Tải bản đầy đủ (.pdf) (62 trang)

Đánh giá rủi ro sinh thái đối với nước thải khu công nghiệp liên chiểu thành phố đà nẵng

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.01 MB, 62 trang )

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

TRẦN THỊ THU LỘC

ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI
ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
KHU CÔNG NGHIỆP LIÊN CHIỂU – TP. ĐÀ NẴNG

Đà Nẵng – Năm 2013


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG

TRẦN THỊ THU LỘC

ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI
ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
KHU CÔNG NGHIỆP LIÊN CHIỂU – TP. ĐÀ NẴNG

Ngành : Cử nhân Sinh – Môi trường

Người hướng dẫn : Th.S Kiều Thị Kính

Đà Nẵng – Năm 2013


LỜI CAM ĐOAN


Tơi cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai
cơng bố trong bất kì cơng trình nào.

Tác giả khóa luận kí và ghi rõ họ tên

Trần Thị Thu Lộc


LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn: Th.S
Kiều Thị Kính đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực
hiện đề tài này. Nhân dịp này, tơi xin bày tỏ lịng biết ơn chân thành đến các thầy cô
Trường ĐH Sư phạm Đà Nẵng, đặc biệt là các thầy cô khoa Sinh – Môi trường đã
trang bị cho tôi nền tảng kiến thức vững chắc về quản lý môi trường.
Cuối cùng, tôi xin gởi lời cám ơn đến tập thể lớp 09CSM đã ln động viên và
giúp đỡ tơi trong q trình làm luận văn này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn và gửi đến thầy cô những lời chúc tốt
đẹp trong cuộc sống và trong cơng việc!
Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng song cũng không thể nào tránh khỏi những sai
sót cần phải sửa chữa, bổ sung, tơi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cơ và những
ai quan tâm đến đề tài này để bài báo cáo được hoàn thiện hơn.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1


1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục tiêu đề tài .......................................................................................................... 2
2.1. Mục tiêu tổng quát .............................................................................................. 2
2.2. Mục tiêu cụ thể ................................................................................................... 3
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài ...................................................................................... 3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

4

1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI ......................................... 4
1.1.1. Khái niệm về đánh giá rủi ro sinh thái ............................................................ 4
1.1.2. Ý nghĩa của công cụ đánh giá rủi ro sinh thái ................................................. 7
1.1.3. Lịch sử nghiên cứu về đánh giá rủi ro sinh thái .............................................. 7
1.1.4. Thực trạng nghiên cứu áp dụng đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi
trường trên Thế giới và Việt Nam ............................................................................. 8
1.1.5. Khả năng áp dụng đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi trường ở Việt
Nam ......................................................................................................................... 14
1.2. TỔNG QUAN VỀ KCN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG ................................... 15
1.3. CHỦ TRƯƠNG CỦA TP VỀ PHÁT TRIỂN KT-XH VÀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG Ở CÁC KCN TẠI TP. ĐÀ NẴNG ........................................................... 19
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU ............................................................................. 22
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................................... 22
2.2.1. Phương pháp hồi cứu dữ liệu ........................................................................ 22
2.2.2. Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia của cộng đồng ....................... 23


2.2.3. Phương pháp quan sát hiện trường ................................................................ 23
2.2.4. Phương pháp rủi ro bán định lượng............................................................... 23
2.2.5. Phương pháp ma trận..................................................................................... 24

2.2.6. Phương pháp chuyên gia ............................................................................... 26
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

28

3.1. CÁC YẾU TỐ RỦI RO SINH THÁI TỪ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP Ở
KCN LIÊN CHIỂU..................................................................................................... 28
3.3. CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỊU TÁC ĐỘNG TỪ NƯỚC THẢI KCN LIÊN CHIỂU
.................................................................................................................................... 38
3. 4. DỰ BÁO VÀ PHÂN VÙNG TÁC ĐỘNG RỦI RO SINH THÁI TỪ NƯỚC
THẢI LIÊN CHIỂU ................................................................................................... 42
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

44

KẾT LUẬN................................................................................................................. 44
KIẾN NGHỊ ................................................................................................................ 44


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BVTV

Bảo vệ thực vật

CNMT

Công nghệ môi trường

EcoRA


Đánh giá rủi ro sinh thái

GDP

Tổng sản phẩm nội địa hay tổng sản phẩm quốc nội

HST

Hệ sinh thái

KCN

Khu công nghiệp

KT – XH

Kinh tế - xã hội

NRC

Hội đồng nghiên cứu quốc gia

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TP

Thành phố


TSCA

Đạo luật kiểm soát chất

UBND

Ủy ban nhân dân

USEPA

Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ

VQGYD

Vườn quốc gia Yok Ðôn

XLNTTT

Xử lý nước thải tập trung


DANH MỤC CÁC HÌNH
Số hiệu hình
vẽ

Tên hình vẽ

Trang


1.1.

Khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên (Nguồn: [1])

5

1.2.

Khuôn khổ đánh giá rủi ro sinh thái (sửa đổi từ Mỹ
EPA, 1992a).

6

1.3.

Khung tiếp cận đánh giá rủi ro (Nguồn: [1])

13

1.4.

Quy hoạch Khu công nghiệp Liên Chiểu

17

2.1.

Khung logic đánh giá rủi ro sinh thái nước thải từ
KCN Liên Chiểu


27

3.1.

Bản đồ thể hiện mức độ của các yếu tố rủi ro và các
hệ sinh thái chịu tác động xung quanh khu vực KCN
Liên Chiểu

37

3.2.

