ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
***
TRẦN LÊ TRÚC LINH
ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI ĐỐI VỚI
MƠI TRƯỜNG NƯỚC MỘT SỐ SƠNG
CHÍNH VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM
MIỀN TRUNG
NGÀNH: CỬ NHÂN SINH – MÔI TRƯỜNG
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. VÕ VĂN MINH
Đà Nẵng, năm 2014
1
LỜI CAM ĐOAN
Tơi cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai
cơng bố trong bất kỳ cơng trình nào khác.
Sinh viên thực hiện
Trần Lê Trúc Linh
2
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy Võ Văn Minh và thầy Đàm
Minh Anh, những người đã tận tình hướng dẫn tơi trong quá trình nghiên cứu và
thực hiện đề tài “Đánh giá rủi ro sinh thái đối với môi trường nước một số sơng
chính vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”. Đồng thời tơi cũng xin chân thành cảm
ơn BGH, phịng đào tạo trường ĐHSP Đà Nẵng, các thầy cô giáo trong khoa Sinh –
Mơi trường đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ cho tôi trong 4 năm vừa qua. Những
kiến thức nhận được trên giảng đường đại học đã giúp đỡ tơi rất nhiều trong q
trình thực hiện khóa luận này.
Mặc dù bản thân đã có sự cố gắng nỗ lực nhưng khơng tránh khỏi những thiếu
sót. Rất mong nhận được sự góp ý và cảm thơng của các thầy, các cơ để tơi hồn
thiện hơn nữa.
Kính chúc q thầy cơ giáo trường ĐHSP nói chung, khoa Sinh – Mơi trường
nói riêng sức khỏe dồi dào và ln thành cơng trong công việc.
Đà Nẵng, tháng 5/2014
Sinh viên
Trần Lê Trúc Linh
3
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ................................................................................6
DANH MỤC CÁC BẢNG ........................................................................................7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ...................................................................................8
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................9
1. Tính cấp thiết của đề tài. ...................................................................................9
2. Mục tiêu đề tài.................................................................................................10
3. Ý nghĩa khoa học ............................................................................................10
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................11
1.1.
TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI ...........................11
1.1.1.
Khái niệm đánh giá rủi ro sinh thái ......................................................11
1.1.2.
Ý nghĩa công cụ đánh giá rủi ro sinh thái .............................................11
1.1.3.
Lịch sử nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái ........................................12
1.1.4.
Tình hình nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác quản lý
môi trường trên thế giới và Việt Nam. ...............................................................14
1.1.5. Khả năng áp dụng đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi trường ở
Việt Nam ............................................................................................................16
1.2.
TỔNG QUAN VỀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU.......................................17
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP ..............................................19
NGHIÊN CỨU .........................................................................................................19
2.1.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...............................................................19
2.1.1.
Đối tượng nghiên cứu ...........................................................................19
2.1.2.
Phạm vi nghiên cứu ..............................................................................19
2.2.
Phương pháp nghiên cứu .............................................................................19
2.2.1.
Phương pháp hồi cứu số liệu ................................................................19
2.2.2.
Phương pháp ma trận ............................................................................20
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ, BIỆN LUẬN .................................................................23
3.1.
Đánh giá rủi ro sinh thái môi trường nước sông VKTTĐMT. ....................23
4
3.2.
Phân nhóm yếu tố gây rủi ro sinh thái .........................................................31
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ ......................................................................................38
1. Kết luận ...........................................................................................................38
2. Kiến nghị .........................................................................................................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................40
5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH
biến đổi khí hậu
CNGT
chấp nhận được rủi ro kèm theo biện pháp giảm thiểu
CNRR
chấp nhận được rủi ro
EcoRA
đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk Assessment)
KBTTN
khu bảo tồn thiên nhiên
KCN
khu công nghiệp
KCNRR
không chấp nhận rủi ro
NRC
Hội đồng nghiên cứu quốc gia Mỹ (National Research Council)
VKTTĐMT vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
VQG
vườn quốc gia
RRC
rủi ro cao
RRKC
rủi ro khá cao
RRTB
rủi ro trung bình
RRT
rủi ro thấp
RRRT
rủi ro rất thấp
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Bảng 1
Bảng 2
Tên bảng
Thang điểm đánh giá khả năng xảy ra rủi ro đối với môi trường
nước sông vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
Bảng đề xuất thang điểm đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với
môi trường nước của một số sơng chính trong VKTTĐMT
Trang
20
21
Bảng 3 Bảng ma trận thang điểm rủi ro
22
Bảng 4 Bảng đề xuất thang điểm phân nhóm mức độ rủi ro
22
Bảng 5
Bảng 6
Ma trận rủi ro và mức độ rủi ro đối với một số sơng chính trong
VKTTĐMT
Phân nhóm rủi ro đối với mơi trường nước một số sơng chính
VKTTĐMT
7
23
31
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình
Tên hình
Hình 1 Khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên
Hình 2
Hình 3
Hình 4
Hình 5
Hình 6
Hình 7
Hình 8
Hình 9
Hình
10
Hình
11
Biểu đồ thể hiện mức độ rủi ro dầu mỡ tại sông Hàn và sông
Trà Bồng
Biểu đồ biểu diễn mức độ rủi ro của các thông số tại một số
sơng chính VKTTĐMT năm 2005
Biểu đồ biểu diễn mức độ rủi ro của các thông số tại một số
sơng chính VKTTĐMT năm 2006
Biểu đồ biểu diễn mức độ rủi ro của các thơng số tại một số
sơng chính VKTTĐMT năm 2007
Biểu đồ biểu diễn mức độ rủi ro của các thơng số tại một số
sơng chính VKTTĐMT năm 2008
Biểu đồ biểu diễn mức độ rủi ro của các thơng số tại một số
sơng chính VKTTĐMT năm 2009
Biểu đồ biểu diễn mức độ rủi ro của các thông số tại một số
sơng chính VKTTĐMT năm 2010
Biểu đồ biểu diễn mức độ rủi ro của các thông số tại một số
sơng chính VKTTĐMT năm 2011
Biểu đồ biểu diễn mức độ rủi ro của các thơng số tại một số
sơng chính VKTTĐMT năm 2012
Bản đồ thể hiện mức độ và phân vùng rủi ro tại các sơng chính
VKTTĐMT
8
Trang
13
27
28
28
28
28
29
29
29
29
36
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (VKTTĐMT) là một trong 4 vùng kinh tế
trọng điểm của nước ta, đây là vùng kinh tế phát triển năng động, đảm bảo vai trò
hạt nhân tăng trưởng và thúc đẩy phát triển khu vực miền Trung và Tây Nguyên.
