Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Yếu tố phong tục trong truyện cổ tích của ngƣời việt từ góc nhìn văn hóa

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (893.06 KB, 97 trang )

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN VŨ TUẤN

YẾU TỐ PHONG TỤC TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
CỦA NGƢỜI VIỆT TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
THEO ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU

Thừa Thiên Huế, năm 2017


ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM

NGUYỄN VŨ TUẤN

YẾU TỐ PHONG TỤC TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH
CỦA NGƢỜI VIỆT TỪ GÓC NHÌN VĂN HÓA
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số:

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
THEO ĐỊNH HƢỚNG NGHIÊN CỨU

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ KIM NGÂN

Thừa Thiên Huế, năm 2017



LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và
kết quả nghiên cứu ghi trong luận văn là trung thực, đƣợc các đồng tác giả cho phép
sử dụng và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Nguyễn Vũ Tuấn

i


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn, bản thân nhận đƣợc sự quan tâm giúp
đỡ của quý thầy cô trong khoa Ngữ văn Trƣờng đại học Sƣ phạm Huế; sự động
viên, chia sẻ của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè; đặc biệt sự hƣớng dẫn tận tình trách
nhiệm của tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Ngân.
Thông qua luận văn cho phép em gửi lời cảm ơn chân thành tới quý thầy cô,
đồng nghiệp, gia đình, bạn bè. Xin tri ân sâu sắc tới tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Ngân,
một giảng viên đầy trách nhiệm nhiệt huyết, đã giúp em hoàn thành luận văn này.
Huế, ngày 5 tháng 9 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Vũ Tuấn

ii


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................4
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI ............................................................................................4
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ .................................................................................................5
2.1. Thế giới ............................................................................................................5

2.2. Việt Nam ..........................................................................................................8
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU .................................................................................10
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ......................................................11
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.........................................................................11
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN ..................................................12
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN ...........................................................................12
Phần hai: NỘI DUNG CHÍNH ..............................................................................13
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ................................................................13
1.1. Khái lƣợc về truyện kể dân gian và phong tục...............................................13
1.1.1. Truyện kể dân gian Việt Nam .................................................................13
1.1.2. Phong tục .................................................................................................14
1.1.2.1. Giới thuyết khái niệm về văn hóa và phong tục ..............................14
1.1.2.2. Đặc điểm hệ thống phong tục cổ truyền của ngƣời Việt .................16
1.1.2.3. Phân loại phong tục cổ truyền của ngƣời Việt .................................17
1.2. Khái lƣợc về truyện cổ tích và nhóm truyện có yếu tố phong tục .................18
1.2.1. Khái lƣợc truyện cổ tích ..........................................................................18
1.2.2. Nhóm truyện cổ tích có yếu tố phong tục ...............................................20
1.2.2.1. Khái lƣợc truyện cổ tích có yếu tố phong tục ..................................20
1.2.2.2. Sự phân chia truyện cổ tích có yếu tố phong tục theo tiểu loại .......22
1.2.2.3. Sự phân bố truyện cổ tích có yếu tố phong tục theo vùng miền ......25
Chƣơng 2: ĐẶC ĐIỂM NHÓM TRUYỆN CỔ TÍCH CÓ YẾU TỐ PHONG
TỤC CỦA NGƢỜI VIỆT .......................................................................................32
2.1. Truyện cổ tích giải thích các phong tục về vòng đời .....................................32
2.1.1. Khảo sát ...................................................................................................32
2.1.2. Đặc điểm nhóm truyện cổ tích giải thích các phong tục vòng đời..........35
1


2.2. Truyện cổ tích giải thích các phong tục về lễ tết và thờ cúng tâm linh .........40
2.2.1. Khảo sát ...................................................................................................40

2.2.2. Đặc điểm nhóm truyện cổ tích giải thích các phong tục về lễ tết và thờ
cúng tâm linh. ....................................................................................................45
2.3. Truyện cổ tích giải thích các phong tục trong đời sống thƣờng nhật ............52
2.3.1. Khảo sát ...................................................................................................52
2.3.2. Đặc điểm nhóm truyện cổ tích giải thích các phong tục ăn, mặc, hút.........59
2.3.3. Đặc điểm nhóm truyện cổ tích giải thích phong tục về lao động ...........64
Chƣơng 3: BIỂU TƢỢNG VĂN HOÁ, ĐẶC TRƢNG TÍNH CÁCH DÂN TỘC
VÀ DẤU ẤN TÔN GIÁO QUA NHÓM TRUYỆN CỔ TÍCH CÓ YẾU TỐ
PHONG TỤC ...........................................................................................................68
3.1. Biểu tƣợng của nền văn minh nông nghiệp lúa nƣớc ....................................68
3.1.1. Biểu tƣợng liên quan đến cây lúa ............................................................68
3.1.2. Một số biểu tƣợng khác liên quan đến nền văn hoá nông nghiệp ...........74
3.2. Đặc trƣng tính cách dân tộc qua nhóm truyện cổ tích có yếu tố phong tục ..........79
3.2.1. Con ngƣời tình nghĩa...............................................................................79
3.2.2. Con ngƣời bản lĩnh, anh dũng đấu tranh chống lại nghịch cảnh ............82
3.3. Dấu ấn Phật giáo trong nhóm truyện cổ tích có yếu tố phong tục .................85
Phần ba: KẾT LUẬN..............................................................................................90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................91

2


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Phân loại truyện cổ tích có yếu tố phong tục theo tiểu loại.....................22
Bảng 1.2: Phân loại truyện cổ tích có yếu tố phong tục theo vùng miền..................26
Bảng 2.1: Thống kê các truyện cổ tích giải thích phong tục về vòng đời.................32
Bảng 2.2: Thống kê truyện cổ tích giải thích phong tục về lễ tết và thờ cúng tâm linh......40
Bảng 2.3: Thống kê truyện cổ tích giải thích các phong tục ăn, mặc, hút và lao động.......53
Bảng 3.1: Một số biểu tƣợng liên quan đến cây lúa trong truyện cổ tích phong tục........70
Bảng 3.2: Thống kê một số biểu tƣợng liên quan đến nền văn hoá nông nghiệp .......74


