BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH
DOANH THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN
KINH TẾ - TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
(Định hƣớng ứng dụng)
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
TRẦN THỊ BÍCH NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH
DOANH THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN TẠI TÒA ÁN
KINH TẾ - TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 8380107
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Lê Vệ Quốc
HÀ NỘI - 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn tốt nghiệp của tôi với đề tài: “Pháp luật về hợp
đồng vô hiệu trong kinh doanh thƣơng mại và thực tiễn tại Tòa Kinh tế - Tòa án
nhân dân thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép
của bất cứ ai.
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này hoàn toàn trung thực và chưa
từng được sử dụng hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Tôi cam đoan và sẽ chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình./.
Tác giả Luận văn
Trần Thị Bích Ngọc
LỜI CẢM ƠN
Được học tập và rèn luyện dưới môi trường chuyên nghiệp của mái trường Đại
học Luật Hà Nội – cơ sở hàng đầu trong đào tạo và giảng dạy luật học, em đã tích lũy
được cho mình những kiến thức quý báu cũng như phương pháp tư duy pháp lý hiệu quả.
Chính vì vậy, lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến toàn thể
các thầy cô giáo của Trường Đại học Luật Hà Nội thân yêu, đặc biệt là những thầy cô
trong khoa Sau đại học – khoa Luật kinh tế.
Để có được luận văn ngày hôm nay em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc
đến Tiến sĩ Lê Vệ Quốc, người đã giúp đỡ và hướng dẫn tận tình để em có thể hoàn thiện
luận văn tốt nghiệp của mình.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến đội ngũ các anh chị quản lý và trông
coi Trung tâm thông tin thư viện của Trường đại Luật Hà Nội đã giúp em tìm kiếm và
khai thác hiệu quả các thông tin tài liệu từ Thư viện của Trường phục vụ cho Luận văn
của em.
Lời cảm ơn cuối cùng em xin gửi đến các anh, chị quản lý và trông coi Thư viện
Quốc gia Việt Nam cũng đã hướng dẫn và hỗ trợ nhiệt tình để em có được những nguồn
thông tin tài liệu vô cùng quý báu và hữu ích cho cuốn Luận văn này.
Cũng qua đây, em xin gửi lời kính chúc sức khỏe, bình an, hạnh phúc và thành
công đến Quý thầy cô và các anh, các chị.
Trân trọng cảm ơn!
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Kinh doanh thương mại
KDTM
Bộ luật dân sự
BLDS
Luật Thương mại
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân tối cao
LTM
TAND
TANDTC
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
VKSNDTC
Giao dịch dân sự
GDDS
Luật Doanh nghiệp
Hợp đồng
LDN
HD
Giao dịch
Trách nhiệm hữu hạn
Quyền sử dụng đất
GD
TNHH
QSDĐ
Bút lục
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông
BL
NHNNo
thôn
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Bảng số liệu các vụ án KDTM được giải quyết, xét xử
Bảng 2. Bảng số liệu các vụ án KDTM được giải quyết, xét xử của Tòa án kinh tế
- Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU 4
TRONG KINH DOANH THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP
ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƢƠNG MẠI
1.1 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thƣơng mại
4
1.1.1 Khái niệm
4
1.1.2 Dấu hiệu và xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
4
1.1.3 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinhdoanh thương mại
7
1.2 Pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thƣơng mại
8
1.2.1 Khái niệm
8
1.2.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển
8
1.2.3 Nội dung cơ bản của pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh 9
doanh thương mại
1.2.4 Nguồn luật và vấn đề áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng 10
trong kinh doanh thương mại
1.2.5 Pháp luật của một số nước trên thế giới về hợp đồng vô hiệu trong 11
kinh doanh thương mại
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
12
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU 13
TRONG KINH DOANH THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI TÒA KINH TẾ - TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng vô hiệu 13
trong kinh doanh thƣơng mại
2.1.1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh thương mại
13
2.1.2 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
16
2.1.3 Về xử lý hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 23
thương mại
2.1.4 Một số quy định khác
28
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh 30
thƣơng mại tại Tòa án kinh tế - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
2.2.1 Công tác giải quyết, xét xử các vụ án kinh doanh thương mại giai 30
đoạn 2011 – 2017
2.2.2 Bình luận một số bản án
31
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
52
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ 53
HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG KINH DOANH THƢƠNG MẠI
3.1 Những tồn tại của quy định pháp luật về hợp đồng và hợp đồng vô 53