Cá chết trên sông Cầu Trắng KCN Liên Chiểu

39

3.3.

Váng dầu mỡ nổi trên sông Cầu Trắng do nước thải
từ KCN Liên Chiểu

40

3.4.

Nước thải từ HTXLNT của KCN Liên Chiểu đổ ra
sông Cầu Trắng

40


3.5.

Ốc bươu tại khu vực KCN Liên Chiểu

41

3.6.

Giếng nước không sử dụng được được do ô nhiễm tại
1 hộ dân ở khu vực gần HTXLNT KCN Liên Chiểu

42

3.7.

Bản đồ thể hiện các vùng được dự báo có mức rủi ro
cao bởi ảnh hưởng của nước thải công nghiệp tại khu
vực xung quanh KCN Liên Chiểu

43


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

Trang

bảng

2.1.

Danh sách các ngành sản xuất tại KCN Liên Chiểu

17

2.2.

Thang điểm đánh giá mức độ rủi ro dựa vào chỉ số
RQ

23

2.3.

Bảng ma trận thang điểm rủi ro

24

2.4.

Đề xuất thang điểm đánh giá mức độ thiệt hại của
nước thải công nghiệp gây ra

24

2.5.

Bảng đề xuất thang điểm đánh giá đối với khả năng
xảy ra rủi ro của nước thải công nghiệp


25

2.6.

Bảng đề xuất thang điểm đánh giá mức độ rủi ro của
nước thải công nghiệp

26

3.1.

Thương số RQ đối với nước thải công nghiệp ở KCN
Liên Chiểu

28

3.2.

Bảng mức độ rủi ro của các vị trí quan trắc tại KCN
Liên Chiểu

31

3.3.

Bảng ma trận đánh giá tác động của các yếu tố rủi ro
đối với các yếu tố chịu tác động

33


3.4.

Bảng phân vùng rủi ro cho các yếu tố rủi ro tại KCN
Liên Chiểu

34

3.5.

Các hệ sinh thái chịu tác động bởi ảnh hưởng của
nước thải KCN Liên Chiểu

38


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh trên Thế giới, theo Tổ chức
Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) dự báo, mức tăng trưởng GDP trung bình của
Việt Nam giai đoạn 2011-2015 đạt khoảng 6,3%/năm [8]. Tuy nhiên, tăng trưởng
kinh tế một cách nhanh chóng và mạnh mẽ cũng đồng thời tạo nên những thách thức
không lường trước được về mặt môi trường.
Thành phố (TP.) Đà Nẵng – Trung tâm kinh tế của miền Trung – Tây Nguyên,
đang phấn đấu trở thành một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp cơng
nghiệp hố, hiện đại hố và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp trước năm 2020
[14]. Phát triển công nghiệp một mặt mang lại nhiều dấu hiệu t ch cực như giải quyết
việc làm, tăng trưởng kinh tế, nhưng mặt khác cũng gây tác động tiêu cực đến môi
trường, đặc biệt là tác nhân nước thải. Hiện nay, trên địa bàn thành phố có 6 khu
công nghiệp KCN với tổng diện t ch 1.143,45ha và tổng lượng nước thải lên đến

6.835m3/ngày [3], một số KCN đã trở thành điểm nóng về ơ nhiễm mơi trường kéo
dài trong niều năm, tác động tiêu cực đến môi trường và hệ sinh thái khu vực ung
quanh. Đây ch nh là sức p rất lớn của phát triển KT-

H đến môi trường của thành

phố.
KCN iên Chiểu là 1 trong 6 KCN của TP. Đà Nẵng có vai tr quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội (KT- XH) của thành phố. Nhưng đáng lưu ý là cơ
sở hạ tầng KCN không được đầu tư đồng bộ với quá tr nh phát triển công nghiệp,
đến năm 2011, KCN này vẫn chưa có hệ thống ử lý nước thải tập trung

NTTT ,

tạo nên nguồn phát sinh ô nhiễm do nước thải chưa qua ử lý đạt quy chuẩn môi
trường trước khi thải ra nguồn tiếp nhận. Đáng chú ý là hiện tượng cá chết trên sông
Cầu Trắng thuộc phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu. Theo văn bản của Sở Tài
nguyên và Môi trường TP. Đà Nẵng đã gửi UBND TP. Đà Nẵng, báo cáo nguyên
nhân gây nên tình trạng trên là do nguồn nước sơng bị ơ nhiễm. Sông Cầu Trắng là
1


nơi tiếp nhận nước thải từ KCN Liên Chiểu. Nước thải không qua ử lý đạt chuẩn
được ả thải ra ngồi mơi trường gây ơ nhiễm nguồn tài ngun nước mặt, nước
ngầm đồng thời gây ô nhiễm môi trường đất, không kh .

nhiễm môi trường sẽ gây

tác động đến nguồn lợi kinh tế, sức khỏe của con người, suy thoái hệ sinh thái của
nguồn tiếp nhận. Việc dự báo được những tác hại rủi ro sẽ loại bỏ được những nguy