3


MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Truyện kể dân gian, một thành tố điển hình của folklore, đƣợc xem là kho
báu quý giá, nơi lƣu giữ một cách độc đáo nhất những di chỉ văn hóa về mặt tinh
thần của từng dân tộc. Trong số đó, truyện kể phong tục là nhóm truyện đặc biệt, có
nguồn gốc liên quan mật thiết đến việc hình thành, phát triển và chuyển hóa của nền
văn hóa cổ truyền theo dòng thời gian. Với tầm quan trọng và tiềm năng cung cấp
những giá trị thực tiễn cho nhiều ngành khoa học xã hội khác nhau, do đó, không
ngạc nhiên khi tiểu loại này đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu truyền thống không
chỉ của văn học dân gian mà còn nhiều ngành khoa học khác bao gồm nhân học,
dân tộc học, khảo cổ học, lịch sử…
Việt Nam, đất nƣớc có nền văn minh nông nghiệp lúa nƣớc phát triển rực rỡ
từ rất sớm, một nền văn hóa kéo dài hơn 4000 năm đã lƣu giữ lại đƣợc một kho
truyện kể dân gian vô cùng phong phú. Truyện kể dân gian ở Việt Nam bao gồm rất
nhiều thể loại nhƣ thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, mỗi thể loại lại bao gồm
các tiểu loại đa dạng…Nổi bật trong số đó có thể loại truyện cổ tích với nhóm
truyện có nội dung nói về phong tục. Đây là nhóm truyện tiêu biểu, thể hiện đƣợc
sức hấp dẫn và sức sáng tạo tuyệt vời của trí tuệ dân gian. Hầu hết những phong tục
tập quán đƣợc lí giải trong hệ thống truyện cổ tích đã ăn sâu vào lối sống, vào tiềm
thức của ngƣời dân Việt và trƣờng tồn mãi với thời gian. Có nhiều phong tục đƣợc
xem là biểu tƣợng của văn hoá Việt Nam nhƣ tục ăn trầu, tục làm bánh chƣng bánh
giầy ngày tết, tục trồng cây nêu…đƣợc thể hiện và lí giải độc đáo bởi những con
ngƣời lao động chân chất sống trong môi trƣờng văn hoá lúa nƣớc đậm chất Á
Đông nói chung và Việt Nam nói riêng.
Trên thực tế, mặc dù đã đƣợc các nhà sƣu tầm tiến hành văn bản hóa nhóm
truyện này từ rất sớm nhƣng cho đến này vẫn chƣa xuất hiện nhiều công trình

nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này. Chƣa có công trình nào thống kê đầy đủ và
nghiên cứu có hệ thống về truyện cổ tích phong tục ngƣời Việt.
Bên cạnh đó, chúng ta biết rằng, mỗi quốc gia trên thế giới đều nhận thức
đƣợc giá trị quan trọng của văn hóa, coi văn hóa là nền tảng, động lực phát triển,
4


văn hóa đƣợc coi trọng và gắn với nhiều ngành trong xã hội, vì vậy mà nghiên cứu
văn học cũng không nằm ngoài xu thế ấy. Đặc biệt, khi các bộ môn nhƣ Văn hóa
học và Nhân học văn hóa xuất hiện và phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam những năm
gần đây thì việc nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa càng trở thành một xu
hƣớng phổ dụng. Do đó, việc nghiên cứu nhóm truyện kể có nội dung bàn về phong
tục vào bối cảnh lớn của nền văn hóa để tiếp cận, nghiên cứu từ quan điểm liên
ngành là điều cần thiết để có thể mang lại những cách nhìn mới mẻ hơn.
Chính vì những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài Yếu tố phong tục trong
truyện cổ tích người Việt từ góc nhìn văn hoá. Chúng tôi nhận thấy, việc nghiên
cứu, khám phá nhóm truyện cổ phong tục ngƣời Việt từ góc nhìn văn hoá là một
việc làm có ý nghĩa khoa học và thực tiễn đối với ngƣời làm công tác giảng dạy văn
học dân gian, nghiên cứu văn hoá dân gian. Trong đề tài này ngoài vấn đề tổng quan
nghiên cứu, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát, thống kê, phân tích số liệu đồng thời rút ra
những nhận xét trên cơ sở số liệu đã phân tích. Đặc biệt thông qua khảo sát và nhận
xét đó chúng tôi sẽ rút ra những đặc trƣng của văn hoá Việt Nam trong hệ thống
truyện kể phong tục của ngƣời Việt. Thiết nghĩ, đó cũng là một đóng góp của đề tài
về lĩnh vực nghiên cứu văn học, văn hoá dân gian.
2. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
2.1. Thế giới
Trong ngành folklore học thế giới, việc nghiên cứu phong tục trong truyện kể
và truyện cổ tích phong tục đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu và nhiều trƣờng phái lý
thuyết quan tâm. Trong phạm vi giới hạn của đề tài và của tài liệu mà chúng tôi tiếp
cận đƣợc, chúng tôi tập trung trình bày và điểm qua các khuynh hƣớng nghiên cứu

nổi bật trong ngành văn học dân gian có đề cập đến mối quan hệ của truyện kể dân
gian và phong tục cũng nhƣ quan điểm cụ thể của các lý thuyết và học giả nổi tiếng
nhƣ sau:
Nhân học văn hoá là lĩnh vực nghiên cứu khoa học đặc biệt, tập trung chú ý
đến quá trình tác động qua lại giữa con ngƣời và văn hóa. Lĩnh vực nhận thức này
hình thành trong văn hóa châu Âu vào thế kỷ XIX, và định hình xong vào nửa cuối
thế kỷ XIX. Khái niệm nhân học văn hóa thƣờng đƣợc sử dụng để biểu thị một
5


ngành tƣơng đối hẹp nghiên cứu các phong tục của con ngƣời, trong đó tập trung
nghiên cứu so sánh văn hóa và cộng đồng, khái quát hóa tƣ cách, hành vi của con
ngƣời và trình bày một cách đầy đủ nhất sự đa dạng của loài ngƣời... Với mục tiêu
và tôn chỉ nghiên cứu nhƣ vậy, ngành nhân học văn hóa đã sử dụng khối tƣ liệu đồ
sộ về từ truyện kể phong tục nhƣ một chứng tích để truy tìm dấy vết văn hóa của
các xã hội cổ xƣa. Các công trình tiêu biểu có thể kể đến nhƣ Văn hóa nguyên thủy
(Tạp chí Văn hóa nghệ thuật Hà Nội, năm 2000) của E.B.Taylor với các chƣơng
điển hình nhƣ Những tàn tích trong văn hóa (Chương III); Nghi lễ và lễ nghi
(chương XXII). Tác phẩm Cành vàng (NXB Văn hóa Thông Tin, năm 2007) của
James George Frazer, nghiên cứu về quá trình chuyển đổi từ tín ngƣỡng sang tôn
giáo, từ tƣ duy ma thuật sang tôn giáo. Trong đó ông đặc biệt đề cập đến tập tục hạ
sát ông vua thần thánh và việc cấm cung các cô công chúa đã đƣợc phản ánh nhƣ
thế nào trong các câu chuyện cổ tích.
Trƣờng phái Địa lý lịch sử Phần Lan: Trƣờng phái này đƣợc khởi xƣớng bởi
các nhà nghiên cứu folklore Phần Lan là JuliusLeopold Fredrik Krohn (1835-1888),
giáo sƣ văn học Phần Lan ở Đại học Tổng hợp Helsinki và con ông, Kaarle Krohn
(1863-1933), giáo sƣ ngành Folklore so sánh của trƣờng Đại học Tổng hợp
Helsinki, chủ tịch hội Văn học Phần Lan. Phƣơng pháp nghiên cứu này đƣợc tiếp
tục bởi học trò của hai ông là AnttiAarne (1867-1925). Các nhà nghiên cứu theo
phƣơng pháp trên đã tiến hành sƣu tầm càng nhiều càng tốt các dị bản truyện cổ

