Tải bản đầy đủ (.doc) (28 trang)

tiểu luận kinh tế lượng NGHIÊN cứu ẢNH HƯỞNG của NGUỒN NHÂN lực tới TĂNG TRƯỞNG KINH tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (330.65 KB, 28 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI
THƯƠNG KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ

TIỂU LUẬN KINH TẾ LƯỢNG
ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA
NGUỒN NHÂN LỰC TỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Giáo viên hướng dẫn: TS. Chu Thị Mai Phương

Hà Nội, tháng 3 năm 2020


DANH SÁCH THÀNH VIÊN
STT

Họ và tên

MSV

1

Uông Hải Minh

1811110410

2

Trần Thị Hương

1811150268


3

Nguyễn Thị Linh

1811110350

4

Nguyễn Thị Thùy Linh

1811110352

5

Đoàn Hải Ly

1711110433

6

Hồ Thị Thư

1711110671

DANH MỤC HÌNH
Hình 1. Mô hình nghiên cứu................................................................................... 11

DANH MỤC BẢNG
Table 1. Kết quả kiểm định tính dừng của các chuỗi số liệu...................................17
Table 2. Kết quả xác định độ trễ tối ưu................................................................... 18


1


MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU........................................................................................... 3
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN....................................................................4
1.1. Tổng quan nghiên cứu.................................................................................. 4
1.2. Cơ sở lý thuyết............................................................................................... 4
1.2.1. Một số vấn đề về nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế......................... 4
1.2.1.1 Tăng trưởng kinh tế............................................................................. 4
1.2.1.2. Nguồn nhân lực.................................................................................. 5
1.2.2. Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh
tế......................................................................................................................... 5
1.3. Các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước........................................... 8
1.4. Giả thuyết nghiên cứu................................................................................. 10

CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG MÔ HÌNH........................................................ 11
2.1. Mô hình nghiên cứu.................................................................................... 11
2.2 Các biến nghiên cứu..................................................................................... 11
2.3. Phương pháp nghiên cứu............................................................................ 12

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU....................................................13
3.1. Kết quả kiểm định tính dừng (Dickey-Fuller for unit root).....................13
3.1.1. Kết quả kiểm định tính dừng yếu tố tăng trưởng GDP (GGDP).............13
3.1.2. Kết quả kiểm định tính dừng yếu tố tăng trưởng lao động (GLO)..........13
3.1.3. Kết quả kiểm định tính dừng yếu tố tuổi thọ (LIFE)...............................15
3.1.4. Kết quả kiểm định tính dừng yếu tố tỷ lệ thất nghiệp (UNEM)..............16
3.2. Xác độ trễ tối ưu.......................................................................................... 17
3.3. Phân tích hồi quy........................................................................................ 18

3.4. Thảo luận kết quả....................................................................................... 19
3.5. Kết luận và đề xuất chính sách.................................................................. 19

PHỤ LỤC.......................................................................................................22
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................27

2


LỜI GIỚI THIỆU
Nguồn nhân lực là nguồn gốc của mọi sự phát triển trong xã hội, ngay cả các
dịch vụ hàng ngày đang cung cấp cho chúng ta như giáo dục, y tế cũng đều thực
hiện bởi nguồn nhân lực là con người, và mục đích của các dịch vụ đó cũng chính là
cách quan trọng của việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội để phục vụ
cho một mục tiêu chung là phát triển kinh tế xã hội. Sự quay vòng đó đem tới một
nỗ lực không ngừng trong việc phát triển nguồn nhân lực để phát triển đất nước.
Nghiên cứu về tác động của nguồn nhân lực lên tăng trưởng kinh tế tại
NIGERIA của Asola và Anali dựa trên các yếu tố về sức khỏe và giáo dục: Số người
lớn biết chứ, tuổi thọ bình quân, nguồn vốn đầu tư, tăng trưởng người lao động và
biến phụ thuộc là tỷ lệ tăng trưởng kinh tế GDP giai đoạn 1982 đến 2005 đã chỉ ra
chỉ có yếu tố số người lớn biết chữ có tác động tới tăng trưởng kinh tế ở mức ý
nghĩa 5%. Tác động của số người biết chữ mang dấu + cho thấy việc càng nhiều
người biết chữ sẽ làm cho tăng sự phát triển kinh tế. Trong khi đó ở mức ý nghĩa
10% có thêm yếu tố tuổi thọ trung bình và nguồn vốn đầu tư có tác động tới tăng
trưởng kinh tế. Điều này cho thấy tuổi thọ và nguồn vốn đầu tư có tác động yếu hơn
so với tác động của số người lớn biết chứ. (Asola & Anali, 2005)
Nghiên cứu của Hanushek (2013) đã chỉ ra các nhân tố số người lớn biết chữ
và tuổi thọ bình quân đều có tác động lên thu nhập bình quân của các nước châu mỹ
la tinh, châu phi, nam á và trung đông ở mức ý nghĩa 5%.
Hanushek and Woessmann (2012a) đã nghiên cứu với kĩ năng nhận thức và

số năm đi học để đánh giá nguồn lực con người lên tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho
thấy chỉ có yếu tố số năm đi học trung bình có tác động lên tăng trưởng kinh tế.
Qua các nghiên cứu trước đây có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn
nhân lực mà ở đây là hai yếu tố chính là giáo dục và sức khỏe có vai trò vô cùng
quan trọng, hay nói cách khác là không thể thiếu trong sự tăng trưởng kinh tế. Vì
vậy, để làm rõ áp dụng cho Việt Nam, tác giả tiến hành thực hiện nghiên cứu
“Nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế Việt Nam”

3


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Tổng quan nghiên cứu
Ngày nay khi vai trò của nguồn nhân lực đang ngày càng được thừa nhận
như một yếu tố quan trọng bên cạnh vốn và công nghệ cho mọi sự tăng trưởng thì
một trong nhưng yêu cầu để hòa nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giớ là
phải có được nguồn nhân lực có đủ sức đáp ứng nhưng yêu cầu của trình độ phát
triển của khu vực, thế giới, thời đại
Nguồn nhân lực là của toàn bộ nhưng người lao động đang có khả năng tham
gia vào các quá trình hoạt động và các thế hệ nối tiếp sẽ phục vụ cho xã hội.
Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội là
khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư
lao động trong độ tuổi lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với
nguồn lao động.
Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tập hợp cá nhân nhưng con người cụ thể
tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được
huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này người lao động bao gồm nhưng
người từ dưới giới hạn độ tuổi lao động trở lên.
Nguồn lực con người là tổng thể các tiềm năng, năng lực, khả năng của mỗi
cá nhân, của mỗi cộng đồng và toàn xã hội đã tạo ra sự phát triển cho xã hội được

thể hiện qua các yếu tố như giáo dục, chuyên môn, kĩ năng lao động, mức sống, sức
khỏe, tư tưởng tình cảm. Trong các yếu tố đó thì 2 nhân tố quan trọng và bao quát
nhất là giáo dục và sức khỏe.
1.2. Cơ sở lý thuyết
1.2.1. Một số vấn đề về nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế
1.2.1.1 Tăng trưởng kinh tế
Trong kinh tế học, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hay mở rộng quy của
mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế một quốc gia. Ở đây, cần phân biệt khái
niệm tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế. Tăng trưởng kinh tế xét đến sự gia
tăng quy mô, tập trung vào sự thay đổi của lượng. Còn phát triển kinh tế là một khái
niệm rộng bao gồm cả khái niệm tăng trưởng . Phát triển kinh tế xét đến sự thay đổi
trong nền kinh tế cả về chất và về lượng.
Để đo lường tăng trưởng, các nhà kinh tế học sử dụng 2 cách tính cơ bản sau đây:
• Tăng trưởng được tính bằng phần trăm thay đổi của GDP thực tế g = GDP
thực tế năm sau - GDP thực tế năm trước / GDP thực tế năm trước ×100%