cơ tiềm ẩn gây hậu họa.
Đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk Assessment – EcoRA) là công cụ kỹ
thuật được sử dụng có hiệu quả trong quản lý mơi trường tại nhiều quốc gia trên Thế
giới như Trung Quốc, Hoa Kì, Nhật Bản, Australia [24],[25],[28]. Tuy nhiên, tại Việt
Nam, công cụ này vẫn chưa được nghiên cứu và áp dụng rộng. Năm 2002, dưới sự hỗ
trợ của Chương tr nh khu vực xây dựng sự hợp tác trong quản lý môi trường cho các
biển Đông Á PEMSEA , TP. Đà Nẵng đã uất bản Báo cáo Đánh giá rủi ro ban đầu
vùng bờ TP. Đà Nẵng [7]. Báo cáo này chỉ đưa ra vấn đề sơ bộ, chưa đề cập cụ thể
tác động, vùng chịu ảnh hưởng và mức độ rủi ro của nước thải công nghiệp đến hệ
sinh thái ở khu vực chịu ảnh hưởng
uất phát từ cơ sở thực tiễn trên, với mục đ ch là phân t ch, đánh giá, dự báo
nh m áp dụng công cụ EcoRA đối với nước thải công nghiệp KCN iên Chiểu ở TP.
Đà Nẵng, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá và phân vùng rủi ro sinh thái
đối với nước thải khu công nghiệp Liên Chiểu”
2. Mục tiêu đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
Đề tài áp dụng công cụ đánh giá rủi ro sinh thái đối với nước thải công nghiệp
trong điều kiện tại KCN Liên Chiểu để đánh giá, dự báo mức độ rủi ro của các yếu
tố, kiểm sốt ơ nhiễm và quản lý mơi trường công nghiệp.

2


2.2. Mục tiêu cụ thể
-

ác định được các yếu tố tác động, đối tượng chịu tác động, mức độ và tần

suất rủi ro của nước thải công nghiệp đối với hệ sinh thái tại khu vực xung quanh
KCN Liên Chiểu.

- Đánh giá và dự báo phân vùng rủi ro cũng như phạm vi tác động của nước
thải công nghiệp đối với hệ sinh thái ác định các vùng chấp nhận rủi ro và không
chấp nhận rủi ro đối với nước thải từ KCN Liên Chiểu.
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
- Đề tài là kết quả bước đầu trong áp dụng nghiên cứu về rủi ro sinh thái tại
Việt Nam nh m hoàn thiện phương pháp đánh giá và quản lý rủi ro về sinh thái.
- Đề tài nh m cung cấp những số liệu khoa học trong dự đoán rủi ro của tác
động nhân nước thải đối với các đối tượng chính là các hệ sinh thái xung quanh KCN
Liên Chiểu - TP. Đà Nẵng.

3


CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI
1.1.1. Khái niệm về đánh giá rủi ro sinh thái
Hiện nay có nhiều quan niệm về đánh giá rủi ro sinh thái đã được đưa ra.
Nhưng nh n chung, đánh giá rủi ro sinh thái là một quá tr nh đánh giá khả năng ảy
ra của một hay nhiều xác suất. Quá trình này dựa trên 2 yếu tố: đặc t nh tác động và
đặc tính tiếp xúc và nhấn mạnh vào 3 giai đoạn chính của đánh giá rủi ro: ác định
vấn đề, giai đoạn phân t ch và giai đoạn mơ tả đặc tính rủi ro. Theo Cơ quan bảo vệ
môi trường Mĩ ( EPA ), đánh giá rủi ro sinh thái là quá tr nh để đánh giá khả năng hệ
sinh thái có thể bị ảnh hưởng do tiếp xúc với một hoặc nhiều yếu tố gây stress mơi
trường như hóa chất, biến động đất đai, bệnh, các loài xâm lấn và biến đổi khí hậu.
Theo EPA, đánh giá rủi ro sinh thái đã được định nghĩa là một quá tr nh đánh
giá xác suất hay khả năng tác động bất lợi sinh thái sẽ xảy ra (hoặc đã ảy ra hoặc
đang ảy ra), là một kết quả của việc tiếp xúc với những căng thẳng từ các hoạt động
khác nhau của con người. Ảnh hưởng này có thể xảy ra trên các thành phần sinh thái
khác nhau, từ sinh vật, các quần thể và cộng đồng cho đến các hệ sinh thái . Căng
thẳng có thể là hóa học, vật lý, sinh học, hoặc phóng xạ trong thiên nhiên... Một

nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái nhất định có thể bị thu hẹp (một thành phần sinh
thái, một căng thẳng, và một hoạt động của con người) hoặc toàn diện (nhiều thành
phần sinh thái, nhiều nguyên nhân, và nhiều hoạt động). Đánh giá rủi ro sinh thái
cung cấp một yếu tố quan trọng để đưa ra quyết định về môi trường b ng cách quản
lý rủi ro, đó là một cách tiếp cận để xem xét thơng tin khoa học có sẵn cùng với
những yếu tố khác mà ta cần phải xem xét (ví dụ, xã hội, pháp lý, chính trị hay kinh
tế) trong việc lựa chọn quyết định hành động
Đánh giá rủi ro sinh thái gồm những đánh giá mang t nh định tính và có thể
bao gồm những đánh giá mang t nh định lượng, nhưng định lượng rủi ro ln ln là
điều khó có thể làm. Đánh giá rủi ro sinh thái có thể dùng để dự đốn trước những tác
4


động bất lợi sẽ xảy ra trong tương lai hoặc đánh giá những tác động gây ra do các tác
nhân đã ảy ra trước đây
Đánh giá rủi ro sinh thái "đánh giá khả năng tác dụng phụ sinh thái có thể xảy
ra hoặc đang ảy ra như một kết quả của việc tiếp xúc với một hoặc nhiều yếu tố gây
stress " (US EPA, 1992a). Nó là một q trình linh hoạt cho các tổ chức và phân tích
dữ liệu, thông tin, giả định, và không chắc chắn để đánh giá khả năng ảy ra các tác
dụng phụ sinh thái.
Tùy theo bối cảnh ứng dụng tại mỗi khu vực, quốc gia hay lĩnh vực nghiên cứu
mà EcoRA có thể được tiếp cận với những cách rất khác nhau, dựa trên những
nguyên tắc cơ bản của phương pháp.
Năm 2005, các khung lý thuyết khác nhau của EcoRA được đề xuất, phổ biến
và áp dụng tại nhiều quốc gia khác trên thế giới [9].
Lựa chọn các điểm kết
thúc
Lựa chọn các điểm bắt
đầu
Mô tả môi trường


