LỜI MỞ ĐẦU
Trên thế giới hầu hết các nước đều theo đuổi mục tiêu tăng trường
kinh tế cao, lạm phát thấp, thất nghiệp ít, cán cân thanh toán có số dư... Tuy
nhiên trong đó, tăng trưởng cao và lạm phát thấp được xem như hai mục tiêu có
tầm quan trọng hàng đầu. Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai mặt của xã
hội, là hai vấn đề lớn cơ bản của kinh tế vĩ mô và có mối quan hệ chặt chẽ với
nhau.. Lạm phát có thể coi là kẻ thù của tăng trưởng kinh tế nhưng nó lại là vấn
đề luôn tồn tại song song với tăng trưởng. Lạm phát chỉ có thể ở một ngưỡng
nhất định mới phù hợp cho sự tăng trưởng kinh tế.
Trong thực tế , không một quốc gia nào dù phát triển hay đang phát triển có
thể tránh khỏi lạm phát . Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng đã
trải qua các cuộc khủng hỏang kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng với những quy mô
khác nhau .Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp và mọi giai đoạn phát
triển kinh tế, sự tác động qua lại của tăng trưởng kinh tế và lạm phát đều sẽ
tuân theo quy luật kinh tế mà sẽ có những diễn biến phức tạp. Lạm phát trong
các trường hợp cụ thể sẽ có ảnh hưởng ở những mức độ và khía cạnh khác
nhau. Do vậy việc xem xét kỹ vấn đề lạm phát và sự ảnh hưởng của lạm phát
trong điều kiện cụ thể đặc biệt là với bối cảnh hội nhập kinh tế ở Việt Nam là
cực kỳ cần thiết, để từ đó có những biện pháp kịp thời để kiểm soát lạm phát để
đảm bảo tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững trong chặng đường tiếp theo.
Chính vì những điều này đã định hướng chúng em lựa chọn đề tài
“Tổng quan nghiên cứu ảnh hưởng của lạm phát đến sự tăng trưởng kinh tế”
để đưa ra cái nhìn tổng quan về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh
tế trên thế giới từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Nội dung đề tài tiểu luận gồm 3 phần:
Phần 1: Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
Phần 2: Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Phần 3: Phương pháp nghiên cứu
2
Mặc dù đã cố gắng hoàn thiện, nhưng tiểu luận của chúng em chắc
chắn không thể nào tránh khỏi những sai sót
Chúng em xin chân thành cảm ơn cô!
3
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp
nghiên cứu
1. Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài
1.1.
Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1. Fisher (1993) đã điều tra nghiên cứu mối liên hệ giữa lạm phát
và tăng trưởng qua phân tích chuỗi thời gian, qua khu vực, đặt dữ liệu cho
nhóm người tham gia hội thảo cho một số lượng lớn quốc gia. Kết quả chính
của công trình này là có sự tác động tiêu cực của lạm phát lên tăng trưởng.
Fisher (1993) lập luận rằng lạm phát làm cản trở đến việc phân phối có hiệu quả
các nguồn tài nguyên do những thay đổi bất lợi đối với giá cả tương quan.
Đồng thời giá cả tương quan xuất hiện trở thành một trong những kênh quan
trọng nhất trong tiến trình ra quyết định hiệu quả.
1.1.2. Barro (1996) phân tích tác động của lạm phát và các biến khác
như khả năng sinh sản, nền dân chủ và các yếu tố khác lên tăng trưởng kinh tế
trong nhiều quốc gia khác nhau trong thời gian 30 năm. Ông sử dụng hệ thống
của phương trình hồi quy, trong đó các yếu tố quyết định khác của tăng trưởng
được giữ ở mức không đổi. Để ước lượng sự tác động của lạm phát đến tăng
trưởng kinh tế mà không xem xét các vấn đề nội sinh của lạm phát, nó bao gồm
lạm phát như là biến giải thích theo từng thời kỳ cùng với các yếu tố khác của
tăng trưởng kinh tế. Kết quả chỉ ra rằng có mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát
và tăng trưởng với hệ số tương quan -0,024.
1.1.3. Singh và Kalirajan (2003) sử dụng dữ liệu hàng năm từ Ấn độ
trong giai đoạn 1971- 1998 để phân tích ngưỡng ảnh hưởng của lạm phát đến
tăng trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy rõ ràng rằng sự gia tăng trong lạm phát từ
bất kỳ mức nào đều có ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và sự gia
tăng đáng kể có thể đạt được bằng việc tập trung chính sách tiền tệ hướng vào
duy trì giá cả ổn định.
1.1.4. Anhdres và Hernando (1997) đã thu được một mối quan hệ tiêu
cực có ý nghĩa giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong thời gian dài. Lạm
phát làm giảm mức độ đầu tư cũng như hiệu quả sử dụng các yếu tố. Nó có một
tác động tiêu cực nhất thời lên tốc độ tăng trưởng dài hạn và lần lượt tạo ra sự
sụt giảm trong thu nhập bình quân đầu người. Họ kết luận rằng chi phí của lạm
phát trong dài hạn là lớn và việc nỗ lực kiềm chế lạm phát sẽ phải đánh đổi
trong điều kiện tăng trưởng kinh tế tốt hơn
1.1.5.Faria và Carneiro (2001) điều tra nghiên cứu mối quan hệ giữa
lạm phát và đầu ra trong một nền kinh tế đối mặt với những cú sốc lạm phát cao
liên tục. Các tác giả này áp đặt cấu trúc tối thiểu và sử dụng ý tưởng rằng những
cú sốc lạm phát có thể phân ra thành những thành phần tạm thời và thành phần
dài hạn. Kết quả chỉ ra rằng trong dài hạn, sự phản ứng của đầu ra đối với một
cú sốc lạm phát dài hạn trong một đất nước có lạm phát cao là không khác đáng
kể so với con số không.
4
1.1.6. Bruno và Easterly (1995) xác định một thời kỳ khủng hoảng lạm
phát như là một khoảng thời gian khi tỷ lệ lạm phát vượt quá 40%, cố gắng để
đánh giá nước đó thực hiện như thế nào trước, trong và sau thời kỳ khủng
hoảng. Kết quả chỉ ra rằng ở mức lạm phát cao hơn, có một mối quan hệ tiêu
cực giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, theo đó, chi phí lạm phát sẽ cao hơn.