tích, lập nên bảng tra rồi tiến hành so sánh để tìm ra bản cổ nhất, trên cơ sở đó mà
xác định đƣợc nơi phát tích của một truyện cổ và vạch ra con đƣờng địa lí của sự
lƣu truyền truyện cổ ấy. Những nghiên cứu tiêu biểu của trƣờng phái này nhƣ
Fokltale (Truyện cổ tích) của Stith Thompson cũng đồng thời chỉ ra rằng, phong tục
có giá trị quan trọng trong việc kiến thiết nên những mẫu motif hạt nhân của truyện
kể. Ông nói: “truyện kể dân gian bao giờ cũng có mối liên hệ chặt chẽ với phong
tục. Và thông thƣờng, chúng đƣợc sử dụng nhƣ một lời giải thích cho các tập tục ở
nhiều vùng miền” [46, tr347].
Năm 1928, Propp với công trình Hình thái học truyện cổ tích (NXB Văn hóa
Dân tộc, năm 2003) đã gây một tiếng vang lớn, mở ra một hƣớng mới trong nghiên
6


cứu khoa học. Hình thái học của Propp đã quan tâm nghiên cứu mối quan hệ giữa
truyện cổ tích với nghi lễ và phong tục. Propp khẳng định “Truyện cổ tích còn lƣu
lại những dấu tích của nhiều nghi lễ và phong tục. Chỉ thông qua so sánh các phong
tục mới tìm ra đƣợc cội rễ của một số mô típ” [34, tr 193]. Trong công trình này, tác
giả chỉ ra một số trƣờng hợp có sự liên hệ giữa truyện cổ tích và phong tục, thậm
chí trong trƣờng hợp đơn giản nhất là sự trùng khít hoàn toàn giữa phong tục và
truyện. Ông nói dân gian đã chiêm nghiệm phong tục bằng truyện cổ tích. Tuy
nhiên, chúng ta thƣờng gặp sự biến đổi, biến dạng của hình thức phong tục trong
các câu chuyện này. Thông thƣờng cái dễ thay đổi là nguyên nhân của phong tục.
Trong chuyên luận, Propp cũng đã chỉ ra một hiện tƣợng đặc biệt thú vị là “sự đảo
nghịch của phong tục” tức “phong tục một đằng còn truyện thì một nẻo”. Theo ông,
đây là một dấu hiệu rất quan trọng. Nó chứng minh rằng đề tài không xuất hiện qua
việc phản ánh trực tiếp thực tế mà là qua việc phủ nhận thực tế này. Nghĩa là “đề tài
phù hợp với thực tế theo cách ngƣợc lại”
Nhƣ vậy, mặc dù mối quan hệ giữa phong tục và truyện cổ tích đƣợc đề cập
khá nhiều trong các chuyên luận nghiên cứu của nhiều học giả folklore trƣớc đó,
nhƣng Propp với công trình Hình thái học truyện cổ tích đã chỉ ra những điểm cốt

lõi và độc đáo trong mối quan hệ giữa truyện kể và phong tục.
Những năm 60 của thế kỉ XX, với việc ứng dụng phƣơng pháp so sánh loại
hình, cấu trúc - kí hiệu, cũng nhƣ vận dụng thi pháp học lịch sử vào nghiên cứu
truyện kể dân gian, E.M.Meletinski trong chuyên khảo Thi pháp của huyền thoại
(NXB Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2005) đi sâu vào di sản sáng tác dân gian của
các dân tộc trên thế giới. Trong chuyên khảo này, huyền thoại đƣợc xem xét bắt đầu
từ những hình thức cổ xƣa nhất của nó cho đến những biểu hiện của Chủ nghĩa
huyền thoại trong văn học thế kỷ XX. E.M.Meletinski khẳng định truyện cổ tích
thoát thai từ huyền thoại và huyền thoại có quan hệ chặt chẽ với nghi lễ, phong tục.
Mặc dù trọng tâm của công trình không phải nghiên cứu phong tục trong truyện kể
nhƣng vấn đề này ít nhiều đã đƣợc đề cập đến thông qua nghiên cứu nghi lễ, trong
khi đó nghi lễ là một bộ phận của phong tục.

7


2.2. Việt Nam
Ở Việt Nam, sự quan tâm dành cho nhóm truyện kể phong tục đã xuất hiện từ
rất sớm, thế nhƣng đa phần là các nghiên cứu có tính chất khái quát, hoặc các nghiên
cứu trƣờng hợp mà chƣa có chuyên luận tập trung chuyên sâu vào vấn đề này.
Năm 1955, tác giả Trần Thanh Mại trong công trình Tìm hiểu và phân tích
truyện cổ tích Việt Nam đã quan tâm nghiên cứu đến truyện kể phong tục. Trong bài
viết, tác giả đã thể hiện rõ xu hƣớng nghiên cứu folklore theo quan điểm xã hội học.
Năm 1962 với bài viết “Qua việc nghiên cứu các danh từ riêng trong một số
truyện cổ tích” (Nghiên cứu văn học số 3), giáo sƣ Đinh Gia Khánh cho rằng trong
một số truyện cổ tích có mục đích giải thích phong tục, tập quán thì những danh từ
riêng, nếu có, cũng gắn với việc giải thích ấy.
Năm 1968, tác giả Đinh Gia Khánh qua công trình Sơ bộ tìm hiểu những vấn
đề của truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám (NXB Hội Nhà văn, năm 1999) đã
khẳng định nhiều truyện kể dân gian có liên quan đến phong tục lâu đời của nhân

dân. Tác giả dẫn ra một số ví dụ cụ thể về việc truyện dân gian giải thích phong tục
nhƣ truyện Trầu Cau giải thích tục ăn trầu, truyện Bánh chưng bánh giầy gắn với
tục làm bánh chƣng vào ngày tết. Từ nhận định đó, chúng ta thấy rằng truyện kể về
phong tục đã có từ xa xƣa ra đời trên cơ sở đời sống sinh hoạt và đời sống tín
ngƣỡng tâm linh của cƣ dân Việt.
Năm 1973, tác giả Nguyễn Khắc Xƣơng trong bài Tìm hiểu quan hệ giữa
thần thoại, truyền thuyết và diễn xướng tín ngưỡng phong tục (Tạp chí Văn học số 6
– 1973) cũng đề cập tới mối quan hệ giữa truyện kể và đời sống thực tại của nó
trong dân gian.
Năm 1978, các tác giả Bùi Văn Nguyên, Nguyễn Ngọc Côn trong cuốn cuốn
Lịch sử văn học Việt Nam (NXB Giáo Dục, năm 1978) cho rằng nhân dân lao động
thƣờng muốn gắn liền truyện cổ tích với các di tích và phong tục. Các tác gia dẫn ra
một số ví dụ về tên truyện nhƣ truyện Đền Bạch Mã, Sự tích Trầu cau. Điều quan
trọng, các tác giả đã đƣa ra một số tiểu loại của truyện cổ tích, nhƣ truyện kể địa
danh, truyện kể phong tục và khẳng định truyện cổ tích phản ánh cuộc sống sinh
hoạt của con ngƣời nên những phong tục tập quán đƣợc đề cập giản dị và sâu sắc.
8