Với nhiều tiềm năng và chính sách phát triển, giai đoạn 2006-2010, VKTTĐMT
có mức tăng trưởng cao với GDP đạt 11,6%/năm, thu hút đầu tư nước ngoài đạt kết
quả khả quan với 406 dự án được cấp phép [3].
Mặc dù đã đạt được một số thành tựu bước đầu trong quá trình xây dựng và
phát triển nhưng sự phát triển cơng nghiệp, q trình đơ thị hóa trong một diện tích
dài và hẹp của VKTTĐMT sẽ làm cho tài nguyên thiên nhiên bị cạn kiệt, các loại
chất thải phát sinh ngày càng nhiều về số lượng, độc hại về chủng loại gây nguy cơ
ô nhiễm môi trường. Các chất gây nguy cơ ô nhiễm chứa trong nước thải nếu không
được xử lý hoặc xử lý không triệt để khi thải ra các dịng sơng sẽ gây ảnh hưởng
trực tiếp đến đời sống của các sinh vật thủy sinh, gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe
con người thông qua chuỗi thức ăn.
Trong thời gian vừa qua, hoạt động quan trắc môi trường quốc gia và địa
phương đã đáp ứng một phần nhu cầu về số liệu, thông tin phục vụ công tác bảo vệ
môi trường. Tuy nhiên, công tác quan trắc mơi trường đến nay vẫn chưa có bước
đột phá nhằm phát triển và đẩy mạnh hoạt động của hệ thống quan trắc môi trường
để quan trắc trong nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm cập nhật liên tục số liệu quan trắc
giúp ích cho việc quản lý mơi trường. Trong khi đó, đánh giá rủi ro sinh thái là một
phương pháp đã được đưa vào ứng dụng thực tiễn ở nhiều nước trên thế giới. Với
phương pháp này, các rủi ro gây ra bởi các mối nguy hại được thường xuyên ước
tính cả về định tính và định lượng. Thơng qua các kết quả phân tích đó mà ta có thể
xác định được các tác động bất lợi và dự đốn quy mơ tác động của chúng đến hệ
sinh thái. Tại mỗi thời điểm khác nhau, nó xuất hiện dưới dạng những công cụ hỗ
trợ khác nhau, được cập nhập để phù hợp với quá trình đánh giá. Phương pháp này
giúp giảm sai lệch trong quá trình đánh giá các tác động phức tạp đến hệ sinh thái.
9
Mặc dù đã được nghiên cứu và ứng dụng trên thế giới, nhưng ở nước ta phương
pháp này chưa thực sự được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng một cách rộng rãi
trên các đối tượng khác nhau.
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn trên, việc lựa chọn đề tài: “Đánh giá rủi ro sinh
thái đối với môi trường nước một số sơng chính vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung” sẽ làm cơ sở khoa học cho việc ứng dụng phương pháp đánh giá rủi ro sinh
thái đối với môi trường nước sông ở khu vực miền Trung.
2. Mục tiêu đề tài
Xác định mức độ rủi ro, dự đoán phân nhóm yếu tố gây rủi ro sinh thái đối với
môi trường nước một số sông ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
3. Ý nghĩa khoa học
Việc thực hiện đánh giá rủi ro sinh thái sẽ góp phần xác định và cụ thể hóa được
mức độ rủi ro đối với hệ sinh thái từng địa điểm nghiên cứu.
Đề tài nhằm cung cấp những số liệu khoa học trong xác định mức độ rủi ro và
dự đốn phân nhóm rủi ro của các yếu tố tác động đến hệ sinh thái sơng tại vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung, góp phần phát triển phương pháp đánh giá rủi ro
sinh thái tại khu vực miền Trung.