Tại mức lạm phát thấp và vừa phải, kết quả là không rõ ràng và cho thấy rằng
không có mô hình phủ hợp. Họ tin rằng sẽ có sự hồi phục của nền kinh tế nếu
giảm lạm phát thành công sau khủng hoảng
1.1.7. Sarel (1995) sử dụng dữ liệu của 87 quốc gia cũng củng cố ý
kiến rằng lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ phi tuyến tính. Ông
thấy rằng 8% là ngưỡng thích hợp của lạm phát. Dưới ngưỡng này lạm phát ảnh
hưởng không đáng kể thậm chí là ảnh hưởng tích cực, trong khi đó, nếu lạm
phát trên ngưỡng này, nó có ảnh hưởng tiêu cực và ảnh hưởng đáng kể đến tăng
trưởng kinh tế.
1.1.8. Khan và Senhadji (2001) phân tích ngưỡng tác động giữa lạm
phát và tăng trưởng bằng việc sử dụng tập hợp dữ liệu bao gồm 140 quốc gia từ
giai đoạn 1960 – 1998. Họ xem xét mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
cho các nước phát triển và đang phát triển một cách riêng biệt. Kết quả thực
nghiệm cho thấy có sự tồn tại của một ngưỡng ngoài mức lạm phát gây ra một
tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Mức lạm phát dưới ngưỡng lạm phát không
có tác động hoặc tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế. Kết quả cũng chỉ ra
rằng ngưỡng này thì nhỏ cho các nước đã phát triển (1% - 3%), được so sánh
với các nước đang phát triển (tương ứng 11-12%) và những ước lượng này có ý
nghĩa thống kê
1.1.9. Hwang và Wu (2011) bằng việc sử dụng phương trình tính toán
tăng trưởng như là cơ sở của mô hình, họ nghiên cứu ngưỡng ảnh hưởng tích
cực của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế ở Trung Quốc. Họ nhận thấy rằng
ngưỡng lạm phát có tác động đáng kể và mạnh mẽ. Trên mức ngưỡng 2,5%, gia
tăng mỗi một điểm phần trăm trong tỷ lệ lạm phát sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế
0,61%, dưới ngưỡng này, gia tăng mỗi một điểm trong tỷ lệ lạm phát sẽ kích
thích tăng trưởng kinh tế 0,53%. Điều này chỉ ra rằng lạm phát này gây hại cho
tăng trưởng kinh tế khi lạm phát vừa phải có lợi cho tăng trưởng kinh tế ở
Trung Quốc.
1.1.10. Tabi và Ondoa (2001) nghiên cứu về mối liên hệ giữa tăng
trưởng kinh tế, lạm phát và tiền trong lưu thông ở Châu Phi. Họ phân tích tầm
quan trọng chủ yếu của các biến số tiền tệ lên tăng trưởng kinh tế ở Cameroon.
Bằng việc sử dụng dữ liệu từ năm 1960 – 2007, họ xây dựng mô hình VAR để
xác định mối liên hệ giữa các biến số nói trên. Kết quả chỉ ra rằng tiền trong lưu
thông gây ra sự tăng trưởng, và tăng trưởng gây ra lạm phát. Kết luận thú vị là
sự gia tăng lượng tiền trong lưu thông không nhất thiết gây ra sự gia tăng của
mức giá chung.
5
1.1.11. Chimobi (2010) cố gắng để xác định nếu có mối quan hệ giữa
tăng trưởng và lạm phát bằng việc sử dụng chỉ số giá tiêu dùng của Nigeria từ
1970 – 2005. Ông ta kết luận rằng trong dài hạn không có mối quan hệ giữa
lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Nigeria nhưng trong ngắn hạn thì lạm phát có
ảnh hưởng đến tăng trưởng.
1.1.12. Nell (2000) nghiên cứu chi phí và lợi ích của lạm phát bằng
cách phân chia kinh nghiệm lạm phát của Nam Phi thành 4 thời kỳ. Nghiên cứu
thực nghiệm chỉ ra rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát là mối quan
hệ phi tuyến tính. Trong khi lạm phát ở mức một con số là có lợi đối với tăng
trưởng trong khi chi phí trong điều kiện tăng trưởng thấp lại ở mức cao.
1.1.13. Leshero (2012) sử dụng phương pháp hồi quy được phát triển
bởi Khan và Senhadji (2001) chỉ ra rằng ngưỡng lạm phát là 4% cho các nước
Nam Phi. Tại mức lạm phát dưới ngưỡng này, có mối quan hệ tích cực giữa lạm
phát và tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ này là không đánh kể. Nhưng tại
mức lạm phát trên ngưỡng này, mối quan hệ này là tiêu cực và đáng kể.
1.1.14. Dr. sc. Mario Švigir, Josipa Miloš, struč. spec. oec. (University
College Effectus – College for Finance and Law, Trg J.F. Kennedy 2, 10000
Zagreb) (2017). Nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế,
so sánh giữa Ý và Áo (Relationship between inflation and economic growth
comparative experience of italy and austria)
6
Phân tích xu hướng lạm phát và tăng trưởng kinh tế thực tế ở hai nền
kinh tế tương đương là Ý và Áo, nghiên cứu đã xác nhận giả thuyết rằng lạm
phát thấp là quan trọng nhưng không phải là điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh
tế. Trong giai đoạn 1980 - 1984, dữ liệu lịch sử tỷ lệ lạm phát cao cùng tồn tại
với mức tăng trưởng kinh tế thấp ở Ý. Trong giai đoạn 1985 và 1996, tỷ lệ lạm
phát vừa phải cùng tồn tại với mức tăng trưởng tương đối thấp của nền kinh tế
và trong giai đoạn từ 1997 đến 2016, tỷ lệ lạm phát thấp không đủ để thúc đẩy
tăng trưởng của nền kinh tế Ý đang có tốc độ tăng trưởng âm kể từ năm 2009.
So sánh ở Áo giảm tỷ lệ lạm phát cụ thể là trùng hợp với tác động tích cực đến
tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn giữa những năm 1980 và 1990. Giảm tỷ lệ
lạm phát cùng tồn tại với sự phục hồi của nền kinh tế Áo. Nhưng phân tích hồi
quy đã xác nhận rằng tác động có ý nghĩa thống kê của lạm phát đối với GDP
không tồn tại. Tăng trưởng kinh tế một quốc gia không chỉ được xác định bởi tỷ
lệ lạm phát thấp. Nó cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố và nó là kết quả của việc
thực hiện các chính sách kinh tế quốc gia.
