Tải bản đầy đủ (.pdf) (29 trang)

sáng kiến kinh nghiệm dự thi 09

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.78 MB, 29 trang )

2

BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN .
Giáo dục Quốc phòng - An ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc
gia, tác động tích cực và trực tiếp đến nhận thức của tồn dân trong nhiệm vụ
bảo vệ tổ quốc ,giữ gìn an ninh của đất nước, một nội dung cơ bản trong xây
dựng nền quốc phịng tồn dân, an ninh nhân dân, là mơn học chính khố trong
chương trình giáo dục của cấp THPT.
Mơn Giáo dục Quốc phịng - An ninh góp phần vào giáo dục tồn diện
cho học sinh về lịng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, niềm tự hào và sự trân
trọng đối với truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, của lực
lượng vũ trang nhân dân Việt Nam; có ý thức cảnh giác trước âm mưu thủ đoạn
của các thế lực thù địch; có kĩ năng quân sự, an ninh cần thiết để tham gia vào
sự nghiệp xây dựng, củng cố quốc phịng tồn dân, an ninh nhân dân.
Hiện nay với xu hướng dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhằm khuyến
khích học sinh tự học, tự nghiên cứu.Nhằm nâng cao được chất lượng giáo dục
trong nhà trường. Theo Quyết định số 16/2006 QĐ – BGD&ĐT ngày
05/06/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu "phải phát huy tính tích cực, tự
giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, khả năng
hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh". Chính vì
vậy chúng ta khơng thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lượng kiến thức ngày
càng nhiều mà chúng ta phải chú trọng đến phương pháp rèn luyện cho học sinh
một kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo ra cho học sinh lịng ham học,
khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên.
Giờ dạy môn GDQP – AN thực sự mang lại cho tơi cảm hứng muốn tìm
tịi nghiên cứu và học hỏi nhiều hơn nữa. Qua thời gian giảng dạy, nghiên cứu
tài liệu tơi thấy có một số thầy cơ đã đề cập đến, đã nghiên cứu và đưa ra
phương pháp luyện tập kỹ thuật “ ném lựu đạn xa trúng đích” của khối 11, tơi
đã tham khảo và vận dụng vào thực tế tại đơn vị. Tuy nhiên, khi áp dụng tơi thấy


nó lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thực tế của từng đơn vị, từng đối tượng


3
học sinh. Đối với trường THPT Đại An – Huyện ý yên – Tỉnh Nam Định, là đơn
vị mới thành lập, điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị cịn thiếu thốn; điều
kiện kinh tế vùng miền khó khăn, trình độ dân trí khơng đồng đều, chất lượng
tuyển sinh học sinh đầu cấp cịn thấp…. Do đó, việc hình thành kỹ năng động
tác của học sinh chưa đảm bảo yêu cầu.
Bên cạnh đó hội thao GDQP được trường tổ chức mỗi năm một lần qua
đó nâng cao tinh thần học tập cũng như trao đổi kinh nghiệm giảng dạy giữa
giáo viên trong trường. Học sinh được trau dồi những kỹ năng cũng như học tập
được nhiều kiến thức qua từng nội dung thi đấu. Là một giáo viên huấn luyện
học sinh trong nội dung thi đấu “ném lựu đạn” để thi hội thao tồn trường ,tơi
nhận ra sự thích thú cũng như quyết tâm thi đấu để đạt được thành tích cao nhất
của các em học sinh. Tuy nhiên qua nội dung thi “ném lựu đạn xa trúng đích” tơi
nhận thấy một điều là về kĩ thuật đa phần học sinh đều thực hiện tương đối tốt
động tác tuy nhiên về độ chính xác cũng như thể lực để thực hiện tốt tất cả các
lượt ném thì lại khơng đảm bảo.
Xuất phát từ những lý do nói trên với những kinh nghiệm của bản thân,
tôi tiến hành thực hiện sáng kiến kinh nghiệm: “Ứng dụng một số bài tập bổ trợ
nhằm phát triển sức mạnh và hoàn thiện kỹ thuật đứng ném lựu đạn xa trúng
đích cho học sinh lớp 11 trường THPT Đại An” với hy vọng việc rèn luyện thể
lực và kỹ thuật động tác của học sinh được cải thiện, góp phần nâng cao chất
lượng bộ mơn cũng như chất lượng tồn diện của học sinh nhà trường .
Sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã áp dụng trong việc giảng dạy ở khối 11
lớp 11B1, 11B2, 11B3, 11B4, trường THPT Đại An do tôi phụ trách trong năm
học 2019 -2020 đã đem lại kết quả rất khả quan.
II. MƠ TẢ GIẢI PHÁP
1.Mơ tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến.