hiệu trong kinh doanh thƣơng mại
3.1.1 Những tồn tại trong pháp luật chuyên ngành
53
3.1.2 Những tồn tại trong Bộ luật Dân sự 2015
60
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng và hợp 68
đồng vô hiệu trong kinh doanh thƣơng mại
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật chuyên ngành
68
3.2.2 Kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Dân sự 2015
71
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
76
KẾT LUẬN
77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Pháp luật hợp đồng là nơi chứa đựng nhiều kỹ thuật pháp lý nhất trong khoa học
pháp lý. Do đó việc học tập và nghiên cứu luật hợp đồng thực sự hữu ích cho việc phát
triển tư duy pháp lý. Đất nước ta đã trải qua nhiều truyền thống pháp luật trong suốt
chiều dài lịch sử. Có thể chưa có một sự chắp nối và tinh lọc thật sự giữa các truyền
thống pháp luật này hoặc chưa có sự lựa chọn tinh tế và khoa học giữa các truyền thống
pháp luật đó, nên luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay thiếu tính kế thừa và thiếu đồng
bộ. Trước khi thực dân Pháp chiếm đóng, ở Việt Nam chưa phát triển lĩnh vực pháp luật
hợp đồng. Các quy tắc liên quan tới hợp đồng thường dưới dạng các điều cấm theo
truyền thống pháp luật Viễn Đông. Khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, pháp luật
của Pháp theo đó mà xâm nhập. Luật hợp đồng được pháp điển hóa theo truyền thống
dân luật – Civil Law. Tới khi thống nhất đất nước, pháp luật hợp đồng của Việt Nam
được pháp điển hóa theo truyền thống pháp luật Xô viết – Sovietique Law. Hiện nay luật
hợp đồng Việt Nam được thể hiện qua nhiều đạo luật.
Để một hợp đồng phát huy được giá trị của nó thì hợp đồng đó phải đáp ứng đầy
đủ các điều kiện để hợp đồng có hiệu lực. Trong hoạt động kinh doanh thương mại
không thể thiếu sự hiện diện của hợp đồng. Với xu thế hội nhập, các chủ thể kinh doanh
không chỉ “chơi” với các doanh nghiệp/thương nhân trong nước – sân nhà, mà còn có cơ
hội và cũng là thách thức khi “chơi” với doanh nghiệp/thương nhân nước ngoài. Vì lẽ đó,
doanh nghiệp/thương nhân muốn chủ động, muốn phát triển và muốn tìm kiếm lợi nhuận
thì phải nắm chắc “luật chơi” trên sân nhà cũng như quốc tế. Chính vì vậy, giá trị pháp lý
của hợp đồng là vấn đề vô cùng quan trọng. Làm sao để hợp đồng không bị vô hiệu, làm
sao để loại trừ rủi ro do hợp đồng vô hiệu? Vì những lý do quan trọng trên, tác giả lựa
chọn đề tài: “Pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thƣơng mại và thực
tiễn tại Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội” cho luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu về HĐ vô hiệu, việc giải quyết hậu quả pháp lý của hợp đồng,
giao dịch dân sự vô hiệu đã được nhiều nhà khoa học quan tâm trong các thời kỳ với
nhiều góc độ khác nhau. Nhìn chung, vấn đề này đã được đề cập tới trong Giáo trình
Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đại học Quốc gia, Trường Đại học Kiểm sát,
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh…Các vấn đề liên quan còn được đề cập trong
một số công trình nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ luật học với đề tài: “HĐ kinh tế vô
hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu” của tác giả Lê Thị Bích Thọ năm
2002, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật; Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Cường:
2
“Giao dịch dân sự vô hiệu và việc giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô
hiệu” năm 2004, Khoa luật Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn thạc sỹ luật học
của Nguyễn Thị Thanh: “Xử lý hợp đồng vô hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam” năm
2005, Trường đại học Luật Hà Nội; Luận văn thạc sỹ của Cao Thị Thùy Dương: “Những
vấn đề lý luận và thực tiễn về xử lý hợp đồng vô hiệu ở Việt Nam” năm 2004, Trường
Đại học Luật Hà Nội… Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết của các tác giả được đăng
trên các Tạp chí Luật học, Tạp chí Tòa án nhân dân hay Tạp chí Kiểm sát…
Tuy nhiên, khi tìm hiểu và nghiên cứu các công trình có liên quan nói trên, tác giả
nhận thấy rằng các công trình này nghiên cứu các quy định của Bộ luật Dân sự năm
2005. Đồng thời, các nghiên cứu đó cũng chỉ đi sâu vào vấn đề lý luận, chưa có đề tài
nào khai thác vấn đề thực tiễn việc vận dụng và thi hành các quy định của pháp luật.
Năm 2016, tác giả Đỗ Thị Len cũng có nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về hợp đồng
thương mại vô hiệu ở Việt Nam” cho luận văn thạc sĩ của mình. Ở luận văn này đã có sự
nghiên cứu và liên hệ với Bộ luật Dân sự 2015. Tuy nhiên, có thể khi này Bộ luật Dân sự
năm 2015 chưa có hiệu lực, do vậy, luận văn chưa nghiên cứu sâu quy định của Bộ luật
mới và vẫn chỉ đưa ra các đánh giá và phân tích các quy định của Bộ luật Dân sự năm
2005. Chính vì vậy, trong bối cảnh Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đi vào thực tiễn được
một thời gian và cũng đã bộc lộ một số vấn đề cần hoàn thiện, tác giả quyết định lựa
chọn đề tài này cho luận văn tốt nghiệp của mình.