1.1.15. M. W. Madurapperuma (Department of Accountancy, Faculty
of Commerce and Management Studies, University of Kelaniya, Kelaniya, Sri
Lanka). Nghiên cứu Ảnh hưởng của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế ở Sri
Lanka (Impact of Inflation on Economic Growth in Sri Lanka) (2016) (Journal
of World Economic Research)
7
Khái quát và kết quả nghiên cứu:
Nghiên cứu cho thấy rằng tất cả các số liệu thống kê kiểm tra là thỏa
đáng và chỉ có độ trễ đầu tiên của lạm phát đi vào mô hình. Kết quả nghiên cứu
cho thấy rằng lạm phát có tác động thực sự đến sản lượng ở Sri Lanka, nghĩa là
lạm phát có hại cho tăng trưởng kinh tế của Sri Lanka. Những phát hiện của
nghiên cứu này không đồng ý với kết quả siêu trung lập của Sidrauski trong đó
lạm phát không có tác động thực sự trong thời gian dài và hỗ trợ cho những
phát hiện của Fischer (1979) trong cân bằng tiền tệ và tiêu dùng.
1.1.16. Một trong những mục tiêu quan trọng đối với các nước phát
triển như Bangladesh là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao. Có nhiều nhân
tố ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế, và một trong những nhân tố quan
trọng nhất phải đề cập đến là “lạm phát”. Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế là không cần bàn cãi, vì thế Viện Khoa học Mỹ (AIS) đã thực
hiện một bài nghiên cứu để chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế của Bangladesh. Bài nghiên cứu được thực hiện vào cuối năm
2015 và được phát hành online vào 24/2/2016.
Trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây của Fisher, Sidrauski,
Baro, Mallik và Chowdhury, nghiên cứu chỉ ra các quan điểm về mối quan hệ
nhân quả đơn phương giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Từ những điều tra thực nghiệm về lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế
ở Bangladesh từ năm 1980-2005, nhóm tác giả đã tìm thấy mối quan hệ tiêu cực
giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Họ cũng ước tính mức lạm phát cao hơn 6%
so với mức lạm phát cho thấy tác động tiêu cực đến tăng trưởng. Dữ liệu hàng năm
trong giai đoạn 1975-2013 cũng đã được sử dụng trong bài nghiên cứu. Trong
nghiên cứu hiện tại, hợp tác và lỗi mô hình hiệu chỉnh được sử dụng để
8
tìm mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế cho
Bangladesh.
1.1.17. Bài phân tích ngưỡng lạm phát của Phần Lan (1980-2010)
được thực hiện bởi Khayroollo Sattarov, đến từ trường đại học UMAE, vào
đầu năm 2011. Trong bài nghiên cứu, tác giả thảo luận ngắn gọn về hai lý
thuyết kinh tế cơ bản liên quan đến chủ đề này: Lý thuyết tiền tệ và Lý thuyết
tăng trưởng tân cổ điển. Nhìn chung, kết quả thu được cho thấy mối liên hệ
giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế không ổn định.
Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu không có lạm phát, một nền kinh tế có thể
rơi vào tình trạng giảm phát, tức là giảm giá. Bài nghiên cứu đã đưa ra kết luận
rằng kết luận rằng nếu tăng trưởng hàng năm về giá không vượt quá 4%, lạm
phát sẽ giúp giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định. Ngược lại, nếu tăng trưởng
hàng năm về giá vượt quá 4 phần trăm, lạm phát có xu hướng trở nên có hại,
làm giảm đáng kể sự tăng trưởng của nền kinh tế Phần Lan. Để đi đến được kết
luận này, tác giả đã sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) để tìm
mức lạm phát ở Phần Lan trong giai đoạn 1980-2010 và thấy rằng khi lạm phát
vượt quá 4 phần trăm, lạm phát sẽ bắt đầu làm giảm đáng kể tốc độ tăng trưởng
kinh tế ở Phần Lan.
1.1.18. Bài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
kinh tế của Trung Quốc: Nghiên cứu thực nghiệm từ 1978 đến 2007”, được
thực hiện bởi Jing Xiao, sinh viên trường Kinh tế và quản lý, đại học LUND.
Bài nghiên cứu được phát hành vào tháng 8/2009.
Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ tăng
trưởng kinh tế - lạm phát của Trung Quốc từ năm lấy mẫu 1978-2007. Phương
pháp ma trận tương quan một phần và phương pháp kiểm tra nhân quả Granger
đã được thông qua để phát hiện mối quan hệ và hướng nhân quả giữa hai biến.
Hầu hết các mô hình quan trọng, hợp nhất và sửa lỗi cũng đã được sử dụng để
khám phá liệu lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ cân bằng dài hạn
9
hay không. Bên cạnh nhiệm vụ chính là phát hiện mối quan hệ tăng trưởng kinh
tế - lạm phát, tích lũy vốn cũng đã được đưa vào để tìm hiểu liệu nó có liên
quan đến lạm phát hay không.
Từ dữ liệu GDP của Trung Quốc từ năm 1961, có thể thấy rằng ngay
cả trước năm 1978, tăng trưởng GDP thực tế của Trung Quốc và tăng trưởng
GDP bình quân đầu người trung bình lần lượt ở mức 4,84% (1961-1977) và
2,68% (1961-1977). Trong thời gian đó, Trung Quốc đã gặp phải nhiều khó
khăn bao gồm tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của Cuộc cách mạng
văn hóa và thiên tai ba năm cùng các yếu tố khác. Kể từ năm 1978, nền kinh tế
Trung Quốc đã tăng trưởng ổn định mặc dù tốc độ tăng trưởng vẫn còn nhiều
biến động. Từ 1978 đến 2007, tốc độ tăng trưởng của GDP Trung Quốc và GDP
thực tế bình quân đầu người trung bình lần lượt là 9,92% và 8,69%.
