Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

tiểu luận quản lý rủi ro TD quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP ngoại thương việt nam giai đoạn 2016 2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (212.27 KB, 28 trang )

CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG
1.1 Rủi ro tín dụng
1.1.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Theo A.Saunders và H.Lange: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân
hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính
mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về số
lượng và thời hạn”.
Theo Quy định số 18/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN tại khoản 1 điều 2 đề
cập khái niệm “rủi ro tín dụng trong hoạt động của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất
trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc
không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Tuy có rất nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng nhưng có thể được tập hợp lại
như sau:
Rủi ro tín dụng được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi
ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng. Có nghĩa là khả năng khách hàng không
trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ.
Hoặc nói một cách cụ thể hơn, thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của
ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt giá trị và thời hạn.
1.1.2 Phân loại rủi ro tín dụng
Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân chia thành
các loại sau đây:
Rủi ro tín
dụng
Rủi ro
giao dịch
Rủi ro
lựa chọn

Rủi ro
bảo đảm


Rủi ro
danh mục
Rủi ro
nghiệp vụ

Rủi ro
nội tại

Rủi ro tập
trung

7


Rủi ro giao dịch: Đây là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh
là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt hồ sơ cho vay, đánh giá
khách hàng.
-

Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình thẩm định, đánh giá và phân
tích tín dụng để đưa đến quyết định cho vay.

-

Rủi ro bảo đảm: Phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong
các hợp đồng cho vay, liên quạn đến tài sản đảm bảo.

-

Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản lí khoản vay và hoạt

động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lí
các khoản vay có vấn đề.

Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do
những nguyên nhân khách quan trong nền kinh tế, môi trường, ngành nghề nên khó có
thể giảm thiểu rủi ro và rủi ro do những nguyên nhân đa dạng gây nên có thể giảm
thiểu nhờ đa dạng hóa cho vay để phân tán rủi ro.
-

Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng mang tính riêng biệt
bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế.

-

Rủi ro tập trung: Ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một khách
hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực
kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lí nhất định.

Nếu căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng thì rủi ro tín dụng được phân chia
thành các loại sau:
-

Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): Khi thiết lập quan hệ tín
dụng, người vay và ngân hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả nợ vay.
Tuy nhiên, đến thời hạn trả mà ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay, những
tổn thất xảy ra trong giai đoạn này người ta gọi là rủi ro không hoàn trả nợ đúng
hạn.

-


Rủi ro không có khả năng trả nợ: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp khách hàng đi
vay và mất khả năng chi trả. Do vậy ngân hàng cần thanh lí tài sản của khách
hàng để thu hồi nợ.
8


1.1.3 Nguyên nhân của rủi ro tín dụng
a) Nguyên nhân mang tính chủ quan


Nguyên nhân từ phía ngân hàng

Các khoản vay có vấn đề và các thiệt hại cho vay có thể xảy ra do sơ hở về thủ
tục trong nội bộ ngân hàng. Đây được gọi là các hoạt động cho vay không hoàn hảo và
nó xuất hiện do các nguyên nhân: do thông tin tín dụng không đầy đủ (ngân hàng
không có cái nhìn toàn diện về bản thân khách hàng cũng như tình hình tài chính của
họ), trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ ngân hàng nói chung và
cán bộ tín dụng nói riêng còn hạn chế (thiếu năng lực xử lý thông tin tín dụng, thẩm
định hồ sơ bảo vệ và giám sát khoản vay), ngân hàng quá chú trọng vào lợi nhuận và
mong muốn về lợi tức cao hơn các khoản vay lành mạnh, sự cạnh tranh không lành
mạnh với các ngân hàng khác và các tổ chức phi ngân hàng với mong muốn được tỷ
trọng vay nhiều hơn (ngân hàng bỏ qua một số bước kiểm định khoản vay, hạ thấp các
tiêu chuẩn tín dụng,…), hoạt động kiểm tra, kiểm soát không được tiến hành thường
xuyên (nhân viên tín dụng không nắm bắt được tình hình tín dụng của khách hàng
cũng như môi trường tín dụng của nền kinh tế).


Nguyên nhân từ phía khách hàng

Khách hàng là doanh nghiệp thì nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ trình độ quản

lí kém dẫn đến việc sử dụng vốn vay không mang lại hiệu quả như mong đợi hoặc xây
dựng kế hoạch kinh doanh thiếu chính xác; sử dụng vốn sai mục đích so với phương
án kinh doanh khi giải ngân, tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh
bạch; khách hàng thiếu thiện trí trả nợ,…
Nếu khách hàng là cá nhân và hộ gia đình, thì nguyên nhân có thể do tình trạng
sức khỏe, bệnh tật; tình trạng thất nghiệp tạm thời hoặc lâu dài làm ảnh hưởng đến thu
nhập; hoặc do người đi vay hoạch định ngân sách vốn không đúng, sử dụng tiền vay
sai mục đích, chưa có kinh nghiệm trong sử dụng vốn để tổ chức quản lý, sản xuất,
kinh doanh.
b) Nguyên nhân mang tính khách quan
Do thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn,…; do môi trường kinh tế không ổn định (chịu
ảnh hưởng của các nhân tố như thay đổi chính sách của Chính phủ, chỉ số cán cân
9


thanh toán, hoạt động đầu tư nước ngoài, giá trị của đồng bản tệ, lãi suất, mối quan hệ
giữa các ngành công nghiệp,..); do môi trường pháp lý chưa thuận lợi (chính sách của
Chính phủ, những điều luật mới về sở hữu, cầm cố, thế chấp tài sản hoặc những quy
định mới có thể đe dọa sự tồn tại của doanh nghiệp,…)
1.1.4 Tác động của rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng xảy ra sẽ gây tác hại cho không những bản thân ngân hàng mà
còn có thể gây tác hại nghiêm trọng và không lường trước được với chính người đi vay
và đối với nền kinh tế.
a) Đối với người gửi tiết kiệm
Khách hàng không thể thu hồi được khoản tiền đã gửi tại tổ chức tín dụng do
khách hàng kéo đến rút tiền ồ ạt, dẫn tới tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán.
b) Đối với người đi vay
Nguyên nhân chính là do người đi vay không có khả năng hoàn trả khoản vay,
do xuất phát từ các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của người đi vay. Với tình hình
tài chính không lành mạnh, kèm theo đó là các khoản nợ quá hạn, người đi vay đã tự