3. Mục đích, đối tƣợng và giới hạn phạm vi nghiên cứu của Luận văn
Luận văn hướng đến cung cấp những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật vô
hiệu trong kinh doanh thương mại; cung cấp những quy định của pháp luật về hợp đồng
vô hiệu trong kinh doanh thương mại, đặc biệt là các quy định của pháp luật hiện hành
góp phần giúp các chủ thể tham gia hợp đồng trong kinh doanh thương mại phòng tránh
được phần nào rủi ro trong quan hệ hợp đồng. Trong luận văn này tác giả tập trung tìm
hiểu, nghiên cứu, phân tích và đánh giá vào các vấn đề sau: i) Các quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại, tập trung chủ
yếu là BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và một số văn bản pháp luật có liên quan; ii)
Thực tiễn áp dụng các quy định về hợp đồng thương mại tại Tòa kinh tế - Tòa án nhân
thành phố Hà Nội. Thông qua nghiên cứu và bình luận một số bản án, quyết định cụ thể
của Tòa án dựa trên các quy định của pháp luật được áp dụng (tại thời điểm xét xử),
đồng thời có sự so sánh và đánh giá sự tương thích với quy định của pháp luật hiện hành.
4. Các phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sở phương pháp
luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác –
3
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Bên cạnh đó một số phương
pháp khác cũng được tác giả kết hợp sử dụng đó là: Phương pháp phân tích: Được sử
dụng để làm rõ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu; Phương pháp tổng hợp: Được
sử dụng để khái quát hóa nội dung cần nghiên cứu, đưa ra hướng nghiên cứu logic để
làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu; Phương pháp so sánh: Sử dụng để so sánh các quy
định của pháp luật giai đoạn trước với pháp luật hiện hành từ đó cho thấy sự hoàn thiện
của các quy định pháp luật qua từng giai đoạn; Phương pháp thống kê: Thống kê các số
liệu có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu, từ đó, phân tích, tổng hợp và đánh giá số
liệu để đưa ra nhận định phù hợp làm cơ sở thực hiện cho việc đưa ra các kiến nghị về
việc hoàn thiện pháp luật. Một số phương pháp khác như: Diễn giải, quy nạp, bình luận
cũng được tác giả kết hợp sử dụng để hoàn thiện luận văn.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Dưới góc độ khoa học, những kết quả nghiên cứu mới của luận
văn sẽ đề cập một cách có hệ thống, chi tiết quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại; đưa ra những đánh giá, nhận định về
tính hợp lý, logic, tính khả thi của các quy định này và nêu quan điểm về hướng sửa đổi,
bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại ở
nước ta hiện nay.
Dưới góc độ thực tiễn, luận văn cung cấp một số vấn đề về tình hình áp dụng pháp
luật giải quyết tranh chấp hợp đồng vô hiệu tại Tòa kinh tế - TAND thành phố Hà Nội.
Từ đó chỉ ra những vướng mắc, khó khăn trong quá trình vận dụng quy định pháp luật và
gợi mở những kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện/áp dụng pháp luật góp
phần hoàn thiện pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại đáp ứng
nhu cầu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Bố cục (các chƣơng) của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương
mại và pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại;
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương
mại và thực tiễn áp dụng tại Tòa Kinh tế - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
Chương 3: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh
doanh thương mại.
4
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG
KINH DOANH THƢƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU
TRONG KINH DOANH THƢƠNG MẠI
1.1 Hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thƣơng mại
1.1.1 Khái niệm
Vô hiệu theo nghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không có hiệu quả”1. Từ
đó có thể suy ra, HĐ vô hiệu là HĐ không tồn tại theo quy định của pháp luật, không có
hiệu lực pháp lý. Trong khoa học pháp lý, HĐ vô hiệu dùng để chỉ tình trạng một HĐ trái
với ý chí của các bên hoặc trái với điều kiện có hiệu lực của pháp luật. Khi một HĐ bị
tuyên bố vô hiệu có nghĩa HĐ không có giá trị ngay từ thời điểm giao kết HĐ. Như trên
đã nói HĐ trong lĩnh vực KDTM là một loại HĐ dân sự đặc thù, chúng có mối quan hệ
biện chứng với nhau. Đây là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, trong đó, HĐ dân
sự là cái chung và HĐ KDTM là cái riêng. Với tư cách là cái chung và cái riêng, HĐ dân
sự và HĐ trong KDTM đều tồn tại khách quan và độc lập tương đối với nhau; những
thuộc tính vốn có của HĐ dân sự được biểu hiện cụ thể trong HĐ trong KDTM, đồng
thời HĐ trong KDTM cũng có những đặc thù riêng của nó. Ở Việt Nam, BLDS được coi
là “luật mẹ” hay “luật gốc” điều chỉnh những vấn đề chung nhất trong dân sự. Trong khi
đó, hiện nay các luật chuyên ngành kinh tế không có quy định về vấn đề này do vậy, để
xác định HĐ vô hiệu trong KDTM, chúng ta cần căn cứ vào quy định tại Điều 117 và
Điều 122 BLDS 2015. Theo đó, có thể hiểu HĐ vô hiệu trong KDTM là HĐ không tuân
thủ đầy đủ điều kiện có hiệu lực của HĐ. Khi HĐ vi phạm một hay nhiều điều kiện có
hiệu lực của HĐ thì HĐ đó bị coi là vô hiệu.