Mặc dù hiệu suất kinh tế của Trung Quốc rất đặc biệt trong ba mươi
năm qua, tuy nhiên nghiên cứu đã chỉ ra rằng nền kinh tế Trung Quốc phát triển
một cách kém hiệu quả, chủ yếu dựa vào lượng vốn đầu vào lớn thay vì tiến bộ
của công nghệ thống trị ở các nền kinh tế phát triển. Kết quả của bài nghiên cứu
đưa ra một số ý nghĩa rất quan trọng đối với chính sách kinh tế vĩ mô của Trung
Quốc. Mối quan hệ nhân quả tích cực hai chiều tích cực giữa lạm phát và kinh
tế cho thấy Trung Quốc nên kiểm soát mức độ lạm phát khi nền kinh tế phát
triển với tốc độ cao.
1.1.19. Keorapetse Khoza và Relebogile Thebe và Andrew Phiri, vào năm
2016, đã phân tích mối quan hệ phi tuyến tính giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
ở Nam Phi. Đặc biệt họ đã thiết lập một ngưỡng tỉ lệ trong mối quan hệ giữa lạm
phát và tăng trưởng thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy chuyển tiếp
trơn(STR) cùng với nguồn dữ liệu thu thập từ năm 2001 đến năm 2016. Những kết
quả nghiên cứu cũ đã xác nhận một ngưỡng lạm phát 5,4% , dưới ngưỡng này lạm
phát gây ra những hiệu ứng tích cực cho tăng trưởng, khi vượt qua ngưỡng này nó
gây ra hiệu ứng ngược lại. Trong nghiên cứu này, các tác giả
đưa ra lời ủng hộ cho công bố của ngân hàng Dự trữ Nam Phi(SARB) về mức 10
lạm phát tối ưu nhất sẽ nằm trong khoảng mục tiêu từ 3%-6%. Kết quả cho
thấy, sau khi sử dụng mô hình STR cùng những số liệu về nền kinh tế Nam Phi
từ năm 2001 đến 2016, cuộc nghiên cứu đã cho thấy tỉ lệ lạm phát tối ưu nằm
vào khoảng 4,8%. Và một cách tình cờ, nó thực sự nằm trong khoảng lạm phát
mục tiêu được công bố của SARB. Điều đó đã xác nhận, ngưỡng lạm phát tối
ưu của Nam Phi để đảm bảo ổn định tăng trưởng kinh tế nằm trong khoảng 3%6%, đòi hỏi Nam Phi hướng tới mục tiêu ổn định lạm phát này.
1.1.20. Năm 2015, Rosemary Emike Idalu (Đại học Eastern
Mediterranean) đã thực hiện bài nghiên cứu về ảnh hưởng của lạm phát lên tăng
trưởng nền kinh tế ở Nigeria giai đoạn 1970-2013. Bằng việc sử dụng các mô hình
tương quan và bất định đặc biệt là mô hình vecto tự hồi quy (VAR), nghiên cứu đã
cho thấy sự phản ửng đẩy của hoạt động kinh tế trước một cú sốc nhỏ của lạm
phát. Kết quả chỉ ra rằng, ban đầu nền kinh tế phản ứng một cách chậm rãi và
dường như là một cú sốc tích cực, tuy nhiên, trong dài hạn, nó gây ra hiệu ứng tiêu
cực mà ảnh hưởng lâu dài lên GDP thực tế. Điều đó chứng tỏ, lạm phát tăng cao
gây một ảnh hưởng rất xấu trong dài hạn trên đầu ra thực tế của Nigeria.
1.1.21. Melanie Smith, một Blogger nổi tiếng của Mỹ, đã thực hiện
một phân tích thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế
ở Anh. Tác giả sử dụng nguồn dữ liệu online từ trang web của cục thống kê
Anh từ năm 1989 đến năm 2012. Nghiên cứu thực hiện trên 2 biến số, lạm phát
(INF) và tổng sản phẩm nội địa (GDP). Kết quả cho thấy, có một mối quan hệ
tiêu cực giữa lạm phát và GDP ở vương quốc Anh, ít nhất là trong ngắn hạn,
phù hợp với hầu hết các giả thuyết đã được nêu ra trong thời gian đó.
1.2.
Tổng quan nghiên cứu ở trong nước
1.2.1. PGS.TS. Trần Hoàng Ngân, ThS. Hoàng Hải Yến và ThS. Vũ
Thị Lệ Giang (Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh) (2010)
Nghiên cứu Lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
Kết quả nghiên cứu:
Xét ở thời kỳ dài 20 - 23 năm, lạm phát ảnh hưởng tiêu cực yếu đến tăng trưởng
kinh tế. Tuy nhiên, ảnh hưởng của lạm phát tới tăng trưởng là tích 11
cực hay tiêu cực còn phụ thuộc vào mức lạm phát sử dụng để xác định mối
tương quan này. Nếu khảo sát trong khoảng thời gian từ năm 1987 - 2009, lạm
phát đóng góp 18% vào sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế. Còn trong khoảng
thời gian 20 năm từ 1990 - 2009, lạm phát chỉ đóng góp 12% vào sự thay đổi
của tốc độ tăng trưởng kinh tế đo bằng tốc độ tăng GDP. Như vậy, nếu chỉ sử
dụng hệ số tương quan giữa CPI và tốc độ tăng GDP ở trên để đưa ra các con số
dự báo về tỷ lệ lạm phát khi muốn đạt tốc độ tăng trưởng nhất định hoặc ngược
lại, đưa ra con số dự báo về tốc độ tăng trưởng kinh tế nhằm mục tiêu kiểm soát
lạm phát ở một mức nhất định là không chính xác. Bởi lạm phát chỉ là một yếu
tố, dù quan trọng, trong vô vàn các yếu tố khác tác động tới tăng trưởng kinh tế.