Đánh giá tác động

Đánh giá t nh phơi
nhiễm

Đánh giá rủi ro
H nh 1.1. Khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên (Nguồn: [1])

5


Như vậy, mặc dù định nghĩa về đánh giá rủi ro sinh thái có sự khác nhau giữa
các tổ chức trên Thế giới, nhưng nh n chung, đều cho thấy hai nhiệm vụ chính của
đánh giá rủi ro sinh thái đó là nhận dạng, đánh giá các yếu tố có hại và ước tính quy
mơ tác động của chúng đến hệ sinh thái trong các điều kiện ác định của môi trường.
Quan điểm chung nhất và đề tài tiếp cận theo khuôn khổ đánh giá rủi ro sinh thái (sửa
đổi từ Mỹ EPA, 1992a như h nh sau
Đánh giá rủi ro sinh thái
Xây dựng vấn đề

Lập kế
hoạch
P
h
â
n
t
í
c

h

Đặc tính
tiếp xúc

Tính chất
của tác
động sinh
thái

Kết
quả
giám
sát

Đặc tính tiếp xúc

Báo kết quả để quản lý

Quản lý rủi ro
H nh 1.2. Khuôn khổ đánh giá rủi ro sinh thái (sửa đổi từ Mỹ EPA, 1992a).
6


1.1.2. Ý nghĩa của công cụ đánh giá rủi ro sinh thái
Đánh giá rủi ro sinh thái (EcoRA) là một phương pháp tiếp cận được nghiên
cứu và áp dụng nh m dự đoán tác động của những thay đổi do con người gây ra (phát
triển công nghiệp, nông nghiệp, du lịch và các hoạt động ni trồng thủy sản có liên
quan cũng như những thay đổi tự nhiên (biến đổi khí hậu, nước biển dâng… , đưa ra
các khuyến nghị khoa học hợp lý cho các bên liên quan ở địa phương, chuyên gia

hoạch định ch nh sách, để ứng phó với các tác động đó một cách phù hợp và hiệu quả
[17]
Đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý rủi ro môi trường là cách tiếp cận tốt
nhất để cân b ng giữa lợi ích kinh tế xã hội và rủi ro môi trường, hỗ trợ cho các hoạt
động quản lý như quy định vị tr đổ chất thải nguy hại, hóa chất cơng nghiệp hay
thuốc trừ sâu hoặc dùng để quản lý lưu vực hoặc các hệ sinh thái khác bị tác động bởi
các tác nhân hóa chất hoặc phi hóa chất... Vấn đề giảm thiểu tối đa hoặc giảm mức độ
có thể tạm chấp nhận các ảnh hưởng bất lợi đối với những rủi ro có thể xảy ra và giúp
đưa ra quyết định đối với những người tạo ra rủi ro hoặc chịu trách nhiệm quản lý rủi
ro [2].
Tóm lại, đánh giá rủi ro sinh thái nh m ngăn chặn, hạn chế các sự cố mơi
trường hơn là ử lý, góp phần tiết kiệm được chi phí và nguồn lực cho cơng tác bảo
vệ mơi trường. Do đó, đánh giá rủi ro sinh thái đóng vai tr quan trọng trong việc
quản lý môi trường nh m hướng tới sự phát triển bền vững.
1.1.3. Lịch sử nghiên cứu về đánh giá rủi ro sinh thái
Đánh giá rủi ro sinh thái được phát triển từ phương pháp đánh giá rủi ro sức
khoẻ (HRA) [9]. Đánh giá rủi ro sức khỏe quan tâm đến những cá nhân, cùng với
tình trạng bệnh tật và số người tử vong.Trong khi đó, EcoRA lại chú trọng đến quần
thể, quần xã và những ảnh hưởng của các chất lên tỷ lệ tử vong và khả năng sinh sản.
EcoRA đánh giá trên diện rộng, trên rất nhiều sinh vật nên EcoRA được xem là kết
quả của 2 quá tr nh: đánh giá rủi ro và đánh giá sinh thái.
7


Theo hội thảo bàn về hiện trạng và tương lai của việc đánh giá rủi ro sinh thái,
được tổ chức tại Washington DC vào tháng 2 năm 2006 th đánh giá rủi ro bắt nguồn
từ ngành công nghiệp bảo hiểm hàng hải tại Anh và Hà Lan vào thế kỷ 17 do đó các
chuyên gia đánh giá rủi ro vẫn chủ yếu làm việc tại các công ty bảo hiểm và các
ngành tài chính [28] dần dần chuyển sang các ước tính rủi ro cho người và tài sản ,
bao gồm cả các quy định về ô nhiễm môi trường.