Tóm lại, HĐ vô hiệu trong KDTM là những HĐ trong KDTM mà các chủ thể
tham gia HĐ không tuân thủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định. Hậu quả là
HĐ không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên kể từ
thời điểm xác lập HĐ.
1.1.2 Dấu hiệu và xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
1.1.2.1 Dấu hiệu nhận biết hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Thứ nhất, không đáp ứng một trong các điều kiện theo quy định của pháp luật đối
với HĐ có hiệu lực, bao gồm:
i) Điều kiện về chủ thể tham gia HĐ. Bản chất của HĐ là sự thống nhất ý chí và
bày tỏ ý chí của các chủ thể trong HĐ nhưng không phải bất cứ ai cũng có quyền tham
gia vào bất kỳ HĐ nào mà chỉ có các chủ thể được pháp luật cho phép mới có thể tham
gia. Khi các chủ thể tham gia HĐ thì phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi
dân sự phù hợp với HĐ được xác lập. Đồng thời, về mặt ý chí, chủ thể tham gia HĐ hoàn
toàn tự nguyện, không bị ép buộc, đe dọa hay lừa dối.
ii) Mục đích và nội dung của HĐ vi phạm điều cấm của pháp luật, trái với đạo đức
xã hội. Mặc dù, khi tham gia HĐ các bên chủ thể hoàn toàn được tự do thể hiện ý chí của
1
Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng, (2011), Giao dịch về QSDĐ vô hiệu pháp luật và thực tiễn xét xử, Nxb
Thông tin và truyền thông, Hà Nội, tr.29.
5
mình, tự do trong việc quyết định nội dung, hình thức của HĐ, tự do lựa chọn đối tác…
Nhưng sự tự do đó không mang tính tuyệt đối mà bị ràng buộc trong khuôn khổ pháp
luật cho phép. Sự ràng buộc này chính là sự hạn chế tự do của các chủ thể khi tham gia
thiết lập HĐ, nếu chủ thể tham gia không tuân thủ các quy định hạn chế đó sẽ dẫn tới HĐ
bị vô hiệu – điểm c khoản 1 Điều 117 BLDS 2015. Quy định tại Điều 123 BLDS 2015
thì đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng
đồng thừa nhận và tôn trọng. Quy định này chưa được hướng dẫn hay giải thích cụ thể,
chi tiết, vậy nên, thực tế áp dụng các thẩm phán, trọng tài viên thường căn cứ vào án lệ
hoặc tư duy theo logic của mình để giải thích và áp dụng.
iii) Chủ thể tham gia HĐ không tự nguyện. Sự tự nguyện tham gia HĐ là một yếu
tố cơ bản và không thể thiếu được trong HĐ. Vì vậy, các chủ thể tham gia HĐ phải thể
hiện ý chí đích thực của mình. Mọi thỏa thuận không phản ánh đúng ý chí của các bên
đều có thể dẫn đến sự vô hiệu của HĐ. Ý chí đích thực trong HĐ thể hiện là, khi tham
gia HĐ các chủ thể có quyền thể hiện mong muốn của mình ra bên ngoài trong khuôn
khổ pháp luật cho phép mà không bị sự ép buộc của bất kỳ một yếu tố nào khác.
iv) Hình thức của HĐ không đúng với quy định của pháp luật. Thông qua HĐ các
chủ thể cũng như những người khác có thể biết được nội dung của HĐ giữa các bên.
Việc quy định một số loại HĐ phải tuân thủ các quy định về hình thức dựa trên cơ sở là đối
tượng của các loại HĐ này có giá trị lớn hoặc có tính năng đặc biệt, nên hình thức của HĐ là
căn cứ xác định chính xác nội dung các cam kết, thỏa thuận của các bên. Mặt khác, những
quy định đó còn là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc
chuyển dịch các tài sản này.