10
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI
1.1.1. Khái niệm đánh giá rủi ro sinh thái
Về cơ bản, khái niệm đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk AssessmentEcoRA) không phải là mới và nó đã được áp dụng để góp phần giải quyết nhiều vấn
đề khác nhau, đặc biệt là các vấn đề sinh thái phức tạp đang gây nhiều tranh cãi
[18]. Nhiều khái niệm khác nhau về đánh giá rủi ro sinh thái đã được đưa ra. Theo
UNEP, EcoRA là xác định khả năng xuất hiện những tác động có hại đến một hệ
sinh thái nhất định. Cơ quan bảo vệ mơi trường Hoa Kỳ (EPA,1998), thì cho rằng
EcoRA là đánh giá khả năng gây tác động bất lợi cho hệ sinh thái do phơi nhiễm
với một hay nhiều tác nhân. Đánh giá rủi ro sinh thái cung cấp thông tin cho các
quyết định về môi trường để quản lý rủi ro. Quá trình đánh giá rủi ro sinh thái bao
gồm 3 giai đoạn: thiết lập, phân tích và nhận diện rủi ro [20], [22]. Theo Ủy ban về
môi trường và tài nguyên (CENR) thì đánh giá rủi ro sinh thái là một q trình tổ
chức và phân tích dữ liệu, những giả định dựa vào những yếu tố bất thường như tác
động tiềm tàng của biến đổi khí hậu đến mất đa dạng sinh học, môi trường sống bị
tiêu hủy và những tác động của hóa chất lên hệ thống sinh thái để đánh giá khả năng
xảy ra rủi ro đối với sinh thái [10], [21].
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau giữa các tổ chức trên thế giới nhưng ta có
thể hiểu đánh giá rủi ro sinh thái là một quy trình trong đó các rủi ro gây ra bởi các
mối nguy hại được thường xuyên ước tính cả định tính và định lượng và thơng qua
các kết quả của phân tích đó mà ta có thể xác định được các tác động bất lợi và dự
đốn quy mơ tác động của chúng đến hệ sinh thái.
1.1.2. Ý nghĩa công cụ đánh giá rủi ro sinh thái
Ngày nay, EcoRA là công cụ kỹ thuật được sử dụng tại nhiều quốc gia trên thế
giới và nó đóng một vai trị quan trọng trong công tác quản lý môi trường. Phương
pháp này giúp giảm sai lệch trong quá trình đánh giá các tác động phức tạp đến hệ
sinh thái, ưu hơn so với cách tiếp cận độc học sinh thái trước kia, chủ yếu chỉ phân
11
tích, đánh giá các ảnh hưởng có hại dựa trên các thí nghiệm và quan sát tại phịng
thí nghiệm. EcoRA là một công cụ giúp các nhà quản lý dự đốn hoặc đánh giá
những rủi ro có nguồn gốc từ con người (như nuôi trồng thủy sản, xây dựng đô thị,
du lịch...) cũng như các tác nhân tự nhiên (như biến đổi khí hậu, mực nước biển
dâng...). Từ đó, các nhà quản lý xác định được trọng tâm của vấn đề để lựa chọn
phương án quản lý phù hợp và có phương án phịng ngừa, hạn chế, giảm thiểu các
tác động có hại theo thứ tự ưu tiên để đem lại hiệu quả nhất [2].
Đặc biệt, hiện nay có nhiều vấn đề như biến đổi khí hậu, hiện tượng thời tiết
cực đoan, hiệu ứng nhà kính đang gia tăng cả về tần xuất và cường độ, cùng với đó
là sự phát triển kinh tế nhanh chóng thì những điều này sẽ gây ơ nhiễm nghiêm
trọng. Trong khi đó, đánh giá rủi ro sinh thái là một trong những phương pháp hữu
hiệu cần được quan tâm để giúp nhận dạng và xác định mức độ ảnh hưởng từ đó dự
đốn phân nhóm rủi ro đối với tất cả các yếu tố bất lợi tác động đến hệ sinh thái rồi
đưa ra biện pháp phịng ngừa, ứng phó và giảm thiểu kịp thời.
1.1.3. Lịch sử nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái
Về cơ bản, đánh giá rủi ro sinh thái được phát triển từ phương pháp đánh giá rủi
ro sức khoẻ (HRA). Đánh giá rủi ro sức khỏe quan tâm đến những cá nhân, cùng
với tình trạng bệnh tật và số người tử vong. Trong khi đó, đánh giá rủi ro sinh thái
lại chú trọng đến quần thể, quần xã và những ảnh hưởng của các chất lên tỷ lệ tử
vong và khả năng sinh sản [17]. EcoRA đánh giá trên diện rộng, trên rất nhiều sinh
vật nên đánh giá rủi ro sinh thái được xem là kết quả của 2 quá trình: đánh giá rủi ro
và đánh giá sinh thái. EcoRA gồm 3 giai đoạn cơ bản: nhận dạng các nguy cơ rủi ro,
phân tích rủi ro và đánh giá đặc tính của rủi ro [16].
Đánh giá rủi ro bắt nguồn từ việc kinh doanh bảo hiểm ngành hàng hải tại Anh
và Hà Lan vào thế kỷ 17 với nhiệm vụ chính là phân tích số liệu thống kê và tần
suất xuất hiện các hiện tượng, đưa ra xu hướng, mơ hình hóa cơ chế và đánh giá rủi
ro nhằm đề xuất các hoạt động trong tương lai [9]. Từ năm 1970 nó đã trở thành
12
một phần quan trọng trong công tác quản lý môi trường ở Mỹ cùng với các nhiệm
vụ pháp lý phục vụ cho việc đánh giá tác động môi trường.