Để đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới của đất nước công tác giáo dục
quốc phịng ở trường phổ thơng tiếp tục được đổi mới.
Căn cứ vào quyết định số 79/2007/QĐ- BGD&ĐT môn giáo dục quốc
phòng được đổi tên thành "Giáo dục Quốc phòng - An ninh" cho phù hợp với


4
điều kiện phát triển của đất nước. Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định Giáo
dục Quốc phòng - An ninh là một bộ phận của nền giáo dục quốc dân, một nội
dung cơ bản trong xây dựng nền Quốc phịng tồn dân, An ninh nhân dân, là
mơn học chính khố trong chương trình giáo dục cấp trung học phổ thơng.
Nhằm góp phần giáo dục tồn diện cho học sinh về lòng yêu nước và giữ nước
của dân tộc ta, của lực lượng vũ trang và nhân dân. Trên cơ sở đó, nâng cao
cảnh giác cách mạng, ý thức trách nhiệm của cơng dân, tích cực hoạt động góp
phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Để đảm bảo hồ nhập trong quá trình đổi mới giáo dục ở cấp trung học phổ
thông. Ngày 05 tháng 5 năm 2006 Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo ban hành
quyết định số 16/2006 QĐ- BGD &ĐT về chương trình phổ thơng cấp trung học
phổ thơng, trong đó có mơn học Giáo dục Quốc phòng - An ninh với thời gian
35 tiết cho mỗi khối lớp học, 105 tiết cho cả cấp học, đáp ứng yêu cầu tổ chức
dạy học theo phân phối chương trình.
1.1. Thuận lợi:
Bản thân tơi tốt nghiệp cử nhân sư phạm ngành GDTC – GDQP ghép
môn nên được đào tạo cơ bản vững về chuyên môn và bản thân luôn nhiệt tình
hăng say với cơng việc.
Đối với mơn Giáo dục Quốc phòng - An ninh, nhà trường cùng các cấp lãnh đạo
luôn quan tâm tạo mọi điều kiện thuận lợi như cử đi bồi dưỡng về chuyên môn,
thực hiện đảm bảo các chế độ đối với giáo viên và học sinh .
Điều kiện sân bãi, dụng cụ luôn được nhà trường quan tâm mua bổ sung đảm
bảo cho môn học.

1.2. Khó khăn
- Đối với giáo viên: Đội ngũ giáo viên Giáo dục quốc phòng - An ninh là
những giáo viên được đào tạo từ chuyên ngành giáo dục thể chất sang hoặc ghép
môn. Tuy đã được đào tạo bồi dưỡng và tập huấn hàng năm, nhưng do đây là
một lĩnh vực mới, kiến thức lại khá rộng nhiều nội dung trùng lặp với một số
môn như Địa lý, lịch sử, giáo dục công dân… kiến thức học xen lẫn thực hành


5
với lý thuyết, thời gian bồi dưỡng của giáo viên lại ngắn nên đã gặp khơng ít
những khó khăn trong khi giảng dạy.
- Đối với học sinh: Do các em sinh ra và lớn lên trong thời bình, do yêu cầu về
lượng kiến thức của các môn học nhiều, nên ảnh hưởng không nhỏ đến chất
lượng của bộ môn. Thể lực của học sinh cịn yếu do các em khơng chú trọng rèn
luyện hàng ngày.
Do một bộ phận không nhỏ học sinh và phụ huynh còn ngộ nhận coi đây là
môn học phụ nên dẫn đến ý thức học tập chưa tốt.
- Về khách quan:
Sân bãi không đảm bảo sau khi mưa một hai ngày sân lầy lội.
Trong khi đang học thực hành gặp phải những buổi trời mưa, thậm chí mưa
kéo dài trong nhiều ngày, nên ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập
Do trường nằm trong khu vực xa trung tâm nên việc mua sách giáo khoa
cũng rất khó, nhiều cửa hàng khơng bán, thư viện trường cũng thiếu đầu sách
cho học sinh mượn.
Dụng cụ trang thiết bị tuy được cấp tương đối đầy đủ và một số tự trang bị
nhưng vẫn còn thiếu như tranh ảnh giảng dạy còn hạn chế ở một số nội dung
hoặc là một số thiết bị không đảm bảo chất lượng hay lâu ngày nên đã bi hỏng
như máy bắn TEC 1, súng AK tập (composite), bia số 4… Vì vậy đã ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng học tập của học sinh.
Việc học mơn GDQP – AN địi hỏi người học phải nắm được cả nội dung