4


Tăng trưởng kinh tế được tính bằng phần trăm thay đổi của GDP thực tế bình
quân đầu người: g = GDP thực tế bình quân đầu người năm sau - GDP thực
tế bình quân đầu người năm trước / GDP thực tế bình quân đầu người năm
trước×100%
Có 4 nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế: vốn con người, nguồn tài
nguyên thiên nhiên, tích lũy tư bản và tri thức công nghệ, trong đó vốn con người
được coi là yếu tố quan trọng nhất quyết định sự tăng trưởng kinh tế. Các yếu tố
khác như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, công nghệ sản xuất chỉ phát huy tối đa
hiệu quả của mình nếu có một đội ngũ lao động có sức khỏe, trình độ chuyên môn
và tính kỉ luật tốt.



1.2.1.2. Nguồn nhân lực
Vốn con người (Human capital) được xác định là tài sản của mỗi quốc gia và
là nguồn lực quyết định tới tính bền vững sự tăng trưởng kinh tế. Vốn con người là
vốn vô hình gắn với con người và thể hiện qua kết quả và hiệu quả làm việc trong
quá trình sản xuất. Nguồn nhân lực là của toàn bộ những người lao động đang có
khả năng tham gia vào các quá trình hoạt động và các thế hệ nối tiếp sẽ phục vụ cho
xã hội. Nguồn nhân lực với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế - xã hội,
là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân
cư lao động trong độ tuổi lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương
với nguồn lao động. Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tập hợp cá nhân, những con
người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và
tinh thần được huy động vào quá trình lao động. Với cách hiểu này người lao động
bao gồm những người từ dưới giới hạn độ tuổi lao động trở lên.
Người lao động được xem xét trên giác độ số lượng và chất lượng. Số lượng
nguồn nhân lực được biểu hiện qua chỉ tiêu quy mô và tốc độ nguồn tăng nguồn
nhân lực. Khi tham gia vào các quá trình phát triển kinh tế - xã hội, con người đóng
vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối quá trình đó, hướng nó tới mục tiêu
nhất định. Vì vậy nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là số lượng, lao động đã có
và sẽ có mà nó còn bao gồm một tổng thể các yếu tố thể lực, trí lực, kỹ năng làm
việc, thái độ và phong cách làm việc… Trong phạm vi nhỏ của bài tiểu luận này,
nhóm nghiên cứu chúng em đi sâu vào yếu tố sức khỏe trong nhóm các yếu tố chất
lượng của nguồn nhân lực.
1.2.2. Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh
tế Mối quan hệ giữa nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế là một vấn đề nhận được
nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu kinh tế, nhà hoạch định chính sách
trong nhiều thập kỷ qua. Liên quan đến vấn đề này, các nghiên cứu khác nhau đã
cho ra nhiều nhận định khác nhau, và nổi bật lên là lý thuyết vốn nhân lực của T.W.
Schultz và mô hình tài khoản chuyển giao quốc dân (National Transfer Account NTA).
5



 Lý thuyết vốn nhân lực của T.W. Schultz
Trong những năm 1950, ít nhà kinh tế nào nghi ngờ về việc vốn vật chất là
yếu tố giới hạn trong tăng trưởng GDP / đầu người. Nhưng sau khi quan sát kết quả
từ các dự án vốn ở các quốc gia có mức phát triển khác nhau, Theodore Schultz
(1961) đã kết luận rằng: 1) Những quốc gia không có nhiều vốn nhân lực không thể
quản lý vốn vật chất một cách hiệu quả, 2) Nền kinh tế không thể tăng trưởng trừ
khi vốn nhân lực và vốn vật chất của một quốc gia cùng nhau phát triển và 3) Vốn
nhân lực là nhân tố có khả năng hạn chế tăng trưởng kinh tế nhất do các nhà đầu tư
tư nhân chỉ quan tâm đến đầu tư vào vốn vật chất.
Có thể xem ba kết luận trên của Schultz là các yếu tố hoàn chỉnh của lý
thuyết vốn nhân lực trong tăng trưởng kinh tế. Schultz đã không phát triển hoàn
thiện lý thuyết của mình bằng cách xây dựng mô hình toán học cụ thể cho lý thuyết,
nhưng đã đưa ra hàm ý cho mô hình.
 Yếu tố đầu tiên hàm ý rằng năng suất vốn biên (MPK) là một hàm tích cực
của vốn nhân lực. Nếu mức vốn nhân lực và vốn vật chất đều thấp, MPK sẽ
thấp vì vốn vật chất không được quản lý tốt.
 Yếu tố thứ hai hàm ý rằng MPK chịu lợi nhuận giảm dần, vì vậy trừ khi mức
vốn nhân lực tăng, vốn vật chất tăng sẽ làm MPK giảm xuống dưới mức lợi
nhuận của thị trường, điều này sẽ ngăn cản đầu tư thêm vào vốn vật chất.
 Yếu tố thứ ba hàm ý rằng đầu tư vào vốn vật chất là thị trường nhưng đầu tư
vào vốn nhân lực được quyết định chủ yếu bởi các yếu tố phi thị trường. Do
sự bổ sung của hai loại vốn nên trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố phi
thị trường mang tính quyết định liệu vốn nhân lực, vốn vật chất và sản lượng
kinh tế có tăng hay không.
Mô hình tài khoản chuyển giao quốc dân (National Transfer Accounts NTA)
Cơ sở của phương pháp NTA dựa trên lý thuyết vòng đời về tiết kiệm và đầu
tư với lập luận cho rằng hành vi kinh tế của con người thay đổi theo độ tuổi trong cuộc
đời. Bất kỳ nền kinh tế nào cũng có sự biến đổi vòng đời trong tiêu dùng và sản xuất,

và mỗi con người cũng có hành vi kinh tế khác nhau ở các độ tuổi khác nhau. Căn cứ
vào khả năng lao động tạo thu nhập hay phải phụ thuộc về kinh tế thì cuộc đời của mỗi
người sẽ có thể chia thành giai đoạn: phụ thuộc về kinh tế khi còn trẻ, tạo thu nhập khi
ở độ tuổi lao động và rồi lại phụ thuộc về kinh tế khi ở tuổi già. Khi một người có thu
nhập từ lao động lớn hơn chi tiêu, người đó đang có “thặng dư” (hay tích luỹ). Ngược
lại, khi thu nhập từ lao động nhỏ hơn chi tiêu, người đó đang có “thâm hụt” (hay không
có tích luỹ). Việc mỗi người có “thặng dư” hay “thâm hụt” tùy thuộc trước hết vào độ
tuổi. Thông thường, người ngoài độ tuổi lao động (như trẻ em hoặc người cao tuổi) sẽ
có “thâm hụt” vì họ có thể tiêu dùng nhiều hơn thu nhập