Nhiệm vụ chính của đánh giá rủi ro là phân tích số liệu thống kê về tần suất
xuất hiện các hiện tượng, đưa ra u hướng, mơ h nh hóa cơ chế và đánh giá rủi ro
nh m đề xuất các hoạt động trong tương lai. Đánh giá sinh thái đã trở thành một
thành phần quan trọng của quản lý môi trường tại Hoa Kỳ với nhiệm vụ pháp lý cho
việc đánh giá tác động môi trường trong năm 1970. Đánh giá rủi ro và đánh giá sinh
thái hợp nhất trong những năm 1980 để h nh thành đánh giá rủi ro sinh thái
(ECORA). Kể từ đó, ECORA đã được thể chế với sự phát triển của Cơ quan Bảo vệ
Môi trường Hoa Kỳ USEPA và các văn bản hướng dẫn đồng thời được điều chỉnh
để phù hợp với bối cảnh pháp lý và chính sách của Mĩ. Từ đó, cơng cụ đánh giá rủi ro
được nhiều nước áp dụng và đưa thành luật như: Trung Quốc, Nhật Bản, Australia..
1.1.4. Thực trạng nghiên cứu áp dụng đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý
môi trường trên Thế giới và Việt Nam
a. Trên Thế giới
Hệ thống môi trường của Trái Đất đang phải hứng chịu những áp lực ngày
một tăng, khả năng chịu đựng của Trái Đất đang bị thử thách bởi nhiệt độ nóng lên
tồn cầu và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang ngày càng uất hiện nhiều và
nghiêm trọng. Căn cứ vào khả năng ảy ra của các cuộc khủng hoảng tài chính và
thảm họa thiên nhiên trong tương lai, liệu có những phương thức nào để đồng thời
xây dựng được khả năng phục hồi cả hệ thống kinh tế và môi trường của chúng ta?
Và đánh giá rủi ro sinh thái đang được đề nghị như một cơng cụ hữu ích giúp các nhà
quản lý giải quyết mảng rộng của các vấn đề sinh thái [15] . Đánh giá rủi ro sinh thái
8


mới được phát triển ở Mỹ vào năm 1970 như là một sự hưởng ứng với việc ban hành
một loạt các luật về môi trường, việc thi hành các quy chế , quy định đưa ra do
USEPA Cơ quan bảo vệ mơi trường Mỹ) mới được sáng lập. Từ đó h ng năm ,
khoảng 10000 tài liệu sàng lọc sơ bộ đánh giá môi trường và 500 báo cáo đầy đủ tác
động môi trường được ra đời [23]. Một vấn đề quan trọng của ch nh phủ liên bang
Mỹ và các tổ chức khác là làm thế nào để đánh giá nhiều về vấn đề đa dạng sinh

thái, từ tiềm năng biến đổi kh hậu toàn cầu đến mất đa dạng sinh học, môi trường
sống phá hủy, và những tác động của nhiều loại hóa chất đến hệ thống sinh thái [20].
Và họ đã tiến hành một số bản đánh giá rủi ro sinh thái tiêu biểu như:
Văn ph ng ph ng chống ô nhiễm và chất độc của EPA (OPPT) tiến hành đánh
giá rủi ro sinh thái cho các hóa chất mới theo quy định của đạo luật kiểm soát chất
(TSCA). Theo TSCA, nhà sản xuất và nhập khẩu hố chất u cầu phải gửi một
thơng báo premanufacture PMN cho EPA trước khi họ có ý định bắt đầu sản xuất,
nhập khẩu. Bài báo cáo đã ây dựng được vấn đề, phân t ch nguy cơ và đánh giá rủi
ro cho từng giai đoạn, tuy nhiên do thiếu dữ liệu nên khơng thể t nh tốn được hết
rủi ro đối với con người, hệ sinh thái thủy sinh ở giai đoạn cuối [22].
Đánh giá rủi ro sinh thái từ thuốc trừ sâu, thuốc diệt nấm. FIFRA ( Luật
Rodenticide ) yêu cầu đánh giá tiềm năng của thuốc trừ sâu trong một khuôn khổ để
đưa ra phương pháp tiếp cân và quản lý thuốc trừ sâu . Văn ph ng Chương tr nh
thuốc trừ sâu OPP đánh giá các dữ liệu và tiến hành đánh giá rủi ro cho yêu cầu
này. Bài báo cáo đã phân t ch tác động, nguy cơ, mức di chuyển từ độc t nh cấp t nh
đến mãn t nh và tiểu mãn t nh ở đồng, ao, trang trại và ứng dụng vào quá tr nh quản
lý tuy nhiên lại có một số bàn cãi trong qúa tr nh ứng dụng này [26].
Đánh giá rủi ro khi đem cá ch p đen có nguồn gốc từ Đông Á được đề xuất
đưa vào môi trường Hoa Kỳ,nghiên cứu trường hợp cá ch p đen cho thấy vấn đề chi
phí-lợi ích (kiểm sốt sinh học của ký sinh trùng trong ao cá ) cần phải được cân
nhắc với các tiềm năng cho kinh tế và thiệt hại môi trường . Bản đánh giá này cung
9


cấp một khuôn khổ cho việc chuyển thông tin sẵn có sang một định dạng mà mà các
nhà hạch đinh ch nh sách có thể hiểu và sử dụng được cho q trình quản lý rủi ro.
Khó khăn lớn nhất là sự khơng chắc chắn về kết quả dự đốn của cá ch p đen trong
môi trường mới do thiếu thơng tin cụ thể về nó và hiểu biết của chúng ta về chức
năng của hệ sinh thái [25].
Đối với hệ sinh thái nơng nghiệp có hai chương trình của Bộ Nơng nghiệp Mỹ

USDA đó là Environmental Quality Incentives Program EQIP và Conservation
Reserve Program (CRP). Cả hai chương tr nh t m cách giảm thiểu tác động tiêu cực
của hoạt động nông nghiệp đến tài nguyên thiên nhiên trong và ngồi nơng trại. Các
mục tiêu đánh giá của EQIP và CRP gồm 1

