ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
NGÔ THỊ LỆ THỦY
ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
CÔNG NGHIỆP TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT
VÀ MỘT SỐ KHU CƠNG NGHIỆP TỈNH QUẢNG NGÃI
KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đà Nẵng - 2014
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH - MÔI TRƯỜNG
NGÔ THỊ LỆ THỦY
ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI ĐỐI VỚI NƯỚC THẢI
CÔNG NGHIỆP TẠI KHU KINH TẾ DUNG QUẤT
VÀ MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH QUẢNG NGÃI
CHUYÊN NGÀNH: CỬ NHÂN SINH - MÔI TRƯỜNG
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS. VÕ VĂN MINH
Đà Nẵng – 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai
cơng bố trong bất kì cơng trình nào khác.
Sinh viên thực hiện
Ngô Thị Lệ Thủy
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng,
khoa Sinh – Mơi trường, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện thuận lợi cả về mặt vật
chất lẫn tinh thần để tơi có thể hồn thành khóa luận tốt nghiệp.
Tơi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Võ Văn Minh và ThS. Đàm Minh
Anh, những người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho tơi trong suốt thời
gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Đà Nẵng, ngày tháng năm 2014
Sinh viên
Ngô Thị Lệ Thủy
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU ......................................3
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI .......................................3
1.1.1. Khái niệm về đánh giá rủi ro sinh thái .............................................................3
1.1.2. Lịch sử phát triển đánh giá rủi ro sinh thái ......................................................3
1.1.3. Ý nghĩa của đánh giá rủi ro sinh thái ...............................................................4
1.1.4. Tình hình nghiên cứu EcoRA trong quản lý mơi trường trên thế giới và Việt
Nam ............................................................................................................................5
1.1.5. Khả năng áp dụng đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi trường ở Việt
Nam. .........................................................................................................................10
1.2.TỔNG QUAN VỀ KKT DUNG QUẤT VÀ KCN QUẢNG PHÚ, TỊNH
PHONG ...................................................................................................................11
1.2.1. Thông tin chung về KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong ...
...................................................................................................................................11
1.2.2. Hiện trạng nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và KCN Quảng
Phú, Tịnh Phong .....................................................................................................11
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
...................................................................................................................................13
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ..................................................13
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU .............................................................................13
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....................................................................13
2.3.1. Phương pháp hồi cứu dữ liệu .........................................................................13
2.3.2. Phương pháp ma trận rủi ro ............................................................................14
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu ...............................................................................15
2.3.4 Phương pháp sơ đồ hóa ...................................................................................15
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN ..........................................................16
3.1. YẾU TỐ VÀ MỨC ĐỘ RỦI RO CỦA NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP KKT
DUNG QUẤT VÀ KCN QUẢNG PHÚ, TỊNH PHONG ...................................16
3.2. PHÂN NHÓM YẾU TỐ RỦI RO CỦA NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP KKT
DUNG QUẤT VÀ KCN QUẢNG PHÚ, TỊNH PHONG .......................................22
3.3. CÁC ĐỐI TƯỢNG CHỊU TÁC ĐỘNG TỪ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP
KKT DUNG QUẤT VÀ KCN QUẢNG PHÚ, TỊNH PHONG ..............................26
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...............................................................................29
1. KẾT LUẬN ...........................................................................................................29
2. KIẾN NGHỊ .........................................................................................................30
TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................................................31
PHỤ LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BVMT
Bảo vệ môi trường
CTNN
Chất thải nguy hại
CTR
Chất thải rắn
EcoRA
Đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk Assessment)
HRA
Đánh giá rủi ro sức khỏe (Health Risk Assessment)
KCN
Khu công nghiệp
KKT
Khu kinh tế
MCD
Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng (Centre for
Marinelife Conservation and Community Development)
OGTR
Văn phịng quản lý cơng nghệ Gene Úc (The Office of the Gene
Technology Regulator)
PEMSEA
Chương trình Hợp tác Khu vực trong Quản lý môi trường các biển
Đông Á (Partnerships in Environmental Management for the Seas of
East Asia)
USEPA
Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ (United States Environmental
Protection Agency)
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
1.1
Đặc điểm KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh
Phong
11
1.2
Hiện trạng nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và
KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
12
2.1
Thang điểm đánh giá khả năng xảy ra rủi ro của nước
thải công nghiệp
14
2.2
Thang điểm đánh giá mức độ thiệt hại của nước thải cơng
nghiệp
14
2.3
Thang điểm ma trận rủi ro
15
2.4
Thang điểm phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải công
nghiệp
15
3.1
Thang điểm ma trận rủi ro của nước thải công nghiệp
KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
16
3.2
Kết quả đánh giá rủi ro của nước thải công nghiệp KKT
Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
17
3.3
Bảng phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải công nghiệp
KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
23
3.4
Tác động của các yếu tố rủi ro đến hệ sinh thái
27
DANH MỤC HÌNH
Số hiệu
hình vẽ
Tên hình
Trang
1.1
Khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên (Barnthouse &
Suter 1986)
4
1.2
Khung tiếp cận đánh giá rủi ro
9
3.1
Mức độ rủi ro của nước thải công nghiệp KKT Dung
Quất
18
3.2
Mức độ rủi ro của nước thải công nghiệp KCN Quảng
Phú
18
3.3
Mức độ rủi ro của nước thải công nghiệp KCN Tịnh
Phong
18
3.4
Mức độ rủi ro của nước thải công nghiệp tại đầu vào
và đầu ra hệ thống xử lý nước thải tập trung KCN
Quảng Phú
21
3.5
Bản đồ phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải công
nghiệp KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh
Phong
25
3.6
Sơ đồ tác động của các yếu tố rủi ro đối với hệ sinh thái
26
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Ngãi với mục tiêu đến năm 2020 trở thành tỉnh công nghiệp có vị trí
cao trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Theo đó, tỉnh sẽ tập trung phát triển
cơng nghiệp đa ngành, đa lĩnh vực, đẩy mạnh đầu tư cho các khu công nghiệp
(KCN), đặc biệt là khu kinh tế (KKT) Dung Quất – được đánh giá là KKT thành
công nhất trong cả nước. Công nghiệp phát triển đã đánh dấu sự phát triển của tỉnh
trong thời kì hội nhập. Tuy nhiên, nó cũng đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết mà
trước hết là nguy cơ ô nhiễm môi trường, trong đó đáng chú ý hơn cả là nguy cơ ô
nhiễm môi trường do nước thải công nghiệp. Các dịng thải này khơng được xử lý
hoặc xử lý chưa triệt để được thải trực tiếp ra sông, hồ, kênh, rạch gây nguy cơ ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến các hệ sinh thái [2].