đánh mất nguồn tài trợ từ các ngân hàng – nơi cung ứng vốn chủ yếu. Thiếu vốn, các
doanh nghiệp không thể nắm bắt các cơ hội kinh doanh nhằm làm gia tăng giá trị
doanh nghiệp. Mặt khác, các tài sản đảm bảo cho khoản vay có thể bị tịch thu hoặc
phát mãi để thực hiện nghĩa vụ trả nợ, người vay sẽ phải đối mặt với ngụy cơ phá sản.
c) Đối với ngân hàng thương mại
Mức thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra trong phạm vi ngân hàng có thể bù đắp
được, thì nó cũng gây ra hậu quả là giảm số vốn hoạt động của ngân hàng thương mại,
giảm lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng và làm giảm hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng. Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu hồi được vốn tín dụng đã cấp
và lãi cho vay nhưng ngân hàng phải trả vốn và lại cho khoản tiền huy động đã đến
hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối thu chi, khi không thu hồi được nợ thì
vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng hoạt động không hiệu quả. Khi gặp rủi ro
tín dụng thì ngân hàng thường gặp tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất niềm
tin của người gửi tiền, mất uy tín ngân hàng. Nếu mức thiệt hại do rủi ro tín dụng gây
10


ra vượt quá khả năng bù đắp của bản thân ngân hàng, thì có thể đẩy ngân hàng đến chỗ
phá sản
d) Đối với nền kinh tế
Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho khách hàng với mục đích cung cấp
thêm vốn đầu tư cần thiết đối với hoạt động sản xuất và kinh doanh, mở rộng quy mô
sản xuất và lưu thông hàng hóa, tạo thêm nhiều sản phẩm mới cho xã hội, tạo công ăn
việc làm, tăng thu nhập cho người sử dụng vốn vay. Từ đó góp phần làm tăng tích lũy
cho nền kinh tế. Khi rủi ro tín dụng xảy ra đây là minh chứng rõ ràng cho việc khách
hàng vay đã không thực hiện hiệu quả đầu tư như đã đặt ra khi nhận nguồn vốn từ
ngân hàng thương mại.
Tóm lại tác hại của rủi ro tín dụng rất lớn và trên phạm vi rất rộng, nên việc
phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng là vấn đề được đặc biệt quan tâm không chỉ
trong phạm vi ngân hàng, mà cả trong nền kinh tế. Nói cách khác, việc quản lý rủi ro

tín dụng nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng trong các ngân hàng là vô cùng
quan trọng.
1.2 Quản lý rủi ro tín dụng
1.2.1 Khái niệm về quản lý rủi ro tín dụng
Quản lý RRTD là toàn bộ quá trình kiểm tra, giám sát, phòng ngừa liên tục, bắt
đầu từ khâu lựa chọn, đánh giá khách hàng cũng như các khoản vay được khách hàng
cho vay lại, đến người vay cuối cùng, theo dõi, có biện pháp xử lý những khoản nợ có
vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng, giảm thiểu rủi ro.
Theo khái niệm trên thì nội hàm của quản lý rủi ro tín dụng bao gồm một hệ
thống: chiến lược hoạt động tín dụng, các chính sách của NHTM trong hoạt động tín
dụng, các biện pháp được triển khai trong toàn bộ hệ thống NHTM nhằm phòng ngừa
và hạn chế rủi ro tín dụng.
1.2.2 Quá trình quản lý rủi ro tín dụng
a) Phát hiện rủi ro
Nhận diện RRTD là quá trình xác định liên tục và có hệ thống. Bất kỳ khoản
vay nào cũng có thể có vấn đề, việc sớm nhận biết vấn đề và có những biện
11


pháp theo dõi nhanh chóng, chuyên nghiệp giúp các vấn đề, tổn thất có thể giảm đến
mức thấp nhất. Những dấu hiệu cảnh báo sẽ giúp ngân hàng có thể nhận biết và có giải
pháp xử lý sớm các vấn đề một cách hiệu quả. Các dấu hiệu nhận biết phổ biến thường
tập trung vào: dấu hiệu tài chính và dấu hiệu phi tài chính của khách hàng vay.
b) Đo lường rủi ro tín dụng
Đo lường RRTD là việc lượng hóa mức độ các rủi ro cũng như biết được xác
suất xảy ra rủi ro, mức độ tổn thất khi rủi ro xảy ra để xem xét khả năng chấp nhận nó
của ngân hàng. Đây là cơ sở để ngân hàng đưa ra quyết định cho vay cũng như xây
dựng biện pháp ứng phó phù hợp, nhanh chóng với RRTD khi tình trạng này xảy ra.
Để đo lường RRTD các ngân hàng thường xây dựng các mô hình thích hợp .


c) Quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng
Quản lý và kiểm soát RRTD là khâu trọng tâm nhất trong công tác quản lý
RRTD của một NHTM, đây chính là cái hồn của quy trình quản lý RRTD. Quản lý và
kiểm soát RRTD là một hệ thống những công cụ, chính sách, tiêu chuẩn và biện pháp
nhằm ngăn ngừa và xử lý RRTD trong một ngân hàng: chính sách tín dụng, quy trình
tín dụng, bộ máy quản lý RRTD, các giới hạn tín dụng.
d) Xử lý rủi ro tín dụng
Xử lý RRTD là bước cuối cùng trong công tác quản lý RRTD. Ở bước này,
ngân hàng sẽ đưa ra các quyết định và biện pháp để tài trợ, khắc phục và hạn chế thấp
nhất chi phí rủi ro và tổn thất mà RRTD đã gây ra cho ngân hàng. Bốn bước trong quy
trình RRTD có quan hệ chặt chẽ với nhau và quyết định rất lớn tới hiệu quả quản lý
RRTD. Trong 4 bước này, bước 1 và bước 3 được coi là bước quan trọng nhất. Bởi vì,
khi phát hiện rủi ro càng sớm, chủ động trong quản lý và kiểm soát rủi ro thì càng
giảm thiểu được tổn thất trong hoạt động tín dụng.
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng
a) Các yếu tố chủ quan
-

Trình độ và nhận thức của các cán bộ quản lý rủi ro tín dụng: Các cán bộ phải
nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của việc hạn chế rủi ro tín dụng, đánh giá
12


chính xác về khách hàng và khả năng trả nợ, phương án sản xuất kinh doanh của
khách hàng, nếu không dự báo được những vấn đề phát sinh từ phía khách hàng
có thể gây bất lợi cho ngân hàng.
-

Chất lượng thông tin tín dụng: hệ thống thông tin chưa đầy đủ và thiếu cập nhật
khiến cho quá trình đánh giá rủi ro gặp nhiều khó khăn.


-

Công cụ đo lường rủi ro tín dụng: ngân hàng có công cụ và phương pháp đo
lường càng chính xác thì xác suất rủi ro xảy ra càng được giảm thiểu.

-

Chiến lược khách hàng của ngân hàng: Tuỳ theo chiến lược kinh doanh cụ thể mà
mỗi ngân hàng đưa ra các mức độ chấp nhận rủi ro khác nhau.

-

Mức độ phức tap của các hoat động ngân hàng: Các hoat động kinh doanh của
ngân hàng ngày càng đa dang và phức tạp đem lại lợi nhuận ngày càng lớn tuy
nhiên mức độ rủi ro cũng ngày càng cao hơn.

b) Các yếu tó khách quan
-

Khách hàng vay vốn:
 Khả năng trả nợ: khách hàng có năng lực tài chính thì khi có rủi ro khách
hàng có thể chống đỡ bằng nguồn vốn chủ sở hữu, hạn chế ảnh hưởng đến
khả năng trả nợ ngân hàng
 Đạo đức của người đi vay: thông tin về cách sử dụng vốn có thể thay đổi sau
khi khách hàng nhận tiền vay, thực tế có nhiều vụ việc khách hàng lừa đảo
chiếm dụng vốn ngân hàng sử dụng sai mục đích.