ác định những hoạt động nông nghiệp

và giá trị tài nguyên thực tiễn có nguy cơ, 2 cơ chế đặc trưng dẫn đến rủi ro; (3)
cường độ và mức độ rủi ro môi trường đặc trưng , và 4 nếu có thể, kiến nghị
phương pháp quản lý rủi ro [19]. Tuy nhiên bản đánh giá lại không chắn chắn về thời
gian phục hồi của tài nguyên thiên nhiên và khơng đưa ra khuyến cáo cho các nguy
cơ có thể xảy ra.
Hội đồng nghiên cứu quốc gia (NRC) báo cáo về "Đạo luật các loài nguy cấp
và Khoa học" (NRC, 1995a) kêu gọi tăng cường sử dụng mô h nh đinh lượng sinh
học và đánh giá rủi ro các quần thể có “ nguy cơ” và bị đe dọa. Bản báo cáo ghi rõ
được nguy cơ tuyệt chủng, loài bị đe dọa và các phương tiện để bảo tồn các hệ sinh
thái có nguy cơ. Tuy nhiên, chương này tập trung vào giai đoạn đang nghiên cứu
đánh giá rủi này, các giai đoạn khác của đánh giá và nguồn rủi ro không được đề cập
rõ ràng. Sau khi Đạo luật các lồi nguy cấp ESA đã được thơng qua vào năm
1973cùng với sự cho phép của Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (NRC), từ Chương 7
của báo cáo NRC NRC, 1995a "Đạo luật các loài nguy cấp và Khoa học". Các phần
đã được sửa đổi ở một số nơi để bản báo cáo rõ ràng hơn [28].

10


b. Việt Nam
Cho đến thời điểm hiện nay thì ở Việt Nam đã có nhiều cơng tr nh đánh giá
rủi ro trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là đánh giá rủi ro sinh thái, góp phần hỗ trợ tích
cực cho các nhà quản lý trong công tác quản lý môi tường và hướng tới sự phát triển

bền vững. Sau đây là một số cơng trình nghiên cứu tiêu biểu:
Nghiên cứu sử dụng độc tố sinh thái học trong việc cảnh báo sớm những nguy
cơ sinh thái do ô nhiễm môi trường đối với các vùng nhạy cảm ven bờ tỉnh Bình
Định là điều cần thiết trong việc phục vụ cho hoạt động phát triển bền vững của tỉnh
[16]. Nghiên cứu này dựa vào việc sử dụng các chỉ số đôc t nh trên 3 loài sinh vật là
tảo Chaetoceros muelleri, ấu trùng cầu gai đen Diadema setosum và vẹm xanh Pern
viridif để đưa ra các thông số đánh giá chất lượng mơi trường ven bờ biển tỉnh Bình
Định. Bản đánh giá đã t nhiều cho thấy mức độ ảnh hưởng trên các đối tượng sinh
vật biển tuy nhiên chỉ mới dựa vào 3 loài sinh vật đại diện nên cần nghiên cứu ở
nhiều sinh vật trên diện rộng để có những đánh giá khách quan, ch nh ác và đáng
tin cậy hơn.
Đánh giá các tác động khơng mong muốn có thể xảy ra tại Việt Nam (gọi tắt là
đánh giá rủi ro được thực hiện dựa trên việc áp dụng khung lý thuyết phân tích rủi ro
do Văn ph ng quản lý công nghệ Gene (OGTR) của Úc phát triển. Quá trình thực
hiện đánh giá rủi ro này được thực hiện trong khoảng thời gian 3 tháng.Đánh giá bao
gồm nhiều cuộc thảo luận nhóm và một hội thảo lớn được tổ chức với sự tham gia
nhiều nhà khoa học và đại diện cộng đồng nh m nắm bắt tất cả các mối nguy có thể
xảy ra, ước tính khả năng ảy ra, hậu quả, và mức độ rủi ro của việc phóng thả muỗi
mang Wolabchia [1] . Đây là bản đánh giá tồn diện, chính xác và phù hợp bối cảnh
Việt Nam với sự tham gia của các chuyên gia đa ngành trong và ngồi nước. Tuy
nhiên, do có sự khác biệt trong việc nhận thức về rủi ro giữa những nhà khoa học
khác nhau nên có thể ảnh hưởng đến kết quả đánh giá rủi ro.

11


Công tr nh đánh giá một cách định luợng các hình thức và quy mơ sử dụng
các vùng dất ngập nuớc làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nh m làm giảm
thiểu tác động và chia sẻ trách nhiệm và lợi ích trong bảo tồn giữa cộng đồng và
vườn quốc gia Yok Ðôn (VQGYD) - là vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam, bảo tồn