Để phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các KCN, trong thời
gian qua, các biện pháp và công cụ quản lý môi trường được tăng cường triển khai.
Các biện pháp và công cụ quản lý môi trường rất đa dạng như luật pháp, chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch, chính sách, khoa học, kinh tế,... Nhưng mỗi biện pháp và cơng
cụ có phạm vi và hiệu quả khác nhau trong từng trường hợp cụ thể [12]. Vì vậy, để
hồn thiện và phát huy vai trị của các biện pháp và cơng cụ quản lý mơi trường thì
việc nghiên cứu triển khai và ứng dụng các cơng cụ mới có tính dự đốn là rất cần
thiết.
Một trong những công cụ được áp dụng khá rộng rãi trên thế giới nhưng còn
tương đối mới ở Việt Nam là công cụ đánh giá rủi ro sinh thái (Ecological Risk
Assessment - EcoRA) [7]. EcoRA cung cấp các thông tin có ý nghĩa quan trọng đối
với cơng tác dự báo các tác động đến hệ sinh thái và môi trường từ các hoạt động
sản xuất của con người hay các dự án phát triển [21]. Những dự báo này là cơ sở để
xây dựng phương án phòng ngừa các sự cố môi trường nhằm hạn chế, giảm thiểu
các tác động theo thứ tự ưu tiên. Tại Việt Nam, EcoRA chỉ mới được ghi nhận trong
các dự án có sự hợp tác với các tổ chức quốc tế như dự án “Đánh giá ban đầu rủi ro
môi trường thành phố Đà Nẵng (2004)” [18]. Đối với các KCN, nghiên cứu bước
2
đầu đánh giá rủi ro sinh thái và sức khỏe cho khu cơng nghiệp thành phố Hồ Chí
Minh (2009) đã xác định rủi ro sinh thái của nước thải công nghiệp tại hai KCN Tân
Thới Hiệp và Vĩnh Lộc [14].
Để có cơ sở khoa học trong việc sử dụng rộng rãi và hiệu quả công cụ đánh
giá rủi ro sinh thái, chúng tôi tiến hành chọn đề tài:“Đánh giá rủi ro sinh thái đối
với nước thải công nghiệp tại khu kinh tế Dung Quất và một số khu công nghiệp
tỉnh Quảng Ngãi” nhằm mục đích xác định, đánh giá mức độ và phân nhóm yếu tố
rủi ro của nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và một số KCN trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.Mục tiêu tổng quát
Đánh giá rủi ro sinh thái đối với nước thải công nghiệp KKT Dung Quất và
KCN Quảng Phú, Tịnh Phong.
2.2.Mục tiêu cụ thể
Xác định và đánh giá các yếu tố rủi ro của nước thải công nghiệp đối với mơi
trường và các hệ sinh thái.
Phân nhóm yếu tố rủi ro sinh thái từ nước thải công nghiệp KKT Dung Quất
và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong.
3. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài là kết quả bước đầu trong việc sử dụng công cụ đánh giá rủi ro sinh
thái đối với nước thải công nghiệp tại tỉnh Quảng Ngãi nhằm hoàn thiện phương
pháp đánh giá rủi ro sinh thái trong công tác quản lý môi trường tại các KCN.
Đề tài cung cấp cơ sở khoa học cho nhà quản lý mơi trường trong dự đốn
rủi ro do nước thải công nghiệp gây ra đối với các hệ sinh thái xung quanh các KCN
và KKT Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO SINH THÁI
1.1.1. Khái niệm về đánh giá rủi ro sinh thái
Đánh giá rủi ro sinh thái (EcoRA) là một quá trình đánh giá khả năng tác
động có hại đến hệ sinh thái có thể xảy ra hoặc đang xảy ra như là kết quả của việc
tiếp xúc với một hoặc nhiều yếu tố gây stress [19]. Trong việc bảo vệ môi trường,
công cụ này ngày càng được sử dụng hiệu quả để điều tra về bản chất và tầm quan
trọng của tác động sinh thái đồng thời hỗ trợ cho việc ra quyết định của nhà quản lý
môi trường [30], [34].
EcoRA được phát triển từ đánh giá rủi ro sức khỏe (HRA) [33]. EcoRA là
quá trình đánh giá trên diện rộng, chú trọng đến quần thể, quần xã và những ảnh
hưởng của hóa chất lên tỉ lệ tử vong và khả năng sinh sản [20]. EcoRA có ba nhóm:
(1) Đánh giá rủi ro sinh thái do hóa chất; (2) Đánh giá rủi ro sinh thái đối với hóa
chất bảo vệ thực vật; (3) Đánh giá rủi ro sinh thái đối với sinh vật biến đổi gen.