- Ngưỡng lạm phát ở Việt Nam nên là 5% - 6%. Ở mức lạm phát xoay quanh
khoảng 5% - 6% thì lạm phát lại ảnh hưởng tương đối lớn đến tăng trưởng kinh
tế. Ở khoảng này, lạm phát có thể giải thích được xấp xỉ 50% (0,74* -0,74 =
0,547) sự thay đổi của GDP. Khi chọn mức lạm phát 5 - 6% làm ngưỡng thì nếu
lạm phát Việt Nam ở dưới mức này để tăng tốc độ tăng trưởng, Chính phủ có thể
thực hiện các giải pháp để tăng lạm phát và việc tăng lạm phát cho đến ngưỡng
6%/năm không quá nguy hại đến nền kinh tế. Còn nếu lạm phát đang ở trên
ngưỡng 6%, để tăng trưởng kinh tế, Chính phủ lại phải điều tiết giảm lạm phát
1.2.2. Lê Văn Hải (Trường Đại học Ngân hàng thành phố Hồ Chí
Minh. Nghiên cứu Lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, thực trạng và
giải pháp (2015)
Kết quả nghiên cứu: Lạm phát có ảnh hưởng nhất định nhất định đến sự
phát triển kinh tế, xã hội tùy theo mức độ của nó. Ở Việt Nam, lạm phát mấy năm
gần đây có xu hướng giảm, song vẫn cao hơn tăng trưởng kinh tế. Lạm phát ở Việt
Nam diễn biến thất thường. Tỷ lệ lạm phát gia tăng và biến động thất thường trong
giai đoạn 2007 – 2013 đã tác động xấu đến tốc độ phát triển của nền kinh tế. Việc
kiểm soát lạm phát có ý nghĩa quan trọng với tăng trưởng kinh tế. Để kiểm soát
được lạm phát, Nhà nước cần xác định các chỉ số lạm phát và tăng trưởng kinh tế
phù hợp trong từng thời kỳ cụ thể, tác động vào cung tiền tệ, mở rộng cầu tiền tệ,
sử dụng hiệu quả các công cụ chính của chính sách tiền tệ.
12
1.2.3. Bùi Thị Điệp, Mai Bình Dương - Khoa Tài chính – Kế toán (Đại
học Văn Lang) (2018) nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
kinh tế tại Việt Nam. Dữ liệu thứ cấp giai đoạn quý I/2000 đến quý IV/2017,
được thu thập chủ yếu từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Kinh tế thương mại
(TradingEconomics.com) và Tổng cục Thống kê. Tác giả sử dụng mô hình VAR
và phân tích phản ứng đẩy để nghiên cứu mối quan hệ này. Kết nghiên cứu cho
thấy, trong ngắn hạn là quan hệ nghịch biến và trong dài hạn là quan hệ đồng
biến. Đây là cơ sở tác giả đề xuất một số khuyến nghị cho tăng trưởng kinh tế
và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam hiện nay.
1.2.4. T.S Trương Minh Tuấn, giảng viên trường đại học kinh tế
TP.HCM đã thực hiện tiểu luận “Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
kinh tế: Nghiên cứ thực nghiệm ở Việt Nam” vào năm 2013. Bài viết đã chỉ ra
mối tương quan giữa giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát kinh tế ở Việt Nam
thông qua việc kiểm định mối quan hệ nhân quả trong mô hình hồi quy đa biến
gồm: lạm phát, tăng trưởng kinh tế, giá, cung tiền, tỷ giá hối đoái.
Nhìn chung tình hình lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam gia
đoạn 1999-2011 khá phức tạp. Khoảng thời gian từ 1997-2003, do ảnh hưởng
của cuộc khủng hoảng tài chính 1997-1998, và khoảng thời gian 2008-2010, do
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, tỷ lệ tăng trưởng GDP rất thấp.
Bài nghiên cứu đã sử dụng đồng thời phương pháp hồi quy đồng liên
kết, mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) và phương pháp phân tích phương sai
dựa trên mô hình VAR để kiểm định mối quan hệ nhân quả và tìm ra mối tương
quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn.
Kết quả thu được thống nhất với các nghiên cứu trước đó của Fisher
(1993), Baro (1996). Đồng thời cũng có những khác biệt với các nghiên cứu của
Tobin (1965), Malik &Chowdhury (2001). Kết quả phân tích cho thấy mối quan hệ
nghịch biến giữa chúng cả trong ngắn hạn và dài hạn. Cuối cùng bài nghiên cứu đã
đưa ra khuyến nghị trong ngắn hạn cần đẩy mạnh các biện pháp để thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và do đó sẽ kiềm chế được lạm phát. Bên cạnh đó tập 13
trung xây dựng chiến lược trung và dài hạn, ưu tiên phát triển ngắn hạn để lấy
đà phát triển trong dài hạn.
1.2.5. Bài nghiên cứu “Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và lạm phát ở Việt Nam thông qua mô hình kinh tế lượng” của Ths. Phùng Duy
Quang và Th.S Lê Văn Tuấn được đang trên tạp chí KTĐN số 58 nghiên cứu về
mối quan hệ giữa tăng trưởng (G) và lạm phát (I) có sử dụng mô hình đồng liên
kết và mô hình sai số hiệu chỉnh được đề xuất bởi Engel và Granger (1987).
Số liệu nghiên cứu gồm 2 biến: chỉ số giá tiêu dùng CPI và Tổng thu
nhập quốc nội GDP giai đoạn 2008-2012 do Tổng cục thống kê Việt Nam công
bố. Từ các phân tích của bài nghiên cứu có thể đưa ra kết luận rằng, mối quan
hệ giữa lạm phát và tăng trưởng ở VN giai đoạn 2008-2012 về cơ bản thống
nhất với các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới. Bài nghiên cứu
cũng đã đề xuất một số giải pháp như là chính phủ không nên theo đuổi chính
sách lạm phát thấp mà nên tập trung vào việc phát triển kinh tế vững mạn trong
dài hạn thông qua hội nhập, hạn chế yếu kém quốc gia....
1.2.6. Nghiên cứu của THS.Nguyễn Minh Sáng & Ngô Nữ Diệu Khuê
được tiến hành nhằm kiểm định mối quan hệ phi tuyến tính giữa lạm phát và
tăng trưởng kinh tế. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp tự hồi quy với bảng
số liệu của 17 nước Albania, Armenia, Brazil, Chile, Colombia, Ghana,
Guatemala, Hungary, Indonesia, Israel, Mexico, Peru, Philippines, Romania,
Thailand, Turkey và VN từ năm 2000 đến 2012 được thu thập từ nguồn số liệu
của World Bank từ năm 2000 đến 2012. 17 quốc gia trên đều nằm trong danh
sách các nước có lạm phát cao nhất. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở 17 nước
nghiên cứu, ngưỡng lạm phát tìm được ở mức 11%-12%. Khi lạm phát dưới
ngưỡng này, tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế là không rõ ràng, và
khi lạm phát trên ngưỡng này thì lạm phát tác động tiêu cực đến tăng trưởng
kinh tế.
