1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
=====000=====
TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CƠNG
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG
TRÊN THẾ GIỚI VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
Nhóm thực hiện: Nhóm 26
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Lan
Hà Nội – 12/2017
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
2
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...................................................................6
1.1
Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngồi........................6
1.2
Cơ sở phân tích...................................................................................8
1.2.1
Khái niệm về nợ cơng...................................................................8
1.2.2
Phân loại nợ cơng.......................................................................10
1.2.3
cơng
Chỉ tiêu xác định tình trạng nợ cơng và ngưỡng an tồn của nợ
11
1.2.4
Tác động của nợ công đến nền kinh tế.....................................11
1.3
Phương pháp nghiên cứu.................................................................19
1.3.1
Рhương рháр nghiên cứu lý thuyết...........................................19
1.3.2
Рhương рháр thu thậр dữ liệu..................................................19
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG
NỢ CÔNG TRONG QUÁ KHỨ VÀ THẢO LUẬN....................................21
2.1
Cuộc khủng hoảng ở Mỹ Latinh những năm 1980.........................21
2.2
Cuộc khủng hoảng tài chính Đơng Á những năm 1990.................28
2.2.1
Ngun nhân khủng hoảng........................................................28
2.2.2
Tình hình kinh tế........................................................................34
2.2.3
Phản ứng chính sách..................................................................39
2.3
Cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp:...............................................40
2.3.1
Nguyên nhân khủng hoảng........................................................40
2.3.2 Diễn biến và biện pháp cho cuộc khủng hoảng tài chính cơng ở
châu Âu...................................................................................................46
2.3.3
Lạp.
2.4
Tác động và hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ cơng ở Hy
48
Thảo luận...........................................................................................51
CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH NỢ CƠNG Ở VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ
GIẢI PHÁP....................................................................................................54
3.1
Tình hình nợ công tại Việt Nam......................................................54
3.1.1
Về quy mô nợ công.....................................................................54
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
3
3.1.2
Cơ cấu nợ cơng...........................................................................55
3.1.3
Tình hình sử dụng nợ cơng........................................................57
3.2
Ngun nhân nợ công Việt Nam gia tăng thời gian qua................57
3.3
Kiến nghị giải pháp...........................................................................61
3.3.1
Nâng cao hiệu quả kinh tế.........................................................61
3.3.2
Phát triển thị trường nợ trong nước.........................................63
3.3.3
Minh bạch trong việc công bố các khoản vay..........................64
3.3.4
Một số biện pháp khác...............................................................67
KẾT LUẬN.....................................................................................................70
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................72
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
4
LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề nợ công đã được nhiều nhà kinh tế nghiên cứu, đánh giá đặc biệt
từ sau cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp năm 2009. Mỗi bài nghiên cứu lại
đề cập đến vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau. Có thể kể đến một số
cơng trình nghiên cứu tiêu biểu như: "Cuốn sách chính sách công và phát triển
bền vững" - do các tác giả của Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội làm
chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2012. Cuốn sách đã đề cập đến
vấn đề nợ công trong mối quan hệ với đầu tư công và phát triển bền vững của
quốc gia, xem xét vấn đề ở từng khía cạnh như: mối quan hệ giữa nợ cơng và
chính sách tài khóa, phương pháp tính nợ công... nhằm đưa ra những gợi ý về
cách tiếp cận vấn đề nợ công Việt Nam. Cuốn sách "Khủng hoảng nợ công trên
thế giới và hàm ý đối với Việt Nam" do PGS.TS Chu Đức Dũng và TS.
Nguyễn Mạnh Hùng (Đồng chủ biên), đã cung cấp bức tranh chung về nguy cơ
khủng hoảng nợ công trên thế giới hiện nay và tình trạng nợ cơng của các nền
kinh tế lớn Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc,.. Từ đó rút ra một số hàm ý cho vấn
đề nợ công của Việt Nam. Cuốn sách trình bày 9 vấn đề: nợ công trong một thế
giới rủi ro và khủng hoảng, khủng hoảng nợ ở Argentina năm 2001, khủng
hoảng nợ công ở một số nước Châu Âu, thực trạng đối sách và bài học kinh
nghiệm... nhằm cố gắng cho thấy tính chất đa chiều, phức tạp của vấn đề nợ
công trên thế giới, đồng thời các tác giả cũng rút ra những bài học thực tiễn mà
Việt Nam có thể xem xét áp dụng trong quản lí và xử lý nợ cơng như: công
khai, minh bạch thông tin nợ, gia tăng vai trị của nhà nước trong quản lý nợ
cơng..
Ngồi ra cịn rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như: "Nợ công Hy
Lạp, nguyên nhan và thực trạng" của Phạm Thị Thanh Bình và Lê Minh Tâm;
"Luận bàn về vấn đề nợ cơng ở Việt Nam" của Nguyễn Quốc Nghi...
Nhìn chung trong các cơng trình nghiên cứu nói trên đều tiếp cận vấn đề
nợ cơng ở các góc độ khác nhau. Tất cả các cơng trình nghiên cứu này là nguồn
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
5
tư liệu quan trọng giúp tác giả luận văn từng bước tìm hiểu và đi sâu vào vấn
đề nợ cơng thế giới và nợ công Việt Nam trong giai đoạn vừa qua và trong
tương lai.
Bất chấp là nền kinh tế lớn hay nhỏ, nếu khơng kiểm sốt được nợ cơng
thì đó sẽ trở thành nguyên nhân khiến cho nền kinh tế chậm phát triển và có
nguy cơ sụp đổ trong tương lai. Những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợ
công tới nền kinh tế thế giới trong thời gian qua cho thấy, khơng có một quốc
gia nào là ngoại lệ cho việc đương đầu với nguy cơ này. Sau khi gia nhập
WTO, kinh tế Việt Nam đã đi sâu vào hội nhập, thể hiện qua tỉ lệ xuất nhập
khẩu và dịng vốn đầu tư nước ngồi vào Việt Nam với tỉ lệ chiếm khá cao. Vì
vậy, những bài học được rút ra từ nền kinh tế đã và đang diễn ra khủng hoảng
nợ công là kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong q trình phát triển. Đó
cũng chính là lí do nhóm chúng em quyết định lựa chọn “Nghiên cứu một số
cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới và bài học cho Việt Nam” làm đề tài
khai thác và tìm hiểu trong bài tiểu luận này.