6


tạo ra; ngược lại, những người trong độ tuổi lao động thường có “thặng dư” vì họ có
thể tạo ra thu nhập cao hơn mức họ tiêu dùng.
Chính vì lý do này mà biến đổi cơ cấu tuổi dân số sẽ tác động đến sự khác
biệt giữa thu nhập và tiêu dùng. Sự khác biệt tạo ra “Lợi tức nhân khẩu học” (hay
còn được gọi cách khác là “Lợi tức dân số”). “Lợi tức dân số” xuất hiện khi dân số
trong tuổi lao động tăng lên làm tăng tỷ lệ dân số ở độ tuổi tạo ra thu nhập. Tuy
nhiên, giai đoạn này cuối cùng sẽ chấm dứt do quá trình chuyển đổi nhân khẩu tiếp
diễn, tốc độ tăng của dân số trong độ tuổi làm việc sẽ trở nên chậm hơn so với tốc
độ tăng dân số, dẫn đến sự giảm xuống của tăng trưởng thu nhập bình quân đầu
người và ảnh hưởng tới mức chi tiêu bình quân đầu người.
Dựa theo Mason và Lee (2007) có thể ước lượng lợi tức dân số theo năm (t)
như sau:
Y(t)N(t)=W(t)N(t)Y(t)W(t) (1)
Trong đó, Y là thu nhập quốc dân, N là tổng dân số, W là dân số trong độ tuổi lao
động.
Công thức này cho thấy thu nhập bình quân đầu người phụ thuộc vào năng suất

lao động của dân số trong độ tuổi lao động (Y/W) và tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động
trong tổng dân số (W/N). W/N còn được gọi là tỷ số hỗ trợ kinh tế (Economic Support
Ratio - SR), cho biết bao nhiêu người trong độ tuổi lao động “gánh” toàn bộ dân số.
Giả sử toàn bộ dân số trong độ tuổi lao động đều có việc làm. Khi cơ cấu tuổi dân số
thay đổi, tỷ số hỗ trợ (SR) sẽ thay đổi theo. Đặc biệt trong giai đoạn “cơ cấu dân số
vàng”, tỷ số này sẽ tăng lên nhanh chóng. Từ công thức (1), tốc độ tăng thu nhập bình
quân đầu người (Y/N) có thể được ước lượng như sau:
g( Y(t)N(t)) = g(SR) + g (l)(2)
Trong đó, SR (support ratio) là tỷ số hỗ trợ; l (productivity) là năng suất lao động
của dân số.
Theo Mason (2004) và dựa trên phương pháp NTA, tỷ số hỗ trợ tính theo
tuổi a vào năm t được ước lượng như sau:
C(t) = aP(a,t)ca; L(t) = aPa(t)la (3)
(Tính tổng theo tuổi a)
Trong đó l(a) là năng suất lao động trung bình của một người tại tuổi a; c(a) là mức
tiêu dùng trung bình của một người tại tuổi a; P(a,t) là tổng dân số trong độ tuổi a
tại thời điểm t. Biểu thức L(t) cho biết tổng thu nhập thực tế (effective producers),
trong khi biểu thức C(t) cho biết tổng tiêu dùng thực tế (effective consumers).
Những nhóm tuổi có năng suất thấp và tiêu dùng cao là những nhóm tuổi sử
dụng nhiều nguồn lực của xã hội hơn những gì họ sản xuất ra. Nếu dân số ở nhóm tuổi
này tăng nhanh thì sẽ hạn chế tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, nếu dân số tăng nhanh ở
nhóm tuổi mà họ làm ra nhiều hơn những gì họ tiêu dùng thì sẽ thúc đẩy tăng
7


trưởng kinh tế. Vì vậy, việc phân tích trình bày ở đây sử dụng tỷ số hỗ trợ để xác
định giai đoạn xuất hiện “lợi tức nhân khẩu học”
Nghiên cứu thực nghiệm ở các nước trên thế giới cho thấy, ở thời kỳ “cơ
cấu dân số vàng”, các quốc gia đã thu được “lợi tức dân số” từ khoản thu nhập gia
tăng được tạo bởi lực lượng lao động hùng hậu. Tuy nhiên, không phải tất cả dân số

trong tuổi lao động đều có tích lũy để đóng góp cho tăng trưởng kinh tế mà dân số ở
nhóm tuổi có thể tạo được thu nhập lớn hơn tiêu dùng, có tích lũy là một nguồn lực
quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
1.3. Các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước
Bài tiểu luận nghiên cứu mối quan hệ giữa các biến: nhóm biến thuộc nguồn
nhân lực - nguồn nhân lực trong khuôn khổ nghiên cứu này được thể hiện qua các
yếu tố sức khỏe, tỷ lệ tăng trưởng số người lao động cũng như tỷ lệ thất nghiệp và
biến tăng trưởng kinh tế. Vì thế chúng em đề cập đến những nghiên cứu trong và
ngoài nước có liên quan được chia thành các nhóm:
 Các nghiên cứu cho tác động tích cực từ nguồn nhân lực lên tăng trưởng
kinh tế
Sushil K. Haldar và Girijasankar Mallik, ‘Does Human Capital Cause
Economic Growth? A Case of India’, International Journal of Economic Sciences
and Applied Rese-arch’, Vol. 3, No. 1, 2010, s. 7-25. Trong nghiên cứu này, Haldar
và Mal-like điều tra hành vi đầu tư vào vốn vật chất, vốn nhân lực và sản lượng. Kết
quả cho thấy đầu tư vốn vật chất không có tác dụng dài hạn hay ngắn hạn nhưng
đầu tư vốn nhân lực có tác dụng dài hạn đáng kể đối với GNP bình quân đầu người.
Sandip Sarker, Arifuzzaman Khan, Rezwan Mahmood, Working Age Population
& Economic Growth in Bangladesh: A Time-Series Approach, January 2016. Nghiên
cứu này xem xét mối quan hệ giữa cấu trúc tuổi và tăng trưởng kinh tế
ở Bangladesh thông qua đồng liên kết và mô hình VECM trong giai đoạn 1990 đến
2014. Kết quả chỉ ra rằng có một quan hệ nhân quả dài hạn từ tổng sản phẩm quốc
nội (PPP) đến tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (% tổng dân số trong độ tuổi 15-64)
và dân số trong độ tuổi 15-64 (% tổng số). Tương tự trong ngắn hạn, một mối quan
hệ nhân quả cũng đã được tìm thấy giữa các biến. Kết quả cho biết tỷ lệ tham gia
lực lượng lao động (% tổng dân số trong độ tuổi 15-64) cũng như dân số trong độ
tuổi 15-64 (% tổng số) có thể giải thích các biến chính. Ý nghĩa của những phát
hiện là ở Bangladesh sự tăng trưởng của danh mục đầu tư trong độ tuổi lao động có
thể sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Viện Chiến lược phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KHĐT) Việt Nam, Tác

động của biến đổi cơ cấu tuổi dân số đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam và các đề
xuất chính sách, 2016. Nghiên cứu sử dụng phương pháp Tài khoản chuyển giao
quốc dân và có được những phát hiện chính:
8