Năm 1999, trong phần Lời người biên soạn, các tác giả Chu Xuân Diên, Lê
Chí Quế của công trình Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam (NXB Đại học Quốc gia
2001) đã đánh giá truyện cổ tích trên gốc độ văn hóa phong tục khi cho rằng các
truyện Trầu cau, Đá Vọng phu, Sao hôm sao mai, Ông đầu rau là những truyện nảy
sinh trên cơ sơ lịch sử xã hội của giai đoạn quá độ từ chế độ mẫu hệ sang chế độ
phụ hệ.
Gần đây, với việc các nhà khoa học ứng dụng phƣơng pháp so sánh lịch sử loại hình trong nghiên cứu văn học dân gian đã mang đến nhiều kết quả tích cực. Điển
hình, năm 2001, tác giả Kiều Thu Hoạch công bố bài nghiên cứu “So sánh típ Truyện
Trầu Cau ở Trung Quốc với típ truyện cùng loại ở Việt Nam và Campuchia, bàn về tục
ăn trầu và văn hoá quyển trầu cau Đông Nam Á” (Tạp chí Văn học số 4, 2001)
Vào năm 2001, tác giả Lê Thị Xuân Liên hoàn thành đề tài thạc sỹ Ngữ văn

Sự tích đầu rau và phong tục thờ cúng Vua bếp ở Việt Nam. Trong đề tài, tác giả
đã quan tâm đến mối quan hệ giữa truyện kể dân gian và phong tục, một yếu tố
của văn hóa.
Năm 2003, tác giả Nguyễn Việt Hùng hoàn thành luận văn thạc sỹ Ngữ văn
Sự tích Vọng Phu và tín ngưỡng thờ đá ở Việt Nam. Đề tài tập trung vào mối quan
hệ giữa truyện kể dân gian với tín ngƣỡng bản địa.
Năm 2004, tác giả Trần Văn Thục quan tâm đến mối quan hệ giữa truyện kể
với tín ngƣỡng phồn thực qua luận văn thạc sỹ Ngữ văn Truyền thuyết Hùng Vương
với tín ngưỡng phồn thực ở Phú Thọ.
Nhƣ vậy, có thể thấy tình hình nghiên cứu truyện cổ tích có yếu tố phong tục
ở Việt Nam đã đƣợc quan tâm đáng kể, những công trình nghiên cứu liên quan đến
vấn đề này ra đời từ khá sớm. Tuy vậy, lƣợc khảo một số công trình nói trên chúng
tôi thấy chƣa có công trình nào xem truyện cổ tích có yếu tố phong tục là đối tƣợng
nghiên cứu trực tiếp. Vì vậy, chúng tôi thấy cần có nhiều hơn những công trình
nghiên cứu chuyên sâu về truyện cổ tích có yếu tố phong tục nhằm định vị vai trò
của tiểu loại này trong kho tàng truyện kể dân gian cũng nhƣ trong đời sống văn hóa
của cƣ dân Việt.

9


* Tiểu kết:
Qua các công trình nghiên cứu kể trên, các nhà nghiên cứu đã khẳng định
trong kho tàng truyện cổ dân gian có một nhóm truyện kể có yếu tố phong tục và
thực tế là đã tồn tại mảng truyện đặc thù này. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu văn học
từ góc nhìn văn hoá cũng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu và thu đƣợc nhiều thành tựu
đáng kể. Tuy vậy, việc nghiên cứu nhóm truyện phong tục đó từ góc nhìn văn hoá
bằng một công trình nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện vẫn chƣa đƣợc thực hiện.
Chƣa có công trình nào thống kê tất cả truyện cổ tích phong tục ngƣời Việt, qua đó
tìm hiểu đặc điểm của truyện cũng nhƣ đặc trƣng văn hoá Việt Nam qua truyện cổ

tích có yếu tố phong tục. Trên cở sở tiếp thu thành tựu của ngƣời đi trƣớc và những
khoảng trống còn lại chƣa đƣợc nghiên cứu. Chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu
với tên gọi: Yếu tố phong tục trong truyện cổ tích người Việt từ góc nhìn văn hoá
3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Chúng tôi đã lựa chọn đề tài: “Yếu tố phong tục trong truyện cổ tích người
Việt từ góc nhìn văn hoá” nhằm các mục đích sau:
Giới thiệu một cách toàn diện mối quan hệ đặc biệt giữa truyện kể dân gian
và phong tục, trong đó dẫn giải các lý thuyết liên quan nhƣ trƣờng phái nghi lễ huyền thoại, nhân học văn hóa, dân tộc học và ngữ văn dân gian…làm tiền đề lí
luận nền tảng cho đề tài. Chúng tôi cũng tập trung xây dựng lại diện mạo đặc trƣng
của thể loại truyện cổ tích từ các nghiên cứu truyền thống cho đến đƣơng đại. Bên
cạnh đó cũng tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản liên quan đến phong tục văn
hóa của ngƣời Việt cũng nhƣ quá trình lƣu giữ các phong tục tập quán mang đậm
bản sắc văn hóa dân tộc trong nhóm truyện kể dân gian.
Khảo sát hệ toàn bộ hệ thống truyện cổ tích Việt Nam, trên cơ sở đó tập
trung phân loại dạng truyện cổ tích phong tục. Sâu hơn, chúng tôi tiến hành khám
phá đặc trƣng của dạng truyện này theo các type và motif đã đƣợc phân nhóm. Từ
các phân loại và kết quả khảo sát cụ thể, chúng tôi tiến hành nghiên cứu sâu hơn về
các kết cấu điển hình của các nhóm truyện.
Trên cơ sở của các lý thuyết nền tảng cũng nhƣ những nghiên cứu về đặc
trƣng nội dung và nghệ thuật, chúng tôi sẽ tiến hành khái quát những đặc trƣng về
10


văn hoá Việt Nam trong hệ thống nhóm truyện cổ tích có yếu tố phong tục. Bản sắc
văn hóa gốc của ngƣời Việt cũng nhƣ hệ thống tín ngƣỡng tôn giáo mới xuất hiện
trong tiến trình văn hóa lịch sử Việt Nam ánh xạ qua nhóm truyện này theo đó sẽ
đƣợc tiến hành nghiên cứu và làm rõ.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là nhóm truyện cổ tích có yếu tố phong tục
của ngƣời Việt Nam.