lý thuyết và thực hành được kỹ thuật động tác. Trong khi đó chương trình sách
giáo khoa mơn GDQP số tiết thực hành ít và thời gian một tiết học thực hành
phải học nhiều động tác mới nên học sinh có ít thời gian để luyện tập và hình
thành kỹ năng kỹ xảo. Đặc biệt là ở khối lớp 11 bài 6: Kỹ thuật sử dụng lựu đạn
là một nội dung khó nhưng thời gian học ít 3 tiết trong đó 1 tiết lý thuyết, 2 tiết
thực hành.
Tiết 26: Giới thiệu một số loại lựu đạn Việt Nam. Quy tắc bảo quản và sử
dụng lựu đạn.
Tiết 27: Tư thế động tác đứng ném lựu đạn


6
Tiết 28: Ném lựu đạn xa trúng đích.
Với thời lượng như trên thì việc giảng dạy chủ yếu nghiêng về mặt học
mới động tác, thời gian luyện tập cịn ít mà yêu cầu cần đạt lại khá cao là: Nam
25 m, Nữ 20m ném trúng đích đối với chương trình phổ thông. Để đạt được kết
quả này các em học sinh phải có thể lực tốt và luyện tập nhiều. Nhưng thực tế
hiện nay các em học sinh có thể lực rất yếu do các em có nhiều mơn học thời
gian giành cho có các hoạt động rèn luyện thể lực ít và nhiều em khơng có ý
thức tự học ở nhà.
Đối với bài này học sinh phải nắm được kiến thức phần lý thuyết về cấu tạo,
tính năng chiến đấu và nguyên lý hoạt động của Lựu đạn. Sau đó ở phần thực
hành tiết 27 phải nắm được kĩ thuật động tác, tiết 28 thực hành ném lựu đạn xa
trúng đích. Thơng thường khi ta dạy bài này giáo viên thị phạm động tác rồi tổ
chức cho học sinh tập luyện theo ba bước hoặc là theo phương pháp mới học
sinh tự nghiên cứu bài sau đó giáo viên chuẩn kiến thức rồi cho học sinh chia
nhóm tự tập luyện giáo viên giám sát chỉ đạo chung. Cả hai cách này đều dẫn
đến kết quả khơng cao thậm chí có những em khơng hề thực hiện được động tác
chứ khơng nói đến đạt được thành tích tốt. Hơn nữa khi ném các em còn phải
cầm súng và đeo lựu đạn trên người, điều này càng khiến các em khó khăn hơn

trong việc thực hiện kĩ thuật, .
* Những sai lầm học sinh thường mắc phải khi học bài này:
- Khi thực hiện kĩ thuật ném lựu đạn các em hay co tay ở giai đoạn trước khi rời
lựu đạn.
- Các em chưa biết cách phối hợp sức mạnh của toàn thân, lực rời rạc.
- Tâm lý khi lên thực hiện kĩ thuật chưa tốt, đặc biệt khi vào cuộc thi.
2.Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến.
2.1. Đối với học sinh.
- Học sinh hiểu được mục đích và ý nghĩa, trường hợp vận dụng của kĩ thuật
ném lựu đạn.
- Học sinh cần phải hiểu rõ về nguyên lý kỹ thuật động tác.


7
- Học sinh phải tự nghiên cứu bài ở nhà trước, xây dựng tâm lý tự tin sẵn
sàng.
Nhìn về tổng qt của nội dung này chúng ta thấy khơng có gì là khó khăn
đối với người học, nhưng trong thực tế khi giảng dạy chúng ta mới thấy nảy sinh
ra nhiều vấn đề đối với người học như các em không biết cách thực hiện động
tác hay là tâm lý còn ngại ngùng khi thực hiện động tác, đặc biệt là những học
sinh nữ. Chính vì vậy giáo viên phải đưa ra được những phương pháp hợp lý để
học sinh có thể nhanh chóng tiếp thuđược kiến thức cũng như không bị nhàm
chán trong khi học tập.
Để đảm bảo được thời gian và nội dung bài học ở bài này, nếu giao cho
học sinh tự nghiên cứu rồi giáo viên tổ chức tập luyện thì khó có thể đảm bảo
được thời gian cũng như học sinh tiếp thuđược động tác. Chính vì vậy ở nội
dung này, để đảm bảo được tính hiệu quả ngay từ tiết 26 lý thuyết: Giới thiệu
một số loại lựu đạn Việt Nam. Quy tắc bảo quản và sử dụng lựu đạn. Giáo viên
nên dạy tập trung vào những ý chính, sau đó dành thời gian cho học sinh quan
sát video, hình ảnh về tư thế động tác đứng ném lựu đạn, để các em bước đầu