- Dân số trong độ tuổi 23-53 có thu nhập cao hơn tiêu dùng, do đó họ tạo ra
các khoản tiết kiệm có thể được tái đầu tư vào nền kinh tế để kích thích tăng trưởng
kinh tế.
- Nếu đóng góp của lao động trong tổng giá trị gia tăng (tổng thu nhập lao
động) tăng 1,28% mỗi năm trong giai đoạn 2016-2049, thì thời kì ""cổ tức dân số""
(Population Dividend) kéo dài đến năm 2042.
- Ước tính dựa trên dữ liệu của tỉnh cho thấy rằng nếu dân số trong độ tuổi
lao động tăng 1%, tốc độ tăng trưởng GDP sẽ tăng 0,5%.
- Nếu năng suất lao động không tăng, thay đổi cơ cấu tuổi theo hướng già đi
sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người, đặc biệt là từ năm 2017
trở đi."
 Nghiên cứu cho tác động tiêu cực từ nguồn nhân lực tới tăng trưởng kinh tế
PGS TS. Nguyễn Ngọc Hùng, Tác động của nguồn nhân lực tới tăng trưởng
kinh tế tại Việt Nam, 2011. Nghiên cứu các yếu tố nguồn nhân lực tác động lên sự
tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2013, tác giả kết luận: Tỷ lệ
người lao động có tác động ngược chiều lên tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Điều này
cho thấy việc tăng trưởng lao động cũng như dân số đang là một sức ép lên nền
kinh tế. Tuổi thọ có tác động tức thời lên tăng trưởng kinh tế. Điều này cho thấy,
việc nâng cao tuổi thọ sẽ trực tiếp tác động ngay lên tăng trưởng kinh tế, tuy nhiên
tuổi thọ có tác động ngược chiều lên tăng trưởng GDP cho thấy nếu việc phát triển
kinh tế không tương xứng với lượng lao động thì tuổi thọ nâng cao cũng sẽ là một
sức ép lên nền kinh tế khi mà tỷ lệ người phụ thuộc cũng từ đó mà tăng cao.
 Nghiên cứu cho tác động tích cực từ tăng trưởng kinh tế tới nguồn nhân lực
Maria J. Freire Seren, ‘Human Capital Accumulation and Economic

Growth’, Investigaciones Economicas, Vol. 25, No. 3, 2001, s. 585-602 phân tích
mối liên hệ thực nghiệm giữa vốn nhân lực và tăng trưởng kinh tế giữa các quốc
gia. Ước tính này kết luận rằng mức độ thu nhập có ảnh hưởng tích cực và đáng kể
đến quá trình tích lũy vốn con người.
 Các nghiên cứu cho tác động hai chiều
Bedia Aka and Jean C. Dumont, ‘Health Education and Economic Growth:
Testing for Long Run Relationships and Causal Links’, Applied Econometrics and
International De-velopment, Vol. 8, No. 2, 2008, s. 101-113. Aka và Dumont kiểm
tra mối quan hệ nhân quả giữa vốn con người (giáo dục và y tế) và tăng trưởng kinh
tế cho Hoa Kỳ trong giai đoạn 1929-1996. Kết quả cho thấy mối quan hệ hai chiều
giữa các biến vốn nhân lực và tăng trưởng kinh tế.
 Các nghiên cứu cho tác động không rõ ràng
Jesús Crespo Cuaresma, Wolfgang Lutz and Warren Sanderson, Age
Structure, Education and Economic Growth, 2015. Trong bài báo này, tác giả trước
9


tiên trình bày động lực để giải quyết rõ ràng những thay đổi trong giáo dục ngoài
cấu trúc tuổi và sau đó đánh giá lại bằng chứng thực nghiệm về mối liên hệ giữa
tăng trưởng kinh tế, thay đổi cơ cấu tuổi, tham gia lực lượng lao động và dữ liệu
mới về trình độ học vấn. Sử dụng dữ liệu của nhiều quốc gia, tác giả thấy rằng một
khi tác động của động lực vốn nhân lực được kiểm soát thì không có bằng chứng
nào cho thấy sự thay đổi trong cấu trúc tuổi tác ảnh hưởng đến năng suất lao động.
1.4. Giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý thuyết và tham khảo những nghiên cứu trong và ngoài nước
được đề cập ở trên, chúng em đưa ra giả thuyết cho từng yếu tố của nguồn nhân lực.
Về yếu tố sức khỏe, nhóm cho rằng chất lượng nguồn nhân lực (trong đó có
yếu tố sức khỏe đóng vai trò quan trọng, thể hiện một phần lớn qua tuổi thọ của dân
số) được nâng cao sẽ tăng cường khả năng sinh lợi của máy móc thiết bị; đến lượt
nó, hàm lượng vốn vật chất tăng sẽ làm tăng hiệu quả đầu tư vào y tế và giáo dục.

Vì vậy, biến tuổi thọ sẽ có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế.
Về tỷ lệ người trong độ tuổi lao động, lực lượng lao động đông đảo và đáp ứng
đủ nhu cầu của nên kinh tế là một vấn đề vĩ mô quan trọng. Thiếu hụt lao động trầm
trọng là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự tụt dốc của những nền kinh tế lớn lâu đời.
Tuy nhiên, với thực trạng phát triển kinh tế tại Việt Nam và tình hình dân số vàng,
nhóm nghiên cứu chúng em cho rằng, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao đang là
một sức ép tới tăng trưởng kinh tế và vì thế, sẽ cho tác động ngược chiều.
Tỷ lệ thất nghiệp phản ánh lực lượng không muốn tham gia hoặc không đủ
trình độ cho nền kinh tế. Vì vậy, tỷ lệ thất nghiệp sẽ có ảnh hưởng tiêu cực tới tốc
độ tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, nhóm nghiên cứu chúng em cho rằng tỷ lệ người trong độ tuổi lao
động và tỷ lệ thất nghiệp có tác động ngược chiều lên tăng trưởng kinh tế, trong khi
yếu tố tuổi thọ có tác động cùng chiều.

10


CHƯƠNG 2. XÂY DỰNG MÔ HÌNH
2.1. Mô hình nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này, tác giả sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian nên có thể
đánh giá sự biến động có tác động tức thời cũng như biến động ở các giai đoạn trễ
(Nguyễn Văn Duy và cộng sự, 2015). Nhằm giải quyết được mục tiêu nghiên cứu,
tác giả tham khảo các nghiên cứu tiên nghiệm và đưa ra mô hình với các biến
nghiên cứu như sau:
Mô hình nghiên cứu của tác giả được mô phỏng như sau:
Tỉ lệ thất
nghiệp