-


Môi trường chính trị: chính trị ổn định thì ngân hàng và khách hàng mới yên tâm
đầu tư, mở rộng kinh doanh, tín dụng. Khi nền kinh tế tăng trưởng và ổn định thì
hoạt động tín dụng sẽ tăng trưởng và ít rủi ro hơn.

-

Môi trường pháp lý: đó là sự đồng bộ, rõ ràng, đầy đủ và tính hiệu lực, hiệu quả
của các văn bản pháp luật và văn bản dưới luật liên quan trực tiếp đến hoạt động
tín dụng và hoạt động của khách hàng vay vốn.

-

Môi trường kinh tế vĩ mô, như tăng trưởng kinh tế, lạm phát, việc làm, thu nhập,
thâm hụt ngân sách, nợ công... Điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, trực tiếp là
chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách đầu tư... Khi nền kinh tế tăng
trưởng và ổn định thì hoạt động tín dụng sẽ tăng trưởng và ít rủi ro hơn.

13


CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2018
2.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam trước đây, nay là Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam (Vietcombank) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày
01/4/1963 với tổ chức tiền thân là Cục Ngoại hối (trực thuộc Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam). Là ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn thực
hiện thí điểm cổ phần hoá, Vietcombank chính thức hoạt động với tư cách là một ngân
hàng thương mại cổ phần vào ngày 02/6/2008 sau khi thực hiện thành công kế hoạch

cổ phần hóa thông qua việc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng. Ngày
30/6/2009, cổ phiếu Vietcombank (mã chứng khoán VCB) chính thức được niêm yết
tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ một ngân hàng chuyên doanh phục vụ kinh tế đối ngoại, Vietcombank ngày
nay đã trở thành một ngân hàng đa năng, hoạt động đa lĩnh vực, cung cấp cho khách
hàng đầy đủ các dịch vụ tài chính hàng đầu trong lĩnh vực thương mại quốc tế; trong
các hoạt động truyền thống như kinh doanh vốn, huy động vốn, tín dụng, tài trợ dự
án…cũng như mảng dịch vụ ngân hàng hiện đại: kinh doanh ngoại tệ và các công vụ
phái sinh, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử…
Sở hữu hạ tầng kỹ thuật ngân hàng hiện đại, Vietcombank có nhiều lợi thế trong
việc ứng dụng công nghệ tiên tiến vào xử lý tự động các dịch vụ ngân hàng, phát triển
các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng điện tử dựa trên nền tảng công nghệ cao. Không gian
giao dịch công nghệ số (Digital lab) cùng các dịch vụ: VCB Internet Banking, VCB
Money, SMS Banking, Phone Banking,…đã, đang và sẽ tiếp tục thu hút đông đảo
khách hàng bằng sự tiện lợi, nhanh chóng, an toàn, hiệu quả, tạo thói quen thanh toán
không dùng tiền mặt cho đông đảo khách hàng.
Sau hơn nửa thế kỷ hoạt động trên thị trường, Vietcombank hiện là một trong
những ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam với trên 15.000 cán bộ nhân viên.
Tính đến 31/12/2018, VCB hiện có 106 Chi nhánh với 431 phòng giao dịch hoạt động
tại 53/64 tỉnh thành phố trong cả nước, phân bổ cụ thể theo 07 khu vực sau: Bắc bộ có
21 chi nhánh chiếm tỷ lệ 19,8%; Hà Nội có 15 chi nhánh, chiếm tỷ lệ 14,2%; Bắc và
14


Trung bộ có 14 chi nhánh, chiếm tỷ lệ 13,2%; Nam Trung bộ và Tây Nguyên có 11 chi
nhánh, chiếm tỷ lệ 10,4%; Hồ Chí Minh có 17 chi nhánh, chiếm tỷ lệ 16,0%; Đông
Nam Bộ có 13 chi nhánh, chiếm tỷ lệ 12,3%; Tây Nam Bộ có 15 chi nhánh, chiếm
14,2%. VCB thiết lập và mở rộng mạng lưới với hơn 1.800 ngân hàng đại lý tại 118
quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.
Với bề dày hoạt động và đội ngũ cán bộ có năng lực, nhạy bén với môi trường

kinh doanh hiện đại, mang tính hội nhập cao…Vietcombank luôn là sự lựa chọn hàng
đầu của các tập đoàn, các doanh nghiệp lớn và của đông đảo khách hàng cá nhân.
Luôn hướng đến các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động, Vietcombank liên tục được
các tổ chức uy tín trên thế giới bình chọn là “Ngân hàng tốt nhất Việt Nam”.
Vietcombank cũng là ngân hàng đầu tiên và duy nhất của Việt Nam có mặt trong Top
500 Ngân hàng hàng đầu Thế giới theo kết quả bình chọn do Tạp chí The Banker công
bố.
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt nam đã được cổ phần hóa nhưng nhà
nước vẫn chiếm đến hơn 70% cổ phần, vai trò của nhà nước rất quan trọng.
Bảng 2. 1 Thông tin cổ đông của Vietcombank
Số
STT

Tên cổ đông

Tổng số cổ

Tỷ lệ sở

phần sở hữu

hữu

2.774.353.387

77,11%

1

539.668.502


15,00%

1

283.746.686

7,88%

30145

3.597.768.575

100%

30147

lượng
cổ đông

Ngân hàng Nhà nước Việt
1

Nam (đại diện sở hữu vốn
Nhà nước)

2
3

Cổ đông chiến lược nước

ngoài Mizuho Bank Ltd
Cổ đông khác
Tổng

15


2.1.2 Tình hình kinh doanh của ngân hàng giai đoạn 2016 – 2018
Bảng 2. 2 Kết quả kinh doanh giai đoạn 2016 - 2018 (tỷ VND)
2016

2017

2018

Tăng

Năm
Số liệu

Số liệu

trưởng

Tăng
Số liệu

trưởng

(%)

Tổng tài sản

(%)