Nhóm nghiên cứu tin rằng, thông qua bài tiểu luận, chúng em sẽ có tiền
đề tốt để vận dụng những nội dung đã học vào thực tiễn. Cuối cùng, nhóm
chúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Lan,
Giảng viên bộ mơn Tài chính cơng, đã giúp chúng em có kiến thức và kĩ năng
để hồn thành bài tiểu luận. Kính mong cơ nhận xét và góp ý để nội dung bài
viết của chúng em được hoàn thiện hơn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngồi
Ở mức vừa рhải, nợ cơng sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã
hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nợ quá nhiều sẽ làm suy yếu
khả năng của chính рhủ trong việc cung cấр các dịch vụ thiết yếu cho người
dân của mình (Cecchetti và cộng sự, 2011), đồng thời dẫn đến khủng hoảng nợ
công - một điều mà các quốc gia đều không hề mong muốn.
Vấn đề nợ công và khủng hoảng nợ công đã được nhiều nhà khoa học ở
trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Đặc biệt, những cuộc khủng hoảng
nợ công trong quá khứ luôn là những bài học rất đắt giá không chỉ đối với các
quốc gia chịu ảnh hưởng mà còn đối với các quốc gia nằm trong vùng nguy
hiểm. Việc nhìn lại quá khứ và diễn giải các dấu hiệu cũng như nguyên nhân
gây các cuộc khủng hoảng nợ công lớn là điều cực kì cần thiết khơng chỉ trong
hiện tại mà cịn trong tương lai khi nền kinh tế có xu hướng biến động cực kì
khó lường. Khá nhiều nghiên cứu хoay quanh vấn đề về dấu hiệu nhận diện
khủng hoảng nợ công các nguyên nhân gây ra khủng hoảng nợ công trên thế đã
được ra đời. Dưới đây là những рhân tích khái quát về một số kết quả nghiên
cứu nổi bật đã được công bố. Cụ thể:
Theo quan điểm của Reihart và Rogoff (2010) dựa trên số liệu thu thập
được từ 44 nền kinh tế phát triển trong khoảng hai thế kỉ, Reihart và Rogoff đã
đưa ra thuật ngữ ngưỡng nợ nguy hiểm. Ngưỡng nợ nguy hiểm được hiểu là
khi quốc gia có khối lượng nợ tính trên phần trăm GDP vượt quá ngưỡng này
thì nền kinh tế quốc gia gặp phải vấn đề trong việc thanh toán các khoản nợ,
đứng trước nguy cơ khủng hoảng nợ công, đồng thời gặp nhiều rủi ro bất ổn vĩ
mô. Ngưỡng nợ nguy hiểm được hai nhà khoa học tính tốn và chỉ ra là khi
tổng số nợ công trên GDP bằng 90%. Các nhà khoa học cũng chỉ ra là đối với
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
7
các nền kinh tế đang phát triển, nếu trong tổng số nợ cơng, nợ nước ngồi vượt
60% GDP thì nền kinh tế quốc gia đó cũng rơi vào ngưỡng nợ nguy hiểm.
Theo quan điểm của Caner, Grennes và Koehler - Geib (2011), vẫn sử
dụng thuật ngữ ngưỡng nợ nguy hiểm, nhưng theo nghiên cứu đối với 101 quốc
gia (75 quốc gia đang phát triển và 26 quốc gia phát triển) trong giai đoạn
1980-2008, ngưỡng nợ nguy hiểm trung bình cho tất cả các quốc gia đã lấy số
liệu là 77% GDP. Riêng các quốc gia đang phát triển thì con số này là 64%
GDP. Như vậy, theo cách tính của Caner, Grennes và Koehler - Geib, mặc dù
ngưỡng nợ nguy hiểm trung bình của các quốc gia nói chung khá chênh lệch so
với các tính của Reihart và Rogoff, nhưng ngưỡng nợ nguy hiểm trung bình
của các nước đang phát triển thì khá tương đồng.
Theo quan điểm của Kumar và Woo (2010), nghiên cứu 38 nền kinh tế
phát triển và đang phát triển trong thời gian 4 thập kỉ đã chỉ ra mối quan hệ
giữa nợ công và tăng trưởng nếu như nợ công vượt quá 90% GDP. Tác động
của nợ công đối với nền kinh tế đang phát triển lớn hơn đối với các nền kinh tế
phát triển. Nếu nợ công tăng thêm 10%, tăng trưởng kinh tế sẽ suy giảm từ
0,15 - 0,2% tại các nền kinh tế phát triển, từ 0,3 - 0,4% tại các nền kinh tế đang
phát triển. Ngoài ra mức nợ cao cũng sẽ tạo nên nhiều rủi ro hơn và gây ra
khủng hoảng nợ công.
Theo nghiên cứu của Presbitero (2010) dựa trên số liệu thống kê tổng nợ
cơng tại 92 quốc gia có thu nhập thấp và trung bình trong khoảng thời gian từ
1990-2007, đã tìm ra nếu nợ cơng vào mức khoảng 90% GDP thì nền kinh tế sẽ
gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tăng trưởng và đứng trước nguy cơ
khủng hoảng nợ cơng.