Tuổi thọ


Tăng trưởng
lao động

Tăng trưởng
GDP
Hình 1. Mô hình nghiên cứu
Mô hình hồi quy tuyến tính có dạng như sau:
GGDP = β0+ β1*GLO + β2*LIFE+ β3*UNEM
Biến phụ thuộc: GDP: Tăng trưởng kinh tế
Biến độc lập:
GLO: Tỷ lệ người trọng độ tuổi lao động
LIFE: tuổi thọ trung bình
UNEM: Tỷ lệ thất nghiệp
2.2 Các biến nghiên cứu
Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu trên cơ sở dữ liệu của world bank với các
chỉ tiêu trong giai đoạn từ 1990 tới 2015.
Tăng trưởng GDP: Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng
kinh tế. Nó bao gồm tăng trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền
kinh tế (như phúc lợi xã hội, tuổi thọ) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ
trọng của khu vực sơ khai, tăng tỷ trọng của khu vực chế tạo và dịch vụ).
Tỷ lệ thất nghiệp: Tỷ lệ thất nghiệp thể hiện về đóng góp về nhân lực lao
động vào nền kinh tế. Số lượng tỷ lệ thất nghiệp càng giảm làm cho nền kinh tế tăng
trưởng tốt do nguồn nhân lực được sử dụng nhiều hơn và ngược lại.
Tuổi thọ trung bình: Tuổi thọ trung bình là nhân tố đánh giá về sức khỏe của
11


con người, con người có tuổi thọ trung bình tăng cho thấy sự đầu tư về mặt y tế, sức
khỏe được tăng cường. Người dân giành nhiều thời gian hơn trong việc rèn luyện
sức khỏe để phục vụ công việc, hệ thống y tế được hoàn thiện và đáp ứng nhu cầu

khám chữa bệnh của người dân. Với sự tự rèn luyện và hệ thống y tế tốt sẽ làm cho
nền kinh tế phát triên hơn do năng suất lao động tăng lên khi công việc được đảm
bảo về sức khỏe.
Tăng trưởng số lao động: Lực lượng lao động thành thành tố để thực hiện
các công việc xây dựng và phát triển đất nước trong thời kì đổi mới. Với lực lượng
lao động tăng cao sẽ là nguồn lao động tốt cho các công việc phát triển đất nước.
Tuy nhiên, với tốc độ tăng lao động lớn khi cung về nhân lực chưa đáp ứng đủ sẽ
tạo ra gánh nặng về mặt nhân sự, tỉ lệ thất nghiệp có thể từ đó mà tăng lên. Do vậy,
với mức độ tăng trưởng số lao động hợp lý sẽ làm cho nền kinh tế phát triển tốt và
không phải chịu thêm các áp lực về giải quyết việc làm cho người lao động.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Kế thừa các phương pháp nghiên cứu đã được sử dụng trong các nghiên cứu
trước, trong bài nghiên cứu, số liệu được phân tích bằng phương pháp phân phối trễ
tự hồi quy ARDL (AutoRegressive Distributed Lag model) và sử dụng phần mềm
STATA để xử lý số liệu và các bước hồi quy.
Qua thực tế nghiên cứu, mô hình ARDL đã được chứng minh là đặc biệt hữu
ích để mô tả hành vi của chuỗi thời gian kinh tế, tài chính và dự báo (Aydin, 2000).
Dựa trên tính năng này, việc sử dụng mô hình ARDL để nghiên cứu tác động của
các biến độc lập đến biến phụ thuộc là phù hợp (Hashem M. P., Yongcheol S., 1997;
Chen, 2007; Pasaran & Shin, 1997).
Mô hình ARDL đơn giản
Yt= m +α1Yt−1+α2Yt−2 +…+αnYt−n + β0Xt+β1Xt−1+…+ βnXt−n + ecmt-1 + ut
Các biến nghiên cứu khi chạy hồi quy ARDL cần đảm bảo tính dừng. Chuỗi
thời gian có tính dừng là chuỗi có trung bình, phương sai, hiệp phương sai không
đổi tại mọi thời điểm (Gurajati, 2003). Để kiểm định tính dừng của chuỗi thời gian,
Tác giả sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị (Unit Root Test) dựa trên phương pháp
DF mở rộng (Gurajati, 2003).
Độ trễ tối ưu là độ trễ tại đó các biến được mô hình hóa qua biến trễ và các
biến khác cùng một độ trễ cho kết quả tốt nhất. Việc xác định độ trễ tối ưu dựa trên
các chỉ số lựa chọn các chỉ số này được hỗ trợ trong phần mềm STATA.

Mô hình đạt sự tin cậy hay tính vững khi đảm bảo các chỉ tiêu sau: Mô hình
không tồn tại đa cộng tuyến; không tồn tại tự tương quan và không tồn tại phương
sai thay đổi.
12


CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả kiểm định tính dừng (Dickey-Fuller for unit root)
3.1.1. Kết quả kiểm định tính dừng yếu tố tăng trưởng GDP
(GGDP) Với kiểm định Dickey-Fuller for unit root, ta có 2 giả thuyết
 H0 = Chuỗi số liệu không dừng
 H1 = Chuỗi số liệu dừng
Nếu giá trị tuyệt đối của Test Statistic của kiểm định nhỏ hơn giá trị Critical
Value ở mức ý nghĩa 5% hoặc p-value của kiểm định lớn hơn 0.05, ta chưa thể bác
bỏ H0. Hay nói cách khác chuỗi số liệu chưa dừng. Do đó, phải kiểm định các sai
phân của yếu tố này để xem chuỗi dữ liệu sẽ dừng khi nào.
Chạy kiểm định Dickey-Fuller trên STATA với biến GGDP, ta có kết quả:
dfuller GGDP
Dickey-Fuller test for unit root
Test
Statistic

1% Critical
Value

Z(t)
-2.373
-3.743
MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.1495


Number of obs = 26
5% Critical
10% Critical
Value
Value
-2.997

-2.629

Từ đó chưa thể kết luận bác bỏ được H0 do p-value > 0.05 và Z(t) của giá
trị tuyệt đối của Test Statistic nhỏ hơn giá trị ở mức ý nghĩa 5%.
Kiểm định với sai phân bậc nhất của biến GGDP, ta có kết quả:
dfuller GGDP_D1
Dickey-Fuller test for unit root
Test Statistic
Z(t)

-4.322

1% Critical
Value
-3.750

Number of obs = 25
5% Critical
10% Critical
Value
Value
-3.000


-2.630

MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.0004
Từ kết quả cho thấy, bác bỏ được H0 do p-value < 0.05, đồng thời giá trị
tuyệt đối của Test Statistic lớn hơn giá trị ở mức ý nghĩa 5%.
Do đó, GGDP dừng ở sai phân bậc nhất.
3.1.2. Kết quả kiểm định tính dừng yếu tố tăng trưởng lao động (GLO)
Với kiểm định Dickey-Fuller for unit root, ta có 2 giả thuyết
13


 H0 = Chuỗi số liệu không dừng
 H1 = Chuỗi số liệu dừng
Nếu giá trị tuyệt đối của Test Statistic của kiểm định nhỏ hơn giá trị Critical
Value ở mức ý nghĩa 5% hoặc p-value của kiểm định lớn hơn 0.05, ta chưa thể bác
bỏ H0. Hay nói cách khác chuỗi số liệu chưa dừng. Do đó, phải kiểm định các sai
phân của yếu tố này để xem chuỗi dữ liệu sẽ dừng khi nào.
Chạy kiểm định Dickey-Fuller trên STATA với biến GLO, ta có kết quả:
dfuller GLO
Dickey-Fuller test for unit root
Test Statistic

1% Critical
Value

Number of obs = 24
5% Critical
10% Critical
Value
Value


Z(t)
-2.192
-3.750
-3.000
-2.630
MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.2091
Từ đó chưa thể kết luận bác bỏ được H0 do p-value > 0.05 và Z(t) của giá
trị tuyệt đối của Test Statistic nhỏ hơn giá trị ở mức ý nghĩa 5%.
Kiểm định với sai phân bậc nhất của biến GLO, ta có kết quả:
dfuller GLO_D1
Dickey-Fuller test for unit root
Test Statistic

