng hoảng chu kỳ trong
hai thập kỷ vừa qua là việc dựa vào ngân sách bổ sung hoặc các chương trình kích thích
kinh tế trọn gói nhằm kích cầu trong nước thơng qua việc mở rộng các cơng trình cơng
cộng. Nhật Bản là quốc gia có những gói kích cầu lớn nhất cả về tổng giá trị cũng như tỷ
lệ trên GDP.
Gần đây nhất, chỉ trong hai tháng 10 và 11/2012, Chính phủ Nhật đã tung ra hai gói
kích thích kinh tế trị giá 5,3 và 10 tỷ USD để ngăn ngừa nền kinh tế đang có dấu hiệu suy

thối. Vào tháng 1/2013, Chính phủ Nhật Bản cũng thơng qua một gói kích cầu mới trị
giá 227 tỷ USD (tương đương 40% GDP) với mục đích tái thiết nền kinh tế lớn thứ ba thế
giới trong đó tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng phục vụ việc hồi phục cũng như đề
phòng thảm họa, các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào năng lượng tái sinh và các
nỗ lực cải thiện lĩnh vực y tế. Những gói kích thích kinh tế lớn do Chính phủ Nhật Bản
tung ra trong hai thập kỷ vừa qua đã thổi phồng số nợ công của Nhật Bản.

22

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


Thứ hai, chi phí an sinh và phúc lợi xã hội: Nhật Bản hiện là nước có tuổi thọ cao
nhất thế giới (83 tuổi) với gần 25% trong tổng số 127 triệu dân ở độ tuổi trên 65 và dự
báo đến năm 2060, người già có thể chiếm tới 40% dân số. Tỷ lệ dân số già cao đang đặt
Chính phủ Nhật Bản vào tình thế khó khăn trong việc bảo đảm lương hưu và chăm sóc y
tế cho đội ngũ đơng đảo những người nghỉ hưu. Chi phí an sinh xã hội ước tăng 800 tỷ
Yen và chiếm phần lớn nhất trong ngân sách của năm tài khóa 2013-2014. 
Để hỗ trợ cho hệ thống phúc lợi xã hội thì giải pháp tất yếu là Chính phủ Nhật Bản đã
phải tiếp tục phát hành trái phiếu vay tiền từ người dân. Từ năm 2000, lượng phát hành
trái phiếu chính phủ Nhật Bản đã vượt qua Mỹ, trở thành nước phát hành trái phiếu lớn
nhất tồn cầu. Trong năm tài khóa 2013, Chính phủ Nhật Bản có kế hoạch phát hành
lượng cơng trái mới để tài trợ cho 46% ngân sách. Lượng phát hành trái phiếu tăng làm
cho nợ công của Nhật Bản cũng tăng nhanh cùng với nạn giảm phát và nhu cầu tiêu thụ
nội địa yếu ớt đang cản trở đà phục hồi của nền kinh tế Nhật Bản.
Thứ ba, nguồn thu từ thuế thấp: Để đối phó với tình trạng giảm phát trong hai thập
kỷ vừa qua, Chính phủ Nhật Bản đã liên tiếp điều chỉnh và giảm thuế để kích thích sản
xuất và tiêu dùng. Quan điểm của Chính phủ Nhật Bản là duy trì mức thuế thấp qua đó
kích thích kinh tế tăng trưởng để gia tăng thu ngân sách mà khơng theo đuổi chính sách
đánh thuế cao để tăng thu ngân sách.

Hiện mức thuế doanh thu của Nhật Bản là 5% - mức thấp nhất trong số các nước cơng
nghiệp hóa (so với mức gần 20% của châu Âu) và nguồn thu từ thuế của Nhật Bản hiện
chỉ ở mức 17% GDP - mức thấp nhất trong các thành viên Tổ chức Hợp tác và Phát triển
kinh tế (OECD). Trong bối cảnh dân số ngày càng già hóa và chi phí an sinh xã hội tăng
cao thì việc thu từ nguồn thuế thấp như hiện này rõ ràng đã góp phần làm trầm trọng hơn
tình trạng thâm hụt ngân sách và gia tăng tỷ lệ nợ công của Nhật Bản.
Thứ tư, lãi suất thấp: Trong hai thập kỷ vừa qua Ngân hàng Trung ương Nhật Bản
(BOJ) đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng bằng cách giảm lãi suất nhiều lần và cuối
cùng thực hiện “chính sách lãi suất zero”. Đặc biệt trong giai đoạn 2001-2006, khi các
chính sách tiền tệ truyền thống khơng đem lại hiệu quả mong muốn, BOJ lần đầu tiên đã

23

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


thực thi chính sách nới lỏng định lượng với mục tiêu đưa nền kinh tế Nhật Bản quay lại đà
tăng trưởng.
Mặc dù việc hạ thấp lãi suất cho phép các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn
để mở rộng sản xuất kinh doanh, tuy nhiên lãi suất thấp đã khiến người dân Nhật Bản
chuộng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn là đầu tư vào trái phiếu hay chứng khoán. Hệ quả là
ngân hàng thiếu tiền mặt và không thể cho vay đối với tư nhân, làm cho hoạt động đầu tư
tư nhân của Nhật Bản trì trệ trong nhiều năm, kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế.
Giải pháp giảm bớt nợ công của Nhật Bản
Mặc dù tỷ lệ nợ công của Nhật Bản hiện đứng đầu thế giới, tuy nhiên tình huống của
Nhật Bản có sự khác biệt so với các nước khu vực Eurozone. Phần lớn nợ công của Nhật
Bản (khoảng 95%) nằm trong tay các nhà đầu tư nội địa nên tránh được tác động bất lợi
từ những biến động thất thường của thị trường tài chính thế giới. Tỷ lệ nợ công/GDP cao
tuy nhiên chỉ số hiệu quả vốn đầu tư ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) của Nhật
Bản chỉ vào khoảng 3,0 do vậy khả năng trả nợ khơng q khó khăn.