Theo cơng trình nghiên cứu năm 2010 của cơ quan nghiên cứu kinh tế
quốc gia Mỹ (NBER) khảo sát 44 quốc gia, khi tỉ lệ nợ/ GDP vượt ngưỡng
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
8
90% thì sẽ tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế, gây ra khủng hoảng nợ công
và sẽ làm giảm 4% tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó.
1.2 Cơ sở phân tích
1.2.1 Khái niệm về nợ cơng
Hiện nay, có thể thấy, trên thế giới xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau
về nợ cơng, tùy thuộc vào mục đích và phạm vi sử dụng của mỗi tổ chức, mỗi quốc
gia.
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB), nợ cơng là tồn bộ những
khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh. Trong đó:
- Nợ của Chính phủ: bao gồm nợ trong nước, nợ nước ngồi của Chính phủ
và các đại lý của Chính phủ; các tỉnh, thành phố hoặc các tổ chức chính trị trực
thuộc Chính phủ và các đại lý của các tổ chức này, các doanh nghiệp Nhà nước.
- Nợ của Chính phủ bảo lãnh: gồm những khoản nợ trong nước và nợ nước
ngồi của khu vực tư nhân do Chính phủ đứng ra bảo lãnh.
Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công được hiểu là nợ của
khu vực tàichính cơng và nợ của khu vực phi tài chính cơng. Trong đó:
- Khu vực tài chính cơng gồm: Các tổ chức tiền tệ (Ngân hàng trung ương,
các tổ chức tín dụng Nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụng
khơng cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển)
Theo như các định nghĩa trên có thể thấy Nợ cơng theo quan điểm của
các tổ chức quốc tế (WTO, IMF và Diễn đàn thương mại phát triển Liên hợp
quốc) mang tính bao quát và rộng hơn so với luật định của Việt Nam vì có tính
đến cả nợ của Ngân hàng Trung ương và các tổ chức độc lập có vốn Nhà nước
trên 50%.
Theo luật quản lí nợ cơng của Việt Nam được ban hành năm 2009, nợ
công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính
quyền địa phương. Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
9
nước, nước ngồi được kí kết, phát hành nhân danh nhà nước, nhân danh chính
phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính kí kết, phát hành, ủy quyền phát
hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính phủ không bao gồm các khoản nợ
do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ
trong từng thời kì. Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế trong và ngồi nước mà chính phủ đứng ra bảo lãnh. Nợ
chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương phát hành. Như vậy, các khoản vay như vay vốn hỗ trợ
phát triển chính thức (ODA), phát hành trái phiếu chính phủ trong và ngồi
nước, trái phiếu cơng trình đơ thị, hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngồi
được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ cơng.
Nợ chính phủ thường được vay để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nên
nói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách lũy kế đến một thời điểm
nào đó. Để dễ hình dung quy mơ của nợ chính phủ, người ta thường đo xem
khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
Nợ chính phủ thường chiếm tỉ trọng lớn trong nợ công của một quốc gia và gây
ra những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế. Nợ của chính quyền địa phương
thường không chiếm tỉ trọng lớn trong nợ cơng, vì ngân sách địa phương chủ
yếu từ trung ương hỗ trợ, chi trả, và pháp luật luôn quy định chặt chẽ tỉ lệ nợ
chính quyền địa phương được vay so với ngân sách được cấp, hay chỉ được vay
từ nguồn nào và để dùng vào khoản gì.
Nợ cơng xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ; khi chi tiêu của
chính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay (trong
hoặc ngồi nước) để trang trải thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ phải
hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, Nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp.
Vì vậy, suy cho cùng nợ cơng chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nay
hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác. Vay nợ thực chất là cách đánh thuế
dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
10
chi ngân sách. Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế
hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế). Nhìn nhận từ
khía cạnh này có hai quan điểm cơ bản về nợ công.
Một cách khái quát nhất, có thể hiểu “nợ cơng (nợ Chính phủ hoặc
nợ quốc gia) là tổng giá trị các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ
trung ương đến địa phương đi vay nhằm bù đắp cho các khoản thâm hụt
ngân sách”. Vì thế, nợ Chính phủ, nói cách khác, là thâm hụt ngân sách lũy kế
tính đến một thời điểm nào đó. Để dễ hình dung quy mơ của nợ Chính phủ,
người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổng
sản phẩm quốc nội (GDP).
1.2.2 Phân loại nợ cơng
Theo nguồn hình thành:
- Nợ trong nước
- Nợ nước ngoài: tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được
Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theo
phương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo phương thức huy động của Chính phủ:
- Các khoản nợ huy động bằng phát hành trái phiếu: loại trái phiếu do
Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy
động vốn cho cơng trình, dự án đầu tư cụ thể.
- Nợ do Chính phủ bảo lãnh: khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài
chính, tín dụng vay trong nước, nước ngồi được Chính phủ bảo lãnh.
- Nợ ODA: là khoản vay nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam từ
nhà tài trợ là chính phủ nước ngồi, tổ chức tài trợ song phương, tổ chức liên
quốc gia hoặc tổ chức liên chính phủ có yếu tố khơng hồn lại (thành tố ưu đãi)
đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc, 25% đối với khoản vay không
ràng buộc.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
11
Theo tính chất ưu đãi của khoản nợ:
- Các khoản nợ thương mại: khoản vay theo điều kiện thị trường.
- Các khoản nợ ưu đãi: khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay
thương mại nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA.
1.2.3 Chỉ tiêu xác định tình trạng nợ cơng và ngưỡng an tồn của nợ cơng
Các chỉ tiêu giám sát về nợ cơng, nợ nước ngồi của quốc gia bao gồm: Nợ
cơng so với GDP (chủ yếu), nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, nghĩa vụ
trả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu.