Thứ hai, các bên tham gia HĐ phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhất định. Khi HĐ
vô hiệu, quay lại tình trạng ban đầu, các bên tham gia HĐ hoàn lại cho nhau những gì đã
nhận. Về mặt lý thuyết, đây là sự tổn thất của các bên, vì các bên không đạt được mục
đích như đã mong muốn mà quay lại tình trạng như trước khi tham gia HĐ. Tuy nhiên,
về mặt thực tế có trường hợp khi tuyên bố HĐ vô hiệu, có bên được hưởng lợi, có bên bị
thiệt hại, có thể nói đây là vấn đề phức tạp nhất khi giải quyết hậu quả pháp lý HĐ vô
hiệu trong thực tế.
1.1.2.2 Xác định hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Về nguyên tắc, để một HĐ phát sinh hiệu lực pháp lý thì HĐ đó phải thỏa mãn
các điều kiện do luật định. BLDS đưa ra những điều kiện chung nhất về điều kiện có hiệu
lực của các GDDS, trên cơ sở đó luật chuyên ngành có thể có những quy định bổ sung cụ
thể hóa về điều kiện có hiệu lực đối với từng loại HĐ cụ thể. Điều 116 BLDS 2015 quy
định: “GDDS là hợp đồng, hoặc…, nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, HĐ (dân sự) trong mọi
trường hợp được coi là GDDS. Do vậy điều kiện có hiệu lực của GDDS cũng là điều
kiện có hiệu lực của HĐ (dân sự), những quy định về điều kiện có hiệu lực của GDDS sẽ
được áp dụng khi giao kết và thực hiện HĐ (dân sự). Cũng từ đó, khi xem xét hiệu lực
của HĐ trong KDTM – một loại HĐ dân sự đặc thù, ta cũng áp dụng các điều kiện có
hiệu lực của GDDS, bởi luật chuyên ngành không có quy định về vấn đề này. Theo đó, các
điều kiện dẫn đến sự vô hiệu của HĐ trong KDTM, đó là – dựa theo Điều 117 BLDS 2015:
6
Thứ nhất, chủ thể không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự
phù hợp với HĐ được xác lập.
Để đảm bảo tính thống nhất của pháp luật HĐ, khi quy định về các loại HĐ cụ thể
trong lĩnh vực KDTM, LTM năm 2005 và các luật chuyên ngành khác không lặp lại
những quy định chung về HĐ đã được ghi nhận trong BLDS. Quy định về từng loại HĐ
cụ thể trong lĩnh vực thương mại, LTM và các luật chuyên ngành tập trung quy định về
tính chất, chủ thể, hình thức, quyền và nghĩa vụ trong từng quan hệ HĐ cụ thể. Đây cũng là
đặc điểm chung nhất của LTM và các luật chuyên ngành về vấn đề này. Do đó, để xác định
tư cách chủ thể tham gia HĐ trong KDTM, các bên cần nghiên cứu kỹ các quy định có liên
quan của luật chuyên ngành.
Thứ hai, chủ thể tham gia HĐ không tự nguyện. Tự nguyện được hiểu là “tự
mình muốn làm, không phải bị thúc ép, bắt buộc”2. Tính tự nguyện trong HĐ là khả năng
về ý chí và biểu lộ ý chí ra bên ngoài của các chủ thể khi tham gia HĐ, là phạm trù chủ
quan thuộc khả năng xử sự của quyền chủ thể được pháp luật công nhận và cho phép.
Yếu tố tự nguyện đóng vai trò rất quan trọng và có thể coi là yếu tố đặc trưng của pháp
luật dân sự nói chung và HĐ nói riêng. Để xác định một chủ thể tham gia HĐ có hoàn
toàn tự nguyện hay không, điều kiện cần là được pháp luật cho phép tham gia HĐ và
điều kiện đủ là hành vi tham gia HĐ của các chủ thể tham gia phải là thể hiện ý chí đích
thực của họ trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng nhằm đạt được mục đích nhất định.