Trong thời gian đầu, EcoRA chủ yếu được tiếp cận để hỗ trợ đánh giá nguy cơ
gây ô nhiễm của các chất hóa học, từ đó đề xuất các quy định về phát thải các loại
hóa chất khác nhau [13]. Tuy nhiên, kể từ những năm 1990, EcoRA không chỉ được
áp dụng trong lĩnh vực hóa học, độc học sinh thái mà cịn mở rộng trong các lĩnh
vực liên quan đến mơi trường như đánh giá tác động môi trường, các chương trình
bảo vệ tài ngun, chính sách quy hoạch sử dụng đất...
Từ khi khái niệm của phương pháp này ra đời, nhiều khung lý thuyết và thực
hành được thiết lập để đánh giá rủi ro sinh thái. Trong đó, khung đánh giá sớm nhất
phát triển bởi Hội đồng nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ (NRC) năm 1983 và được hiệu
chỉnh bởi Suter và cộng sự vào năm 2003. Từ khi được thiết lập, khung này đã minh
họa mối quan tâm đầu tiên của người đánh giá rủi ro sinh thái, xác định các vấn đề
đánh giá bằng việc lựa chọn các thiết bị đầu cuối và đặc trưng của nguồn với mơi
trường tiếp nhận.
Qua q trình phát triển, EcoRA vẫn dựa trên khung đánh giá rủi ro sinh thái
đầu tiên (Barnthouse & Suter 1986).
Hình 1: Khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên [8]
13
Năm 2005, các khung lý thuyết khác nhau của đánh giá rủi ro sinh thái được đề
xuất, phổ biến và áp dụng tại nhiều quốc gia khác trên thế giới. Mặc dù, Đánh giá
rủi ro sinh thái là một khái niệm tương đối mới với lịch sử phát triển chỉ trong
khoảng thời gian chưa đầy 40 năm từ khi hình thành đến nay nhưng lại được nghiên
cứu và áp dụng rất hiệu quả trong thực tế. Tùy theo bối cảnh ứng dụng tại mỗi khu
vực, quốc gia hay lĩnh vực nghiên cứu mà EcoRA có thể được tiếp cận với những
cách rất khác nhau, dựa trên những nguyên tắc cơ bản của phương pháp này.
1.1.4. Tình hình nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác
quản lý môi trường trên thế giới và Việt Nam.
a. Trên thế giới.
Mỹ được xem là quốc gia đi đầu trong đánh giá rủi ro sinh thái. Ngày nay,
EcoRA đã trở thành một phần quan trọng trong cơng tác quản lí mơi trường ở Mỹ
cùng với các nhiệm vụ pháp lý phục vụ cho việc đánh giá tác động môi trường từ
1980. Sau đó cơng cụ đánh giá rủi ro sinh thái được áp dụng ở nhiều nước khác như
Trung Quốc, Nhật Bản, Úc… trên nhiều lĩnh vực nghiên cứu cùng với những cách
tiếp cận khác nhau. Hiện nay, EcoRA đánh giá trên diện rộng, ở rất nhiều sinh vật
với 3 nhóm:
Đánh giá rủi ro sinh thái do hoá chất.
Đánh giá rủi ro sinh thái đối với các hóa chất bảo vệ thực vật.
Đánh giá rủi ro sinh thái đối với sinh vật biến đổi gen.
Với 3 nhóm này, hàng loạt các nghiên cứu đã được công bố cho thấy tầm quan
trọng và mức độ ứng dụng của nó trên thế giới. Hội đồng nghiên cứu quốc gia Mỹ
(NRC) đã báo cáo về" Đạo luật các loài nguy cấp và Khoa học" ( NRC, 1995a) kêu
gọi tăng cường sử dụng mơ hình định lượng sinh học và tiến hành đánh giá rủi ro
sinh thái đối với các quần thể có “nguy cơ tuyệt chủng” và bị đe dọa [12]. Năm
2006, EcoRA được ứng dụng trong nghiên cứu việc đánh giá rủi ro sinh thái đối với
tích lũy sinh học của PCDD/FS và dioxin trong một đầm phá ven biển ở Venezia –
Italya [11]. Tại Úc, lý thuyết về đánh giá rủi ro sinh thái cho ngành đánh bắt thủy
14
sản được hình thành và ứng dụng, cho phép định lượng rủi ro đối với các loài sinh
vật biển và phát triển quản lý ngư nghiệp dựa vào hệ sinh thái [14]. Năm 2007, ở
Tây Ban Nha cũng tiến hành nghiên cứu thử nghiệm công cụ này vào chất thải hữu
cơ bằng cách sử dụng một sinh vật nhạy cảm để thử nghiệm dựa trên sự phân bố của
chúng [23].
Trong lĩnh vực bảo vệ đa dạng sinh học, Ủy ban truyền thông đa dạng sinh học
châu Âu đã bắt buộc sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro sinh thái khi đưa ra các
chính sách về đa dạng sinh học và các giải pháp chống lại suy giảm đa dạng sinh
học [19].