787.935 1.035.293

31,39

1.074.027

3,47

48.102

52.558

9,16

62.179

18,3

24.886

29.406

18,16

39.278


33,6

Lợi nhuận trước thuế

8.523

11.341

32,2

18.269

61,1

Lợi nhuận sau thuế

6.851

9.111

33

14.622

60,5

Vốn chủ sở hữu
Tổng thu nhập hoạt
động kinh doanh


Trong giai đoạn 2016-2018, Vietcombank đã có nhiều đổi mới và phát triển
mạnh mẽ, đảm bảo an toàn hoạt động, tăng trưởng trên mọi phương diện và hiệu quả
hoạt động được giữ vững. Nhờ vậy mà uy tín và hình ảnh thương hiệu của
Vietcombank ngày càng được gia tăng. Theo bảng kết quả, các chỉ số tài chính cơ bản
của ngân hàng tăng trưởng liên tục qua các năm. Tổng tài sản trong năm 2018 tăng
không đáng kể, tốc độ tăng trưởng chỉ tăng 3,47% so với năm 2017. Trong khi đó, vốn
chủ sở hữu, tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh lại có sự tăng trưởng mạnh mẽ và
vượt bậc. Với sự bứt phá ấn tượng, vượt mức kỷ lục của ngành Ngân hàng do chính
Vietcombank xác lập vào năm 2017, kết thúc năm 2018, lợi nhuận trước thuế hợp nhất
của VCB đạt 18.239 tỷ VND, tăng 61,1% so với năm 2017 và gấp 3 lần so với năm
2015 (6.827 tỷ VND) - năm đầu tiên Vietcombank bước vào tái cơ cấu giai đoạn 20162020. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng này là VCB đã giảm được
tỉ lệ nợ xấu, tăng trưởng dư nợ chất lượng và giảm trích lập dự phòng rủi ro.

16


2.2 Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam giai
đoạn 2016 – 2018
2.2.1 Các loại hình tín dụng
-

Cho vay ngắn hạn: Đây là hình thức cấp tín dụng kỳ hạn tối đa 12 tháng, trong đó
Vietcombank đáp ứng nhu cầu vay vốn gắn liền mục đích vay, phương án kinh
doanh cụ thể.

-

Hạn mức tín dụng ngắn hạn: Đây là hình thức cấp tín dụng trong đó doanh
nghiệp được quyền rút theo hạn mức tín dụng đã được cấp trong một khoảng thời
gian nhất định (tối đa không quá 12 tháng).


-

Thấu chi: Đây là hình thức cấp tín dụng trong đó Vietcombank cho phép doanh
nghiệp chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của mình.

-

Cho vay dự án mới:
 Vietcombank cung cấp nguồn vốn dài hạn cho các dự án đầu tư mới trong
tất cả các lĩnh vực kinh tế khác nhau.
 Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp nguồn vốn, Vietcombank có thể thẩm
định, tư vấn, giúp doanh nghiệp lập phương án tài chính cũng như dòng tiền
tương lai cho các dự án đầu tư trên nhiều lĩnh vực khác nhau như: các dự án
bất động sản, các dự án xây dựng nhà xưởng và mua sắm thiết bị, các dự án
mua sắm phương tiện vận tải, các dự án đặc biệt.
 Ngoài việc tự tài trợ, Vietcombank có thể thu xếp các khoản vay đồng tài
trợ. Đây là những khoản vay do nhiều ngân hàng cùng hợp vốn cho vay với
những điều kiện tín dụng tương tự nhau.

-

Cho vay dự án đã đầu tư: Cho vay dự án mở rộng, cải tạo, nâng cấp; cho vay tái
cấu trúc khoản vay.

-

Dịch vụ cho thuê tài chính: Ngoài những hình thức cho vay, tài trợ vốn thông
thường, doanh nghiệp còn có thể được hỗ trợ vốn thông qua dịch vụ cho thuê tài
chính. Dịch vụ này được cung cấp bởi công ty hoạt động chuyên nghiệp trong

lĩnh vực cho thuê tài chính: Công ty cho thuê tài chính Ngân hàng TMCP Ngoại
thương Việt Nam (VCBL).

17


2.2.2 Một số vấn đề mang tính kỹ thuật khác trong hoạt động tín dụng
a) Đối tượng cho vay
Chính sách cho vay của NH không hạn chế đối tượng. Khách hàng muốn vay vốn
Vietcombank chỉ cần đảm bảo các điều kiện:
-

Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân
sự theo quy định của pháp luật.

-

Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp, không thuộc những nhu cầu vốn
Vietcombank không cho vay, những trường hợp Vietcombank hạn chế cho vay sẽ
thực hiện theo quy định riêng.

-

Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ Vietcombank đủ và đúng thời hạn cam kết.

-

Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh dịch vụ khả thi, có hiệu quả
hoặc có dự án đầu tư, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy
định của pháp luật.


-

Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ, của
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và hướng dẫn của Vietcombank.

-

Có một mức vốn tự có nhất định theo quy định của Vietcombank tham gia vào dự
án đầu tư xin vay vốn.

b) Hạn mức cho vay
Ngân hàng không giới hạn mức cho vay mà giao quyền quyết định cho Giám
đốc các chi nhánh tự quyết định mức cho vay căn cứ vào nhu cầu vốn và khả năng
hoàn trả của khách hàng, khả năng vốn của Vietcombank và quy định của pháp luật.
c) Lãi suất cho vay
Vietcombank không áp dụng biện pháp quản lý lãi suất cho vay đối với chi
nhánh. Việc áp dụng các mức lãi suất cho vay đối với từng khoản cụ thể do chi nhánh
và khách hàng thỏa thuận.
d) Tài sản đảm bảo
Vietcombank chủ động cho vay có bảo đảm tài sản. Tài sản bảo đảm bao gồm:
bất động sản hoặc các tài sản có khả năng thanh khoản. Việc thế chấp cầm cố và thực
hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của Chính phủ, của NHNN Việt
Nam và hướng dẫn của Vietcombank.

18


2.2.3 Tình hình rủi ro tín dụng giai đoạn 2016 – 2018
VCB thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể theo quy định tại Điều

7 Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của NHNN, Thông tư
02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 và Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày18/3/2014
của NHNN.
Bảng 2. 3 Chỉ tiêu tín dụng giai đoạn 2016 - 2018 (tỷ VND)
Chỉ tiêu

2016

2017

2018

Doanh số huy động tiền gửi

9.561.306

12.653.763 14.772.709

Doanh số cho vay

1.216.539

1.458.668

1.623.756

Doanh số thu nợ

1.143.574


1.376.305

1.534.396

6.922

6.209

6.223

1,13%

0,66%

1,57%

Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dư nợ tín dụng

1,03%

1,97%

1,56%

Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ tín dụng

1,45%

1,11%


0,97%

Nợ xấu
Tỷ lệ nợ bảo lãnh quá hạn/ Tổng số dư
bảo lãnh

Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất năm trong 3 năm từ 2016 đến 2018
Có thể nhận thấy trong 3 năm gần đấy VCB đã có chính sách cho vay và kiểm
soát các khoản vay khá hiệu quả. Doanh số huy động tiền gửi tăng nhanh qua các năm,
năm 2018 tăng 16,7% so vớ năm 2017 và tăng hơn 50% so vớ 2016. Số tổng dư nợ
qua các năm khá ổn định, không biến động nhiều và hoàn toàn có thể kiểm soát. Các
khoản nợ có khả năng chuyển thành nợ xấu và có nguy cơ không thu hồi được vốn
cũng được kiểm soát tốt, cụ thể con số này giảm đáng kể qua từng năm, đặc biệt đến
năm 2017 chỉ còn 4.780 tỉ đồng. Năm 2017, số nợ xấu còn tồn đọng là 6.209 tỉ VNĐ,
giảm 10,31% so với nợ xấu năm 2016 và giảm 33,3% so với tổng nợ xấu năm 2015.
Số nợ xấu năm 2018 dao động quanh mốc năm 2017, tăng rất ít và có thể kiểm soát
được. Tỉ lệ nợ xấu cũng giảm mạnh từ 1,45% năm 2016 xuống còn 1,11% vào năm
2017 và 0,97% năm 2018, rất thấp so với qui định (3%). Nợ xấu lần đầu tiên về dưới
1%, mức thấp nhất trong 10 năm trở lại đây và về đích trước 2 năm so với đề án tái cơ
cấu Vietcombank. Việc đạt được cả 2 chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng và hạn chế nợ xấu
thể hiện rõ sự hiệu quả trong hoạt động tín dụng của VCB, vì thông thường khi gia