1% Critical
Value

Number of obs = 23
5% Critical
10% Critical
Value
Value

Z(t)
-0.641
-3.750
-3.000
-2.630
MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.8614
Từ đó chưa thể kết luận bác bỏ được H0 do p-value > 0.05 và Z(t) của giá

trị tuyệt đối của Test Statistic nhỏ hơn giá trị ở mức ý nghĩa 5%. Do đó, GLO chưa
dừng ở sai phân bậc nhất.
Tiếp tục kiểm định với sai phân bậc hai của biến GLO:
dfuller GLO_D2
Dickey-Fuller test for unit root
Test Statistic

1% Critical
Value

Number of obs = 22
5% Critical
10% Critical
Value
Value

Z(t)
-5.839
-3.750
-3.000
-2.630
MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.0000
Từ kết quả cho thấy, bác bỏ được H0 do p-value < 0.05, đồng thời giá trị
tuyệt đối của Test Statistic lớn hơn giá trị ở mức ý nghĩa 5%.
14


Do đó, GLO dừng ở sai phân bậc hai.
3.1.3. Kết quả kiểm định tính dừng yếu tố tuổi thọ (LIFE)
Với kiểm định Dickey-Fuller for unit root, ta có 2 giả thuyết

 H0 = Chuỗi số liệu không dừng
 H1 = Chuỗi số liệu dừng
Nếu giá trị tuyệt đối của Test Statistic của kiểm định nhỏ hơn giá trị Critical
Value ở mức ý nghĩa 5% hoặc p-value của kiểm định lớn hơn 0.05, ta chưa thể bác
bỏ H0. Hay nói cách khác chuỗi số liệu chưa dừng. Do đó, phải kiểm định các sai
phân của yếu tố này để xem chuỗi dữ liệu sẽ dừng khi nào.
Chạy kiểm định Dickey-Fuller trên STATA với biến LIFE, ta có kết quả:
dfuller LIFE
Dickey-Fuller test for unit root
Test Statistic

1% Critical
Value

Number of obs = 26
5% Critical
10% Critical
Value
Value

Z(t)
-2.099
-3.743
-2.997
-2.629
MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.2465
Từ đó chưa thể kết luận bác bỏ được H0 do p-value > 0.05 và Z(t) của giá
trị tuyệt đối của Test Statistic nhỏ hơn giá trị ở mức ý nghĩa 5%.
Kiểm định với sai phân bậc nhất của biến LIFE, ta có kết quả:
dfuller LIFE_D1

Dickey-Fuller test for unit root
Test Statistic

1% Critical
Value

Number of obs = 25
5% Critical
10% Critical
Value
Value

Z(t)
0.043
-3.750
-3.000
-2.630
MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.9620
Từ đó chưa thể kết luận bác bỏ được H0 do p-value > 0.05 và Z(t) của giá
trị tuyệt đối của Test Statistic nhỏ hơn giá trị ở mức ý nghĩa 5%. Do đó, LIFE chưa
dừng ở sai phân bậc nhất.

15


Tiếp tục kiểm định với sai phân bậc hai của biến LIFE:
dfuller LIFE_D2
Dickey-Fuller test for unit root
Test Statistic


1% Critical
Value

Number of obs = 24
5% Critical
10% Critical
Value
Value

Z(t)
-5.757
-3.750
-3.000
-2.630
MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.0000
Từ kết quả cho thấy, bác bỏ được H0 do p-value < 0.05, đồng thời giá trị
tuyệt đối của Test Statistic lớn hơn giá trị ở mức ý nghĩa 5%. Do đó, LIFE dừng ở
sai phân bậc hai.
3.1.4. Kết quả kiểm định tính dừng yếu tố tỷ lệ thất nghiệp (UNEM)
Với kiểm định Dickey-Fuller for unit root, ta có 2 giả thuyết

 H0 = Chuỗi số liệu không dừng
 H1 = Chuỗi số liệu dừng
Nếu giá trị tuyệt đối của Test Statistic của kiểm định nhỏ hơn giá trị Critical
Value ở mức ý nghĩa 5% hoặc p-value của kiểm định lớn hơn 0.05, ta chưa thể bác
bỏ H0. Hay nói cách khác chuỗi số liệu chưa dừng. Do đó, phải kiểm định các sai
phân của yếu tố này để xem chuỗi dữ liệu sẽ dừng khi nào.
Chạy kiểm định Dickey-Fuller trên STATA với biến UNEM, ta có kết quả:
dfuller UNEM
Dickey-Fuller test for unit root

Test Statistic

1% Critical
Value

Number of obs = 25
5% Critical
10% Critical
Value
Value

Z(t)
-3.949
-3.750
-3.000
-2.630
MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.0059
Từ kết quả cho thấy, bác bỏ được H0 do p-value < 0.05, đồng thời giá trị
tuyệt đối của Test Statistic lớn hơn giá trị ở mức ý nghĩa 5%.
Do đó, UNEM là chuỗi số liệu dừng.

16


Table 1. Kết quả kiểm định tính dừng của các chuỗi số liệu
Biến nghiên cứu
GGDP
GLO
LIFE
UNEM

DGGDP
DGLO
DLIFE
D2GLO
D2LIFE

Trị số DF
-2.373178
-2.077259
-2.099269
-3.949278

p-value
0.1495
0.2091
0.2465
0.0059

Sai phân bậc nhất
-4.32206
-0.641097
0.043802

0.0004
0.8614
0.9620

Sai phân bậc hai
-5.839248
-5.756581


0.0000
0.0000

Nguồn: Kết quả từ phần mềm STATA
Kết quả kiểm tra tính dừng cho thấy biến tỷ lệ thất nghiệp là chuỗi dừng (pvalue nhỏ hơn 0.05). Biến tăng trưởng kinh tế (GGDP) dừng ở sai phân bậc nhất;
còn hai biến tỷ lệ lao động (GLO) và tuổi thọ (LIFE) đều dừng ở sai phân bậc hai.
Do vậy, tác giả tiến hành đưa các biến dừng vào phân tích ở các bước sau.
3.2. Xác độ trễ tối ưu
Nhóm tác giả dùng kiểm định các độ trễ tối ưu với số lần trễ lần lượt và 4 và 2.
varsoc GGDP_D1 GLO_D2 Life_D2 UNEM, maxlag(4)
Selection-order criteria
Sample: 1996 – 2014
Number of obs
Lag
LL
LR
df P
FPE
AIC
HQIC
0
63.3545
2.3e- 08
6.24784 6.21419

=
19
SBIC
6.04901


1

88.5442 50.379 16

0.000 9.1e09

7.21518 7.04693 6.22103

2

99.9862 22.884 16

0.117 1.9e08

6.73539 6.43254 4.94593

3

139.583 79.193 16

0.000 4.0e09

9.21921 8.78177 6.63443

4

878.169 1477.2 16

0.000 8.8e41


-85.281 84.7089 81.9009

Endogenous : GGDP_D1 GLO_D2 Life_D2 UNEM
Endogenous : _cons
17


varsoc GGDP_D1 GLO_D2 Life_D2 UNEM, maxlag(2)
Selection-order criteria
Sample: 1994 – 2014
Number of obs
Lag
LL
LR
df P
FPE
AIC
HQIC
0
70.2463
2.1e- -6.266
08
6.30918

=
21
SBIC
6.11022


1

95.5737 50.655 16

0.000 9.1e09

-6.9816 7.19749
6.20271

2

105.433 18.718 16

0.233 2e-08

6.61264 6.22403 4.82203

Endogenous : GGDP_D1 GLO_D2 Life_D2 UNEM
Endogenous : _cons

Từ kết quả phân tích trong STATA, nhóm tác giả chọn bảng tối ưu với độ trễ đến 2.