hình thành ra động tác. Yêu cầu học sinh về nhà thực hiện trước động tác bằng
cách đọc sách giáo khoa và xem các video clip về đứng ném lựu đạn để tham
khảo trước . Tiết 27, 28 thực hành giáo viên giành nhiều thời gian cho học sinh
luyện tập động tác và tập một số bài tập bổ trợ, nhằm phát triển thể lực và giúp
các em hoàn thiện kỹ thuật động tác.
2.2. Đối với giáo viên.
Giáo viên phải xây dựng một kế hoạch cụ thể, tổ chức luyện tập khoa học, chuẩn
bị đầy đủ thiết bị dụng cụ dạy học. Duy trì nghiêm chế độ học tập đã được triển
khai theo kế hoạch. Đây là nội dung quan trọng, quyết định trực tiếp đến chất
lượng bài học.
Xây dựng kế hoạch học tập là một nội dung hết sức quan trọng nhằm điều
hành, duy trì học tập của lớp học không gây nhàm chán. Tổ chức luyện tập
không chặt chẽ, phương pháp luyện tập không tốt không những kết quả luyện
tập khơng cao mà cịn làm cho động tác có tật khó sửa.


8
Đối tượng tôi chọn là học sinh 4 lớp 11 với 153 em, tỷ lệ nam, nữ giữa các
lớp tương đương với nhau. Thể lực giữa các lớp lúc chọn vào là ngẫu nhiên gần
như bằng nhau.Được chia làm 2 nhóm; 1 nhóm làm thực nghiệm, nhóm cịn lại
để đối chứng.
Nhóm thứ nhất: Tập luyện bình thường theo hướng dẫn của sách giáo khoa
và phương pháp học như năm trước bao gồm các lớp:
11B1 có 38 học sinh
11B2 có 39 học sinh
Tổng số học sinh của nhóm thứ nhất là 77 học sinh.
Nhóm thứ hai: Tập luyện theo phương pháp thực nghiệm áp dụng các bài tập
bổ trợ gồm các lớp:
11B4 có 37 học sinh
11B3 có 39 học sinh

Tổng số học sinh nhóm thứ hai là: 76 học sinh.
Trước khi áp dụng một số bài tập cho nhóm thực nghiệm, thực hiện kiểm tra
hai nhóm thu được kết quả sau:
2.2.1. Bảng 1: Nhóm đối chứng:
Lớp

TS

Giỏi (9-10)

Khá (7-8)

Tb (5-6)

Khơng đạt(dưới
5)

SL

%

SL

%

SL

%

SL


%

11B1

38

2

5,3

9

23,7

10

25,6

18

47,4

11B2

39

1

2,6


8

20,5

11

28,2

19

48,7

Tổng

77

3

3,8

17

22,0

21

27,0

37


48,1


9
2.2.2. Bảng 2: Nhóm thực nghiệm:
Lớp

TS

Giỏi (9-10)

Khá (7-8)

Tb (5-6)

Khơng đạt(dưới 5)