14
1.2.7. Trong nghiên cứu Kinh tế vĩ mô của Trần Minh Tuấn và Trần Anh
Thiết mang tên “Lạm phát và tăng trưởng kinh tế: lý thuyết và thực tiễn Việt Nam”
đã chỉ ra lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai vấn đề tồn tại song song, không thể
giải quyết dứt điểm đồng thời. Điều đó cho thấy, cần phải có sự đánh đổi khi lựa
chọn một trong hai chỉ tiêu này. Bằng cách sử dụng những nghiên cứu mang tính
cơ sở như nghiên cứu của Fisher(1993), Philip(1998), Mundell(1965),...cùng với
những số liệu về tăng trưởng và lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2000-2010 tác giải
chỉ ra 3 nguyên nhân chính gây nên tình hình lạm phát cao ở Việt Nam giai đoạn
đó bao gồm: Nguyên nhân tiền tệ; nguyên nhân về thể chế chính sách; nguyên
nhân cầu kéo, chi phí đẩy; nguyên nhân kì vọng lạm phát. Những nguyên nhân này
dẫn đến sự lãng phí nguồn vốn khi không sử dụng nguồn vốn cho sản xuất kinh
doanh mà chuyển vào kênh đầu cơ không sinh ra giá trị gia tăng cho xã hội; Giá
thành tăng cao gây mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu; lãi suất bị đẩy lên quá
cao. Từ đó, tác giả cũng đưa ra một số chính sách ổn định và kiềm chế lạm phát
dựa trên những quy luật chung, sử dụng biện pháp cơ bản, phổ biến và tập trung
vào nguyên nhân cốt lõi của vấn đề, song cần chú trọng tính đặc thù, phù hợp với
trình độ phát triển của nước ta.
2. Cơ sở lý thuyết và khung phân
tích 2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Lý thuyết về lạm phát:
a) Định nghĩa:
Một số quan điểm:
- Theo K.Marx: lạm phát là việc tràn đầy các kênh lưu thông những tờ
giấy bạc thừa, giá cả tăng vọt.
- Theo A.Samuelson: lạm phát biểu thị một sự tăng lên trong mức giá
cả chung.
- Theo Keynes: Cung tiền tăng nhanh mức giá chung tăng nhanh liên
tục
1
5
- Theo Milton Friedman: "Lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo
dài", ông cho rằng "lạm phát luôn luôn và bao giờ cũng là một hiện tượng tiền
tệ"
Lạm phát là hiện tượng kinh tế, trong đó giá cả tăng nhanh, liên tục và
kéo dài làm cho tiền tệ mất giá so với so với hàng hoá, ngoại tệ và vàng.
Bản chất của lạm phát là hiện tượng tiền tệ khi những biến động tăng
lên của giá cả diễn ra trong một thời gian dài.
b) Phân loại lạm phát:
Lạm phát vừa phải (mild inflation) là lạm phát ở mức độ thấp còn gọi
là lạm phát một con số. Biểu hiện ở giá cả hàng hóa tăng chậm trong khoảng
10% trở lại.
Lạm phát phi mã (strato inflation) là lạm phát xảy ra khi giá cả bắt đầu
tăng với tỷ lệ hai con số như 10% - 99%. Khi lạm phát phi mã phát sinh nó bắt
đầu ảnh hưởng đến đời sống kinh tế xã hội.
Siêu lạm phát (hyper inflation) xảy ra khi tốc độ tăng giá với tỷ lệ ba
con số trở lên vượt xa lạm phát phi mã.
c) Nguyên nhân lạm phát:
Quan điểm 1: Lạm phát tiền tệ. Lạm phát này xảy ra khi tốc độ tăng
trưởng cung tiền vượt quá tốc độ tăng trưởng thực sự của nền kinh tế.
Quan điểm 2: Lạm phát cầu – kéo: Xảy ra khi những nhà hoạch định
chính sách theo đuổi các chính sách làm tổng cầu tiền tệ tang cao. Quan điểm
này coi lạm phát như là cầu quá mức đối với nhiều mặt hang trên thị trường.
Quan điểm 3: Lạm phát chi phí đẩy: Xảy ra do chi phí sản xuất, kinh
doanh tang cao như những cú sốc cung tiêu cực hoặc do việc các công nhân đòi
tang lương gây nên. Trong hoàn cảnh sản xuất không tang hoặc tang ít trong khi
chi phí tang lên (trước hết là chi phí lương) thì sẽ sinh ra lạm phát chi phí.
16
d) Các chỉ số đo lường lạm phát:
• Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): Là một chỉ tiêu thống kê phản ánh xu
hướng và mức độ biến động giá cả chung của một số lượng cố định các loại
hàng hóa dịch vụ (được gọi là “rổ” hàng hóa) đã được chọn đại diện cho tiêu
dùng của người dân qua một thời gian nhất định. Các yếu tố xác định CPI là:
- Giá bán lẻ hàng hóa: Được điều tra ở các chợ theo phiên (mỗi phiên
xác định 2 - 3 lần). Các chợ được chọn đại diện theo các địa bàn ở các địa
phương thuộc tất cả các tỉnh/thành phố trên cả nước.
- Quyền số để tính chỉ số giá tiêu dùng: là cơ cấu chi tiêu cho các hàng
hóa, dịch vụ trong tổng chi tiêu dùng của hộ gia đình.
k
=
CP
I
k
−1 .100%
CPIk −1
• Chỉ số giá bán buôn (PPI)
Đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được
PPI khác với CPI ở chỗ PPI không bao gồm trợ cấp, lợi nhuận và thuế
• Chỉ số giảm phát của GNP: GNP danh nghĩa/ GNP thực tế
2.1.2. Lý thuyết về tăng trưởng kinh tế:
a) Định nghĩa: Theo định nghĩa của Ngân hàng thế giới (WB) trong
“Báo cáo về phát triển thế giới năm 1991” cho rằng: Tăng trưởng kinh tế chỉ là
sự gia tăng về lượng của những đại lượng chính đặc trưng cho một trạng thái
kinh tế, trước hết là tổng sản phẩm xã hội, có tính đến mối liên quan với dân số.
Trong tác phẩm “kinh tế học của các nước phát triển”, thì nhà kinh tế học E.