19


tăng tổng dư nợ thường để lại hậu quả là nợ xấu tăng nhanh gây ra rủi ro tín dụng cho
ngân hàng.
Bảng 2. 4 Khả năng thanh toán
Chỉ tiêu
Tỷ lệ dự trữ thanh toán


2016

2017

2018

30,5%

35,9%

24,1%

Tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày
VND

299,4%

155,6%

91,8%

USD và Ngoại tệ khác quy USD

79,1%

89,4%

104,0%


Tỷ lệ dự trữ thanh toán đang có xu hướng giảm, năm 2017 tăng lên 35,9% so vố
mức 30,5% năm 2016. Năm 2018, tỷ lệ này được giảm xuống khá thấp là 24,1% so với
mức năm 2017. Tỷ lệ khả năng chi trả trong 30 ngày bằng VND cũng giảm xuống, từ
299,45 năm 2016 còn 91,8% năm 2018. Nó đẫ cho thấy VCB đang quản lý tốt dòng
tiền của mình và quản lý tốt rủi ro nên mới có thể duy trì tỉ lệ dữ trữ thanh toán thấp
hơn các năm trước đây.
Bảng 2. 5 Chỉ tiêu an toàn
Chỉ tiêu an toàn

2016

2017

2018

76,71%

76,74%

77,68%

Tỷ lệ nợ xấu

1,46%

1,11%

0,97%

Hệ số an toàn vốn CAR


11,13%

11,63%

12,14%

Tỷ lệ dư nợ tín dụng
/huy động vốn

Hệ số an toàn vốn (CAR) là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa vốn
tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của ngân hàng thương mại, thước đo mức độ hoạt
động an toàn của các ngân hàng. Hệ số CAR đang có xu hướng tăng từ 11,13% năm
2016 lên 12,14% năm 2018. Đó là một dấu hiệu tích cực cho thấy ngân hàng đân quản
lý và kiểm soát RRTD một cách hiệu quả.

20


Bảng 2. 6 Trích lập dự phòng (tỷ VND)
2015
Năm

Số liệu

2016
Số liệu

2017
Tăng


Tăng

trưởng Số liệu

trưởng

%

%

Dự phòng chung

2.707

3.374 24,69

4.116 21,99

Dự phòng cụ thể

5903

4.712 -20,1

3.996 -15,2

8610
8.086 -6,08
8.112 0,32

Nguồn: Báo cáo tài chính hợp nhất từ năm 2015 đến 2017

Tổng dự phòng

Trong các năm gần đây, dự phòng chung liên tục tăng từ 2.707 tỉ VNĐ đến
4.116 tỉ VNĐ năm 2017. Trong khí đó dự phòng cụ thể liên tục giảm từ 5903 tỉ VNĐ
còn 3.996 tỉ VNĐ, giảm 15,2% vào năm 2017. Tổng dự phòng năm 2016 giảm 6,08%
so với năm 2015 và sau đó tăng nhẹ năm 2017 (tăng 0.32%).
Trong đó, dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loạinợ
để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng nhóm nợ. Dự phòng chung
là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác địnhđược trong
quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn
về tài chính của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ khi chất lượng các khoản nợ suy
giảm.
2.2.4 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
a) Nguyên nhân từ phía ngân hàng
-

Ngân hàng đưa ra những chính sách tín dụng chưa hiệu quả, thể lệ vay còn có
nhiều kẽ hở để khách hàng có thể lợi dụng chiếm đoạt vốn của ngân hàng: mục
tiêu của ngân hàng là mở rộng tín dụng, chỉ tiêu đặt ra là tổng dư nợ tín dụng
tăng 20-22%/năm. Để đạt được điều này, ngân hàng đã xem nhẹ những tiêu
chuẩn tín dụng, chấp nhận rủi ro cao hơn và cho vay đối với khoản vay không đủ
tiêu chuẩn an toàn

-

Do sự yếu kém của đội ngũ cán bộ trong ngân hàng: Nếu đội ngũ cán bộ yếu kém
và trình độ hay phẩm chất đạo đức, đều có thể ảnh hưởng đến quá trình thẩm
định và đánh giá khách hàng thiếu chính xác, thậm chí có thể thiếu tỉnh táo, dễ bị

cám dỗ gây ra thiệt hại cho ngân hàng
21


-

Ngân hàng chưa đa dạng hóa các danh mục đầu tư: Ngân hàng VCB mới chỉ phát
hành chứng chỉ quỹ mở VCBF cho Quỹ Đầu tư cân bằng chiến lược VCBF
(VCBF-TBF) và Quỹ Đầu tư cổ phiếu hàng đầu VCBF (VCBF –BCF). Nhiều
chuyên gia ngân hàng tin rằng đa dạng hoá là giải pháp phòng ngừa rủi ro tín
dụng hữu hiệu nhất.

-

Do sự cạnh tranh giữa ngân hàng ngày càng gay gắt: Kinh tế đang trên đà hội
nhập, áp lực cạnh tranh cao, ngân hàng quyết định đẩy mạnh chiến lược mở rộng
tín dụng bằng cách giảm lãi suất cho vay, giảm điều kiện cho vay,… phải chấp
nhận những khoản tín dụng chất lượng không tốt, xác suất rủi ro cao để giữ và
thu hút thêm nhiều khác hàng, làm tăng rủi ro tín dụng.