nhiều kiểu hệ sinh thái trong đó hệ sinh thái rừng khơ cây họ Dầu, hay cịn gọi là
rừng Khộp, chiếm diện tích lớn nhất. VQGYD là nơi ở của rất nhiều loài động, thực
vật, trong đó có nhiều lồi q hiếm, n m trong sách đỏ của Việt Nam và Thế giới.
Trong hệ sinh thái rừng khộp, có những vùng đất ngập nước nhỏ phân bổ dày đặc có
vai trị quan trọng trong tạo nên các nơi cư trú, cung cấp thức ăn, nước uống và phân
bố của nhiều loài động thực vật đồng thời cũng là nơi cung cấp các sản phẩm trong
đời sống cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa trong vùng đệm[13]. Bài báo cáo này cơ
bản đã đánh giá được sự đa dạng sinh học, các hình thức, mức độ sử dụng vùng đất
ngập nước của cư dân sống ở bên trong và ung quanh vườn quốc gia, góp phần cung
cấp thơng tin cho việc thiết lập chương tr nh bảo tồn tài nguyên đất ngập nước vườn
tại vườn quốc gia Yok Đôn. Nhưng do thời gian và nguồn lực ít nên kết quả nghiên
cứu chỉ mang t nh thăm d cần được đầu tư và nghiên cứu thêm. Đây cũng ch nh là
bước đầu để nhận định thực trạng vườn quốc gia Yok Đôn nh m tạo dữ liệu đưa ra
các kịch bản rủi ro góp phần bảo tồn một cách tốt nhất.
Nghiên cứu bước đầu đánh g a rủi ro sinh thái và sức khỏe cho KCN TP. Hồ
Chí Minh. Nghiên cứu tập trung vào việc bước đầu đánh giá rủi ro sinh thái cho nước
thải công nghiệp và rủi ro sức khỏe do ô nhiễm không kh đối với công nhân giới hạn
tại KCN Vĩnh ộc và KCN Tân Thới Hiệp [25]. B ng phương pháp đánh giá rủi ro
bán định lượng RQ (risk quotient) và HQ (hazard quotient) cùng với ma trận rủi ro,
bản báo cáo đã đánh giá được rủi ro sinh thái nước thải công nghiệp đối với môi
trường và rủi ro sức khỏe do ơ nhiễm khơng khí của cơng nhân, đồng thời so sánh các
rủi ro tại khu công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung và khơng có hệ thống

12


xử lý nước thải. Tuy nhiên việc đánh giá ảnh hưởng đến sức khỏe công nhân chưa
được đánh giá đồng bộ.
Trong Dự án ngăn chặn Sốt xuất huyết tại Việt Nam, một số phương pháp
đánh giá rủi ro đã được áp dụng nh m đánh giá các tác động không mong muốn có

thể xảy ra khi phóng thả muỗi Aedes aegypti mang Wolbachia nh m phòng chống sốt
xuất huyết tại Việt Nam [10] với khung tiếp cận như h nh sau
Lựa chọn các điểm kết
thúc
Lựa chọn các điểm bắt
đầu
Mô tả môi trường

Đánh giá tác động

Đánh giá t nh phơi
nhiễm

Đánh giá rủi ro
H nh 1.3. Khung tiếp cận đánh giá rủi ro (Nguồn: [1])
Phân tích rủi ro của sinh vật biến đổi gen nh m giới thiệu các nội dung cơ bản
của phân tích rủi ro, các vấn đề và yếu tố ảnh hưởng cần xem xét trong quá trình
thẩm định hồ sơ đăng ký biến đổi gen trong quá trình xây dựng và thiết kế báo cáo
đánh giá rủi ro của sinh vật biến đổi gen đối với môi trường, đa dạng sinh học và sức
khỏe con người [4]. Tài liệu phân t ch này đã đưa ra b ng chứng để xác định được
nguy cơ, khả năng, hậu quả, mức độ rủi ro của sinh vật biến đổi gen từ đó đưa ra biện
13


pháp và kế hoạch cụ thể để quản lý rủi ro nhưng bài phân t ch này vẫn chưa lường
trước hết được hậu quả của một rủi ro do mỗi cá thể có khả năng th ch nghi và phản
ứng trước những điều kiện môi trường khác nhau.
“Báo cáo đánh giá rủi ro ban đầu vùng bờ TP. Đà Nẵng” - Dự án do GEF tài
trợ và UNDP thực hiện. Bản đánh giá này đã cho thấy được các chất ô nhiễm có hệ
số rủi ro có thể chấp nhận được mà không cần đánh giá tiếp và các chất có hệ số rủi

ro cao ảnh hưởng đến sức khỏe con người và mơi trường. Ngồi ra, c n ác định
được các nguồn tài nguyên và sinh cảnh đang có rủi ro và phát hiện được nguyên
nhân gây ra rủi ro đó góp phần giúp ích cho việc cải thiện và hồn thiện cho q trình
đánh giá và quản lý rủi ro ngay tại thành phố. Tuy nhiên, số liệu của một số thơng số
cịn q ít, khơng có số liệu trắc quan của một số vùng nên không cho ph p đánh giá
tổng quát vùng bờ TP. Đà Nẵng, kết quả đánh giá này chỉ áp dụng cho một số khu
vực được thực hiện đo đạc [6].
1.1.5. Khả năng áp dụng đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi trường ở
Việt Nam
Đánh giá rủi ro sinh thái là một công cụ hữu hiệu và quan trọng trong quản lý
và bảo vệ mơi trường ở trên tồn thế giới. Đánh giá rủi ro sinh thái bao gồm ba
nhóm: đánh giá rủi ro sinh thái do hóa chất; đánh giá rủi ro sinh thái đối với các hóa
chất bảo vệ thực vật và đánh giá rủi ro sinh thái do sinh vật biến đổi gen [2].
Ở Việt Nam, đánh giá rủi ro sinh thái cũng đang phát triển và nó thật sự cần
thiết và quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Để đạt được mục tiêu phát triển công
nghiệp đi đôi với phát triển bền vững về môi trường, cần có những chính sách hợp lý.
Ở nước ta, các ch nh sách đưa ra chủ yếu là khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có
hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý và kiểm sốt có hiệu
quả ơ nhiễm mơi trường, bảo vệ tốt môi trường sống; bảo vệ được các rừng quốc gia,
khu bảo tồn thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và bảo tồn sự đa dạng sinh học; khắc
phục suy thối và cải thiện chất lượng mơi trường [12].
14