Tại châu Á, Nhật Bản là quốc gia ứng dụng sớm đánh giá rủi ro sinh thái trong
công tác bảo vệ mơi trường. Nước này có các dự án quản lý độc học sinh thái dựa
vào cộng đồng địa phương để có những thơng tin quan trọng khi thực hiện đánh giá.
Cùng với đó, năm 2011, tại Trung Quốc có nghiên cứu Đánh giá rủi ro sinh thái xác
suất cho ba chlorophenols trong bề mặt vùng biển [15]. Những điều này cho thấy:
EcoRA không chỉ được áp dụng trong quản lý các lưu vực lớn như biển, vịnh,
sông... mà còn được sử dụng trong các đầm phá hay ao hồ, trong đó có hồ đơ thị.
b. Việt Nam
Ở nước ta, đánh giá rủi ro sinh thái vẫn là một phương pháp tương đối mới,
chưa được ứng dụng nhiều trong các nghiên cứu cũng như các báo cáo liên quan
đến vấn đề mơi trường và sinh thái. Từ đó cho thấy công cụ này chưa thực sự được
quan tâm nghiên cứu và ứng dụng một cách rộng rãi. Tuy nhiên, có 2 cơng trình
nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái đã được công bố, bước đầu khẳng định được
tầm quan trọng và khả năng ứng dụng công cụ này ở nước ta đó là đánh giá rủi ro
ban đầu vùng bờ Đà Nẵng vào năm 2004. Dự án đã sử dụng phương pháp đánh giá
rủi ro hồi cố và đánh giá rủi ro dự báo để đánh giá rủi ro vùng bờ, xây dựng và phát
triển một đường truyền rủi ro tại khu vực vùng bờ, xác định các tác nhân gây ảnh
hưởng xấu đến sức khỏe con người và mơi trường góp phần giúp ích cho việc hồn
thiện q trình đánh giá, quản lý rủi ro mơi trường. Đánh giá này cũng cho thấy tầm
15
quan trọng của sự hợp tác giữa các cơ quan quản lý, các cơ quan nghiên cứu khoa
học – kỹ thuật trong quá trình thực hiện đánh giá rủi ro [7].
Tiếp theo là nghiên cứu đánh giá rủi ro sinh thái nước thải công nghiệp và rủi ro
sức khỏe do ô nhiễm không khí đối với công nhân giới hạn tại KCN Vĩnh Lộc và
KCN Tân Thới Hiệp, TP. Hồ Chí Minh năm 2009. Kết quả nghiên cứu này là cơ sở
để nghiên cứu và ứng dụng phương pháp đánh giá rủi ro sinh thái vào quản lý môi
trường tại các KCN [5].
Thường xuyên, phương pháp đánh giá rủi ro sinh thái được nghiên cứu và ứng
dụng trong nước với sự hợp tác, hỗ trợ từ các tổ chức nước ngoài. Trong thời gian
từ tháng 3/2012 đến tháng 9/2013, được sự hỗ trợ của các chuyên gia đến từ hệ
thống Khoa Sinh thái học – Đại học Stockholm Thụy Điển, Trung tâm Bảo tồn sinh
vật Biển và Phát triển cộng đồng (MCD) phối hợp với các đối tác trong nước (Viện
tài nguyên và môi trường biển – IMER, Trung tâm quan trắc mơi trường thành phố
Hải Phịng - HACEM, Ban quản lý VQG Cát Bà) thực hiện nghiên cứu thí điểm
Đánh giá rủi ro sinh thái tại xã Phù Long, huyện Cát Hải, Khu Dự trữ sinh quyển
quần đảo Cát Bà, với mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái rừng ngập mặn và quản lý hoạt
động nuôi trồng thủy sản bền vững [1]. Ngồi ra cịn có một số cơng trình nghiên
cứu khác như nghiên cứu sử dụng độc tố sinh thái học trong việc cảnh báo sớm
những nguy cơ sinh thái do ô nhiễm môi trường đối với các vùng nhạy cảm ven bờ
Bình Định, Dự án ngăn chặn Sốt xuất huyết Dengue tại Việt Nam, cơng trình đánh
giá một cách định tính định lượng các hình thức và quy mô sử dụng các vùng đất
ngập nước làm cơ sở cho việc đề xuất cách giảm thiểu tác động cũng như chia sẻ
trách nhiệm, lợi ích trong bảo tồn giữa cộng đồng và vườn quốc gia Yok Đôn.