EcoRA là một quá trình linh hoạt về tổ chức và phân tích dữ liệu, thơng tin,
giả định và cả những khả năng không chắc chắn để đánh giá tác động bất lợi có thể
xảy ra cho hệ sinh thái. Một nghiên cứu đánh giá rủi ro nhất định có thể đánh giá
cục bộ đối với yếu tố gây stress, một thành phần sinh thái, một hoạt động của con
người hoặc đánh giá toàn diện đối với một hệ sinh thái cụ thể [30].
1.1.2. Lịch sử phát triển đánh giá rủi ro sinh thái
Đánh giá rủi ro sinh thái được phát triển tại USEPA vào năm 1980 trên cơ sở
hợp nhất 2 quá trình: đánh giá rủi ro (bắt nguồn từ ngành công nghiệp bảo hiểm tại
Anh và Hà Lan vào thế kỷ 17, sau đó mở rộng sang các lĩnh vực khác, trong đó bao
gồm các quy định về ô nhiễm môi trường) và đánh giá sinh thái (là một phần quan
trọng trong quản lý môi trường tại Hoa Kỳ với nhiệm vụ pháp lý cho việc đánh giá
tác động môi trường vào năm 1970) [32]. Kể từ khi được hình thành, EcoRA được
thể chế cùng với sự phát triển của USEPA thông qua các khung đánh giá và văn bản
hướng dẫn [33]. Hiện nay, việc áp dụng khung đánh giá rủi ro sinh thái sẽ được điều
chỉnh phù hợp với bối cảnh và chính sách của mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực [25]. Tuy
4
nhiên, EcoRA vẫn được phát triển dựa trên khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên
(Barnthouse & Suter 1986).
Lựa chọn thiết bị đầu cuối
Phát triển nguồn lực
Mô tả môi trường
Đánh giá tiếp xúc
Đánh giá tác động
Đánh giá rủi ro
Hình 1.1 Khung đánh giá rủi ro sinh thái đầu tiên (Barnthouse & Suter 1986) [19]
Với lịch sử hình thành và phát triển trong khoảng 40 năm nhưng EcoRA đã
được áp dụng rộng rãi khơng chỉ ở các lĩnh vực hóa học, độc học sinh thái mà còn ở
các lĩnh vực liên quan đến môi trường như đánh giá tác động mơi trường, chính
sách quy hoạch sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên,…[7].
1.1.3. Ý nghĩa của đánh giá rủi ro sinh thái
EcoRA là phương pháp được áp dụng trong nhiều lĩnh vực nhằm xác định và
dự đoán rủi ro đối với hệ sinh thái, cách tiếp cận này sẽ chỉ rõ thành phần nào trong
hệ sinh thái dễ bị tổn thương nhất, trên cơ sở đó lựa chọn và phát triển các thành
phần phù hợp với sự phát triển của hệ sinh thái [6]. Vì vậy, EcoRA được xem là
cơng cụ hỗ trợ hữu ích giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách đưa ra các quyết
định dựa trên các kịch bản sinh thái nhằm đảm bảo cân bằng chi phí – lợi ích.
Đánh giá rủi ro sinh thái cung cấp thông tin về rủi ro môi trường, giúp đưa ra
các quyết định phòng ngừa các rủi ro và đưa ra các giải pháp kịp thời nhằm giảm
đến mức thấp nhất các thiệt hại về người và của [15]. Vì vậy, đây là một trong
những cơng cụ quan trọng khi thực hiện đánh giá tác động môi trường.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu và các hiện tượng thời tiết cực đoan đang
gia tăng cả về tần suất và cường độ như hiện nay, EcoRA được đánh giá là một
5
trong những cơng cụ có độ tin cậy cao, giúp nhận dạng và xác định mức độ ảnh
hưởng của tất cả các yếu tố bất lợi đến hệ sinh thái [24]. Nhờ vậy, các giải pháp ứng
phó phù hợp sẽ được nghiên cứu và triển khai ứng dụng kịp thời, giảm thiểu tối đa
các nguy cơ đe dọa cân bằng sinh thái và cuộc sống con người.
1.1.4. Tình hình nghiên cứu EcoRA trong quản lý môi trường trên thế
giới và Việt Nam
a)Tình hình nghiên cứu EcoRA trong quản lý mơi trường trên thế giới
EcoRA đã được áp dụng ở nhiều lĩnh vực và được đưa thành luật ở một số
nước như Mỹ, Trung Quốc,... [34], [35], [36]. Năm 1993, các nước châu Âu ban
hành quy định và văn bản hướng dẫn về đánh giá rủi ro sinh thái do hóa chất. Trong
phạm vi hỗ trợ pháp luật, các nước châu Âu đã thực hiện đánh giá rủi ro sinh thái có
hệ thống do hóa chất và đánh giá rủi ro sinh thái tồn diện do các chất gây ơ nhiễm
cơng nghiệp và đạt được nhiều kinh nghiệm về đánh giá rủi ro sinh thái đối với các
chất gây ô nhiễm [33]. Năm 1998, USEPA ban hành hướng dẫn đánh giá rủi ro
chính thức và thành lập quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về đánh giá rủi ro tương ứng
với các hệ sinh thái khác nhau [34]. Sau đó, USEPA đã nghiên cứu và đưa ra khung
đánh giá rủi ro và các hướng dẫn thực hiện đánh giá rủi ro sinh thái trong các
chương trình mơi trường tại các ban đối với khơng khí, nước, độc chất và các khu
vực bị ô nhiễm [19], [21], [26], [31].