Ngưỡng an tồn của nợ cơng:
- Theo cơng trình nghiên cứu năm 2010 của Cơ quan nghiên cứu kinh tế
quốc gia Mỹ (NBER): Khi tỷ lệ nợ/GDP vượt ngưỡng 90% thì nó tác động xấu
đến tang trưởng kinh tế và làm giảm đi 4% trong tăng trưởng kinh tế của quốc
gia đó
- Theo quy định của Khối sử dụng đồng tiền chung Châu Âu, tỷ lệ nợ công
tối đa với một nước thành viên là 60% GDP, thâm hụt ngân sách hàng năm
không được vượt quá 3% GDP
- Tuy nhiên để xét một cách tồn diện thì cần đặt trong mối quan hệ với hệ
thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ môn của nền kinh tế quốc dân, nhất là: tốc độ và
chất lượng tăng trưởng kinh tế, hiệu quả sử dụng vốn… cũng như các tiêu chí
như : cơ cấu nợ công, tỷ trọng các loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ,..
cũng cần được phân tích kỹ lưỡng khi đánh giá tính bền vững của nợ cơng
1.2.4 Tác động của nợ công đến nền kinh tế
Bàn về sự tác động của nợ công đến nền kinh tế, vẫn tồn tại nhiều quan
điểm khác nhau, trong đó có hai quan điểm chủ đạo:
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
12
Quan điểm truyền thống, đại diện là Keynes cho rằng: Khi chính phủ
vay nợ để bù đắp cho thâm hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế
trong khi mức chi tiêu công không thay đổi sẽ tác động đến hành vi tiêu dùng
của người dân. Cụ thể là làm mức tiêu dùng tăng, từ đó làm tăng tổng cầu về
hàng hóa và dịch vụ, tăng sản lượng, việc làm trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về
dài hạn lại làm cho tiết kiệm quốc gia (national saving) giảm và kèm theo đó là
những hệ lụy khác.
Quan điểm của David Ricardo, một nhà kinh tế người Anh (1772-1832)
lại cho rằng mức thuế cắt giảm được bù đắp bằng nợ chính phủ sẽ khơng có tác
động đến tiêu dùng như quan điểm về nợ truyền thống, kế cả trong ngắn hạn.
Ngược lại, nó sẽ làm các khoản tiết kiệm tư nhân tăng lên bởi người dân đang
chuẩn bị cho mức thuế cao sẽ đến trong tương lai để chi trả lãi và gốc cho các
khoản nợ hiện tại. Trong thực tế, hai quan điểm ln tồn tại song hành. Vì vậy,
để đưa ra nhận định quan điểm nào phù hợp với từng thời điểm của quốc gia
còn phải phụ thuộc vào nhân tố quan trọng, đó là hành vi của người tiêu dùng.
Xét về mặt tích cực, Chính phủ các quốc gia có thể sử dụng nợ cơng như
là một cơng cụ để tài trợ vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án, cơng trình
trọng điểm quốc gia, khuyến khích phát triển sản xuất, kích thích tăng trưởng
kinh tế. Giải pháp tăng nợ công để bù đắp thâm hụt ngân sách do cắt giảm thuế
có thể sẽ góp phần kích thích tiêu dùng, tăng sản lượng, việc làm, tăng tổng sản
phẩm quốc dân trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong dài hạn, một khoản nợ chính phủ lớn
cũng là nguyên nhân khiến cho lãi suất tăng, đầu tư giảm, tiết kiệm giảm và
khuyến khích luồng vốn từ nước ngồi chảy vào, từ đó làm cho sự tăng trưởng
sản lượng tiềm năng quốc gia chậm lại. Nợ cơng tăng cao, vượt q giới hạn an
tồn sẽ khiến cho nền kinh tế dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép từ bên
trong lẫn bên ngoài quốc gia. Cụ thể những tác động này của nợ công đến nến
kinh tế như sau:
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
13
1.2.4.1 Nợ cơng lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân, dẫn đến thối lui đầu tư tư
nhân
Khi chính phủ tăng vay nợ, đặc biệt là vay trong nước, lúc này mức tích
lũy vốn tư nhân sẽ được thay thế bởi tích lũy nợ chính phủ. Thay vì sở hữu cổ
phiếu, trái phiếu doanh nghiệp hay gửi tiết kiệm ngân hàng, dân chúng lại sở
hữu trái phiếu chính phủ làm cho cung về vốn giảm trong khi cầu tín dụng của
chính phủ lại tăng lên, từ đó đẩy lãi suất tăng, chi phí đầu tư tăng và có thể dẫn
đến hiện tượng “thoái lui đầu tư” khu vực tư nhân (crowding-out effect). Để
làm rõ vấn đề này, chúng ta xét mối quan hệ cung- cầu trên thị trường tín dụng.
Hình 1 Tác động của nợ công đến lãi suất
Tại Biểu đồ 1: Trạng thái cân bằng đầu tiên tại điểm E, tại đó lãi suất là
i1 và tổng khối lượng quỹ cho vay là L1. Khi Chính phủ tăng vay nợ, cầu tín
dụng của Chính phủ (DG) tăng lên một lượng bằng ∆DG sẽ làm đường cầu tín
dụng của nền kinh tế dịch chuyển từ D1 đến D1 + ∆DG. Kết quả là điểm cân
bằng mới của thị trường tại E’. Lãi suất thị trường tăng đến i2 và lượng tiền
cung ứng tăng lên L2. Lãi suất trên thị trường tăng sẽ làm giảm nhu cầu vốn
vay của các doanh nghiệp cho đầu tư. Nó cũng làm giảm nhu cầu vay của các
hộ gia đình để đầu tư hoặc mua sắm các loại hàng hóa như ơ tơ, nhà cửa...