- Phạm vi:
+ Phạm vi nghiên cứu: Tập trung khai thác bản sắc văn hóa Việt Nam qua
nghiên cứu đặc trƣng của hệ thống truyện cổ tích phong tục
+ Phạm vi tƣ liệu: chúng tôi nghiên cứu trên hệ thống truyện cổ tích Việt
Nam trong cuốn Tổng tập văn học dân gian người Việt của nhà xuất bản Khoa học
xã hội do Nhà xuất bản Khoa học xã hội chủ trì, phối hợp với Viện Nghiên cứu Văn
hoá dân gian tổ chức biên soạn. Trong phạm vi đề tài, chúng tôi chỉ nghiên cứu Tập
6 (993 trang): Truyện cổ tích thần kỳ và Tập 7 (688 trang): Truyện cổ tích loài vật,
truyện cổ tích sinh hoạt do phó giáo sƣ, tiến sĩ Nguyễn Thị Huế chủ biên cùng tiến
sĩ Trần Thị An biên soạn; xuất bản tháng 9/2004 và 10/2005.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng thêm bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
(Nxb GD, 2001) do Nguyễn Đổng Chi sƣu tầm và biên soạn với tính chất tham
khảo, so sánh, đối chiếu.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng những phƣơng pháp sau:
- Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành: Chúng tôi vận dụng phƣơng pháp
nghiên cứu liên ngành nhƣ: văn học, lịch sử, dân tộc học, nhân học văn hoá…để tìm
hiểu truyện cổ tích phong tục ngƣời Việt đề thấy rõ tính nguyên hợp của văn hoá
dân gian.
- Phƣơng pháp so sánh loại hình - lịch sử: Trong quá trình nghiên cứu chúng
tôi tiến hành so sánh truyện cổ tích phong tục Việt Nam với truyện cổ tích phong
tục của một nƣớc trong khu vực và thế giới.

11


Và các thao tác khoa học khác nhƣ:
- Thống kê: Trong phạm vi tƣ liệu chúng tôi sẽ tiến hành thống kê, phân loại
tất cả truyện cổ tích lí giải về phong tục ngƣời Việt.
- Phân tích văn bản: Chúng tôi nghiên cứu truyện cổ tích phong tục ngƣời

Việt trong tổng thể truyện kể phong tục Việt Nam.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN
- Bƣớc đầu công bố danh mục hệ thống các bản kể thuộc nhóm truyện phong
tục đã phân loại dựa vào các tiêu chí cụ thể, đồng thời đƣa ra những nhận xét dựa
vào số liệu thống kê.
- Rút ra những đặc trƣng của văn hoá Việt Nam trong hệ thống truyện kể
phong tục của ngƣời việt. Để thấy đƣợc đặc trƣng đó, đề tài tiến hành so sánh
những nét tƣơng đồng và dị biệt giữa truyện kể phong tục ngƣời Việt với truyện kể
phong tục của một số nƣớc trong khu vực và thế giới.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương 2. Đặc điểm nhóm truyện cổ tích có yếu tố phong tục của người Việt
Chương 3. Biểu tượng văn hóa, đặc trưng tính cách dân tộc và dấu ấn Phật
giáo qua nhóm truyện cổ tích có yếu tố phong tục

12


Phần hai: NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Khái lƣợc về truyện kể dân gian và phong tục
1.1.1. Truyện kể dân gian Việt Nam
Mỗi dân tộc đều mang trong mình dòng chảy văn hóa. Dòng chảy ấy có thể
đƣợc đo đếm bởi nhiều yếu tố mang hồn cốt dân tộc. Tuy vậy, chẳng có dân tộc nào
lại không đề cập văn học dân gian khi nói về văn hóa. Đơn giản vì văn học dân gian
là một bộ phận hợp thành của văn hóa, mà bộ phận ấy lại là cái lõi của văn hóa dân
tộc. Thực tế đã chứng minh, những nền văn hóa lớn trên thế giới đều xuất phát từ
nền móng văn học dân gian. Dòng chảy văn học dân gian không chỉ khu hẹp trong
một quốc gia, lãnh thổ nhất định mà nó còn lan tỏa khắp khu vực thậm chí thế giới.

Văn học dân gian có thể đƣợc hiểu là “những tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
truyền miệng, sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể nhằm mục đích phục vụ trực
tiếp cho các sinh hoạt khác nhau trong đời sống cộng đồng” [5, 16]. Bản thân văn học
dân gian gồm nhiều thể loại. Có thể hình dung sự phân loại văn học dân gian dựa trên
tiêu chí thể loại bao gồm: thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ
ngôn, truyện cƣời, tục ngữ, câu đố, ca dao, vè, truyện thơ, chèo. Nhìn vào hệ thống
thể loại trên, dựa trên cách phân loại thành các nhóm lớn tự sự, trữ tình và kịch,
chúng ta có thể gộp nhóm một số thể loại tự sự thành truyện kể dân gian.
Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng truyện
là “phƣơng thức phản ánh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi con ngƣời
làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó. Cho
nên tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện. Gắn liền với cốt truyện là một hệ
thống nhân vật” [15, tr385]. Theo đó, đặc điểm lớn nhất của truyện là yếu tố cốt
truyện. Nghĩa là truyện phải có hệ thống một chuỗi sự việc, bao gồm các sự kiện,
chi tiết xâu chuỗi với nhau bởi một hệ thống nhân vật. Vậy truyện kể dân gian là gì?
Có thể hiểu truyện kể dân gian theo cách hiểu của nhà nghiên cứu Trần
Hoàng trong Giáo trình văn học dân gian Việt Nam. Theo đó, truyện kể dân gian “là
một loại hình tự sự dân gian (đƣợc kể bằng văn xuôi) bao gồm cả thần thoại truyền
thuyết lẫn truyện cổ tích, truyện cƣời...” [18, tr32]
13


Nhƣ vậy, truyện kể dân gian là những sáng tác ngôn từ truyền miệng của
nhân dân lao động, phản ánh nội dung, tƣ tƣởng thông qua hệ thống cốt truyện với
các chuỗi sự kiện liên kết với nhau bởi hệ thống nhân vật. Có thể thấy rằng các thể
loại thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn, truyện cƣời
thuộc về truyện kể dân gian. Tuy vậy phạm vi của đề tài chỉ tập trung vào hệ thống
truyện cổ tích nhằm tập trung phát hiện, lí giải những yếu tố phong tục, làm rõ các
đặc trƣng văn hóa từ hệ thống truyện cổ tích đó.
1.1.2. Phong tục

1.1.2.1. Giới thuyết khái niệm về văn hóa và phong tục
Hồn cốt của mỗi dân tộc xét cho cùng là văn hóa. Văn hóa là một khái niệm
khá phổ biến không chỉ trong các ngành khoa học xã hội nhân văn mà còn trong
thực tiễn đời sống. Khái niệm văn hóa cũng đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Trên thế giới, thuật ngữ văn hóa ra đời từ rất sớm. Tác giả Trần Quốc Vƣợng
cho rằng “Ngƣời sử dụng từ văn hóa sớm nhất là Lƣu Hƣớng (năm 77-6 trƣớc công
nguyên), thời Tây Hán với nghĩa nhƣ một phƣơng thức giáo hóa của con ngƣời văn trị giáo hóa. Văn hóa ở đây đƣợc dùng đối lập với vũ lực” [44, tr16]. Cũng theo
ông, ở phƣơng tây thuật ngữ văn hóa “có chung nguồn gốc Latinh là chữ cultus
animi là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ cultus là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt,
thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tao cá thể hay cộng đồng
để họ không còn là con vật tự nhiên, và có những phẩm chất tốt đẹp” [44, tr16].
Theo UNESCO văn hóa có thể đƣợc hiểu là “Tổng thể những nét riêng biệt
tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của
một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những
lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập
tục và những tín ngƣỡng...” (Tuyên bố về những chính sách văn hóa - Hội nghị
quốc tế do UNESCO chủ trì từ 26-7 đến 6-8-1982 tại Mêhicô).
Tác giả Trần Ngọc Thêm lại cho rằng “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các
giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt
động thực tiễn trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội
của mình” [38, tr20].
14