Mặc dù các cơ quan, tổ chức áp dụng khung lý thuyết EcoRA vào các
chương trình để giải quyết các nhiệm vụ pháp lý khác nhau, nhưng đặc trưng của
EcoRA là một quá trình được thực hiện trong 3 giai đoạn: (1) xây dựng vấn đề với
nhiệm vụ quan trọng là xác định thiết bị đánh giá đầu cuối; (2) phân tích rủi ro bao
gồm phân tích tiếp xúc và mối quan hệ giữa tiếp xúc – đáp ứng; (3) mô tả rủi ro bao
gồm xác định tính chất, khả năng tác động và trao đổi thơng tin rủi ro với người ra
quyết định. Chính vì vậy, khi triển khai EcoRA trong các bối cảnh nhất định,
EcoRA đã đáp ứng được nhu cầu của người ra quyết định [34]. Tuy nhiên, một số
chuyên gia về lĩnh vực môi trường cho rằng EcoRA là lý do để trì hỗn các hành
động của cơ quan quản lý trong việc bảo vệ và phục hồi môi trường [33].
6
Sau Mỹ, Liên hợp quốc và các tổ chức bảo vệ môi trường của các quốc gia
khác trên thế giới đã nghiên cứu, phát triển các khung hướng dẫn triển khai EcoRA
nói chung và chuyên biệt cho một số ngành có khả năng tác động lớn đến hệ sinh
thái [36]. Ngư nghiệp là một trong những ngành có tác động lớn đến hệ sinh thái
biển, không chỉ ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động đánh bắt thủy sản mà còn từ các
hoạt động khác như vận chuyển, chế biến,…Tại Úc, lý thuyết về đánh giá rủi ro
sinh thái cho ngành đánh bắt thủy sản được hình thành và ứng dụng, cho phép định
lượng rủi ro đối với các loài sinh vật biển và phát triển quản lý ngư nghiệp dựa vào
hệ sinh thái [22].
Trong lĩnh vực bảo vệ đa dạng sinh học, Ủy ban truyền thông đa dạng sinh
học châu Âu đã bắt buộc sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro sinh thái khi đưa ra
các chính sách về đa dạng sinh học và các giải pháp chống lại suy giảm đa dạng
sinh học, giúp bảo vệ các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng và đang bị đe dọa bởi
chính con người [29].
Đánh giá rủi ro do hóa chất cũng là một vấn đề được nhiều quốc gia quan
tâm. Lý thuyết đánh giá rủi ro sinh thái đã được áp dụng vào các nghiên cứu để
đánh giá rủi ro hóa chất, đặc biệt là thuốc trừ sâu. Năm 2006, EcoRA được ứng
dụng trong nghiên cứu ở Italya, trong việc đánh giá rủi ro sinh thái do sự tích lũy
sinh học của PCDD/FS và dioxin trong một đầm phá ven biển ở Venice. Nghiên
cứu đã tiến hành thử nghiệm thành phần hợp chất dioxin trong trầm tích, nước và
các sinh vật tại 6 khu vực đầm phá để xác định sự phân bố không gian của chất gây
ô nhiễm. Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro sinh thái cao ở phần trung tâm và thấp
hơn ở phần đầm phá phía bắc đồng thời xác định mối nguy hại chủ yếu là do
pentachloro, hexachloro PCDD/Fs và pentachloro PCBs [20]. Năm 2011, nghiên
cứu về đánh giá rủi ro dư lượng thuốc thuốc trừ sâu tại vùng đất ngập nước hồ
Taihu, Trung Quốc đối với 8 loại thuốc trừ sâu. Kết quả nghiên cứu xác định được 3
loại thuốc có nguy cơ cao đối với hệ sinh thái và chỉ ra được loại thuốc diệt cỏ được
tìm thấy là độc hại hơn cho tảo, trong khi thuốc trừ sâu gây ra rủi ro cao hơn đối với
động vật phù du, côn trùng và cá. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ xét đến các loài thuốc
7
bảo vệ thông thường và không xem xét tác động mãn tính đối với hệ sinh thái do
thiếu dữ liệu [27].
Trung Quốc đã áp dụng lý thuyết đánh giá rủi ro vào nhiều lĩnh vực và hoạt
động khác nhau. Nghiên cứu tại tỉnh Hồ Bắc năm 2007, đã sử dụng EcoRA để xác
định rủi ro trước và sau khi hợp nhất đất đai. Kết quả cho thấy rằng, các rủi ro về
đất, nước và sinh học đều giảm đáng kể sau quá trình hợp nhất [28]. Một nghiên
cứu khác sử dụng EcoRA để đánh giá rủi ro sinh thái tại mỏ than do nhiều yếu tố
như kim loại nặng, xói mòn và sạt lỡ đất gây ra. Kết quả nghiên cứu đã đánh giá
mức độ rủi ro và phân nhóm yếu tố rủi ro tại khu vực nghiên cứu. Tuy nhiên, đây là
nghiên cứu bước đầu rủi ro sinh thái nên cịn tồn tại nhiều sự khơng chắc chắn.
Chẳng hạn, rất khó để xác định giá trị rủi ro của các chất độc và nguy hại, vì vậy
gây khó khăn trong việc đưa ra mối tương quan giữa các loài với liều lượng của các
chất độc khác nhau [25].
b) Tình hình nghiên cứu EcoRA trong quản lý mơi trường tại Việt Nam
Ở Việt Nam, một số cơng trình nghiên cứu áp dụng lý thuyết đánh giá rủi ro
sinh thái đã được tiến hành và đạt được một số thành công trong việc quản lý và bảo
vệ môi trường.