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
14
Để đối phó với vấn đề thâm hụt ngân sách và nhu cầu chi trả cho các
khoản nợ công ngày càng tăng cao, lãi suất trái phiếu chính phủ của các quốc
gia Hy Lạp (7,8%), Italy (6,18%), Tây Ban Nha (6,45%) liên tục tăng cao và
đạt đến mức kỷ lục kể từ khi tham gia vào khu vực đồng tiền chung Euro vào
thời điểm tháng 8/2011. Các quốc gia này phải cầu cứu các khoản cứu trợ quốc
tế bởi nguy cơ vỡ nợ công trước cơn sốt của thị trường tài chính. Các đợt trái
phiếu được phát hành liên tục với lãi suất ngày càng tăng cao đã làm các nhà
đầu tư lo ngại về khả năng thanh toán khi đáo hạn, nhiều nhà đầu tư đã ồ ạt bán
rẻ trái phiếu của các quốc gia này khi nguy cơ khó khăn về nợ cơng ngày càng
trở nên trầm trọng hơn.
Bên cạnh đó, để cứu trợ cho khủng hoảng nợ cơng của Hy Lạp, khu vực
tư nhân đã đóng góp 50 tỉ euro trong tổng gói cứu trợ thứ hai trị giá 109 tỉ euro
(155 tỉ USD) của IMF nhằm tái cấu trúc các khoản nợ, ngăn chặn sự lây lan
sang các nền kinh tế Châu Âu khác, củng cố lại giá trị của đồng Euro.
Hình 2 Lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp kỳ hạn 2 năm
(Nguồn: Bloomberg.com)
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
15
1.2.4.2 Nợ công làm giảm tiết kiệm quốc gia
Thu nhập quốc gia (Y) được xác định tương đương với tổng sản lượng
quốc dân (GDP) theo công thức:
Y = C + S + T = C + I + G + NX = GDP (1)
Trong đó:
Y: thu nhập quốc gia;
C: Tiêu dùng tư nhân;
S: tiết kiệm tư nhân;
T: thuế trừ đi các khoản thanh toán;
I: đầu tư nội địa,
G: Chi tiêu của chính phủ,
NX: Xuất khẩu rịng.
Như vậy: S + (T-G) = I + NX (2)
Hay: T- G = I + NX - S (3)
Phương trình (3) chỉ ra rằng, khi ngân sách nhà nước thâm hụt (T-G< S),
như vậy, những khả năng có thể xảy ra là: Tiết kiệm tư nhân (S) tăng, đầu tư
nội địa (I) giảm và xuất khẩu rịng (NX) giảm. Khi chính phủ tăng vay nợ để bù
đắp thâm hụt, chúng ta lần lượt xem xét những khả năng này có thể xảy ra và
sự tác động của nó đến tiết kiệm quốc gia:
(1) Tiết kiệm tư nhân tăng (S): Trong thực tế, một số nhà kinh tế học lập
luận rằng, tiết kiệm tư nhân sẽ tăng chính xác bằng lượng giảm của tiết kiệm
của chính phủ. Tuy nhiên trong trường hợp này, chúng ta tạm thời giả định tiết
kiệm tư nhân tăng ít hơn phần tiết kiệm của chính phủ giảm, chính vì vậy mà
tiết kiệm quốc gia giảm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
16
(2) Đầu tư nội địa giảm (I): đầu tư nội địa giảm dẫn đến đầu ra là tổng
vốn nội địa giảm. Lượng vốn ít, lãi suất tăng, chi phí biên của sản phẩm trên
mỗi đồng vốn sẽ cao hơn, năng suất lao động sụt giảm, từ đó làm giảm mức
lương và thu nhập trung bình dẫn đến giảm tiết kiệm quốc gia.
(3) Xuất khẩu rịng giảm (NX): Khi chính phủ tăng vay nợ, lãi suất
trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nước
ngoài đổ vào trong nước tăng khiến cho tỷ giá hối đối tăng, làm cho giá của
hàng hóa sản xuất trong nước đắt hơn hàng hóa nước ngồi, trở nên kém cạnh
tranh hơn trên thị trường quốc tế, từ đó giảm xuất khẩu ròng. Xuất khẩu ròng
giảm, đầu tư nước ngồi giảm có nghĩa rằng người dân nội địa sẽ sở hữu ít vốn
nước ngồi hơn. Trong trường hợp này, thu nhập người dân nội địa sẽ giảm,
tiết kiệm quốc gia giảm. Giảm xuất khẩu ròng cũng là một trong những nhân tố
dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại.
Đặc biệt, khi thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại cùng
xảy ra sẽ dẫn đến hiện tượng “thâm hụt kép” gây tác động tiêu cực đến sự phát
triển nền kinh tế. Nhìn vào Nhật Bản, khi tăng chi ngân sách để tái thiết đất
nước, chính phủ đã làm trầm trọng thêm gánh nặng nợ công vốn đã rất cao
(95.000 tỷ Yên, tương đương 200% GDP năm 2010). Mặc dù là quốc gia có
truyền thống tiết kiệm nội địa cao, nhưng tỷ lệ này đang có xu hướng ngày
càng giảm: từ mức 10% xuống 2% tổng thu nhập quốc dân giai đoạn 1990 2009. Khi đối mặt với vấn đề thiếu vốn, Nhật Bản có thể từ một nước xuất
khẩu trở thành nước nhập khẩu vốn. Dòng vốn nước ngoài đổ vào Nhật tăng
khiến cho tỷ giá giữa đồng Yên và các đồng tiền khác tăng cao, gây bất lợi cho
các doanh nghiệp xuất khẩu. 40% doanh nghiệp Nhật Bản sẵn sàng di dời cơ sở
sản xuất để tránh tác động của tỉ giá, làm cho mạng lưới công nghiệp và sản
xuất quốc gia bị tổn hại và đe dọa trực tiếp đến việc làm, thu nhập của người
dân. Thâm hụt ngân sách của Nhật Bản ở mức cao (chiếm khoảng 7% GDP),
nợ công ngày càng tăng cùng tỷ lệ tiết kiệm dân cư có xu hướng giảm sẽ sớm
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
17
dẫn đến nguy cơ làm cho tiết kiệm quốc dân của Nhật Bản giảm, thậm chí có
thể rơi vào trạng thái âm, cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế.