Table 2. Kết quả xác định độ trễ tối ưu
Lag
0
1
2

LL
70.2624

95.5737
105.433

LR
NA
50.655*
19.718

FPE
2.1e-08
9.1e-09*
2.0e-08

AIC
-6.30918
-7.19749*
-6.61264

HQIC
SBIC
-6.2660 -6.11022
-6.9816* -6.20217*
-6.22403 -4.82203

Nguồn: Kết quả từ phần mềm STATA
Các chỉ tiêu đều lựa chọn 1 làm độ trễ tối ưu. Do đó, nhóm tác giả sử dụng độ trễ 1
để phân tích hồi quy.
3.3. Phân tích hồi quy
Sau khi có các biến dừng, nhóm tác giả tiến hành đưa vào phân tích hồi quy. Vì để
tiện hơn cho việc xét yếu tố dài hạn (ecm) nên nhóm tác giả dùng phần mềm

Eviews. Kết quả được trình bày trong bảng sau:
Tên biến
Hệ số
Sai số chuẩn Thống kê t p-value
C
1.901098
1.611064
1.180026
0.2591
DGGDP(-1)
0.217693
0.175974
1.237071
0.2379
D2LIFE
49.56168
84.07846
0.589469
0.5657
D2LIFE(-1)
42.73592
85.99757
0.496943
0.6275
D2GLO
-3.72529
1.509455
-2.46797
0.0282
D2GLO(-1)

-4.4599
1.621419
-2.750616 0.0165
UNEM
-1.15246
0.55743
-2.067456 0.0592
UNEM(-1)
0.616627
0.507447
1.215155
0.2459
ecm(-1)
-0.75287
0.202322
-3.721121 0.0026
18


Tên biến

Hệ số
2

Adjusted R
Đa cộng tuyến
Kiểm định tự tương quan
Kiểm đinh phương sai thay đổi

Sai số chuẩn Thống kê t p-value

0.4670
VIF<10
0.1366
0.3603

Nguồn: Kết quả từ phần mềm Eviews
Sau khi có kết quả hồi quy, nhóm tác giả tiến hành kiểm định mô hình có đạt
tin cậy hay không. Kết quả các kiểm định về tự tương quan, phương sai thay đổi cho
thấy mô hình không tồn tại tự tương quan và phương sai thay đổi (p-value đều lớn
hơn 0.05) (Kết quả kiểm tra các khuyết tật sẽ được đính kèm ở phần phụ lục)
Kết quả hồi quy cho thấy chỉ có biến về tăng trưởng số người trong độ tuổi lao
động (GLO) và tỷ lệ thất nghiệp (UNEM) có tác động ngược chiều lên tăng trưởng
kinh tế (p-value nhỏ hơn 0.05 và hệ số beta âm). Trong đó, tỷ lệ thất nghiệp có tác
động tức thời lền tăng trưởng kinh tế còn số người trong độ tuổi lao động có tác
động tức thời và sau độ trễ 1 lên tăng trưởng kinh tế. Đồng thời kết quả cũng chỉ ra
tồn tại mối quan hệ dài hạn giữa các biến lên tăng trưởng kinh tế (p-value của yếu tố
dài hạn ecm(-1) nhỏ hơn 0.05)
3.4. Thảo luận kết quả
Như kết quả đã đưa ra ở trên việc số người trong độ tuổi lao động tăng lên
không làm tăng trưởng GDP tăng lên mà còn kéo tốc độ tăng trưởng GDP xuống (qua
tác động ngược chiều của GLO lên tăng trưởng GDP). Điều này cho thấy với việc hàng
năm có thêm hàng ngàn đến hàng triệu người trong độ tuổi lao động đã làm cho sức ép
to lớn đến nền kinh tế của đất nước, với việc tăng trưởng dân số cao cùng với việc nền
kinh tế chưa phát triển kịp để đáp ứng nhu cầu công việc cho người dân đã làm cho sự
mất cân bằng về hệ số đàn hồi giữa phát triển kinh tế và tỷ lệ tăng lao động. Đồng thời
kết quả này cũng cho thấy việc sử dụng lao động ở nước ta chưa hiệu quả hay nói cách
khác năng suất lao động của người lao động đang ở mức thấp.

Yếu tố về tỷ lệ thất nghiệp có tác động ngược chiều lên tăng trưởng kinh tế
cho thấy việc số người thất nghiệp gia tăng làm cho công việc tạo ra thu nhập giảm.

Điều này dẫn tới tăng trưởng kinh tế cũng bị giảm theo. Ngược lại, nền kinh tế tạo
được nhiều công ăn việc làm hơn sẽ làm cho thu nhập tăng. Việc chi tiêu cũng từ đó
gia tăng giúp cho GDP đóng góp cũng từ đó tăng lên theo.
3.5. Kết luận và đề xuất chính sách
Qua phân tích hồi quy bằng mô hình ARDL đã chỉ ra tỷ lệ thất nghiệp và tỷ
lệ số người trong độ tuổi lao động có tác động ngược chiều lên tăng trưởng kinh tế
trong giai đoạn 1990 đến 2015. Do đó, để cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế, các
nhà hoạch định chính sách cần tập trung vào giảm tỷ lệ thất nghiệp cũng như tăng
năng suất lao động. Cụ thể:
19


Đầu tiên, để kiểm soát và giảm thiểu hậu quả của thất nghiệp, nhà nước cần
áp dụng tích hợp các giải pháp nhắm tới các yếu tố khác nhau trong thị trường việc
làm. Các chính sách tài khoá hoặc tiền tệ có thể được áp dụng nhằm gia tăng tổng
cầu của thị trường, từ đó giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất và tạo ra nhiều cơ hội
việc làm hơn. Một minh chứng cụ thể là việc chính phủ đưa ra các chính sách ưu đãi
cho các khu vực cụ thể, như doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, để thu hút
dòng vốn FDI vào Việt Nam. Điều này làm tăng số lượng lao động cần thiết trong
nước, đồng thời tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng và thu nhập cao do được đào
tạo bởi các doanh nghiệp nước ngoài.
Bên cạnh đó, việc định hướng nghề nghiệp tốt sẽ là tiền đề để lao động chọn
lựa đúng ngành nghề trong tương lai, giúp giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp tự nguyện do
không tìm được ngành nghề phù hợp hoặc khả năng cạnh tranh thấp. Để làm được
điều này, gia đình và nhà trường nên là nhân tố đi đầu, đưa ra những định hướng
việc làm phù hợp dựa trên sở thích và khả năng của con em mình. Sau đó, bộ giáo
dục cần xây dựng các chương trình dạy nghề, các khoá phát triển nghề ngắn hạn hay
phổ cập nghề cho lao động có trình độ học vấn chưa cao (như đồng bào các dân tộc
thiểu số, lao động chuyển đổi ngành nghề). Không chỉ vấn đề việc làm cho những
lao động tay nghề thấp sẽ được giải quyết, mà các nghành nghề đang khan hiếm