Năm 2004, được sự hỗ trợ của Quỹ mơi trường tồn cầu, UBND thành phố
Đà Nẵng và Chương trình Hợp tác Khu vực trong Quản lý Môi trường các biển
Đông Á (PEMSEA) đã tiến hành đánh giá ban đầu rủi ro môi trường tại khu vực
vùng bờ Đà Nẵng. Đánh giá này sử dụng phương pháp đánh giá rủi ro hồi cố và
đánh giá rủi ro dự báo để đánh giá rủi ro vùng bờ, góp phần đưa cơng cụ đánh giá
rủi ro sinh thái vào công tác quản lý môi trường. Kết quả của dự án đã xác định rủi
ro sinh thái đối với toàn bộ vùng bờ thành phố Đà Nẵng tạo cơ sở để xây dựng kế
hoạch hành động cho đánh giá rủi ro đầy đủ, tập trung vào các vấn đề ưu tiên. Đánh
giá này cũng cho thấy tầm quan trọng của sự hợp tác giữa các cơ quan quản lý, các
cơ quan nghiên cứu khoa học – kĩ thuật trong quá trình thực hiện đánh giá rủi ro.
Một cơ chế hỗ trợ việc chia sẻ thông tin và truy cập dữ liệu cần được xây dựng [18].
Năm 2006, nghiên cứu đánh giá nguy cơ của nước thải công nghiệp đối với
hệ sinh thái lưu vực sơng Sài Gịn – Đồng Nai. Nghiên cứu này đã kiểm chứng các
8
thử nghiệm độc học trên loài Ceriodaphnia cornuta nhằm phục vụ đánh giá nguy cơ
đối với hệ sinh thái từ nhiều nguồn ô nhiễm khác nhau như nước thải công nghiệp
và đô thị, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp. Kết quả
nghiên cứu đã phân loại và đánh giá thứ tự về khả năng gây độc của các chất gây ô
nhiễm đối với hệ sinh thái. Trong nghiên cứu chỉ sử dụng các độc tính thứ cấp, do
đó cần có các nghiên cứu về độc tính mãn tính trong tương lai [5].
Một nghiên cứu khác về đánh giá rủi ro đối với nước thải công nghiệp tại
thành phố Hồ Chí Minh cũng đã sử dụng công cụ EcoRA để đánh giá và so sánh
mức độ rủi ro do nước thải gây cho hệ sinh thái và rủi ro sức khỏe tại hai khu công
nghiệp Vĩnh Lộc và Tân Thới Hiệp. Kết quả đã chỉ ra sự khác nhau về mức độ rủi
ro sinh thái của nước thải qua và không qua hệ thống xử lý nước thải tập trung, rủi
ro sức khỏe đối với công nhân hai khu công nghiệp do ô nhiễm môi trường khơng
khí. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp và hướng giải quyết các rủi ro đối với các hệ
sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để nghiên cứu và ứng
dụng công cụ này vào quản lý môi trường tại các KCN [14].
Khơng chỉ đánh giá rủi ro do hóa chất, đánh giá rủi ro rủi ro còn được áp
dụng cho các dự án và các hoạt động kinh tế, xã hội. Năm 2011, dự án ngăn chặn
sốt xuất huyết Dengue đã áp dụng khung lý thuyết phân tích rủi ro của Văn phịng
quản lý cơng nghệ Gene Úc (OGTR) với khung tiếp cận như sau:
Rủi ro nào có thể xảy ra?
Rủi ro xảy ra như thế nào?
( Xác định nguy cơ)
Thiệt hại nghiêm trọng đến9đâu?
( Đánh giá hậu quả)
Khả năng rủi ro xảy ra
(Đánh giá nguy cơ)
Mức độ rủi ro?
(Ước tính rủi ro)
Hình 1.2 Khung tiếp cận đánh giá rủi ro [6]
9
Nghiên cứu đã xác định, mơ tả và ước tính mức độ rủi ro của những tác động
không mong muốn có thể xảy ra do phóng thả muỗi có chứa vi khuẩn Wolbachia
đối với sự an toàn của con người và môi trường trong khoảng thời gian 30 năm. Dự
án này là một đánh giá toàn diện và đảm bảo tính độc lập với phương pháp phù hợp
trong bối cảnh của Việt Nam. Các kết quả trong nghiên cứu này được các chuyên
gia đánh giá chủ yếu dựa trên tài liệu tham khảo quốc tế và kinh nghiệm thực tế của
họ, do đó cần phải thực hiện các khuyến cáo về biện pháp giám sát dự án phóng thả
muỗi Asdes aegypti mang Wolbachia [6].
Trong lĩnh vực quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen và sản
phẩm của sinh vật biến đổi gen, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học phối hợp với các
chuyên gia của các Bộ, ngành và các cơ quan nghiên cứu biên soạn tài liệu “Phân
tích rủi ro của sinh vật biến đổi gen”. Tài liệu này sử dụng khung phân tích rủi ro
(2009) của Úc để giới thiệu và bình luận về cách tiếp cận trong đánh giá, quản lý và
trao đổi thông tin rủi ro của sinh vật biến đổi gen, cũng như những tiến bộ trong
phương pháp luận phân tích rủi ro [12].
Ngồi ra, đánh giá rủi ro cịn được áp dụng cho nhiều ngành công nghiệp đặc
biệt là các hoạt động sản xuất có tác động lớn đến môi trường và con người. Một
trong những hoạt động gây ra những biến đổi môi trường sinh học, vật lý, hóa học
và mơi trường sống của con người là hoạt động khai thác cát. Năm 2011, nghiên
cứu phân tích rủi ro do khai thác cát trên sơng Thị Tính (Bình Dương) được tiến
hành. Kết quả đã xác định các rủi ro có thể xảy ra và đề ra các biện pháp quản lý đối
với hoạt động khai thác cát. Nhưng để đánh giá rõ hơn các tác động đến môi trường
và xã hội do hoạt động này gây ra cần có thêm các nghiên cứu khoa học kèm theo
các khảo sát thống kê và các quan trắc lâu dài đối với hệ sinh thái và các hoạt động
thủy văn của lưu vực sơng Thị Tính [1] .