-

Do khối lượng tín dụng lớn, mỗi năm cán bộ tín dụng phải đảm nhiệm một lượng
cho vay lớn khoảng gần 100 tỷ đồng nên không thể tránh khỏi rủi ro nhất định.

b) Nguyên nhân từ phía khách hàng
-

Do khách hàng bị thua lỗ nên không có khả năng trả nợ: Khách hàng kém hiểu
biết về các vấn đề kinh tế, yếu kém về năng lực quản lý dẫn đến đầu tư không

hiệu quả, gây ra thất thoát trong nội bộ doanh nghiệp, dẫn tới đình trệ sản xuất và
không có khả năng trả nợ, gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng

-

Do sự yếu kém trong đạo đức của người đi vay, cố tình muốn chiếm dụng vốn
của ngân hàng: do muốn có lợi ích tối đa, nhiều doanh nghiệp mua chuộc hoặc
lập báo cáo tài chính sai, dẫn tới những đánh giá sai lệch về khả năng tài chính
của khách hàng, dẫn tới cho vay vốn với số lượng và thời lượng không hợp lý,
gây ra tổn thất cho ngân hàng.

c) Nguyên nhân khác
-

Môi trường tài chính chưa minh bạch, chất lượng thông tin chưa cao: việc thu
thập thông tin của doanh nghiệp về các hoạt động sản xuất, khả năng tài chính
của doanh nghiêp,tình hình kinh tế xã hội,... không phải lúc nào cũng chính xác
bởi thị trường tài chính trong nước chưa phát triển, thị trường chứng khoán mới
đi vào hoạt động, số lượng DN tham gia niêm yết trên thị trường chứng khoán
còn hạn chế nên chưa có ý thức trong minh bạch tài chính. Hơn nữa, số lượng
DN tham gia niêm yết chứng khoán còn thấp nên khó có thể sử dụng biện pháp
chứng khoán hóa để thu hồi nợ quá hạn của khách hàng.
22


-

Những biến động kinh tế không dự báo được: xuất hiện những biến động kinh tế
như lạm phát, giá tăng ở một số mặt hàng nào đó ảnh hưởng đến một nhóm
ngành thì rủi ro tín dụng với ngân hàng là rất lớn


-

Sự thay đổi trong các chính sách kinh tế, pháp luật. Sự thiếu nhất quán trong các
chính sách kinh tế pháp luật cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới ngân hàng cũng
như như các doanh nghiệp có sử dụng vốn vay ngân hàng: Vấn đề cho vay có bảo
đảm và không có bảo đảm đối với DN nhà nước và DN ngoài quốc doanh theo
luật các tổ chức tín dụng còn nhiều điểm bất cập, chưa phù hợp với thực tế. Hơn
nữa, luật đất đai sửa đổi gây khó khăn cho ngân hàng trong việc xem xét và đánh
giá giá trị của tài sản thế chấp này. Môi trường pháp lý không đầy đủ và thường
xuyên thay đổi có thể ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động quản lý rủi ro của Ngân
hàng.

2.3 Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
2.3.1 Thực trạng rủi ro tín dụng
Trong những năm qua, các ngân hàng nói chung và Vietcombank nói riêng đã
chú trọng nhiều hơn đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong kinh doanh và dần áp
dụng các chuẩn mực quản trị rủi ro theo Hiệp ước quốc tế Basel II vào hoạt động quản
trị rủi ro của mình. Cụ thể:
-

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu của Vietcombank luôn cao
hơn tỷ lệ yêu cầu của Basel II và NHNN, khẳng định năng lực tài chính của VCB
tương đối mạnh và ổn định trong thời gian qua.

-

Chỉ tiêu đo lường khả năng thanh toán: Vietcombank luôn kiểm soát tốt tình
trạng nợ quá hạn ở mức độ cho phép và vượt kế hoạch đặt ra. Đây là một trong
những điểm mạnh trong công tác quản trị rủi ro tín dụng của Vietcombank. Đồng

thời, tình hình nợ xấu của Vietcombank là ở mức thấp nhất so với các ngân hàng
thương mại khác.

-

Mức dự phòng rủi ro và tổn thất rủi ro: mỗi quý một lần, các chi nhánh của
Vietcombank thực hiện phân loại nợ và tính toán số tiền phải trích lập dự phòng
rủi ro. Đồng thời, trên cơ sở kết quả kinh doanh, tình hình phân loại nợ và tính
toán số tiền phải trích dự phòng rủi ro của các chi nhánh theo quy định này, Tổng

23


giám đốc xác định số dự phòng phải trích hàng quý để trích lập và phân bổ chi
phí trích lập dự phòng rủi ro cho từng chi nhánh.
-

Hoạt động thanh tra giám sát: Trình độ và năng lực làm việc của cán bộ kiểm
toán nội bộ không ngừng được nâng cao thông qua việc các ngân hàng đã chú
trọng tuyển chọn cán bộ có năng lực và có kinh nghiệm làm việc từ các bộ phận
trong ngân hàng về làm công tác kiểm tra nội bộ.

-

xếp hạng tín dụng khách hàng đối với khách hàng doanh nghiệp và cá thể theo
tiêu chí thông qua hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ do VCB ban hành. Áp dụng
quy trình đánh giá và cho điểm khách hàng trên toàn hệ thống, xếp khách hàng
vào 10 loại từ AAA đến CCC và D.
Mới đây, Vietcombank hoàn thành hệ thống cảnh báo sớm rủi ro tín dụng (Early


warning system - EWS). Đây là một hệ thống dựa trên các dấu hiệu rủi ro của khách
hàng, khoản vay của khách hàng như suy giảm tình hình kinh doanh, chỉ số tài chính,
dòng tiền trả nợ của khách hàng có dấu hiệu bất thường, biến động bất lợi của thị
trường, phát hiện các trường hợp có thể suy giảm chất lượng trong vòng 6 tháng tới, từ
đó giúp Vietcombank có những biện pháp hiệu quả quản lý chất lượng danh mục tín
dụng. Hệ thống được đưa vào triển khai và ứng dụng với những tính năng:
-

Hằng quý tự động cung cấp danh sách khách hàng tiềm ẩn rủi ro để đơn vị kinh
doanh, bộ phận rủi ro, kiểm tra, kiểm soát nội bộ phối hợp rà soát.

-

Hệ thống cài đặt sẵn một số một biện pháp ứng xử phù hợp, tương ứng với mức
độ rủi ro của khách hàng để các bộ phận kinh doanh chủ động lựa chọn và triển
khai kịp thời.

2.3.2 Hạn chế trong quản lý rủi ro tín dụng
-

Cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ liên quan đến công tác quản trị rủi ro tín
dụng, công tác thanh tra kiểm soát và công bố thông tin của Vietcombank chưa
thực sự hợp lý dẫn đến chồng chéo, không phân định rõ ràng trách nhiệm.

-

Các quy định về chính sách quản lý rủi ro tín dụng chưa đồng bộ hóa trong
Vietcombank.

-


Khả năng nắm bắt, tổ chức, phân tích và xử lý thông tin còn hạn chế. Công tác
kiểm soát RRTD chủ yếu ở khâu kiểm tra trước và trong khi cho vay.
24


-

Việc phân tán rủi ro tín dụng chưa triệt để, tín dụng vẫn còn tập trung vào một số
nhóm khách hàng, một vài ngành, nguy cơ tiềm ẩn rủi ro lớn.