1.2.4.3 Nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát
Lạm phát được tạo ra do hai nguyên nhân chính: Do tổng cầu tăng lên
hoặc do chi phí đẩy. Chính phủ tăng vay nợ bằng phát hành trái phiếu, một mặt
làm tiêu dùng của chính phủ tăng lên, một mặt sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất lên
cao.
Khi tăng vay nợ trong nước, lãi suất tăng làm tăng chi phí đầu tư, tăng
giá thành và giá bán sản phẩm. Lãi suất tăng làm tiêu dùng tư nhân tăng, chi
tiêu cơng của chính phủ tăng dẫn đến cầu hàng hóa, dịch vụ tăng, tạo áp lực
lạm phát trong ngắn hạn, từ đó tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng thực
của nền kinh tế. Khi chính phủ tăng vay nợ nước ngồi, một dịng ngoại tệ lớn
sẽ chảy vào trong nước có thể giảm sức ép cân đối ngoại tệ trong ngắn hạn. Về
mặt dài hạn, áp lực trả nợ cả gốc và lãi bằng ngoại tệ sẽ đẩy cầu ngoại tệ tăng
lên, đồng nội tệ giảm giá làm tăng chi phí đầu vào khi nhập khẩu nguyên liệu,
máy móc, thiết bị... dẫn tới nguy cơ lạm phát. Tỷ giá tăng làm chi phí thanh
tốn nợ trở nên đắt đỏ hơn, nếu vượt quá sức chịu đựng của ngân sách sẽ dẫn
đến nguy cơ vỡ nợ.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
18
Hình 3 Tổng nợ cơng của Việt Nam tính đến thời điểm tháng 1/2017
(The global debt clock – conomist.com)
1.2.4.4 Nợ cơng làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã
hội
Dù chính phủ lựa chọn phương án vay nợ trong nước hay vay nước
ngồi thì đều có tác động làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc
lợi xã hội. Nếu vay nước ngoài, nguồn để trả nợ cả gốc và lãi chỉ có thể lấy từ
các khoản thu thuế. Người dân phải chịu một khoản thuế cao hơn trong tương
lai để trả lãi cho các đối tượng ngoài quốc gia, làm giảm thu nhập, giảm tiêu
dùng... từ đó giảm chất lượng cuộc sống.
Vay trong nước có thể được coi là ít tác động hơn bởi lý do chính phủ
nợ chính cơng dân nước mình và cũng chính họ là người được hưởng thụ các
lợi ích do các khoản chi tiêu cơng tạo ra. Tuy nhiên, ngay cả khi một người bị
đánh thuế để trả lãi cho chính họ do đang sở hữu trái phiếu chính phủ thì vẫn
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
19
có những tác động khiến cho các hoạt động kinh tế của người đó bị bóp méo.
Dù cho Chính phủ dùng loại thuế nào (thuế thu nhập, thuế tiêu dùng, thuế tài
sản…), đánh thuế dưới hình thức nào (trực tiếp, gián tiếp) cũng sẽ dẫn đến
những sai lệch trong các hoạt động kinh tế của một cá nhân như thay đổi hành
vi tiết kiệm, tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế vi mô, vĩ mô
khác như: sản xuất, việc làm... Bên cạnh đó, việc tăng thuế để trả lãi vơ hình
chung đã tạo ra sự phân phối lại thu nhập giữa những người nộp thuế và người
sở hữu trái phiếu chính phủ, theo đó người nộp thuế chắc chắn phải gánh chịu
sự suy giảm về thu nhập, tiêu dùng hoặc tiết kiệm.
1.2.4.5 Những tác động khác
Bên cạnh những tác động về mặt kinh tế, một quốc gia với khoản nợ
cơng lớn có thể phải đối mặt với những hệ quả khác do nó gây ra như: Làm
thay đổi quy trình quản lý Nhà nước do phải thay đổi chính sách tài chính quốc
gia để trang trải các khoản nợ; làm tổn hại đến hệ số tín nhiệm quốc gia; nguy
cơ suy giảm chủ quyền, giảm sự độc lập về chính trị hoặc khả năng lãnh đạo
quốc gia... Các quốc gia phải chịu sức ép từ phía chủ nợ và các tổ chức tài
chính quốc tế về việc phải thắt chặt chi tiêu, tăng thuế, giảm trợ cấp xã hội, và
xa hơn nữa là những yêu cầu về cải cách thể chế, thay đổi bộ máy quản lý, thay
đổi các định hướng kinh tế... Ngoài ra, việc lệ thuộc quá nhiều vào các khoản
vay nợ nước ngoài cũng sẽ làm giảm vị thế của quốc gia trong các mối quan hệ
song phương, đa phương với các đối tác là các nước chủ nợ.
1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Рhương рháр nghiên cứu lý thuyết
Đề tài tổng hợр, рhân tích, khái qt hóa lí luận và những nghiên cứu
liên quan để хác định khung lý thuyết cho đề tài.
1.3.2 Рhương рháр thu thậр dữ liệu
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thậр dữ liệu từ các nguồn chính
thống và có tính хác thực cao. Cụ thể là:
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
20
- Với các số liệu liên quan tới thâm hụt ngân sách và nợ công tại Việt
Nam, đề tài chủ yếu sử dụng các số liệu trên trang web của Bộ Tài chính, các
Bản tin nợ cơng 1 – 5, Báo cáo tình hình thực hiện NSNN và Bản tin Nợ nước
ngoài 1– 7. Ngoài ra, đối với các số liệu khác, nhóm nghiên cứu tổng hợр từ
các nguồn như Niên giám thống kê hàng năm, Sở giao dịch chứng khoán Hà
Nội (HNХ), Ngân hàng рhát triển châu Á (ADB), và một số nguồn chính thống
khác.
- Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấр theo năm từ năm 2017 trở về
trước: tốc độ tăng trưởng GDР, nợ nước ngoài, tiết kiệm, cán cân tài khoản
vãng lai, sự hình thành tổng vốn cố định, lãi suất thực, lạm рhát và độ mở
thương thu thậр từ IMF và WB. Với đối tượng nghiên cứu là nhóm các nước
mới nổi và đang рhát triển trên toàn thế giới, đặc biệt là bốn nước được tậр
trung nghiên cứu, số liệu chủ yếu được tổng hợр từ WB.
Рhương рháр рhân tích số liệu
Đề tài sử dụng cả рhương рháр định tính, bao gồm:
- Рhương рháр đối chiếu, so sánh: Từ bộ số liệu thu thậр được, đề tài
tiến hành so sánh thực trạng, хu hướng biến động và tính bền vững của nợ cơng
giữa Việt Nam với các quốc gia được lựa chọn để đánh giá cụ thể.
- Рhương рháр tổng kết kinh nghiệm: Đề tài tổng kết kinh nghiệm хử lý
nợ công
tại bốn quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
21
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC CUỘC KHỦNG
HOẢNG NỢ CÔNG TRONG QUÁ KHỨ VÀ THẢO LUẬN
2.1 Cuộc khủng hoảng ở Mỹ Latinh những năm 1980
Cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước Mỹ Latinh diễn ra trong những
năm 1980 nhưng có nguồn gốc manh nha từ những năm 1970. Đây được coi là
thảm họa lớn nhất trong lịch sử khu vực này, và cũng là cuộc khủng hoảng nợ
công đầu tiên trong lịch sử kinh tế thế gới hiện đại. Trong giai đoạn đó, các
quốc gia lớn như Brazil, Argentina và Mexico phát triển khá mạnh, sử dụng
nguồn vốn chủ yếu do vay nợ nước ngồi quy mơ lớn. Nguồn vốn đó được sử
dụng để nâng cấp, phát triển công nghiệp trong nước và cải thiện cơ sở hạ tầng.
Mơ hình cơng nghiệp hóa trên ở khu vực Mỹ Latinh bắt đầu nhận được
nhiều lời phê bình từ các nhà kinh tế cũng như các chính trị gia trong những
thập niên 60 của thế kỉ trước (Hirschman,1971; Fishlow, 1988, Love, 1994).
Các nhà kinh tế cho rằng mơ hình này, với sự can thiệp quá nhiều của nhà
nước, thiếu những tự do thông thường của thị trường, thể hiện sự không hiệu
quả thông qua việc tăng thuế và sử dụng những hàng rào mậu dịch hạn chế
nhập khẩu. Trong khi đó, giới chính trị gia lại phê bình sự yếu kém của nền
kinh tế trong việc thoát khỏi sự phụ thuộc vào thế giới bên ngoài, và quan trọng
hơn, họ cho rằng sự mất cân bằng trong xã hội vẫn là hệ quả được kế thừa
trong quá khứ ở khu vực này. Hirschman (1971), mặc dù không chia sẻ quan
điểm với giới chính trị gia, nhưng ơng cũng thể hiện được suy nghĩ của mình
về mơ hình này ở khu vực Mỹ Latinh, đó là: “Cơng nghiệp hóa được kỳ vọng
sẽ thay đổi trật tự xã hội, tuy nhiên tất cả những gì nó làm được chỉ là phát triển
sản xuất”.
Theo thời gian, sự yếu kém của mơ hình này dần dần ảnh hưởng đến tất
cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội. Sự mâu thuẫn xuất hiện đầu tiên ở
nhóm các quốc gia trong khối Southern Cone (Argentina, Chile, Paraguay,
Uruguay), là nơi chứng kiến những sự thay đổi rõ rệt trong xã hội đi kèm với
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
22
sự chậm lại của tốc độ tăng trưởng. Theo như phân tích của Fishlow (1988),
điều này xuất phát từ việc các quốc gia này vẫn duy trì một chế độ quân chủ
độc tài trong quá trình chuyển dịch lên nền kinh tế thị trường, dẫn đến sự mâu
thuẫn căn bản giữa tự do thị trường và sự can thiệp của chính phủ trên con
đường phát triển. Tại các quốc gia khác, mặc dù cũng có nhiều sự thay đổi
trong xã hội, nhưng lại không phải bắt nguồn trực tiếp từ việc chuyển dịch lên
nền kinh tế thị trường. Khu vực Trung Mỹ, nơi trở thành trung tâm của cuộc
khủng hoảng những năm 1980s, lại gặp phải vấn đề về sở hữu đất trong nơng
nghiệp và việc áp dụng mơ hình tăng trưởng phụ thuộc vào xuất khẩu thay vì
mơ hình cơng nghiệp hóa do nhà nước dẫn dắt (Bertola & Ocampo, 2012).
Colombia là một ví dụ điển hình, khi kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự
mâu thuẫn trong xã hội ở quốc gia này được giải thích bởi sự mất cân bằng
trong sở hữu ruộng đất, tồn tại kể từ sau chiến tranh thế giới thứhai. Những
mâu thuẫn này càng bùng nổ mạnh vào thập niên 80 và 90 bởi sự can thiệp của
giới buôn lậu.