Tuy các nhà nghiên cứu ở các quốc gia khác nhau, thời đại khác nhau đƣa ra
khái niệm với những mục đích khác nhau nhƣng đều gặp nhau ở một số điểm.
Những đặc điểm dƣới đây cũng là cách hiểu của chúng tôi về văn hóa:
- Thứ nhất, về chủ thể, văn hóa do con ngƣời tạo ra
- Thứ hai, về thời gian, văn hóa ra đời cùng với quá trình hình thành và phát
triển của xã hội loài ngƣời, là quá trình con ngƣời tƣơng tác với môi trƣờng tự nhiên

và xã hội; gắn liền với hoạt động lao động.
- Thứ ba, về sản phẩm, văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị vật chất và giá
trị tinh thần.
Nhƣ vậy, văn hóa là một khái niệm rộng. Sản phẩm của văn hóa bao gồm
nhiều thành tố do con ngƣời sáng tạo. Một trong những thành tố đặc trƣng của văn
hóa là phong tục.
Về khái niệm phong tục, các nhà nghiên cứu cũng đƣa ra những cách hiểu
nhau. Tác giả Mai Ngọc Chừ cho rằng phong tục là một khái niệm rộng “Nó bao
gồm cả hội hè, lễ tết, trang phục, ăn uống, cƣới xin, ma chay...và hàng loạt các trò
giải trí” [9, tr108].
Trong khi đó, tác giả Trần Ngọc Thêm nêu cách hiểu của mình, phong tục là
“Những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời đƣợc đại đa số mọi ngƣời
thừa nhận và làm theo phong: gió, tục: thói quen; phong tục: thói quen lan rộng”.
Phong tục có trong mọi mặt của đời sống” [38, tr143]
Các tác giả Nguyễn San, Phan Đăng trong các Giáo trình cơ sở văn hóa Việt
Nam lại cho rằng “Phong tục là những thói quen sinh hoạt ăn sâu vào đời sống xã
hội đƣợc đa số chấp nhận và làm theo, trở thành thuần phong mĩ tục. Phong tục có
mặt ở mọi bình diện văn hóa.” [36, tr141]
Dựa vào những ý kiến trên của các nhà nghiên cứu, chúng tôi xin giới thuyết
thêm về khái niệm phong tục.
Phong tục là một thành tố quan trọng của văn hóa. Nó là những thói quen
sinh hoạt lặp đi lặp lại từ đời này qua đời khác đƣợc đa số cá nhân trong một cộng
đồng chấp nhận và làm theo. Phong tục hiện diện ở hầu hết các khía cạnh của văn
hóa và tồn tại trong cuộc sống của cộng đồng ngƣời.
15


Nhƣ vậy, xét về khía cạnh thời gian, phong tục ra đời từ xa xƣa và đƣợc lƣu
truyền từ đời này sang đời khác. Về không gian, phong tục tồn tại ít nhất trong một
cộng đồng ngƣời, cùng với quá trình lƣu truyền, phong tục đó có thể tác động tới

những cộng đồng ngƣời khác tạo nên phạm vi ảnh hƣởng rộng lớn. Về bản chất,
phong tục là những thói quen sinh hoạt của một cộng đồng đƣợc mọi ngƣời tôn
trọng và thực hiện.
1.1.2.2. Đặc điểm hệ thống phong tục cổ truyền của ngƣời Việt
Mỗi cộng đồng ngƣời, mỗi dân tộc có một hệ thống phong tục cổ truyền khác
nhau, điều đó tạo nên sự phong phú về giá trị bản sắc của dân tộc. Phong tục đƣợc
nẩy sinh và nuôi dƣỡng trong bầu sữa của văn hóa. Do đó, phong tục cổ truyền của
ngƣời Việt mang đậm đặc trƣng văn hóa dân tộc.
Trƣớc hết, chúng ta nhận thấy rằng hệ thống phong tục cổ truyền nƣớc ta rất
phong phú, dƣờng nhƣ phong tục có mặt ở hầu hết các thành tố văn hóa. Có thể nói
ở mọi mặt của đời sống xã hội đều có dấu ấn của phong tục, từ các phong tục sinh
đẻ, cƣới hỏi, tang ma cho đến ăn, mặc, ở, lao động, giao tiếp, thờ cúng tâm linh, lễ
tết lễ hội...
Phong tục Việt Nam xuất phát từ cái nôi văn hóa dân tộc mang trong mình
đặc trƣng của loại hình văn hóa gốc nông nghiệp. Do đó, phong tục cổ truyền Việt
Nam mang đậm dấu ấn của nền văn hóa lúa nƣớc với đặc trƣng cơ bản là tính cộng
đồng. Điều này đƣợc biểu hiện trên nhiều thành tố văn hóa. Ví dụ viết về phong tục
hôn nhân, các tác giả Nguyễn San, Phan Đăng cho rằng phong tục hôn nhân “đƣợc
quy định chặt chẽ bởi tính cộng đồng, đáp ứng quyền lợi cộng đồng gia tộc, làng xã
và quốc gia”. [36, tr142]
Nghiên cứu về đặc điểm phong tục cổ truyền Việt Nam, chúng ta còn thấy
phong tục nƣớc ta xoay quanh nền nông nghiệp định cƣ. Có thể thấy, các phong tục
cổ truyền liên quan đến lao động hầu nhƣ đều tập trung cho công tác nông nghiệp nhƣ
phong tục đắp đê, chống hạn; phong tục cầu mƣa; phong tục thờ thần lúa. Các phong
tục về giao tiếp ứng xử, ngƣời Việt sử dụng mật độ dày đặc các từ ngữ nông nghiệp
(Làm lợn ăn cơm nằm, nuôi tằm ăn cơm đứng; Rủ nhau đi cấy đi cày, bây giờ khó
nhọc có ngày phong lưu; Cưới em tám vạn trâu bò, bảy vạn dê lợn chín vò rượu