25


CHƯƠNG 3. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT
NAM
3.1 Các giải pháp nhằm thực hiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng
TMCP Ngoại thương Việt Nam
3.1.1 Nâng cao công tác nhận diện rủi ro tín dụng
Vietcombank cần xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm liên quan đến dấu hiệu
của khách hàng và thị trường. Để nhận biết và ước lượng được tác động của những dấu
hiệu này, các CBTD cần phải có trình độ, nhạy bén và phải quan tâm theo dõi sát tình
hình hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng. Ngoài ra, CBTD cần thường
xuyên kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các khách hàng vay vốn thông qua các dấu
hiệu tài chính, phi tài chính hoặc thông qua các bạn hàng của khách hàng để biết được
người đi vay đang gặp khó khăn, vướng mắc ở đâu, từ đó đưa ra phương hướng giải
quyết giúp cho hoạt động SXKD của họ tiến triển theo chiều hướng tích cực. Vì vậy
mà ngân hàng có thể giảm thiểu RRTD đối với khoản cấp tín dụng cho khách hàng đó.
Ngân hàng cũng cần có công tác dự báo diễn biến kinh tế của từng ngành, lĩnh vực tác

động đến ngân hàng, khách hàng vay vốn, từ đó đưa ra chính sách cụ thể cho từng
ngành, từng lĩnh vực, cấp hạn mức cụ thể để chủ động phòng tránh rủi ro, tránh những
phản ứng quá chận gây ra sự lúng túng trong quản lý rủi ro của n gân hàng.
3.1.2 Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tín dụng
Các cán bộ ngân hàng phải thường xuyên thực hiện giám sát các hành vi của
người vay, mục đích sử dụng tiền vay, quá trình hoạy động kinh doanh, quá trình trả nợ
và quá trình giám sát các đảm báo tín dụng tránh người vay vi phạm các quy định đã
thỏa thuận trong hợp đồng. Việc phát hiện và xử lý kịp thời các khoản vay có vấn đề,
những khoản vay có khả năng không thu hồi được là biện pháp hữu hiệu góp phần hạn
chế rủi ro trong hoạt động tín dụng. Công tác giám sát nên được thực hiện cùng lúc cả
2 phòng quan hệ khác hàng và quản trị rủi ro , có thể được tiến hành dưới nhiều hình
thức:

26


-

Tùy vào đặc điểm của từng khoản vay, việc kiểm tra sử dụng vốn vay có thể thực
hiện ngay sau khi giải ngân hoặc định kỳ 1 tháng/lần, 1 quý/lần nhưng tối đa
không quá 6 tháng/lần.

-

Trường hợp phát hiện có dấu hiệu bất thường hoặc rủi ro, đề xuất kiểm tra đột xuất.

-

Kiểm tra thường xuyên tại cơ sở của khách hàng và theo dõi tình hình ngành sản
xuất của khách hàng.


-

Kiểm tra thông qua các thông tin thu thập được từ các nguồn khác nhau.

3.1.3 Thực hiện các biện pháp phân tán rủi ro
Để hạn chế tối thiểu các rủi ro có thể xảy ra, đồng thời đạt được mục tiêu đã
định trước, trong thời gia tới, VCB cần tích cực thực hiện các biện pháp nhằm phân tán
rủi ro. Phân tán rui ro là việc thực hiện nguyên tác kinh điển trong kinh doanh tài chính
“Không bỏ trứng vào cùng một giỏ”. Vì vậy, VCB nên chú trọng các biện pháp sau:
a) Đa dạng hóa các đối tượng đầu tư
Đa dạng hóa đói tượng đầu tư là biện pháp tốt nhất, chủ động nhất để ngân hàng
phân tán rủi ro. Ngân hàng nên chia nguồn tiền vào nhiều loại hình đầu tư, nhiều
ngành nghề khác nhau cũng như nhiều khác hàng ở các địa bàn khác nhau. Cách làm
này vừa mở rộng phạm vi hoạt động tín dụng của ngân hàng, vừa đạt được mục đích
phân tán rủi ro. Để thực hiện đa dạng hóa đối tượng đầu tư thì chiến lược kinh doanh
của VCB cần xây dựng theo hướng:
-

Đầu tư vào nhiều ngành kinh tế;

-

Đầu tư vào nhiều đối tượng sản xuất kinh doanh nhiều loại hàng hóa khác nhau,
tránh tập trung cho vay sản xuất một số loại sản phẩm.

-

Tránh cho vay quá nhiều đối với một đối tượng khách hàng, luôn đảm bảo một tỷ
lệ vay nhất định trong tổng số vốn hoạt động của khách hàng để tránh sự ỷ lại và

rủi ro bất ngờ cho khách hàng đó.

-

Cho vay với nhiều loại thời hạn khác nhau bảo đảm sự cân đối giữa số vốn cho
vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đảm bảo sự phát triển vững chắc và tránh rủi
ro tín dụng do sự thay đổi lãi suất trên thị trường;

-

Tạo lập một tỷ lệ thích hợp giữa cho vay bằng VNĐ và cho vay bằng ngoại tệ
đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng và tránh được rủi ro tín
dụng do sự thay đổi đột ngột tỷ giá hối đoái.
27


-

Đa dạng hóa rủi ro bằng cách liên kết đầu tư. Trong kinh doanh, có những doanh
nghiệp có nhu cầu lớn mà ngân hàng lại không thể đáp ứng hoặc khó xác định
mức độ rủi ro có thể xảy ra, vì thế ngân hàng cần liên kết đầu tư để cho vay đồng
tài trợ hay cho vay hợp vốn.

b) Bảo hiểm tín dụng
Bảo hiểm tín dụng là biện pháp quan trọng nhằm san sẻ rủi ro. Trong thời
gian tới, ngân hàng VCB nên thực hiện bảo hiểm tín dụng dưới hình thức sau:
-

Khuyến khích khách hàng vay vốn tín dụng tham gia mua bảo hiểm cho ngành
nghề mà họ kinh doanh, coi các khách hàng đã mua bảo hiểm được ưu tiên hơn

khách hàng không mua bảo hiểm;

-

Yêu cầu khách hàng mua bảo hiểm tài sản đảm bảo tiền vay, coi đó như điều
kiện để cho vay;

-

Ngân hàng nên trực tiếp mua bảo hiểm từ các tổ chức bảo hiểm chuyên nghiệp
và sẽ được bồi thường thiệt hại khi gặp rủi ro mất vốn tín dụng.

3.1.4 Xử lý nợ xấu, nợ quá hạn dứt điểm
Xử lý nợ xấu, nợ qúa hạn là yêu cầu cấp thiết của hệ thống ngân hàng trong thời
gian này nói chung và ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam nó riêng. Để xử lý nợ
xấu, nợ quá hạn có thể sử dụng một số biện pháp sau:
-

Tăng cường các biện pháp thu hồi nợ.