SL

%

SL

%

SL

%


SL

%

11B3

39

2

5,1

10

25,6

11

28,2

16

41,0

11B4

37

1


2,7

7

18,9

9

24,3

20

54,1

Tổng

76

3

3,9

17

22,3

20

26,4


36

47,4

2.3. Biện pháp thực hiện các bài tập bổ trợ.
Để góp phần nâng cao hiệu quả của tiết học kĩ thuật sử dụng lựu đạn nhằm
nâng cao thành tích cũng như tạo sự hăng say tập luyện của học sinh, tôi đã
nghiên cứu và vận dụng đem vào giảng dạy các bài tập bổ trợ phát triển thể lực
song song vào trong thời gian tiết học và với thời gian theo phân phối chương
trình, chỉ có 3 tiết ( 1 lý thuyết và 2 thực hành), tôi luôn chủ động nhắc nhở học
sinh nên tập luyện thêm ờ nhà để nhằm nâng cao kết quả học tập cũng như sức
khỏe mỗi bản thân với thời gian cho phép.
2.3.1. Nhóm các bài tập phát triển sức mạnh.
- Đặc điểm khi thi đấu ném lựu đạn và tập luyện nội dung ném lựu đạn là
người học cần có một thể lực thật tốt để ln đảm bảo được khi thi đấu thì phải
thực hiện tốt tất cả yêu cầu được đề ra.Như chúng ta thấy khi đi tham gia thi đấu
hội thao GDQP mỗi học sinh cần phải thực hiện đầy đủ 7 lượt ném (trong đó có
hai lượt ném thử và năm lần ném tính điểm).Vì vậy ln đặt ra cho VĐV khi thi
đấu là phải đảm bảo có một nền tảng thể lực thật tốt.
- Từ cơ sở lý luận cũng như quan điểm vận động tập luyện và khi thi đấu
môn ném lựu đạn. Các bài tập để phát triển sức mạnh được tôi đưa vào cho học
sinh tập luyện như sau.
Bài tập 1: Ném lựu đạn xa.
- Mục đích: Phát triển sức mạnh của cánh tay và phối hợp động tác ra tay
đúng trong động tác ném lựu đạn .
- Chuẩn bị: quả lựu đạn tập, sân tập, súng Ak, bao xe (Tùy theo điều kiện cụ
thể của trường để chuẩn bị sân tập cho hợp lý).


10

- Cách tập luyện: Giáo viên gọi 2-3 học sinh lên thực hiện, đứng thành 1 hàng
ngang cách nhau khoảng 2m. Học sinh thực hiện động tác ném lựu đạn theo
khẩu lệnh của giáo viên. Yêu cầu học sinh thực hiện động tác vung tay cho đúng
góc độ và thực hiện ném lựu đạn xa nhất có thể.
- Thực hiện: Đứng chân trước chân sau (không được lấy đà, không được
nhảy lên)
Đội hình tập luyện:

x
x

x

x

x

x

x

x

x

x

x

x


x

x

x

x

x

x

x (GV)


11

Xxxxx

x

Hướng ném

Xxxx x

Xxxxxx

50m


50m

x

Bài tập 2: Nằm sấp chống đẩy.
Mục đích: Phát triển sức mạnh của cổ tay và cánh tay .
Chuẩn bị: Sân tập luyện .

vạch giới hạn


12

( Hình ảnh sân tập luyện)
Cách tập luyện: Khi có học sinh ném chưa đạt yêu cầu thì sẽ bị phạt trống đẩy
15 lần đối với nữ, 25 lần đối với nam. Đây vừa là cách tập thể lực vừa là cách thi
đua có thưởng phạt để kích thích tinh thần học của học sinh và tiết kiệm thời
gian. Ngoài ra phải yêu cầu học sinh tự tập ở nhà nhiều hơn.
Động tác 1: Hai tay chống xuống đất thực hiện động tác hít sâu thả người
xuống.
Động tác 2: Dùng sức mạnh của cả cánh tay từ từ nâng người lên cao khỏi mặt
đất đồng thời thở ra.
Đội hình tập luyện .


13
x
x
x


x
x

x

x

x

x

x

x

x

x

x

x

x

x

x

x (GV)


2.3.2. Nhóm các bài tập phát triển khéo léo ( năng lực phối hợp vận động).
- Năng lực phối hợp vận động trong nội dung thi đấu ném lựu đạn cũng như
trong khi học đòi hỏi phải kết hợp nhiều năng lực khác nhau. Song tuỳ theo khả
năng để chúng ta có thể phát huy tốt nhất năng lực của từng cá nhân học sinh.
Đặc biệt là các năng lực liên kết, định hướng, phân biệt, phản ứng và thích ứng,
ngồi ra cịn có năng lực nhịp điệu trong thi đấu và thăng bằng tâm lý trong thi
đấu.
- Năng lực định hướng được thể hiện ở khả năng xác định hướng đi chính xác
và đường đi đúng của lựu đạn tập cũng như khi thi đấu.
- Năng lực phân biệt vận động được thể hiện khả năng dùng sức cùng với cảm
giác về sân bãi, cảm giác về khoảng cách cũng như về độ chuẩn xác để có thể
đạt được điểm số cao nhất có thể. Học sinh khi mới tập do khả năng này còn hạn
chế nên tỷ lệ ném chưa đạt điểm cao hoặc ra ngoài rất nhiều.
- Năng lực thích ứng, điều này thể hiện ở tâm lý thi đấu của học sinh những
học sinh khi có tâm lý thi đấu vững thì thường đạt được những thành tích cao.
Bài tập :Ném lựu đạn xa theo trực quanđúng hướng
- Mục đích: Phối hợp khả năng quan sát nhằm phát triển các năng lực vận
động. Giúp học sinh quan sát và định hướng tốt hướng đi của lựu đạn cũng như