16



tăm...). Trong khi đó, phong tục về ẩm thực xoay quanh hạt nhân là cây lúa: ngƣời
Việt xem cơm là trung tâm của bữa ăn và không thể thay thế; các đặc sản vùng miền
cũng gắn liền với nguyên liệu từ cây lúa tiêu biểu nhƣ bánh chƣng, bánh giầy.
Một đặc điểm nữa khá quan trọng về phong tục Việt Nam tính “thiết thực,
linh hoạt, dung hòa” (chữ dùng của Trần Đình Hƣợu để nói về văn hóa Việt Nam).
Rõ ràng hầu hết các phong tục Việt Nam đều phục vụ những nhu cầu thiết thực của
đời sống xã hội. Các phong tục xuất phát từ nhu cầu vật chất và tinh thần của con
ngƣời. Phong tục cổ truyền Việt Nam giản dị, không cầu kì, không phô phƣơng
nhằm đáp ứng nhu cầu của cuộc sống và có thể thay đổi linh hoạt tùy theo hoàn
cảnh. Trong khi đó, sự dung hòa về phong tục Việt Nam phải đƣợc xét trên mối
quan hệ giao lƣu văn hóa. Có nhiều phong tục có nguồn gốc ngoại lai, nhƣng qua
tiếp nhận và cải biến của ngƣời Việt phong tục đó thể hiện sự dung hòa. Ví dụ chịu
ảnh hƣởng của Nho giáo, các phong tục của Trung Quốc xoay quanh việc đề cao
nam giới, coi thƣờng nữ giới. Nhƣng qua Việt Nam, sức mạnh của văn hóa bản địa
đã cải biến phong tục này theo một hƣớng khác. Ngƣời Việt coi trọng nữ giới cho
nên đối lập với những câu nhƣ “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” thì ngƣời Việt
có những câu khác “Nhất vợ nhì trời”, “Lệnh ông không bằng còng bà”...Do đó,
không ngạc nhiên khi ở Việt Nam khá phổ biến phong tục thờ Mẫu. Nhƣ vậy, ngƣời
Việt không từ chối các phong tục liên quan đến Nho giáo mà sẵn sàng tiếp thu cãi
biến theo hƣớng “dung hòa”, tức kết hợp giữa văn hóa ngoại lai với văn hóa bản địa
theo một hƣớng riêng phù hợp với cốt cách dân tộc.
1.1.2.3. Phân loại phong tục cổ truyền của ngƣời Việt
Phong tục cổ truyền ngƣời Việt có hầu khắp trên các thành tố văn hóa, có thể
nói mỗi thành tố văn hóa đều gắn liền với một hệ thống phong tục nhất định.
Tác giả Nguyễn San, Phan Đăng cho rằng “Phong tục có mặt ở mọi bình diện
văn hóa, tuy nhiên nó bộc lộ rõ trong các giai đoạn của cuộc đời con ngƣời - đó là
phong tục hôn nhân, sinh đẻ nuôi dƣỡng - tang ma và hai nhóm lễ tết lễ hội thể hiện
sinh hoạt cộng đồng rõ nét nhất” [36, tr141]
Tác giả Trần Ngọc Thêm lại cho rằng “Phong tục có trong mọi mặt đời sống,

ở đây tập trung xem xét ba nhóm chủ yếu: Phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết và lễ
hội” [38, tr143]
17


Tuy vậy, để có cách nhìn bao quát về hệ thống phong tục cổ truyền Việt
Nam, chúng tôi đề xuất phân chia hệ thống phong tục cổ truyền Việt Nam thành ba
nhóm sau:
Thứ nhất, các phong tục về vòng đời: Nhóm này gồm các phong tục liên
quan đến vòng đời của con ngƣời. Bao gồm: phong tục sinh đẻ, nuôi dƣỡng, trƣởng
thành, cƣới hỏi, mừng thọ, tang ma...
Thứ hai, các phong tục về lễ tết, lễ hội: Nhóm này bao gồm các phong tục về
các ngày lễ tết trong năm nhƣ tết Nguyên Đán, rằm tháng giêng, tết Đoan Ngọ...;
các phong tục về lễ hội; kèm theo đó là các phong tục về thờ cúng tổ tiên và các vị
nhân thần và nhiên thần.
Thứ ba, các phong tục về đời sống văn hóa xã hội: Nhóm này bao gồm các
phong tục về giao tiếp, ứng xử; phong tục về ăn, mặc, ở, trang phục; các phong tục
về hoạt động lao động, nghề nghiệp...
Dựa vào cách phân loại trên, chúng tôi sẽ đi sâu khảo sát, tìm hiểu đặc điểm
truyện cổ tích có yếu tố phong tục của ngƣời Việt theo nội dung biểu hiện của hệ
thống phong tục cổ truyền Việt Nam. Điều này chúng tôi sẽ làm rõ ở Chƣơng 2.
1.2. Khái lƣợc về truyện cổ tích và nhóm truyện có yếu tố phong tục
1.2.1. Khái lƣợc truyện cổ tích
Nhƣ đã đề cập, văn học dân gian gồm nhiều thể loại. Trong nhiều thể lọai đó,
chúng ta có thể gộp nhóm một số thể loại vào truyện kể dân gian, trong đó có truyện
cổ tích. Có không ít cách hiểu, khái niệm về truyện cổ tích đã đƣợc các nhà nghiên
cứu đƣa ra.
Nguyễn Đổng Chi trong phần giới thiệu của bộ sƣu tầm Kho tàng truyện cổ
tích Việt Nam đƣa ra cách hiểu về khái niệm này “Khi nói đến truyện cổ tích hay
truyện đời xƣa chúng ta đều sẵn có quan niệm cho rằng đó là một danh từ chung

bao gồm hết thảy mọi loại truyện do quần chúng vô danh sáng tác và lƣu truyền qua
các thời đại. Cũng vì thế xác định nội dung từng truyện khác nhau để đi đến phân
loại truyện cổ vẫn là công việc hứng thú và luôn có ý nghĩa...Tuy nhiên cho đến lúc
này, công việc đó vẫn chƣa hoàn thành và chƣa có một kiến giải nào khả dĩ gọi là
thỏa đáng” [6, tr11-12]. Với cách hiểu trên của tác giả Nguyễn Đổng Chi chúng tôi
18


thấy rằng phạm vi xác định của khái niệm khá rộng, chƣa có ranh giới giữa truyện
cổ tích và các thể loại tự sự dân gian khác nhƣ thần thoại, truyền thuyết...Cách hiểu
này thiên về truyện cổ dân gian bao hàm nhiều thể loại.
Để xác định khái niệm truyện cổ tích, tác giả Lê Chí Quế, trong cuốn Giáo
trình Văn học dân gian Việt Nam cho rằng bản chất của thể loại này thể hiện qua
các khía cạnh:
“1. Truyện cổ tích là sáng tác dân gian thuộc loại hình tự sự mà thuộc tính
của nó là xây dựng trên những trục cốt truyện;
2. Truyện cổ tích là tác phẩm nghệ thuật đƣợc xây dựng thông qua sự hƣ cấu
nghệ thuật thần kỳ;
3. Truyện cổ tích là thể loại hoàn chỉnh của văn học dân gian đƣợc hình
thành một cách lịch sử;
4. Sự hƣ cấu thần kỳ trong truyện cổ tích do hiện thực đời sống quy định và
nó chịu biến đổi theo quá trình lịch sử” [35, tr129-166]
Nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ
điển thuật ngữ văn học cho rằng truyện cổ tích là “Một thể loại truyện dân gian nảy
sinh từ xã hội nguyên thủy nhƣng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với
chức năng chủ yếu là phản ánh lí giải các vấn đề xã hội, những số phận khác nhau
của con ngƣời trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ tƣ hữu tài sản,
có gia đình riêng (chủ yếu gia đình phụ quyền), có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh
xã hội quyết liệt” [15, tr368]
Tác giả Nguyễn Việt Hùng, Nguyễn Thị Kim Ngân trong Bình giảng truyện