1.1.5. Khả năng áp dụng đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi
trường ở Việt Nam
Ở Việt Nam, công cụ đánh giá rủi ro sinh thái mới được áp dụng trong những
năm gần đây và bước đầu đã mang lại những hiệu quả đáng kể với các cơng trình
nghiên cứu đã nêu ở mục 1.1.4.b. Quá trình đánh giá rủi ro sinh thái dựa trên 2 yếu
16
tố: đặc tính tác động và đặc tính tiếp xúc đồng thời nhấn mạnh vào 3 giai đoạn
chính của đánh giá rủi ro: xác định vấn đề, giai đoạn phân tích và giai đoạn mơ tả
đặc tính rủi ro. Ở nước ta, EcoRA bước đầu khuyến khích sử dụng và dần dần quy
định bắt buộc áp dụng trong một số lĩnh vực sau:
Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, đánh giá môi trường chiến lược;
Lập báo cáo đánh giá tác động của BĐKH;
Giám sát các hệ sinh thái nhạy cảm; các KBTTN, Vườn Quốc gia;
Giám sát du nhập các lồi vật ni, cây trồng mới;
Giám sát môi trường của các ngành công nghiệp, khai khống, nơng
nghiệp…
Tuy nhiên, Việt Nam cịn tồn tại một số khó khăn gây cản trở cho q trình thực
hiện mục tiêu này như: nhiều phong tục, tập quán gây trở ngại đối với việc thu hút
sự tham gia của các nhóm cộng đồng, dẫn đến khơng đảm bảo được tính bình đẳng
khi thực hiện các giải pháp; hệ thống thống kê, lưu trữ số liệu về môi trường, sức
khỏe ở Việt Nam cịn thiếu đồng bộ và khơng đầy đủ; trình độ nhận thức về các vấn
đề sinh thái, môi trường, sức khỏe và các mối quan hệ nhân quả giữa các bên liên
quan không đồng đều, cơ sở vật chất, phương tiện khoa học kĩ thuật chưa đầy đủ và
đặc biệt là thiếu kinh phí đầu tư và sự hỗ trợ của các tổ chức mơi trường có liên
quan [4]. Hiện nay, đánh gía rủi ro sinh thái cũng đang phát triển và nó thật sự cần
thiết do đó nó cần có sự quan tâm đầu tư đúng đắn của nhà nước kết hợp với việc
tăng cường tổ chức tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm triển khai EcoRA giữa các địa
phương với nhau và giữa nhà khoa học với các nhà quản lý.
1.2. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
VKTTĐMT nằm ở tọa độ 16044'30'' đến 13°39'10'' vĩ Bắc, 107000'56'' đến
109°21' kinh Đông, là cầu nối Bắc Trung Bộ với Tây Ngun và Đơng Nam Bộ. Có
tầm quan trọng về kinh tế và quốc phòng đối với cả nước - nằm ngay trên các tuyến
giao thơng chính Bắc - Nam và là cửa ngõ ra biển của khu vực Tây Nguyên và các
17
nước Tiểu vùng sông Mêkông trên tuyến Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC) và
điểm kết thúc là Cảng Tiên Sa.
VKTTĐMT có hệ thống sơng ngịi ngắn và dốc, bờ biển sâu với nhiều đoạn
khúc khuỷu, thềm lục địa hẹp, có nhiều đảo (đảo: Lý Sơn, Phú Q) và quần đảo
(quần đảo Hồng Sa), vì thế nơi này có rất nhiều thuận lợi trong khai thác và phát
triển du lịch biển. Ngoài ra, tiềm lực phát triển du lịch của VKTTĐMT cịn bắt
nguồn từ vơ vàn di sản thâm trầm của quá khứ. Dải đất này chiếm chưa đầy 1/5
chiều dài đất nước nhưng trở thành quê hương của bốn di sản và kiệt tác văn hóa
của nước ta được UNESCO cơng nhận, bao gồm quần thể di tích cố đơ Huế, nhã
nhạc cung đình Huế, phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn.
Tiềm lực và sức mạnh của dải đất này còn nhờ một phần vào sự ưu ái của chính
quyền trung ương về đầu tư và chính sách phát triển, đặc biệt là phát triển cơng
nghiệp. Hàng loạt khu kinh tế lần lượt xuất hiện ở VKTTĐMT, khởi đầu với Khu
kinh tế mở Chu Lai (27.000ha) và tiếp sau đó là Khu kinh tế Dung Quất (10.300ha),
Nhơn Hội (10.000ha) và Chân Mây (1.000ha)1.
Tuy nhiên, những vấn đề này đã đặt ra nhiều nguy cơ và thách thức, nổi bật
trong số đó là vấn đề chất lượng mơi trường nước sơng bởi nước thải trong q trình
phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ cùng với quá trình sinh hoạt của
người dân đã qua xử lý hoặc xử lý chưa hiệu quả đều thải ra các con sơng. Nước
sơng chứa chất thải và sự tích tụ các chất ô nhiễm ảnh hưởng đến đời sống của các
sinh vật thủy sinh, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn.
1
Vũ Thành Tự Anh, Đánh giá tiềm lực vùng kinh tế trọng điểm miền Trung
18
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Môi trường nước sơng của một số sơng chính vùng kinh tế trọng điểm miền
Trung (từ Thừa Thiên – Huế đến Bình Định).
Đối tượng sử dụng để đánh giá rủi ro là công cụ đánh giá rủi ro sinh thái
(EcoRA) – một công cụ được nghiên cứu áp dụng ở nhiều nước trên thế giới.
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài lựa chọn các sông để nghiên cứu: sông Hương (Thừa Thiên - Huế), sông
Cu Đê (Đà Nẵng), sông Hàn (Đà Nẵng), sông Thu Bồn (Quảng Nam), sông Trà
Bồng (Quảng Ngãi), sông Kôn (Bình Định).
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 5 năm 2014.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp hồi cứu số liệu
Thu thập những báo cáo hiện trạng môi trường hằng năm của địa phương về hệ
sinh thái sông.
Số liệu quan trắc môi trường ở các sông lấy từ Báo cáo kết quả quan trắc môi
trường VKTTĐMT giai đoạn 2005 – 2012. Tiêu chuẩn sử dụng cho đánh giá rủi ro
sinh thái này là QCVN 08:2008/BTNMT, trong đó giá trị cột A2 được áp dụng để
so sánh với giá trị trung bình của các thơng số đo được nhằm xác định khả năng xảy
ra. Mức độ thiệt hại được xác định bằng cách so sánh với giá trị của từng cột A1,
A2, B1, B2.