14
trực quan quan sát và định hướng tốt tâm lý cũng như mục tiêu của nội dung yêu
cầu.
- Sân tập, cịi, cờ báo điểm, vơi vẽ vịng, lựu đạn, súng Ak, bao xe.
- Cách tập: Vẽ một vòng tròn đồng tâm đúng nội dung và kích thước thi đấu
mỗi lượt hoc sinh thực hiện lần lượt xa dần khoảng cách (chia nhóm tập luyện
nam nữ riêng. Nữ bắt đầu từ 5m và cứ mỗi lần nâng dần lên 5m và kết thúc ở
mét thứ 20. Nam cũng tập luyện theo phương pháp trên và cũng kết thúc ở mét
thứ 25).


x
x

Hướng ném

x
x
x

6 7
7

x
x
x
x
x

5m

x

5m
..

+ Tùy vào điều kiện cụ thể của từng trường mà giáo viên có thể áp dụng những
bài tập cho phù hợp nhất đối với yêu cầu chung của môn học ,cũng như yếu tố
tập luyện đối với từng học sinh.
+ Trên đây là toàn bộ hệ thống các bài tập bổ trợ phát triển thể lực cũng như

khả năng chuyên môn mà tôi đưa vào giảng dạy cho học sinh trong thời gian các


15
em học nội dung lựu đạn cũng làm yếu tố tiền đề cho hội thao cấp trường ,cũng
như nội dung hội thao quốc phòng của tỉnh.
III. HIỆU QUẢ DO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐEM LẠI .
1. Hiệu quả kinh tế .
Thông qua “Ứng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm phát triển sức mạnh và
hoàn thiện kỹ thuật đứng ném lựu đạn xa trúng đích cho học sinh lớp 11
trường THPT Đại An”giúp học sinh rèn luyện thể lực và nâng cao sức khỏe của
học sinh, giúp học sinh tiết kiệm thời gian và tiền bạc để đi tập GYM ,ZUMBA
,bên cạnh đó khi được nhân rộng ra các trường THPT nhà trường và học sinh sẽ
tiết kiệm được thời gian nghiên cứu bài tập này và đỡ một khoản tiền để mua
sách tài liệu tham khảo ,nghiên cứu.
2.Hiệu quả về mặt xã hội .
Trong khía cạnh về lợi ích xã hội .Tôi chú trọng phân tích vấn đề cải thiện
chất lượng giáo dục THPT.
2.1 Phân tích .
Trong năm học 2019-2020 để đánh giá năng lực phát triển về thể lực chuyên
môn cũng như kỹ thuật mà các em đã được học tôi đã đưa nội dung thi đấu đặc
trưng để kiểm tra cho cả 2 nhóm.(nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng)
a. Nội dung kiểm tra:
-Thi ném lựu đạn xa đúng trúng đích.
b. Cách tiến hành kiểm tra và thang điểm.
*) Điều kiện ném:
- Bãi ném bảo đảm an tồn theo quy định ,thí sinh ném lựu đạn có trang bị
súng.
- Lựu đạn tập Φ-1 (khơng có ngịi nổ), nặng 450 gam.
- Đích ném: 07 vịng trịn đồng tâm có đường kính 1m, 1,5m, 2m, 2,5m,

3m, 3,5m, 4m; các đường giới hạn rộng 0,5cm nằm phía vịng trong.
- Cự ly ném:
- Đối với nam: 25m tính từ vạch giới hạn đến tâm vòng tròn.


16
- Đối với nữ: 20m tính từ vạch giới hạn đến tâm vòng tròn.
- Số quả ném: 05 quả (02 quả ném thử và 03 quả ném tính điểm).
- Thời gian ném: 3 phút.
*) Quy tắc ném.
- Sau khi nghe khẩu lệnh của trọng tài: “Vào tuyến ném”, thí sinh vận
động vào vị trí và làm cơng tác chuẩn bị; khi nghe khẩu lệnh “ 2 quả ném thử,
ném”, thí sinh thực hiện động tác ném và không bắt buộc phải ném hết 2 quả.
Điểm rơi được báo ngay sau mỗi quả ném.
- Khi chuyển sang ném tính điểm, thí sinh phải báo cáo: Số… xin ném
tính điểm và khi trọng tài phát lệnh: “03 quả ném tính điểm, ném”, VĐV thực
hiện động tác ném. Điểm rơi được báo ngay sau mỗi quả ném, sau đó cộng 3 lần
ném chia 3 lấy điểm trung bình.
- Khi ném, một tay cầm súng kẹp ngang hơng; có thể đứng tại chỗ hoặc
chạy lấy đà để ném.
2 .2 Kết quả thu được.
Sau khi kiểm tra nội dung trên cho cả 4 lớp ở cả 2 nhóm tính bình qn điểm
kiểm tra của học sinh có kết quả như sau:
Bảng 1: Nhóm khơng đưa các bài tập bổ trợ, tập các bài tập đơn thuần.
Lớp