-

Cán bộ quan hệ khách hàng cần bám sát khách hàng, khi khách hàng có nguồn
thu cần yêu cầu khách hàng thanh toán ngay.
Đối với các khoản vay có TSĐB, ngân hàng cần nhanh chóng đẩy mạnh công

tác phát mại tài sản. Mặc dù giá bán của tài sản chưa thể bù đắp được tổn thất mà
khoản nợ gây ra, nhưng phương này giúp ngân hàng nhanh thu hồi vốn, tránh trường
hợp tài sản để lâu bị xuống cấp, hư hỏng.
Đối với khoản vay không có TSĐB, ngân hàng cần để nghị khách hàng thắt

chặt ngân quỹ, gợi ý khách hàng bán tài sản có giá trị hoặc thanh lý tài sản không sử
dụng để có thể trả nợ ngân hàng.

28


3.1.5 Nâng cao chất lượng chuyên môn của cán bộ tín dụng
Con người là yếu tố trung tâm, vừa là nền tảng để phát triển, đánh giá và hạn
chế kịp thời những rủi ro tín dụng nhưng đồng thời cũng là nguyên nhân gây ra tổn
thất tín dụng từ những rủi ro xuất phát từ yếu tố đạo đức, năng lực kém. Khả năng
kiểm soát, phòng ngừa các rủi ro rất hạn chế, vì vậy chỉ có thể nâng cao hiệu quả của
quản trị rủi ro tín dụng bằng cách sử dụng cong người là yếu tố tiên quyết trong việc
vận hành cơ chế quản trị rủi ro tín dụng một cách hiệu quả. Mô hình quản trị RRTD có
hoàn hảo, một quy trình cấp tín dụng có chặt chễ đến mấy nhưng những con người cụ
thể để vận hành mô hình đó bị hạn chế về năng lực hay không đáp ứng yêu cầu về đạo
đức thì sự thiệt hại, tổn thất tín dụng vẫn xảy ra, thậm chí là rất nặng nề. Do đó các giải
pháp về nhân sự giữ một vai trò cốt yếu trong xây dựng các biện pháp phòng ngừa
RRTD. Một số nội dung cho giải pháp này là:
-

Lựa chọn những cán bộ có năng lực, có trình độ chuyên môn và đạo đức tốt để bố
trí vào bộ phận tín dụng. Trong các công việc ngân hàng, tín dụng là nghề đòi hỏi
phải có năng lực về phân tích, đánh giá, tính chịu trách nhiệm rất cao và luôn có
cạm bẫy nên cần có bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp. Do đó cần tiêu chuẩn hóa
cán bộ hoạt động tín dụng theo các tiêu chí đạo đức, chuyên môn rõ ràng làm cơ
sở để chuẩn hóa và nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ làm việc trong môi
trường nhiều rủi ro. Đồng thời có kế hoạch tuyển dụng phù hợp, đáp ứng yêu cầu
về mở rộng mạng lưới, quy mô kinh doanh của ngân hàng trong tương lai.

-


Bố trí và phân công hợp lý cho cán bộ nhân viên, tránh tình trạng quá tải công
việc để đảm bảo chất lượng công việc và giúp cho cán bộ tín dụng có đủ thời
gian để nghiên cứu, thẩm định và kiểm tra giám sát các khoản vay một cách hiệu
quả.

-

Tăng cường công tác đào tạo, tái đào tạo, thực hiện đào tạo định kỳ và thường
xuyên để nâng cao trình độ kiến thức cũng như khả năng vận dụng những kinh
nghiệm, kĩ thuật mới trong thẩm định tín dụng, quản trị rủi ro, nâng cao chất
lượng tín dụng.

-

Xây dựng chế độ đánh giá, khen thưởng và kỷ luật dựa trên chất lượng tín dụng
và hiệu quả công việc mà cán bộ đó thực hiện.

29


3.2 Một số kiến nghị
3.2.1 Kiến nghị với chính phủ
-

Đảm bảo ổn định chính sách kinh tế vĩ mô, hoàn thiện hệ thống luật pháp quản lý
rủi ro tính dụng, thắt chặt quản lý, thanh kiểm tra, giám sát thường xuyên.

-


Cần đảm bảo an toàn hoạt động, củng cố vững chắc hệ thống quỹ tín dụng, Trong
đó, Chính phủ cần yêu cầu ngân hàng nhà nước Việt Nam tiếp tục hoàn thiện
khuôn khổ pháp lý, quy định về an toàn hoạt động, quản lý, điều hàng, quản trị
rủi ro và các quy định khác với hệ thống Quỹ tín dụng phù hợp với Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều luật về các TCTD.

-

Tạo sự thuận lợi cho sự tham gia của các tổ chức tài chính phi ngân hàng, thúc
đẩy đầu tư nước ngoài. Cần tạo hành lang pháp lý cho sự tham gia của các tổ
chức tài chính trung gian phi ngân hàng trên thị trường tài chính.

-

Cần đổi mới cơ chế quản lý hệ thống giảm rủi ro tín dụng theo hướng phân cấp,
theo quy mô tài sản, điều kiện quản trị rủi ro và năng lực cán bộ.

3.2.2 Kiến nghị với NHNN
-

Nâng cấp hạ tầng cơ sở ngân hàng, Hệ thống pháp lý và các chuẩn mực về kế
toán và kiểm toán phải được nâng cấp để thực hiện Basel II. Hệ thống kế toán
ngân hàng cũng cần phải được cải cách theo các chuẩn mực kế toán quốc tế, đặc
biệt là các vấn đề phân loại nợ theo chất lượng, mức độ rủi ro, trích lập dự phòng
rủi ro, hạch toán thu nhập, chi phí. Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước cần tạo
điều kiện cho các ngân hàng ứng dụng công nghệ quản lý ngân hàng hiện đại và
tạo rào chắn chống lại sự lạm dụng và gian lận.

-


Nâng cao thông tin tín dụng, vừa để cập nhật những thông tin chính xác, mới
nhất đến khách hàng vừa để giám sát tình hình tài chính của khách hàng một cách
sát sao nhất.

-

Nâng cao công tác thanh tra, kiểm định, giám sát ngân hàng: NHNN đóng vai trò
cực kì đặc biệt với sự ổn định cho toàn hệ thông ngân hàng, để đảm nhận được
vai trò này, trong thời gian tới cần nâng cao vai trò và kiểm soát hiệu quả hoạt
động của NHNN Việt Nam.

-

Điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả và các công cụ hỗ trợ khác để giúp các
ngân hàng TMCP đảm bảo khả năng thanh khoản và an toàn trong hoạt động của
30


mình. Điều hành tỷ giá linh hoạt theo cơ chế thị trường, khuyến khích xuất khẩu,
hạn chế nhập khẩu và có biện pháp can thiệp kịp thời để ổn định thị trường ngoại
hối. Theo dõi, phân tích, đánh giá và dự báo theo sát diễn biến kinh tế, tiền tệ
trong và ngoài nước, đặc biệt trong lĩnh vực tín dụng để đưa ra các giải pháp phù
hợp trong điều hành chính sách tiền tệ, nhằm đạt được mục tiêu tiền tệ, tín dụng
do Quốc hội và Chính phủ đề ra, đồng thời đảm bảo cho các Ngân hàng thương
mại hoat động đúng định hướng đề ra của Ngân hàng Nhà nước và hạn chế rủi ro.

31



×