Bên cạnh đó, các hoạt động nơng nghiệp có sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và
sử dụng sinh vật biến đổi gen cũng là nguyên nhân của nhiều mối nguy hại và rủi ro
tiềm tàng. Các hoạt động khảo nghiệm và nhập khẩu giống cây trồng biến đổi gen
(nếu có) phải tn thủ nghiêm ngặt các biện pháp phịng ngừa, xử lý và khắc phục rủi
ro [11]. Cùng với việc việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón lá
hiện nay là nguy cơ tăng thêm rủi ro cho sản xuất nông nghiệp, một nghề vốn đã tiềm

ẩn nhiều rủi ro nhất của gần 70% số dân [5]. Do đó đánh giá rủi ro sinh thái là cần
thiết nh m ác định nguy cơ, đánh giá khả năng ảy ra, mức độ nghiệm trọng của
nguy cơ khi ảy ra và ước lượng rủi ro.
Đánh giá rủi ro sinh thái ở nước ta còn tồn tại một số khó khăn. Thứ nhất là
nhiều phong tục, tập quán gây trở ngại đối với việc thu hút sự tham gia của các nhóm
cộng đồng, dẫn đến khơng đảm bảo được t nh b nh đẳng khi thực hiện các giải pháp.
Thứ hai là hệ thống thống kê, lưu trữ số liệu về môi trường, sức khỏe ở Việt Nam c n
thiếu đồng bộ và khơng đầy đủ ngồi ra tr nh độ nhận thức về các vấn đề sinh thái,
môi trường, sức khỏe của các tầng lớp trong ã hội không đồng đều. Đặc biệt là tr nh
độ nhận thức của các nhóm dễ bị tổn thương người nghèo, người có thu nhập thấp,
người già và trẻ em [18].
Hiện nay, công cụ đánh giá rủi ro sinh thái cần phải được nhân rộng nh m
nâng cao năng lực quản lý và để ứng phó với các tác động đến môi trường hiện nay ở
Việt Nam một cách phù hợp và hiệu quả.
1.2. TỔNG QUAN VỀ KCN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG
KCN Liên Chiểu được thành lập theo Quyết định số 344/QĐ-TTG ngày
18/4/1998 của Thủ tướng Chính phủ; chủ đầu tư là Công ty ây dựng số 7 sau đổi
tên thành Tổng công ty Xây dựng Miền Trung-Cosevco). Ngày 05/8/2004 chuyển
sang chủ đầu tư mới là Công ty Phát triển và Khai thác hạ tầng KCN Đà Nẵng theo
Quyết định số 846/QĐ-TTg. Sau đó Cơng ty Cổ phần đầu tư Sài G n-Đà Nẵng tiếp
nhận là chủ đầu tư của KCN Liên Chiểu thành Công văn số 690/TTg-CN ngày
15


04/5/2006 của Chính phủ và Quyết định số 3683/QĐ-UBND ngày 09/6/2006 của
UBND TP. Đà Nẵng. Theo quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 2720/QĐUBND ngày 28/4/2006 của UBND TP. Đà Nẵng thì diện tích KCN là 307,71 ha,
trong đó diện tích cho thuê là 220,8 ha, khu kỹ thuật đầu mối là 5,9461 ha, trồng cây
anh 26,1708 ha; đến nay diện tích quy hoạch KCN đã được điều chỉnh cịn 198,05
ha, trong đó diện t ch đât cho th là 142,12 ha.
KCN cách phía bắc của sân bay quốc tế Đà Nẵng 15 km, ph a đông cảng biển

Tiên Sa 25 km, cảng Sông Hàn 18 km, n m sát với cảng biển Liên Chiểu và tiếp giáp
với cửa ra phía Nam của đường hầm đèo Hải Vân. Phía Bắc giáp chân đèo Hải Vân,
Ph a Nam giáp sông Cu Đê, Ph a Đơng giáp quốc lộ 1A, Phía Tây giáp chân núi
Phước Tường. Đây ch nh là điểm thuận lợi cho KCN Liên Chiểu trong quá trình sản
xuất, vận chuyển hàng hóa trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài hay nhập khẩu
nguyên vật liệu, dây chuyền sản xuất một cách dễ dàng. Ngoài ra, tại đây hệ thống
giao thơng, các cơng trình hạ tầng kỹ thuật như hệ thống cấp điện, cấp nước, bưu
chính viễn thơng ... đều đã được đầu tư ây dựng hoàn chỉnh, sẵn sàng phục vụ các
nhà đầu tư đến đầu tư ây dựng nhà ưởng sản xuất và kinh doanh.
KCN Liên Chiểu bắt đầu xây dựng hạ tầng KCN từ năm 1998, loại hình sản
xuất được thu hút đầu tư chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng, cơ kh , công nghiệp
nặng, giấy, gas,....Đến nay, Công ty đã đầu tư ây dựng hồn thiện hệ thống đường
giao thơng hệ thống thoát nước mưa, hệ thống thoát nước thải và trạm xử lý nước thải
tập trung với công suất 2.000 m3/ngày đêm do Công ty thuê Công ty TNHH Khoa
học, Công nghệ, Môi trường Quốc Việt đầu tư, ây dựng, vận hành. Số lượng doanh
nghiệp đang hoạt động có 17 dự án đã đi vào hoạt động, tỷ lệ lấp đầy 66,89%; số
lượng lao động khoảng 3.000 người, tổng lượng nước sử dụng khoảng 600-700
m3/ngày đêm.

16


×