Wayne Nafziger cho rằng: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về lượng hoặc sự
tăng lên về thu nhập bình quân đầu người của một nước.” Như vậy, có nhiều
cách định nghĩa khác nhau, song có thể định nghĩa một cách khái quát như sau:
“Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về tổng sản phẩm xã hội và tăng thu nhập
bình quân đầu người.”
17
b) Các công cụ phản ánh tăng trưởng kinh tế:
Để phản ánh tăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế sử dụng số liệu về GDP
– một chỉ tiêu phản ánh tổng thu nhập của mọi người dân trong nền kinh tế. Phản
ánh rõ hơn về tăng trưởng kinh tế, người ta thiết lập mô hình tăng trưởng kinh
tế có tên là: “mô hình solow “. Mô hình solow chỉ ra ảnh hưởng của tiết kiệm,
tỷ lệ tăng dân số và tiến bộ công nghệ với sự tăng trưởng theo thời gian của sản
lượng. Mô hình còn xác định một vài nguyên nhân gây ra sự khác biệt lớn về
mức sống giữa các nước. Sự tăng trưởng kinh tế của các nước không phải lúc
nào cũng dương mà trong thời kì khủng hoảng, nền kinh tế suy thoái thì mức
tăng trưởng kinh tế sẽ đạt giá trị âm.
c) Ý nghĩa tăng trưởng kinh tế: Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề vật chất
để củng cố an ninh quốc phòng, củng cố chế độ chính trị, tăng uy tín và vai trò
quản lí của Nhà nước đối với xa hội. Đối với các nước chậm phát triển như
nước ta, tăng trưởng kinh tế còn là điều kiện tiên quyết để khắc phục sự tụt hậu
xa hơn về kinh tế so với các nước đã phát triển.
2.1.3. Mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế: Có rất nhiều lý
thuyết và quan điểm đề cập về mối liên hệ giữa lạm phát và tăng trưởng.
a) Theo lý thuyết của Keynes:
Mô hình cân bằng của nền kinh tế (J.M.Keynes – 1936)
18
Khi mô tả nền kinh tế, ông cho rằng, có hai đường tổng cung: AS – LR
phản ánh mức sản lượng tiềm năng của nền kinh tế, và AS – SR phản ánh khả
năng thực tế. Cân bằng của nền kinh tế không nhất thiết ở mức sản lượng tiềm
năng mà thông thường sản lượng thực tế đạt ở mức cân bằng nhỏ hơn mức sản
lượng tiềm năng, nơi mà dưới mức công ăn việc làm đầy đủ cho mọi người.
Trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng. Nghĩa
là, muốn cho tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát
nhất định. Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển cùng
chiều. Sau giai đoạn này, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng
trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm đi.
b) Theo chủ nghĩa trọng tiền:
Đại diện là Milton Friedman cho rằng lạm phát là sản phẩm của việc
gia tăng cung tiền hoặc tăng hệ số tạo tiền ở mức độ lớn hơn tốc độ tăng trưởng
kinh tế. Lập luận này cũng được thể hiện trong công thức nổi tiếng của Irving
Fisher (lý thuyết số lượng tiền tệ - Quantity theory of Money):
MV=PY
Trong đó: M: cung tiền
V: Hệ số tạo tiền
P: Giá
Y: sản lượng đầu ra (GDP thật)
Cũng theo Friedman, nếu giá cả hàng hóa trong nền kinh tế tăng gấp 2
lần mà thu nhập của người lao động cũng tăng gấp 2 lần, họ sẽ không quan tâm
đến việc tăng giá hàng hóa. Trong trường hợp như vậy, tăng trưởng không bị
suy giảm bởi lạm phát. Nếu lạm phát xảy ra theo hướng này thì không ảnh
hưởng nguy hiểm đến tăng trưởng kinh tế. Nói tóm lại, theo quan điểm của
thuyết trọng tiền, trong dài hạn, giá cả bị ảnh hưởng bởi cung tiền chứ không
thực sự tác động lên tăng trưởng. Nếu cung tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng
trưởng kinh tế thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra. Nếu giữ cung tiền và hệ số tạo tiền
ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát.
19
c) Theo lý thuyết tân cổ điển:
Tobin (1965, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004) phát triển mô
hình Mundell (1963, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004) cho rằng lạm
phát là nguyên nhân làm cho con người tránh giữ tiền mà chuyển tiền thành các
tài sản sinh lợi. Điều này sẽ làm gia tăng sự tích lũy vốn trong nền kinh tế và
thúc đẩy kinh tế phát triển. Theo mô hình này giữa lạm phát và tăng trưởng có
mối quan hệ cùng chiều. Bổ sung thêm cho mô hình trên của lý thuyết tân cổ
điển nhà kinh tế học Sidrauski (1967, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif 2004)
có cùng quan điểm với chủ nghĩa trọng tiền, Sidrauski đề cập đến một trạng thái
“vô cùng dửng dưng” (superneutral) với lạm phát. Kết quả nghiên cứu của ông
là khi các biến số độc lập với việc tăng cung tiền trong dài hạn thì việc tăng lạm
phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
d) Mô hình của Stockman (1981, theo Vikesh Gokal, Subrina Hanif
2004) – một nhà kinh tế học thuộc trường phái tân cổ điển – thì cho rằng lạm
phát tăng cao sẽ làm cho tăng trưởng giảm.
2.2. Khung phân tích
Sau khi xem xét nhiều quan điểm lý thuyết của các trường phái khác
nhau, tuy mỗi trường phái có một quan điểm riêng, mô hình riêng để chứng
minh mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng nhưng quan điểm chung của
các trường phái có thể nhận thấy là mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng
không phải là mối quan hệ một chiều mà là sự tác động qua lại. Trong ngắn
hạn, khi lạm phát còn ở mức thấp, lạm phát và tăng trưởng thường có mối
quan hệ cùng chiều. Nghĩa là nếu muốn tăng trưởng đạt tốc độ cao hơn thì phải
chấp nhận tăng lạm phát. Tuy nhiên, mối quan hệ này không tồn tại mãi mãi mà
đến một lúc nào đó, nếu lạm phát tiếp tục tăng cao sẽ ảnh hưởng làm giảm tăng
trưởng. Trong dài hạn, khi tăng trưởng đã đạt đến mức tối ưu thì lạm phát
không tác động đến tăng trưởng nữa mà lúc này, lạm phát là hậu quả của việc
cung tiền quá mức vào nền kinh tế.