Thứ ba, mục đích và nội dung của HĐ vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã
hội. “Mục đích” hiểu theo nghĩa thông thường là “cái vạch ra làm đích nhằm đạt cho
được” – Từ điển Tiếng Việt. Theo pháp luật dân sự Việt Nam thì mục đích của HĐ được
hiểu là lợi ích mà các bên đã vạch ra sẵn trong ý nghĩ của mình và mong muốn đạt được
khi tham gia HĐ. Nội dung, theo nghĩa thông thường là mặt bên trong của sự vật, cái
được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện. Nội dung được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả
các điều kiện có liên quan đến giao dịch như điều kiện về chủ thể, về đối tượng, số
lượng, về HĐ có điều kiện hoặc các nguyên tắc của HĐ. Theo nghĩa hẹp thì nội dung
gồm tổng hợp các điều khoản mà các bên thỏa thuận hoặc tuyên bố nhằm làm phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Mục đích, nội dung của HĐ là sự thể hiện hành vi có ý thức của con người khi xác
lập, thực hiện HĐ và được pháp luật công nhận và bảo vệ. Do vậy, nó là điều kiện cần và
đủ của mọi GDDS cũng như của HĐ hay HĐ trong KDTM. Để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của các bên trực tiếp tham gia HĐ, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
khác, lợi ích Nhà nước cũng như lợi ích chung của cộng đồng, pháp luật quy định những
hành vi nhất định mà các chủ thể không được thực hiện – điều cấm của luật. Do vậy các
bên khi tham gia HĐ cần tôn trọng và tuân thủ. Bên cạnh các quy định cấm của luật thì
những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn
trọng các bên cũng phải tôn trọng và thực hiện đúng để tránh sự vô hiệu cho HĐ đã xác lập.
2
Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng, tlđd 1, tr.55
7
Thứ tƣ, hình thức HĐ không đúng quy định trong trường hợp luật quy định hình
thức là điều kiện có hiệu lực của HĐ. Hình thức của HĐ là cách thức biểu hiện ra bên
ngoài, là phương thức thể hiện ý chí của các chủ thể trong HĐ. Hình thức của hợp đồng
nói chung có thể được thể hiện dưới dạng lời nói, hành vi hoặc văn bản. Những quy định
cụ thể về hình thức này (nếu có) phần lớn là được quy định tại các luật chuyên ngành.
Chính vì vậy, để HĐ không bị vô hiệu về mặt hình thức thì các bên cần tìm hiểu các quy
định cụ thể có liên quan của luật chuyên ngành và tuân theo đúng các quy định đó.
Trường hợp luật không có quy định điều kiện về hình thức, các bên sẽ có thể tùy nghi lựa
chọn hình thức cho HĐ mà mình tham gia.
Ngoài ra, đối với HĐ thương mại quốc tế, các quy định điều chỉnh quan hệ HĐ
này còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế song phương và đa phương mà Việt
Nam tham gia với tư cách thành viên. Chẳng hạn như: Hiệp định thương mại Việt Nam –
Hòa Kỳ (BTA), Hiệp định chung về thương mại dịch vụ của WTO (GATS), Hiệp định
thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (FTA), Công ước Viên năm 1980 về
HĐ MBHH quốc tế (CISG)... Những quy định trong các điều ước quốc tế trực tiếp hoặc
gián tiếp điều chỉnh các quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại nói chung và HĐ thương
mại quốc tế nói riêng. Do đó, khi đánh giá hiệu lực pháp lý của những HĐ này phải lưu ý
quan tâm đến các văn bản pháp luật có liên quan đó.
Tóm lại, các điều kiện có hiệu lực của HĐ được quy định trong BLDS là những
điều kiện cơ bản, bắt buộc đối với các chủ thể khi xác lập, thực hiện HĐ. Các điều kiện
nêu trên là một thể thống nhất, hoàn chỉnh và khi xem xét không được xem nhẹ điều kiện
nào. Căn cứ vào nội dung của từng điều kiện cụ thể có thể thấy: điều kiện có hiệu lực của
giao dịch đều là ý chí của Nhà nước kết hợp với ý chí của chủ thể trong HĐ nhằm bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp cho các chủ thể. Vì vậy, nếu thiếu một hoặc các điều kiện này thì
HĐ có thể bị tuyên bố là vô hiệu. Trong một HĐ, các điều kiện này có mối liên hệ gắn
bó với nhau và bổ trợ cho nhau. Do đó, khi xem xét, đánh giá một HĐ về nguyên tắc
không được tách các điều kiện đó ra mà phải đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng
với nhau để giúp ta thấy được tính hợp pháp hay không hợp pháp của HĐ. Trên cơ sở đó,
ta xác định được HĐ vô hiệu hay hợp pháp.
1.1.3 Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Về phương diện lý thuyết, khi các bên tham gia HĐ nhằm thiết lập một quan hệ
mà ở đó mỗi bên đều đạt được một mục đích nhất định. Từ mục đích đó, các bên tham
gia HĐ sẵn sàng gánh chịu những trách nhiệm và được hưởng những quyền lợi nhất
định, nhưng vì HĐ vô hiệu không xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên, nếu các bên
chưa thực hiện, thì các bên không được tiếp tục thực hiện; nếu đang được thực hiện, các
bên không được tiếp tục thực hiện và giải quyết hậu quả pháp lý của HĐ vô hiệu; trường
hợp các bên đã thực hiện xong những gì đã thỏa thuận thì cũng giải quyết hậu quả của
HĐ vô hiệu. Giải quyết hậu quả pháp lý của HĐ vô hiệu là buộc các bên khôi phục lại
tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, trong trường hợp các bên không
trả cho nhau bằng hiện vật thì hoàn trả cho nhau bằng tiền, bên có lỗi gây thiệt hại phải
8
bồi thường do pháp luật quy định hoặc các bên có thỏa thuận trước về hậu quả, như phạt,
phạt cọc khi một bên có lỗi và phải chịu thiệt hại tương ứng với lỗi của họ gây ra. Do đó,
HĐ vô hiệu chỉ có thể làm phát sinh hậu quả về trách nhiệm dân sự hoặc BTTH ngoài
HĐ. Đây cũng chính là tính chất đặc trưng của chế tài trong quan hệ pháp luật dân sự.