Không phải tất cả các quốc gia Mỹ Latinh đều chịu ảnh hưởng bởi sự
yếu kém trong điều hành kinh tế vĩ mô. Thực tế, đây chỉ là vấn đề nghiêm
trọng xảy đến với Brazil và nhóm các quốc gia Southern Cone, ít nhất là cho
đến trước thập niên 70. Tuy nhiên, sự tồn tại thâm hụt ngân sách ngày càng
phát triển mạnh ở hầu hết các quốc gia Mỹ Latinh trong thời kỳ cuối củacủa
mơ hình cơng nghiệp hóa dưới sự dẫn dắt chủ đạo của nhà nước. Điều này là
kết quả của cảsự mất cân bằng cán cân thương mại lẫn sự gia tăng nhu cầu đầu
tư tại khu vực này. Chính những điều này là động lực chính khiến các quốc gia
này càng tích cực đi vay từ nước ngồi.
Nhìn vào biểu đồ dưới đây, có thể thấy rõ ràng rằng khoảng thời gian
hai thập kỷ bắt đầu từ đầu những năm 1960 áp dụng mơ hình cơng nghiệp hóa,
mặc dù thường xuyên tồn tại thâm hụt thương mại nhưng nhìn chung tăng
trưởng trong thời gian này vẫn ở mức cao, trung bình vào khoảng 5% mỗi năm.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
23
Tuy nhiên bắt đầu vào khoảng cuối thập niên 70 cho đến giữa thập niên 80,
tăng trưởng kinh tế bắt đầu suy giảm, thậm chí tăng trưởng âm. Và mặc dù
trong thập niên 80 này tồn tại thặng dư thương mại, nhưng tăng trưởng kinh tế
dù có phục hồi vẫn không thể quay lại so với mức trong hai thập niên trước đó.
Hình 4 Biểu đồ tăng trưởng GDP và cán cân thương mại tại Mỹ Latinh
1961-2010 (Nguồn: World Bank Database)
Bên cạnh đó, tỷ lệ nhập siêu gia tăng mạnh do các nước nhập khẩu
nhiều nguyên, vật liệu, cũng như công nghệ sản xuất từ nước ngồi để thực
hiện được mục tiêu cơng nghiệp hóa.
Hai điều trên dẫn đến sự gia tăng ngày càng lớn nhu cầu về nguồn vốn
của chính phủ. Do đó, các quốc gia đã vay nợ rất nhiều từ các quốc gia phát
triển khác và các tổ chức tài chính quốc tế.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
24
Hình 5 Biểu đồ nợ nước ngồi tại các quốc gia Mỹ Latinh 1970-2010
(%GNI)
(Nguồn: World Bank Database)
Việc vay nợ nước ngoài với quy mô lớn tiềm ẩn nhiều rủi ro và không
thể tiếp diễn được mãi. Vào năm 1979, Mỹ thực hiện hàng loạt chính sách thắt
chặt và đẩy lãi suất gia tăng. Điều này tương tự xảy ra với các quốc gia
châu Âu, khiến dịng vốn đầu tư tồn cầu bắt đầu chảy ngược ra khỏi các quốc
gia đang phát triển. Đồng thời, lãi suất gia tăng làm cho nghĩa vụ nợ tại các
quốc gia Mỹ Latinh tăng lên. Ngoài ra, khả năng trả nợ nước ngoài của các
quốc gia Mỹ Latinh lại phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu. Do suy thoái kinh tế
đầu những năm 1980 làm thu hẹp thương mại quốc tế cũng như giá cả hàng hóa
thế giới, đặc biệt là giá cả các nguyên liệu thô, khiến nguồn thu từ xuất khẩu tại
các quốc gia này giảm mạnh.
Từ giữa những năm 1975-1982, các khoản nợ công của các nước Latinh
đối với các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới tăng với tỉ lệ gộp hàng năm
lên đến 20%, khiến tổng vay nợ tưng từ 75 tỉ USD (1975) lên đến hơn 315 tỉ
USD (1983), trong đó, thanh tốn lãi suất và trả vốn gốc tăng mạnh từ 12 tỉ
USD lên 66 tỉ USD năm 1982 (The Berge 1999).
Hầu hết các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới đều từ chối hoặc
giảm cho vay các nước châu Mỹ Latinh. Trong khi đó, các khoản nợ vay của
LUAN VAN CHAT LUONG download : add
25
chính phủ các nước lại chủ yếu là vay ngắn hạn và các nước gặp khó khăn
trong việc thanh tốn nợ khi các tổ chức cho vay từ chối gia hạn các khoản vay.
Hàng tỉ USD nhanh chóng đến hạn thanh tốn và các dịng vốn bắt đầu thối
lui khỏi các quốc gia trong khu vực và các nước không thể vay thêm.
Tăng trưởng kinh tế khu vực trong thời gian này phụ thuộc nhiều vào
mức đầu tư từ nước ngoài. Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa thập
niên, tỉ lệ đầu tư chỉ dao động khoảng 20% GDP, đã tăng lên xấp xỉ 25% trong
giai đoạn 1975-1980. Ngay sau đó, bước sang thập niên 80 là khoảng thời gian
bắt đầu xảy ra khủng hoảng toàn khu vực, tỉ lệ đầu tư giảm mạnh xuống còn
gần 19% trong thập niên 90 và tiếp tục giảm xuống chỉ còn khoảng 18% trong
thập niên tiếp theo. Điều này càng chứng tỏ sự nhảy vọt của vốn vay nước
ngoài trong khoảng thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng nợ ở khu vực này.
Mơ hình cơng nghiệp hóa dưới sự dẫn dắt của nhà nước đồng thời cũng
mang đến nhiều khó khăn liên quan đến chính sách tài khóa ở các quốc gia này.
FitzGerald (1978) đã diễn giải điều này qua ba xu hướng: (i) sự gia tăng nhu
cầu chi tiêu của chính phủ, trong khi phần trăm chi tiêu cho các chương trình
phúc lợi xã hội lại có xu hướng giảm; (ii) sự chuyển dịch của cơ cấu thuế từ
thuế tài sản và thu nhập sang các loại thuế gián tiếp; (iii) sự gia tăng nhu cầu
vay vốn nước ngoài nhằm hỗ trợ khu vực tư nhân.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add