EcoRA ở nước ta cịn được tiếp cận thơng qua các khóa tập huấn. Tháng 11
năm 2011, các chuyên gia từ Đại học Stockholm (Thụy Điển) đã tổ chức tập huấn
tại các khu dự trữ sinh quyển ven biển phía Bắc Việt Nam ở Hà Nội, Hải Phòng và
Nam Định. Hoạt động này nhằm góp phần tăng cường năng lực cho các nhà khoa
học trong nước, cán bộ Trung tâm Bảo tồn Sinh vật biển và Phát triển Cộng đồng
10
(MCD) bằng cách tiếp cận phương pháp EcoRA thông qua giới thiệu khái niệm cơ
bản, kinh nghiệm thực hiện EcoRA của các nước trên thế giới. Từ đó tư vấn và hỗ
trợ địa phương xây dựng đề xuất phù hợp cho việc áp dụng và triển khai phương
pháp này trong quản lý hiệu quả tài nguyên sinh thái khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
và sông Hồng, tạo điều kiện cải thiện sinh kế cho cộng đồng, ứng phó tốt hơn với
các điều kiện thay đổi bao gồm cả biến đổi khí hậu [16].
1.1.5. Khả năng áp dụng đánh giá rủi ro sinh thái trong quản lý môi
trường ở Việt Nam.
Thơng tin từ q trình thực hiện EcoRA giúp các nhà khoa học có cách tiếp
cận tồn diện hơn khi nghiên cứu về hệ sinh thái và các vấn đề liên quan; hỗ trợ các
nhà quản lý cân nhắc khi đưa ra các quyết định, chính sách cũng như các khuyến
cáo đến doanh nghiệp, cộng đồng; giúp các nhà đầu tư xác định khu vực nên đầu tư
và các giải pháp phòng ngừa, giảm thiểu sự cố do hoạt động sản xuất, kinh doanh
gây ra. EcoRA là một công cụ đánh giá rủi ro hữu ích khơng những làm nổi bật các
tác động nguy hiểm nhất mà còn giúp đánh giá các phương án khắc phục mang lại
hiệu quả cao nhất và hỗ trợ xác định thứ tự ưu tiên xử lý [18].
Ở nước ta, EcoRA bước đầu được khuyến khích sử dụng và dần dần quy
định bắt buộc áp dụng trong một số lĩnh vực: lập báo cáo đánh giá tác động môi
trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu;
giám sát các hệ sinh thái nhạy cảm, các khu bảo tồn thiên nhiên, việc du nhập các
lồi vật ni, cây trồng mới, môi trường của các ngành công nghiệp, nông
nghiệp,…[7].
Tuy nhiên, EcoRA ở nước ta cũng gặp phải những khó khăn, đặc biệt hệ
thống thống kê lưu trữ số liệu về mơi trường và sức khỏe cịn thiếu đồng bộ và
khơng đầy đủ. Ngồi ra, do sự khác biệt về trình độ nhận thức về các vấn đề sinh
thái, nhiều phong tục, tập quán gây trở ngại trong quá trình đánh giá và thực hiện
các giải pháp giảm thiểu rủi ro đối với cộng đồng [11].
11
1.2.TỔNG QUAN VỀ KKT DUNG QUẤT VÀ KCN QUẢNG PHÚ,
TỊNH PHONG
1.2.1. Thông tin chung về KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú,
Tịnh Phong
Trong thời gian qua, kinh tế Quảng Ngãi không ngừng tăng trưởng và phát
triển, công nghiệp dần dần chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Hiện
nay, trên địa bàn tỉnh có 1 KKT và 2 KCN đang hoạt động. Các thông tin chung về
KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong được trình bày ở bảng 1.1.
Bảng 1.1 Đặc điểm KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
Địa
điểm
KKT
Dung
Quất
Quyết định
thành lập
Quyết định số
50/2005/QĐTTg
Quyết định số
KCN
402/TTg
Quảng
Phú
KCN Quyết định số
Tịnh 577/TTg
Phong
Diện tích
xây dựng
10300 ha,
quy hoạch
mở rộng
45 00 ha
Diện tích
xây dựng
mở rộng
120,41 ha
141,72 ha,
quy hoạch
mở rộng
200 ha
Ngành nghề sản xuất chính
Cơng nghiệp lọc, hóa dầu
Cơng nghiệp nặng quy mơ lớn (luyện
thép, đóng tàu, chế tạo ơ tơ,…)
Các dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch
Chế biến nông, lâm, hải sản
Sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu
Cơ khí lắp ráp
Chế biến nơng, lâm, sản
Dệt may
Vật liệu xây dựng
Kết quả bảng 1.1 cho thấy, quy mô cũng như loại hình sản xuất tại KKT
Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong rất khác nhau, điều này ảnh hưởng đến
lưu lượng và nồng độ các chất gây ô nhiễm trong nước thải công nghiệp.
1.2.2. Hiện trạng nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và
KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong q trình sản xuất
cơng nghiệp từ các cơng đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản xuất như
nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp. Hiện trạng nước thải công nghiệp tại
KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong được trình bày ở bảng 1.2.