Trên thực tế, khi TA giải quyết vụ việc xin tuyên bố HĐ vô hiệu thì thường là
trường hợp các bên đã thực hiện toàn bộ hoặc một phần những gì mà họ đã thỏa thuận
với nhau. Do vậy, rất ít trường hợp khi TA tuyên bố HĐ vô hiệu có thể khắc phục hậu
quả đúng như nhà làm luật quy định.
Tóm lại, khi HĐ vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm HĐ được xác lập. Khi HĐ vô hiệu thì các bên khôi
phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể
hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả. Bên ngay tình trong việc
thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó. Bên có lỗi gây thiệt hại thì
phải bồi thường. Việc giải quyết hậu quả của GD dân sự vô hiệu liên quan đến quyền
nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định – Điều 131 BLDS 2015.
1.2 Pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thƣơng mại
1.2.1 Khái niệm
Pháp luật điều chỉnh HĐ trong lĩnh vực thương mại được hiểu là tổng thể quy
phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình ký kết và thực hiện HĐ trong lĩnh vực thương mại. Theo đó,
pháp luật về HĐ vô hiệu trong KDTM bao gồm tổng thể các quy phạm do nhà nước ban
hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các vấn đề về HĐ và HĐ vô hiệu phát sinh trong hoạt
động KDTM giữa các thương nhân với nhau và giữa các thương nhân với các chủ thể
khác. Ví dụ như: vấn đề HĐ vô hiệu, thẩm quyền tuyên bố HĐ vô hiệu, thời hiệu yêu cầu
tuyên bố HĐ vô hiệu, xử lý hậu quả của HĐ vô hiệu…
1.2.2 Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển
Pháp luật về HĐ trong KDTM nói chung và pháp luật về HĐ vô hiệu trong
KDTM nói riêng ở nước ta đã có quá trình phát triển qua nhiều giai đoạn với những đặc
điểm khác nhau về điều kiện kinh tế, xã hội. Đến năm 1986 đất nước ta bắt đầu bước vào
giai đoạn mới: chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế thị trường, HĐ kinh tế
giữ vai trò vô cùng quan trọng. Yếu tố mệnh lệnh hành chính trong quan hệ kinh tế
không còn phù hợp nữa. Vì thế HĐ kinh tế được trả lại giá trị đích thực của nó. Ngày
25/09/1989 Pháp lệnh HĐ kinh tế được ban hành. Lần đầu tiên các quy định về HĐ kinh
tế vô hiệu được ghi nhận một cách có hệ thống trong một văn bản pháp luật khi nền kinh
tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế.
Tiếp tục đề cập đến vấn đề có hiệu lực của HĐ và HĐ vô hiệu, BLDS 1995 đã
khắc phục được những nhược điểm của Pháp lệnh HĐ kinh tế, đồng thời chấm dứt hiệu
lực của Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991. BLDS quy định rõ ràng các điều kiện có hiệu
lực của HĐ thông qua việc quy định các điều kiện có hiệu lực của GDDS. Điều 131 Bộ
luật này quy định các điều kiện đó là: i) Người tham gia GDDS có năng lực hành vi dân
9
sự; ii) Mục đích của nội dung GDDS không trái pháp luật, đạo đức xã hội; iii) Người
tham gia GD hoàn toàn tự nguyện; iv) Hình thức của GD phù hợp với các quy định của
pháp luật.