20
Từ đó nhóm nghiên cứu đặt ra mục tiêu xác định ngưỡng lạm phát tối
ưu cho nền kinh tế Việt Nam.
2.3.
Khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu được nêu ra ở phần tổng quan nghiên cứu chủ yếu mới chỉ phân
tích được các tác động, ảnh hưởng tích cực và tiêu của lạm phát đối với tăng
trưởng nền kinh tế và tìm ra ngưỡng lạm phát cho một gian đoạn ngắn nhất định,
chưa tìm ra được ngưỡng lạm phát tối ưu làm mục tiêu để hướng tới.
Một số nghiên cứu chưa kết hợp phân tích ảnh hưởng của lạm phát đối với tăng
trưởng kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn do đó kết luận đưa ra chưa bao quát hết
vấn đề.
Các nghiên cứu chưa mở rộng ảnh hưởng của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế
trong mối tương quan các vấn đề kinh tế vĩ mô khác để phân tích.
Một số nghiên cứu chưa đưa ra được các giải pháp cụ thể vận dụng ảnh hưởng
của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế để đề ra các chính sách phát triển kinh tế
hợp lý.
3. Phương pháp nghiên cứu.
Nghiên cứu sử dụng đồng thời phương pháp hồi quy đồng liên kết, mô
hình sai số hiệu chỉnh (ECM) và phương pháp phân tích phương sai dựa trên
mô hình VAR để xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát ở VN trong
ngắn hạn và dài hạn.
Quy trình nghiên cứu dự kiến thực hiện:
Bước 1: Thu thập dữ liệu
Bước 2: Kiểm định tính dừng của dãy số thời gian. Nếu là chuỗi dừng,
chuyển sang bước 4; nếu là chuỗi không dừng thì thực hiện bước 3;
Bước 3: Sử dụng sai phân để đưa chuỗi thời gian từ không dừng thành
chuỗi dừng;
Bước 4: Lựa chọn mô hình chi tiết trong mô hình ECM và VAR;
Bước 5: Kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa lạm phát và tăng trưởng
kinh tế.
21
Một số dữ liệu sử dụng trong đề tài:
Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế thế giới và một số khu vực, giai đoạn
2010-2017
Biểu đồ 2: Tỷ lệ lạm phát tại một số quốc gia/khu vực trên thế giới,
giai đoạn 2000-2017
22
Biểu đồ 3: Tăng trưởng GDP của Việt Nam so với một số khu vực khác từ năm
2012-2017
Biểu đồ 4: CPI giai đoạn 2013-2017
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nước ngoài:
• Các
website:
imf.org,
data.worldbank.org,
www.gso.gov.vn,
, …
• Fischer, S. (1993) “The Role of Macroeconomic Factors in Growth”, The
National Bureu of Economic Research (NBER), Working Paper No. 4565.
/>• Barro, R.J. (1996), “Inflation and Growth,” Federal Reserve Bank of St.
Louis Review, Vol. 78, no. 3, pp. 153-169.
/>df
• Bruno, M., Easterly, W. (1996), “Inflation and Growth: In Search of a
Stable Relationship,” Federal Reserve Bank of St. Louis Review, Vol. 78,
no. 3, pp. 139-146.
/>df
24
• Ghosh, A. and Phillips, S. (1998) “Warning: Inflation May be Harmful to
Your Growth”, IMF Staff Papers, Vol. 45, pp. 672-710.
/>• Khan, M.S., Senhadji, A.S. (2001), “Threshold Effects in the Relationship
Between Inflation and Growth”, IMF Staff Papers, Vol. 48, no.1.
/>• Mallik, G., Chowdhury, A. (2001), “Inflation and economic growth:
Evidence from four South Asian countries”, Asia Pacific Development
Journal, Vol .8, no.1, 123-135.
/>ep1&type=pdf
• Umaru and Zubairu 2012, “Effect of Inflation on the Growth and
Development of the Nigerian Economy: An Empirical Analysis”,
International Journal of Business and Social Science, Vol. 3, no. 10, pp.
183-191.
/>19.pdf
• M. W. Madurapperuma (Department of Accountancy, Faculty of
Commerce and Management Studies, University of Kelaniya, Kelaniya,
Sri Lanka), (2016) (Journal of World Economic Research), Impact of
Inflation on Economic Growth in Sri Lanka
/>on_Economic_Growth_in_Sri_Lanka
• Melanie Smith, The relationship between inflation and economic growth
(GDP): an empirical analysis
/>25
/
• Dr. sc. Mario Švigir, Josipa Miloš, struč. spec. oec. (University College
Effectus – College for Finance and Law, Trg J.F. Kennedy 2, 10000
Zagreb) (2017), Relationship between inflation and economic
growth comparative experience of italy and austria
• Shapan Chandra Majumder (School of Economics, Shandong University,
Jinan, P.R. China, Department of Economics, Comilla University,
Comilla, Bangladesh), (2015), Inflation and Its Impacts on Economic
Growth of Bangladesh
• Khayroollo Sattarov (2011) Inflation and Economic Growth: Analyzing
the Threshold Level of Inflation -Case Study of Finland, 1980-2010
• Jing Xiao (2009), The Relationship between Inflation and Economic
Growth of China: Empirical Study from 1978 to 2007
• Keorapetse Khoza and Relebogile Thebe and Andrew Phiri (Department of
Economics, Business and Finance, CTI Potchefstroom Campus, North
West, South Africa) (2016), Nonlinear impact of inflation on economic
growth in South Africa: A smooth transition regression (STR) analysis
Trong nước:
• Ths. Phùng Duy Quang, Th.S Lâm Văn Sơn và Th.S Lê Văn Tuấn, Phân
tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở Việt Nam thông
qua mô hình kinh tế lượng (tạp chí KTĐN số 58)
• Bùi Thị Điệp, Mai Bình Dương (Khoa Tài chính – Kế toán Đại học Văn
Lang)
(2018), “Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam:
Nghiên cứu giai đoạn 2001-2017”, Tạp chí tài chính.
/>• Một vài nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng
trưởng kinh tế của Th.S Phạm Thị Thu Hương (Đại học Duy Tân)
/>
• ThS. Nguyễn Minh Sáng & Ngô Nữ Diệu Khuê (2015), Lạm phát và
tăng trưởng kinh tế: Nghiên cứu thực nghiệm các nước đang phát triển
và
26