Tìm hiểu, thu thập các nghiên cứu về đánh giá rủi ro sinh thái trong và ngoài
nước.
19
2.2.2. Phương pháp ma trận
Nhằm xác định mức độ thiệt hại, tần suất xảy ra, phân nhóm rủi ro đối với mơi
trường nước tại các sơng chính vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Phương pháp
ma trận được thực hiện theo các bước sau:
Bước 1. Xác định khả năng xảy ra ô nhiễm dựa vào bảng 1 với 5 mức độ
khả năng xảy ra tương ứng với thang điểm từ 1-5
Bảng 1: Thang điểm đánh giá khả năng xảy ra rủi ro đối với môi trường nước
sông vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Khả năng
Điểm
xảy ra
Cao
5
Tần suất xảy ra ô
Đối với hệ sinh thái và những tác
nhiễm
động khác
100%
Chắc chắn xảy ra hoặc thường xuyên
xảy ra.
Khá cao
4
75% - 100%
Dễ dàng xảy ra hoặc xảy ra định kỳ
hàng tháng.
Trung bình
3
≥50% - 75%
Đã xảy ra 1 đến 2 lần trong 1 năm
hoặc nhiều hơn.
Thấp
2
25% - 50%
Rất thấp
1
0 – 25%
Có thể xảy ra 1 lần trong 2 năm.
Hiếm khi xảy ra hoặc không xảy ra
“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009) [5]”
Bước 2. Xác định mức độ thiệt hại dựa vào bảng 2 với 5 mức độ thiệt hại
tương ứng với thang điểm từ 1-5
20
Bảng 2. Bảng đề xuất thang điểm đánh giá mức độ ảnh hưởng đối với môi
trường nước của một số sơng chính trong VKTTĐMT.
Mức độ
thiệt
Điểm
hại
Nghiêm
trọng
Đối với mơi trường
pháp lý
Vượt cột B2 Gây thiệt hại đến môi trường, biến đổi hệ sinh
5
QCVN 08 : thái trên diện rộng, khó hoặc khơng có khả
2008/BTNMT năng phục hồi.
Vượt cột B1
Khá
nghiêm
Tiêu chuẩn
4
trọng
QCVN
08:2008/BTN
MT
Gây thiệt hại đối với môi trường, biến đổi cấu
trúc hệ sinh thái trong thời gian tương đối dài
nhưng vần có khả năng phục hồi
Vượt cột A2 Tác động đến thành phần môi trường và biến
Trung
bình
3
QCVN
đổi cấu trúc hệ sinh thái tại một số khu vực
08:2008/BTN
nhất định có khả năng hồi phục trong thời gian
MT
ngắn
Vượt cột A1
Đáng kể
2
QCVN
08:2008/BTN
MT
Có tác động nhưng tác động trong thời gian
ngắn và chỉ gây ảnh hưởng đến một số cá thể/
quần thể trong vùng.
Đạt hoặc tốt
Khơng
đáng kể
hơn
1
cột
A1QCVN
08:2008/BTN
Khơng có tác động hoặc tác động không đáng
kể
MT
“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009) [5]”
Bước 3. Xác định mức độ rủi ro theo công thức
Rủi ro = tần suất xảy ra (frequency) x mức độ ảnh hưởng (consequence)
21
Bảng 3. Bảng ma trận thang điểm rủi ro
Mức độ ảnh hưởng
Khả năng xảy
Nghiêm
ra
trọng (5)
Khá
nghiêm
trọng (4)
Trung
Đáng kể
bình (3)
(2)
Khơng
đáng kể
(1)
Cao (5)
5x5(25)
5x4(20)
5x3(15)
5x2(10)
5x1(5)
Khá cao (4)
4x5(20)
4x4(16)
4x3(12)
4x2(8)
4x1 (4)
Trung bình (3)
3x5(15)
3x4(12)
3x3(9)
3x2(6)
3x1 (3)
Thấp (2)
2x5(10)
2x4(8)
2x3(6)
2x2(4)
2x1(2)
Rất thấp (1)
1x5(5)
1x4(4)
1x3(3)
1x2(2)
1x1(1)
“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009) [5]”
Bước 4. Dự đốn phân nhóm rủi ro
Bảng 4: Bảng đề xuất thang điểm phân nhóm mức độ rủi ro
Mức
độ rủi
ro
Thang
điểm
Rất thấp
(5)
Thấp
(4)
Trung bình (3)
Khá cao
(4)
Cao
(5)
1-4
5-9
10 - 14
15 - 19
20 - 25
Nhóm chấp Nhóm chấp nhận được rủi ro
Phân
Nhóm khơng chấp nhận
nhận được kèm theo biện pháp giảm
nhóm
rủi ro.
rủi ro
thiểu.
“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009) [5]”
22
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ, BIỆN LUẬN
3.1. Đánh giá rủi ro sinh thái môi trường nước sông VKTTĐMT.