TS

Giỏi (9-10)


Khá (7-8)

Tb (5-6)

Không đạt(dưới
5)

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

11B1

38

3

7,9


11

28,9

16

42,1

8

21,1

11B2

39

2

5,1

10

25,6

20

51,3

7


18

Tổng

77

5

6,5

21

27,3

36

46,7

15

19,5


17
Bảng 2: Nhóm đưa các bài tập bổ trợ vào áp dụng tập luyện hàng ngày theo
phương pháp thực nghiệm.
Lớp

TS


Giỏi (9-10)

Khá (7-8)

Tb (5-6)

Không đạt(dưới
5)

SL

%

SL

%

SL

%

SL

%

11B3

39


9

23,1

18

46,1

12

30,8

0

0

11B4

37

7

18,9

13

35,1

15


40,5

2

5,4

Tổng

76

16

21,1

31

40,8

27

35,5

2

2,6

2.3Nhận xét, đánh giá.
Qua so sánh 2 bảng thành tích kiểm tra trên của 2 nhóm đối tượng thực
nghiệm và đối chứng ta thấy.Kết quả học tập của các em được nâng lên rõ rệt.
So sánh thành tích kiểm tra của nhóm thực nghiệm được nâng cao rõ rệt:

Loại khá giỏi: bình quân tăng cao (Do loại trung bình và chưa đạt giảm).
Loại trung bình: bình quân tăng (Do loại chưa đạt giảm).
Chưa đạt: bình quân giảm( Do loại khá giỏi, trung bình tăng lên).
Thứ nhất: Các em được áp dụng các bài tập bổ trợ mới có tinh thần thoải mái
hơn, u thích tập luyện hơn mặc dù tập luyện mệt hơn khi học cũng như khi thi
đấu kết quả kiểm tra đánh giá về kỹ thuật cũng như tố chất thể lực của nhóm
được thực nghiệm tăng lên rõ rệt.
Thứ hai: Từ cơ sở các bài tập thể lực đó ở trường, ở lớp, các em đã tích cực hơn
trong việc luyện tập ở nhà. Từ đó các em phát triển tốt hơn về mặt thể chất thể
lực chuẩn bị cho việc tiếp thu nhanh các môn học khác.
Đặc biệt các em học sinh nữ, nhiều em cũng đã rất thích thú tập luyện và đạt kết
quả khá cao. Ở nhóm thực nghiệm có duy nhất một trường hợp chưa đạt là một
học sinh nữ do có sức khỏe yếu nên có hạn chế hơn.
Từ những con số trên cho thấy việc tôi áp dụng SKKN với đối tượng học
sinh lớp 11 ở trường THPT Đại An có học lực yếu, trung bình và khá đã có hiệu


18
quả rất mạnh. Sáng kiến kinh nghiệm mà tôi đưa ra đã giúp học sinh rèn luyện
kỹ thuật động tác và nâng cao thể lực của bản thân. Từ đó cũng giúp các em có
tinh thần thoải mái và yêu thích mơn học hơn.
3. Khả năng áp dụng và nhân rộng .
Ứng dụng một số bài tập bổ trợ nhằm phát triển sức mạnh và hoàn thiện kỹ
thuật đứng ném lựu đạn xa trúng đích cho học sinh lớp 11 trường THPT Đại An
đã được áp dụng tại trường THPT Đại An ,ý yên ,Nam Định đã đạt hiệu quả cao
và nhân rộng ra các trường trung học phổ thông ở bộ mơn giáo dục quốc phịng an ninh lớp 11.
IV.CAM KẾT KHƠNG SAO CHÉP HOẶC VI PHẠM BẢN QUYỀN
Tơi xin cam đoan sáng kiến trên không sao chép hoặc vi phạm bản quyền
V, ĐỀ XUẤT , KIẾN NGHỊ
1. Đề xuất :