12
Bảng 1.2 Hiện trạng nước thải công nghiệp tại KKT Dung Quất và KCN
Quảng Phú, Tịnh Phong
Địa
điểm
KKT
Dung
Quất
KCN
Quảng
Phú
KCN
Tịnh
Phong
Lưu
lượng
Dự báo
đến năm
2025 là
209.600
m3/ngày
đêm
Thành phần
nước thải
Chủ yếu gồm
TSS, chất hữu
cơ, chất dinh
dưỡng, dầu mỡ
và một số kim
loại nặng
6000
m3/ngày
đêm
Chủ yếu gồm
BOD,
COD,
TSS, sulfua, Nts, P-ts, dầu mỡ
Chủ yếu gồm
BOD,
COD,
TSS, kim loại
nặng, dầu mỡ
2000
m3/ngày
đêm
Tình hình xử lý nước thải
Hệ thống xử lý nước thải tập trung mới chỉ
xây dựng tại phân khu cơng nghiệp Sài Gịn
– Dung Quất (công suất 2500 m3/ngày đêm)
Sử dụng 2 trạm xử lý nước thải thuộc dự án
hệ thống thoát nước mưa, hệ thống thu gom
và xử lý nước thải khu đô thị Vạn Tường
với công suất mỗi trạm 900 m3/ngày đêm
Hệ thống xử lý nước thải tập trung có cơng
suất 4500 m3/ngày đêm, trong giai đoạn
tiếp theo sẽ nâng công suất lên 6000
m3/ngày đêm
Hệ thống xử lý nước thải tập trung đang
được đầu tư xây dựng với công suất 1000
m3/ngày đêm (giai đoạn 1) và nâng công
suất lên 2000 m3/ngày đêm vào giai đoạn 2
Kết quả bảng 1.2 cho thấy, sự khác nhau về lưu lượng và hiện trạng nước
thải của KKT Dung Quất, KCN Quảng Phú, Tịnh Phong. KKT Dung Quất là KKT
mở đa ngành, tập trung phát triển công nghiệp nặng nên lượng nước thải đa dạng về
thành phần và tính chất. Lượng nước thải phát sinh tại KCN Quảng Phú chủ yếu
phát sinh từ quá trình chế biến thủy sản, thực phẩm nên hàm lượng nước thải chủ
yếu gồm BOD, COD và TSS với nồng độ cao. KCN Tịnh Phong tập trung phát triển
các ngành như chế biến đá granite, sắt thép nên nước thải chứa hàm lượng lớn TSS
và một số kim loại nặng. Các yếu tố trong nước thải công nghiệp là các mối nguy
hại tiềm tàng đối với môi trường và các hệ sinh thái. Do đó, cần có các biện pháp
nhằm giảm thiểu và phịng ngừa rủi ro do các yếu tố đó gây ra bằng các cơng cụ
quản lý mơi trường thích hợp.
13
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung nghiên cứu các thông số chất
lượng môi trường của nước thải công nghiệp KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú,
Tịnh Phong để hình thành đánh giá rủi ro sinh thái (EcoRA).
Đề tài tiến hành nghiên cứu tại KKT Dung Quất (huyện Bình Sơn), KCN
Quảng Phú (TP. Quảng Ngãi) và KCN Tịnh Phong (huyện Sơn Tịnh), tỉnh Quảng
Ngãi, trong khoảng thời gian từ 11/2013 đến 04/2014.
2.2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, chúng tôi tiến hành thực
hiện một số nội dung sau:
Thu thập, phân tích các tài liệu về đánh giá rủi ro sinh thái, hiện trạng nước
thải và công tác quản lý nước thải công nghiệp tại các KCN và KKT trên địa bàn
tỉnh Quảng Ngãi.
Phân tích, đánh giá rủi ro sinh thái của nước thải công nghiệp tại KKT Dung
Quất, KCN Quảng Phú, Tịnh Phong.
Xác định, đánh giá mức độ và phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải công
nghiệp bằng phương pháp ma trận rủi ro.
2.3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để tiến hành các nội dung nghiên cứu trên, chúng tôi thực hiện các phương
pháp sau:
2.3.1. Phương pháp hồi cứu dữ liệu
Thu thập và tổng hợp các tài liệu từ sách, báo, Interner,...về đánh giá rủi ro
sinh thái, tình hình và hiện trạng nước thải cơng nghiệp tại KKT Dung Quất và
KCN Quảng Phú, Tịnh Phong.
Thu thập và tổng hợp số liệu của báo cáo chương trình quan trắc và kiểm sốt
ơ nhiễm mơi trường KKT Dung Quất năm 2013, báo cáo giám sát môi trường định
kì đợt 1 năm 2013 tại KCN Quảng Phú, Tịnh Phong.
14
2.3.2. Phương pháp ma trận rủi ro
Phương pháp ma trận rủi ro dùng để xác định mức độ thiệt hại, tần suất xảy
ra và phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải công nghiệp. Phương pháp này được
tiến hành theo 4 bước, dựa trên nghiên cứu của Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết
Giang (2009) [14].
Bước 1. Xác định khả năng xảy ra ô nhiễm dựa vào bảng 1 với 5 mức độ
tương ứng với 5 khả năng xảy ra khác nhau được cho điểm từ 1 đến 5.
Bảng 2.1 Thang điểm đánh giá khả năng xảy ra rủi ro của nước thải công nghiệp
Khả năng
Điểm
xảy ra
Cao
5
Tần suất xảy
ra ô nhiễm (f)
100%
Khá cao
4
50≤ f <100%
3
30 ≤ f < 50 %
2
1
10≤ f < 30 %
< 10%
Trung
bình
Thấp
Rất thấp
Tác động đối với hệ sinh thái và những tác
động khác
Chắc chắn xảy ra hoặc thường xuyên xảy ra
Dễ dàng xảy ra hoặc xảy ra định kỳ hàng
tháng
Đã xảy ra 1 - 2 lần trong 1 năm hoặc nhiều
hơn
Có thể xảy ra 1 lần trong 2 năm
Hiếm khi xảy ra hoặc không xảy ra
“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009)” [14], điều chỉnh
Bước 2. Xác định mức độ thiệt hại dựa vào bảng 2 với 5 mức độ thiệt hại
được cho điểm từ 1 đến 5.