Sau khi thu thấp số liệu từ kết quả quan trắc môi trường giai đoạn 2005 – 2012,
cùng với sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro ma trận để đánh giá rủi ro sinh thái
mơi trường một số sơng chính tại VKTTĐMT, kết quả được thể hiện ở bảng 5.
Bảng 5. Ma trận rủi ro và mức độ rủi ro đối với một số sơng chính trong
VKTTĐMT
Thơng số
nghiên cứu
sơng Hương
sơng Cu Đê
sơng Hàn
SS
sơng Thu
Bồn
sông Trà
Bồng
sông Kôn
sông Hương
sông Cu Đê
sông Hàn
BOD5
Rủi ro = Mức độ thiệt hại * Khả năng xảy ra
Khu vực
sông Thu
Bồn
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
4
16
1
2
6
9
4
9
(2x2) (4x4) (1x1) (2x1) (3x2) (3x3) (2x2) (3x3)
2
20
1
2
2
8
4
4
(2x1) (4x5) (1x1) (2x1) (2x1) (2x4) (2x2) (2x2)
9
25
8
12
12
16
12
6
(3x3) (5x5) (4x2) (3x4) (4x3) (4x4) (4x3) (2x3)
6
25
6
8
8
9
12
2
(3x2) (5x5) (3x2) (4x2) (4x2) (3x3) (4x3) (2x1)
16
25
1
4
2
6
6
4
(4x4) (5x5) (1x1) (2x2) (2x1) (3x2) (3x2) (2x2)
20
12
4
12
6
9
9
9
(4x5) (4x3) (2x2) (4x3) (2x3) (3x3) (3x3) (3x3)
1
6
2
1
1
1
1
1
(1x1) (3x2) (2x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
1
15
16
1
1
1
1
1
(1x1) (5x3) (4x4) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
4
6
9
1
1
1
1
1
(2x2) (3x2) (3x3) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
1
16
12
1
1
1
1
1
(1x1) (4x4) (4x3) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
23
sông Trà
Bồng
sông Kôn
sông Hương
sông Cu Đê
sông Hàn
sông Thu
COD
Bồn
sông Trà
Bồng
sông Kôn
sông Hương
sông Cu Đê
sông Hàn
NO2-
sông Thu
Bồn
sông Trà
Bồng
sông Kôn
sông Hương
1
3
1
1
1
1
1
1
(1x1) (3x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
6
4
12
1
1
1
1
1
(3x2) (4x1) (4x3) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
2
6
1
1
1
1
1
1
(2x1) (3x2) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
4
15
12
1
1
1
1
1
(2x2) (5x3) (4x3) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
6
6
6
1
1
1
1
1
(3x2) (3x2) (3x2) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
1
16
12
1
1
1
1
1
(1x1) (4x4) (4x3) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
4
6
2
1
1
1
1
1
(2x2) (3x2) (2x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
6
3
12
1
1
1
1
1
(3x2) (3x1) (4x3) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
1
1
4
9
9
(1x1) (1x1) (2x2) (3x3) (3x3)
1
1
1
4
4
(1x1) (1x1) (1x1) (2x2) (2x2)
6
6
8
12
16
(3x2) (2x3) (4x2) (4x3) (4x4)
1
1
2
9
12
(1x1) (1x1) (2x1) (3x3) (3x4)
1
1
1
6
4
(1x1) (1x1) (1x1) (3x2) (2x2)
1
4
6
20
1
(1x1) (2x2) (2x3) (5x4) (1x1)
1
25
1
24
1
1
-
-
-
-
-
-
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(1x1) (5x5) (1x1) (1x1) (1x1)
sông Cu Đê
Pb
sông Hàn
sông Thu
Bồn
sông Trà
Bồng
sông Kôn
sông Hương
sông Cu Đê
sông Hàn
sông Thu
Bồn
sông Trà
Coliform
Bồng
sông Kôn
Dầu mỡ
sông Hương
sông Cu Đê
sông Hàn
1
25
1
1
1
(1x1) (5x5) (1x1) (1x1) (1x1)
1
25
1
1
1
(1x1) (5x5) (1x1) (1x1) (1x1)
1
25
1
1
1
(1x1) (5x5) (1x1) (1x1) (1x1)
1
25
1
1
1
(1x1) (5x5) (1x1) (1x1) (1x1)
3
25
1
1
1
(3x1) (5x5) (1x1) (1x1) (1x1)
15
1
8
1
1
(1x1) (1x1)
-
-
-
-
1
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(1x1) (1x1)
1
1
(5x3) (1x1) (4x2) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
1
1
1
1
1
1
1
1
(1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
1
1
4
1
1
1
1
1
(1x1) (1x1) (2x2) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
1
1
5
1
1
1
1
1
(1x1) (1x1) (5x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
1
1
9
1
1
1
1
1
(1x1) (1x1) (3x3) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1) (1x1)
10
1
3
2
4
1
1
1
(5x2) (1x1) (3x1) (2x1) (2x2) (1x1) (1x1) (1x1)
20
15
20
20
15
15
12
15
(4x5) (3x5) (4x5) (4x5) (3x5) (3x5) (3x4) (3x5)
15
20
20
20
20
20
20
15
(3x5) (4x5) (4x5) (4x5) (4x5) (4x5) (4x5) (3x5)
25
20
20
20
20
20
20
20
(5x5) (4x5) (4x5) (4x5) (4x5) (4x5) (4x5) (4x5)
25