Dự trữ ngoại tệ của Nhật Bản cũng ở mức rất cao, khoảng 1.046,873 tỷ USD (theo
thông báo của Bộ Tài chính Nhật Bản tháng 5/2011) và Nhật Bản vẫn là nước chủ nợ lớn
nhất thế giới, khi sở hữu tới 253.000 tỷ Yen (3.300 tỷ USD) tài sản nước ngồi. Nhật Bản
cũng là nước có tỷ lệ tiết kiệm của người dân rất lớn trong số các nước phát triển. Như
vậy, khả năng xảy ra khủng hoảng nợ công tại Nhật Bản là khơng q cao. Có thể đánh
giá tính hiệu quả của một số biện pháp mà Chính phủ Nhật Bản đã tiến hành để giải quyết
vấn đề nợ, cụ thể như sau:
Thứ nhất, tăng thuế: Từ năm 2012, Chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu lộ trình tăng một
số loại thuế cơ bản như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp... Nhật Bản dự
kiến thuế tiêu dùng tăng từ 5% lên 10% trong giai đoạn 2012-2016. Tuy nhiên, việc tăng
thuế doanh thu sẽ dẫn đến một loạt hệ lụy kèm theo khi Chính phủ Nhật Bản đã nhiều lần
hứa rằng sẽ không tăng thuế cho đến năm 2013. Bên cạnh tăng thuế, việc cắt giảm thêm
10% chi tiêu chính sách trong tài khóa năm 2012 giúp Chính phủ Nhật Bản có thêm 1.200

24

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


tỷ Yen nhằm bảo đảm tài chính để trang trải các chi phí phúc lợi. Điều này sẽ tạo ra
những điều chỉnh cần thiết để giúp giảm bớt nợ công.
Tuy nhiên, một số nhà kinh tế cho rằng mức thuế tiêu dùng nên tăng thành 15% theo
lộ trình tăng đều 1% hàng năm trong vòng 10 năm. Biện pháp này nhằm giảm nhẹ ảnh
hưởng đối với người tiêu dùng đồng thời có thể hạn chế giảm phát bằng cách tạo ra lạm
phát kỳ vọng. Về nguyên tắc, người tiêu dùng sẽ cắt giảm chi tiêu nếu như thuế đột nhiên
tăng đến 10% nhưng khi thuế tăng từ từ và được dự báo sẽ tiếp tục tăng thì người dân vẫn
chi tiêu như bình thường.
Thứ hai, giảm bớt gánh nặng cho hệ thống an sinh xã hội: Với tỷ lệ người già cao
như hiện nay Chính phủ Nhật Bản đang cân nhắc nâng độ tuổi nghỉ hưu để giảm bớt gánh
nặng an sinh xã hội. Các nhà làm luật Nhật Bản dự tính sẽ nâng tuổi nghỉ hưu của người

lao động nước này lên 61 tuổi vào năm 2013 và 65 tuổi vào năm 2025. Tuy nhiên, ngoài
việc nâng độ tuổi nhận tiền trợ cấp, Chính phủ Nhật Bản vẫn cần xem xét cắt giảm các
mức trợ cấp trong tương lai, tăng mức đóng tiền phí bảo hiểm y tế nhà nước... cũng như
tiến hành cải cách toàn diện hệ thống an sinh xã hội để giảm bớt mức chi, cải thiện tình
trạng nợ cơng. Ngồi ra, Chính phủ Nhật Bản sẽ phải khuyến khích thực hiện các chương
trình tái tuyển dụng nhân viên nghỉ hưu để có thể khắc phục vấn đề thiếu hụt nhân lực ở
tuổi lao động.
Thứ ba, ổn định tài chính, giảm bớt thâm hụt ngân sách: Mục tiêu bình ổn tài chính
được Chính phủ Nhật Bản đưa ra nhằm ổn định tỷ trọng tăng trưởng nợ. Chiến lược “ổn
định tài chính” sẽ được trợ giúp với cơ chế chia sẻ thâm hụt ngân sách giữa ngân sách
trung ương và ngân sách địa phương từ năm 2013. Kế hoạch đặt ra là cắt giảm một nửa
thâm hụt ngân sách vào năm 2015 và đạt được mức thặng dư ngân sách từ năm 2019. Về
dài hạn, cán cân ngân sách của cả chính quyền trung ương và địa phương của Nhật Bản sẽ
trở lại trạng thái thặng dư vào năm tài khóa 2020.
Tuy nhiên, mục tiêu này có thể sẽ khó đạt được trong bối cảnh các chính sách phục
hồi kinh tế của Thủ tướng Shinzo Abe. Theo đó, Thủ tướng Nhật muốn tăng chi tiêu
Chính phủ vào cơng trình, cơ sở hạ tầng để thúc đẩy tăng trưởng và đề xuất BOJ trực tiếp
mua trái phiếu chính phủ để giúp tài trợ cho chi tiêu gia tăng. Tuy nhiên, nếu điều đó xảy

25

LUAN VAN CHAT LUONG download : add


×