Luyện tập “kĩ thuật ném lựu đạn” là nội dung quan trọng góp phần phát
triển thể lực, hình thành phản xạ nhanh, phán đốn chính xác cho người tập,
đồng thời góp phần xây dựng Qn đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện
đại. Mặc dù vậy trong những năm vừa qua, công tác giảng dạy và học tập nội
dung này ở một số trường phổ thơng, cịn đại khái kết quả khơng cao, thậm chí
có nhiều học sinh khơng thể thực hành được kĩ thuật đơng tác, thành tích khơng
cao. Hoặc ta có thể nhận thấy khi ở trường tổ chức hội thao cho học sinh có
nhiều học sinh ném lựu đạn các em thực hiện sai kĩ thuật.
Căn cứ vào tình hình thực tiễn của nhà trường và một số trường xung
quanh, nên tôi đã nghiên cứu và mạnh dạn đưa vào áp dụng nội dung này tại
trường mình giảng dạy và cũng đã có những chuyển biến tích cực.
Trên đây là những kinh nghiệm của tơi đã được rút ra từ thực tế trong quá
trình giảng dạy tại trường trung học phổ thông Đại An -ý yên-Nam Định. Có thể
phương pháp của tơi trong nội dung “Ném lựu đạn” chưa phù hợp với một số
trường khác, nhưng để góp phần vào cơng cuộc đổi mới phương pháp giảng dạy
mơn Giáo dục quốc phịng - An ninh, tơi dã mạnh dạn đưa vào thực nghiệm tại
trường tôi đang giảng dạy. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng


19
nghiệp, để ý tưởng của tơi hồn chỉnh hơn và có thể đưa vào thực nghiệm ở
phạm vi rộng hơn.
2. Kiến nghị:
- Đối với Sở GD&ĐT:
Cần tập trung đội ngũ giáo viên cốt cán của bộ môn tổ chức triển khai các
chun đề của mơn học trong tồn tỉnh. Tăng cường mở các lớp tập huấn về
công tác giáo dục quốc phòng an ninh cho cán bộ giáo viên giảng dạy để các
thầy, cơ giáo có thêm những kinh nghiệm trong q trình giảng dạy. Tăng cường
cho các thầy cơ giáo đi học thêm các lớp văn bằng 2 để các giáo viên được nâng
cao về chuyên môn .

- Đối với nhà trường:
+ Tập trung ưu tiên trang bị Thiết bị và đồ dùng dạy học; nâng cấp trang
thiết bị để tăng cường đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng cơng nghệ thơng
tin.
+ Tập trung chỉ đạo tốt, có chính sách động viên giáo viên tổng hợp, viết
sáng kiến kinh nghiệm, áp dụng vào thực tế giảng dạy’
+ Chỉ đạo tổ, nhóm chun mơn tăng cường hoạt động nghiên cứu, cải
tiến và đổi mới phương pháp dạy học.
- Đối với tổ - nhóm chun mơn:
+ Tăng cường cơng tác sinh hoạt tổ nhóm chuyên, tập trung đi sâu vào đổi
mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin, viết và áp dụng đề tài
sáng kiến kinh nghiệm.


20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình: chiến thuật và bộ binh,( nhà xuất bản Quân đội nhân dân Việt
Nam. Hà Nội – 2005)
2. Giáo trình, Phương pháp giảng dạy mơn giáo dục quốc phòng,( nhà xuất
bản Quân đội nhân dân. Hà Nội – 2005).
3. Tài liệu tập huấn giáo viên giáo dục quốc phòng – an ninh cấp trung học
phổ thơng.
4. Phương pháp giảng dạy mơn giáo dục quốc phịng - an ninh ,( Đại tá Lê
Văn Nghệ).


1

PHỤ LỤC
Một số hình ảnh minh chứng cho tiết dạy thực hành đứng ném lựu đạn xa

trúng đích của học sinh trường THPT Đại An

.

hình ảnh sân bãi để học sinh thực hành tập đứng ném lựu đạn.


2

Hình 1

Hình 2

Hình 1,2 là hình ảnh đội hình tập trung lớp


3

Hình 3

Hình 4
Hình 3,4 là hình ảnh giáo viên chuẩn bị ném lựu đạn, học sinh quan sát


4

Hình 5

Hình 6



5

Hình 7

Hình 8
Hình 5,6 trang 4 và hình 7,8 trang 5 là hình ảnh giáo viên phân tích kết
hợp làm mẫu đứng ném lựu đạn xa trúng đích, hoc sinh quan sát


6

Hình 9

Hình 10


×