nhân lực như kỹ thuật, nông nghiệp cũng sẽ được phân bố nguồn lực một cách hiệu
quả hơn, tránh tình trạng lao động sẵn có nhưng không chịu đi làm.
Thứ hai, để hiện tượng tăng trưởng lực lượng lao động không còn tạo áp lực
cho nền kinh tế, chúng ta cần tập trung cải thiện sự phù hợp về mặt kiến thức, kỹ
năng cũng như nâng cao năng suất của mỗi cá nhân lao động. Trước hết, việc hướng
nghiệp đầy đủ không chỉ giúp giảm tỷ lệ thất nghiệp mà còn giúp tạo ra sự tương
thích giữa người trong độ tuổi lao động và thị trường việc làm. Có nghĩa là, khi các
lao động mới bước vào thị trường lao động, nếu họ đã được định hướng và có sự
chuẩn bị từ trước, khả năng họ tìm thấy công việc sẽ cao hơn và những kiến thức họ
tích luỹ được sẽ trở nên hữu ích cho doanh nghiệp.
Thêm vào đó, việc tập trung phát triển nguồn lực lao động theo chiều sâu nên
được chú trọng hơn. Qua nhũng năm gần đây, năng suất của lao động Việt Nam có
tăng lên nhưng chủ yếu theo chiều rộng, phụ thuộc vào sự chuyển dịch từ sản xuất
thủ công, nông nghiệp sang các ngành công nghiệp, công nghệ máy móc và dịch vụ.
Nhà nước cần đưa ra chương trình giáo dục và bồi dưỡng thường xuyên thích hợp,
trang bị cho lao động những kiến thức nghề chuyên sâu để thích nghi với các ngành
nghề mới đang ngành càng chiếm tỷ trọng cao hơn.
Cuối cùng, việc nâng cao chất lượng doanh nghiệp là hết sức quan trọng. Theo
nhiều xí nghiệp đánh giá, trên thực tế, năng suất lao động của Việt Nam hầu như
20


không thấp hơn nhiều so với năng suất lao động tại các nhà máy tại nhiều quốc gia
khác. Theo đó, vấn đề mấu chốt là ở chất lượng đào tạo, cũng như công tác tổ chức
quản lý lao động của các lãnh đạo doanh nghiệp còn chưa đạt yêu cầu. Năng suất
lao động có thể được cải thiện phần lớn nhờ có những kinh nghiệm quản lý dày dặn
của các công ty.

21



PHỤ LỤC
Bảng số liệu
t
1990
1991
1992
1993
1994
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004
2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
2014
2015

2016

UNEM
2.5
2.7
3
2.5
2.1
1.9
2.9
2.3
2.3
2.3
2.8
2.1
2.3
2.1
2.1
2.3
2.3
2.4
2.6
2.6
2
1.8
2.2
2.3
2.31
2.29


Life
70.4182
70.70807
70.99546
71.28241
71.56849
71.85222
72.13156
72.40351
72.66451
72.91354
73.14859
73.36959
73.57656
73.77254
73.95902
74.13812
74.31237
74.48385
74.6531
74.82261
74.99037
75.1568
75.31939
75.477
75.62912
75.6
75.6

Labor

84.8
84.7
84.5
84.4
84.2
84
83.7
83.6
83.5
83.4
83.2
83
82.9
82.6
82.4
82.1
81.8
81.5
81.4
81.3
81.3
81.6
81.9
82.2
82.5

GGDP
5.100918
5.960844
8.646047

8.072731
8.838981
9.54048
9.340017
8.152084
5.764455
4.773587
6.787316
6.192893
6.320821
6.899063
7.536411
7.547248
6.977955
7.129504
5.661771
5.397898
6.423238
6.240303
5.247367
5.421883
5.983655
6.679289
6.21

22


Một số kết quả tính toán trong STATA
. dfuller GGDP

Dickey-Fuller test for unit root

Number of obs

=

26

---------- Interpolated Dickey-Fuller --------Test
1% Critical
5% Critical
10% Critical
Statistic
Value
Value
Value
-----------------------------------------------------------------------------Z(t)
-2.373
-3.743
-2.997
-2.629
-----------------------------------------------------------------------------MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.1495
.
. dfuller

GGDP_D1

Dickey-Fuller test for unit root

Number of obs


=

25

---------- Interpolated Dickey-Fuller --------Test
1% Critical
5% Critical
10% Critical
Statistic
Value
Value
Value
-----------------------------------------------------------------------------Z(t)
-4.322
-3.750
-3.000
-2.630
-----------------------------------------------------------------------------MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.0004
.
. dfuller GLO
Dickey-Fuller test for unit root

Number of obs

=

24

---------- Interpolated Dickey-Fuller --------Test

1% Critical
5% Critical
10% Critical
Statistic
Value
Value
Value
-----------------------------------------------------------------------------Z(t)
-2.192
-3.750
-3.000
-2.630
-----------------------------------------------------------------------------MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.2091
.
. dfuller GLO_D1
Dickey-Fuller test for unit root

Number of obs

=

23

---------- Interpolated Dickey-Fuller --------Test
1% Critical
5% Critical
10% Critical
Statistic
Value
Value

Value
-----------------------------------------------------------------------------Z(t)
-0.641
-3.750
-3.000
-2.630
------------------------------------------------------------------------------

23


MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.8614
.
. dfuller GLO_D2
Dickey-Fuller test for unit root

Number of obs

=

22

---------- Interpolated Dickey-Fuller --------Test
1% Critical
5% Critical
10% Critical
Statistic
Value
Value
Value

-----------------------------------------------------------------------------Z(t)
-5.839
-3.750
-3.000
-2.630
-----------------------------------------------------------------------------MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.0000
.
. dfuller Life
Dickey-Fuller test for unit root

Number of obs

=

26

---------- Interpolated Dickey-Fuller --------Test
1% Critical
5% Critical
10% Critical
Statistic
Value
Value
Value
-----------------------------------------------------------------------------Z(t)
-2.099
-3.743
-2.997
-2.629
-----------------------------------------------------------------------------MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.2465

.
. dfuller

Life_D1

Dickey-Fuller test for unit root

Number of obs

=

25

---------- Interpolated Dickey-Fuller --------Test
1% Critical
5% Critical
10% Critical
Statistic
Value
Value
Value
-----------------------------------------------------------------------------Z(t)
0.043
-3.750
-3.000
-2.630
-----------------------------------------------------------------------------MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.9620
.
. dfuller


Life_D2

Dickey-Fuller test for unit root

Number of obs

=

24

---------- Interpolated Dickey-Fuller --------Test
1% Critical
5% Critical
10% Critical
Statistic
Value
Value
Value
-----------------------------------------------------------------------------Z(t)
-5.757
-3.750
-3.000
-2.630
-----------------------------------------------------------------------------MacKinnon approximate p-value for Z(t) = 0.0000
.
. dfuller

UNEM

Dickey-Fuller test for unit root


Number of obs

=

25

24


×