Bảng 2.2 Thang điểm đánh giá mức độ thiệt hại của nước thải công nghiệp
Mức độ
thiệt hại
Điểm Tiêu chuẩn pháp lý
Nghiêm
trọng
5
Khá nghiêm
trọng
4
Trung bình
3
Tác động đối với mơi trường
Vượt ít nhất 2 lần Gây thiệt hại đến môi trường, biến đổi hệ
cột B QCVN
sinh thái trên diện rộng nhưng khó hoặc
40 : 2011/BTNMT khơng có khả năng phục hồi
Gây thiệt hại đối với môi trường, biến đổi
Vượt hơn 1 lần
cấu trúc hệ sinh thái trong thời gian
cột B QCVN
tương đối dài nhưng vẫn có khả năng
40:2011/BTNMT
phục hồi
Tác động đến môi trường và biến đổi cấu
Đạt cột B QCVN
trúc hệ sinh thái nhất định có khả năng
40:2011/BTNMT
hồi phục trong thời gian ngắn
15
Đáng kể
2
Không đáng
kể
1
Vượt cột A QCVN
40:2011/BTNMT
Đạt hoặc tốt hơn
cột A QCVN
40:2011/BTNMT
Tác động trong thời gian ngắn và chỉ ảnh
hưởng đến một số cá thể/quần thể
Khơng có tác động hoặc tác động không
đáng kể
“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009)” [14], điều chỉnh
Bước 3. Xác định mức độ rủi ro theo công thức
Rủi ro = khả năng xảy ra (frequency) x mức độ thiệt hại (consequence)
Bảng 2.3 Thang điểm ma trận rủi ro
Khả năng
xảy ra
Nghiêm
trọng (5)
5x5(25)
Cao (5)
Khá cao (4)
Trung bình (3)
Thấp (2)
Rất thấp (1)
Mức độ thiệt hại
Khá nghiêm Trung bình
Đáng kể
trọng (4)
(3)
(2)
5x4(20)
5x3(15)
5x2(10)
Khơng đáng
kể (1)
5x1(5)
4x5(20)
4x4(16)
4x3(12)
4x2(8)
4x1 (4)
3x5(15)
2x5(10)
1x5 (5)
3x4(12)
2x4(8)
1x4(4)
3x3(9)
2x3(6)
1x3(3)
3x2(6)
2x2(4)
1x2(2)
3x1 (3)
2x1(2)
1x1(1)
“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009)” [14], điều chỉnh
Bước 4. Phân nhóm yếu tố rủi ro dựa vào kết quả ma trận rủi ro
Bảng 2.4 Thang điểm đánh giá mức độ rủi ro của nước thải công nghiệp
Mức độ
Rất thấp
Thấp
Trung bình
Khá cao Cao
rủi ro
(RT)
(T)
(TB)
(KC)
(C)
Thang điểm
1-4
5-9
10-14
15-19 20-25
Phân nhóm Nhóm được chấp Nhóm được chấp nhận rủi ro Nhóm khơng được
yếu tố
nhận rủi ro nhưng cần có biện pháp giảm thiểu chấp nhận rủi ro
“Nguồn: Lê Thị Hồng Trân, Trần Thị Tuyết Giang (2009)” [14], điều chỉnh
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu
Xử lý số liệu thống kê bằng phần mềm Excel để tính tốn và vẽ biểu đồ kết
quả ma trận rủi ro của nước thải công nghiệp tại khu vực nghiên cứu.
2.3.4 Phương pháp sơ đồ hóa
Sử dụng phần mềm Mapinfo 11.0 để phân nhóm yếu tố rủi ro của nước thải
công nghiệp tại KKT Dung Quất, KCN Quảng Phú, Tịnh Phong.
16
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ BIỆN LUẬN
3.1. YẾU TỐ VÀ MỨC ĐỘ RỦI RO CỦA NƯỚC THẢI CÔNG
NGHIỆP KKT DUNG QUẤT VÀ KCN QUẢNG PHÚ, TỊNH PHONG
Để xác định yếu tố và mức độ rủi ro của nước thải công nghiệp tại KKT
Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong, đề tài tiến hành phân tích số liệu bằng
phương pháp ma trận rủi ro. Kết quả ma trận rủi ro của nước thải công nghiệp tại
KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong được trình bày ở bảng 3.1, 3.2 và
hình 3.1, 3.2 và 3.3.
Bảng 3.1 Thang điểm ma trận rủi ro của nước thải công nghiệp
KKT Dung Quất và KCN Quảng Phú, Tịnh Phong
1
2
BOD
COD
KKT
Dung
Quất
2 (2x1)
1 (1x1)
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
TSS
CNN-NH4+
P-ts
As
Cd
Cu
Cr6+
Hg
Mn
Pb
Zn
Phenol
Dầu mỡ
Coliforms
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
25 (5x5)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
15 (3x5)
STT
Yếu tố
KCN Quảng Phú
Đầu vào hệ thống Đầu ra hệ thống
xử lý tập trung
xử lý tập trung
25 (5x5)
1 (1x1)
25 (5x5)
1 (1x1)
20 (5x4)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
-
Ghi chú: dấu “-” khơng có số liệu để đánh giá
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
1 (1x1)
-
KCN
Tịnh
Phong
1 (1x1)
1 (1x1)
15 (3x5)
1 (1x1)
1 (1x1)
6 (3x2)
1 (1x1)
1 (1x1)