cổ tích, nêu ra định nghĩa “Truyện cổ tích là sáng tác dân gian thuộc loại hình tự sự
chủ yếu sử dụng yếu tố nghệ thuật kì ảo để thể hiện cái nhìn về hiện thực của nhân
dân với đời sống, bộc lộ quan niệm về đạo đức cũng nhƣ về công lí xã hội và ƣớc
mơ một cuộc sống tốt đẹp hơn của nhân dân lao động” [22, tr7]
Dựa vào cách hiểu của các nhà nghiên cứu trên, chúng tôi xin nêu ra một số
đặc điểm về truyện cổ tích, coi nhƣ đó là cách hiểu về truyện cổ tích:
1. Về thời gian ra đời: truyện cổ tích có mầm mống từ thời kỳ tiền giai cấp
và phát triển mạnh trong xã hội có phân chia giai cấp.
19


2. Về nội dung: truyện cổ tích phản ánh mâu thuẫn giai cấp, các vấn đề xã
hội, những số phận cá nhân của con ngƣời
3. Về đặc điểm nghệ thuật: truyện cổ tích đƣợc tác giả dân gian kể lại bằng
phƣơng thức tự sự, có yếu tố hƣ cấu thần kỳ để phát triển câu chuyện.
Về phân loại truyện cổ tích, cũng có không ít cách phân loại khác nhau.
Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam phân thành ba loại:
Truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích thế sự và truyện cổ tích lịch sử.
Khác với cách phân chia của Nguyễn Đổng Chi, gần đây các nhà nghiên cứu
văn học dân gian thống nhất quan điểm “đa số các nhà folklore tán thành thì thể loại
truyện cổ tích đƣợc chia thành ba tiểu loại: truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích
thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt” [32, tr24]
Đồng quan điểm trên, tác giả Trần Hoàng cho rằng “Gần đây, nhiều nhà
nghiên cứu đã dựa vào hai tiêu chí là đề tài và dựa vào mức độ sử dụng yếu tố thần
kỳ để chia truyện cổ tích thành ba loại: Truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần
kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt” [18, tr24]
Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cũng khẳng định
“Khái niệm truyện cổ tích có nội dung rất rộng, bao gồm nhiều loại truyện khác nhau
về đề tài về đặc điểm nghệ thuật...có thể phân truyện cổ tích thành ba loại chính:
truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt và truyện cổ tích loài vật” [35, tr368].

Từ những khái niệm trên về truyện cổ tích, chúng tôi nhận thấy rằng ở thời
gian khoảng nửa đầu thế kỷ XX về trƣớc cách phân chia chƣa thống nhất, từ những
năm 90 trở đi hầu hết các nhà nghiên cứu đều phân chia truyện cổ tích thành ba loại:
truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích sinh hoạt.
1.2.2. Nhóm truyện cổ tích có yếu tố phong tục
1.2.2.1. Khái lƣợc truyện cổ tích có yếu tố phong tục
Trên cơ sở khảo sát 247 truyện cổ tích (chƣa kể bản khác) trong Tổng tập
văn học dân gian người Việt tập 6 và tập 7 của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam và
201 truyện cổ tích (chƣa kể khảo dị) trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập
của nhà xuất bản Giáo dục), chúng tôi nhận thấy rằng có một bộ phận không nhỏ hệ
thống truyện cổ tích Việt Nam tập trung lí giải về phong tục tập quán nƣớc ta.
20


Tác giả Nguyễn Việt Hùng trong Bình giảng truyện cổ tích cũng đƣa ra nhận
định “Mỗi nhóm dân cƣ mỗi cộng đồng đều có những câu chuyện dân gian, là hình
thức tự sự lí giải về nguồn gốc các phong tục cổ truyền. Đó là tƣ duy mang tính
nghệ thuật, tính thẩm mỹ về đời sống: Truyện Sự tích trầu cau lí giải nguồn gốc của
tục ăn trầu; Sự tích cây nêu ngày tết giải thích về ý nghĩa, chức năng và cách thức
dựng cây nêu; Sự tích cái chổi cho biết chi tiết thú vị về phong tục kiêng quét nhà
của ngƣời dân trong ba ngày tết; Sự tích cái khăn tang giải thích phong tục để tang
của ngƣời Việt” [22, tr103]
Dựa trên ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trƣớc cũng nhƣ từ kết quả khảo
sát tƣ liệu đã tiến hành, chúng tôi đề xuất trong hệ thống truyện cổ tích Việt Nam có
một bộ phận truyện cổ tích phong tục (hay truyện cổ tích có yếu tố phong tục). Bộ
phận này đƣợc nằm xen lẫn trong ba tiểu loại truyện cổ tích trên. Nghĩa là truyện cổ
tích phong tục có trong truyện cổ tích loài vật nhƣ Cá chép hóa rồng (Giải thích
phong tục cúng cá chép và phóng sinh cá chép vào ngáy 23 âm lịch hàng năm);
truyện cổ tích phong tục có trong truyện cổ tích sinh hoạt nhƣ truyện Sự tích cúng
lục tuần (Giải thích phong tục cúng lục tuần - mừng thọ sáu mƣơi tuổi); hay truyện

cổ tích phong tục có trong truyện cổ tích thần kỳ nhƣ Sự tích cây nêu ngày tết (giải
thích phong tục trồng cây nêu ngày tết để xua đuổi ma quỷ).
Sở dĩ chúng ta có thể gộp nhóm một hệ thống truyện cổ tích thành truyện cổ
tích phong tục bởi “Phong tục là bầu vú sữa của văn học, văn học sinh ra từ trong
lòng phong tục” [34, tr31]. Có nghĩa phong tục là cội nguồn của văn học, phong tục
sản sinh ra văn học. Ngƣợc lại, văn học luôn phản ánh phong tục tập quán đặc sắc
văn hóa của dân tộc nhất là khi truyện cổ tích ra đời từ thời xã hội vừa phân chia giai
cấp, khi những hiểu biết của con ngƣời về cuộc sống còn hạn chế. Vì vậy, con ngƣời
luôn khát khao lí giải cuộc sống. Nếu thần thoại thiên về lí giải các hiện tƣợng thiên
nhiên thì truyện cổ tích thƣờng tập trung lí giải các vấn đề xã hội trong đó có phong
tục. Nếu văn học hiện đại thƣờng phản ánh phong tục trong tác phẩm, thì văn học dân
gian đi sâu lí giải phong tục. Các tác giả văn học dân gian đi tìm câu hỏi vì sao có cây
nêu ngày tết, vì sao có trầu cau, vì sao có cái khăn tang, vì sao có tục thờ đá, vì sao
những ngƣời xuất gia không ăn hành tỏi...Để giải quyết vấn đề đó các tác giả dân gian
đã giải quyết theo hƣớng “hƣ cấu thần kỳ” trong truyện cổ tích phong tục.
21


×