Ngày 10/05/1997 Quốc hội nước ta đã thông qua LTM năm 1997, tuy nhiên, LTM
không đề cập đến vấn đề HĐ vô hiệu, mà chỉ có các quy định liên quan đến HĐ trong
KDTM như: chủ thể, đối tượng, nội dung, quyền và nghĩa vụ các bên trong HĐ... Trước
yêu cầu của công cuộc đổi mới và trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ngày
14/6/2005 Quốc hội đã thông qua BLDS năm 2005 (hiện nay là BLDS 2015) và LTM
năm 2005. Với sự ra đời của LTM 2005 và BLDS 2005 đã đánh dấu bước phát triển mới
của pháp luật về HĐ và là sự thống nhất pháp luật về HĐ ở Việt Nam. Kế thừa, phát triển
và bổ sung các quy định của BLDS 2005, BLDS 2015 đã có những quy định tiến bộ rất
đáng ghi nhận liên quan đến vấn đề này. Theo đó, các quy định về HĐ trong KDTM đã
có những thay đổi cơ bản cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung pháp lý. Sự thống nhất
pháp luật về HĐ thể hiện ở các khía cạnh cơ bản: i) BLDS là sự quy định các vấn đề
mang tính nguyên tắc, điều chỉnh các quan hệ tài sản nói chung; ii) LTM năm 2005 là
nguồn luật quan trọng điều chỉnh các GD thương mại giữa các nhà kinh doanh với nhau
và với các bên có liên quan nhằm triển khai hoạt động kinh doanh; iii) Bên cạnh các quy
định trong BLDS và LTM, một số HĐ đặc thù trong thương mại, đầu tư còn được điều
chỉnh bởi quy định trong các luật chuyên ngành đó; iv) Nguyên tắc áp dụng pháp luật
được xác định rõ trong LTM năm 2005 là: Hoạt động thương mại phải tuân theo LTM và
pháp luật có liên quan. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp
dụng quy định của luật đó. Hoạt động thương mại không được quy định trong LTM và trong
các luật khác thì áp dụng quy định của BLDS.
Như vậy có thể thấy rằng, lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật HĐ vô
hiệu trong KDTM đã trải qua nhiều thời kỳ tương ứng với điều kiện, hoàn cảnh và tình
hình phát triển kinh tế - xã hội mỗi giai đoạn. Hiện nay, vấn đề HĐ vô hiệu chủ yếu được
quy định tại BLDS 2015 – văn bản “gốc” điều chỉnh quan hệ HĐ nói chung và hướng tới
không có sự phân biệt giữa HĐ dân sự và HĐ trong KDTM.
1.2.3 Nội dung cơ bản pháp luật về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Ở Việt Nam hiện nay, pháp luật điều chỉnh quan hệ HĐ được chế định trong nhiều
văn bản khác nhau. Ngoài những quy định về HĐ trong BLDS, LTM, còn có thể tìm thấy
nhiều quy định liên quan đến HĐ trong các văn bản pháp luật điều chỉnh các lĩnh vực
trong KDTM như: tín dụng, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng, vận chuyển, đầu tư, đất
đai… Nội dung cơ bản của pháp luật điều chỉnh HĐ trong lĩnh vực thương mại bao gồm:
- Những quy định về bản chất, chủ thể của HĐ trong lĩnh vực KDTM;
- Những quy định về điều kiện, thủ tục giao kết và thực hiện HĐ trong lĩnh vực
KDTM;
- Các điều kiện có hiệu lực của HĐ và các quy định về các trường hợp HĐ vô hiệu;
- Những quy định về sửa đổi, bổ sung, thay đổi, đình chỉ, hủy bỏ, chuyển giao
quyền và nghĩa vụ theo HĐ, chấm dứt, thanh lý HĐBH;
- Những quy định về trách nhiệm vật chất (chế tài thương mại) do vi phạm HĐ
trong lĩnh vực thương mại;
10
Các biện pháp bảo đảm thực hiện HĐ.
Như vậy có thể thấy các quy định về HĐ vô hiệu trong KDTM là một phần trong
chế định HĐ. Và nội dung cơ bản của pháp luật về HĐ vô hiệu trong KDTM bao gồm: 1)
những quy định về điều kiện có hiệu lực của HĐ trong KDTM; 2) các trường hợp HĐ vô
hiệu trong KDTM; 3) các quy định về xử lý hậu quả pháp lý của HĐ vô hiệu trong
KDTM; 4) Quy định về thẩm quyền và thời hiệu xử lý HĐ vô hiệu trong KDTM.
1.2.4 Nguồn luật và vấn đề áp dụng pháp luật trong quan hệ hợp đồng trong
kinh doanh thương mại
Thứ nhất, áp dụng pháp luật quốc gia. Các quy định về HĐ vô hiệu trong KDTM
phần lớn được quy định tại BLDS 2015. Còn các luật chuyên ngành quy định các vấn đề
liên quan khác như: chủ thể tham gia HĐ, hình thức hợp đồng, đối tượng HĐ… Do vậy,
để xem xét vấn đề hiệu lực của HĐ trong KDTM thì chúng ta luôn luôn phải nghiên cứu
luật chuyên ngành trước sau đó là các quy định của BLDS. Xuất phát từ mối quan hệ
giữa HĐ và HĐ trong KDTM là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng cũng như sự
thống nhất trong điều chỉnh quan hệ HĐ ở Việt Nam hiện nay, việc áp dụng quy định
pháp luật để điều chỉnh quan hệ HĐ trong KDTM được thực hiện theo nguyên tắc chung,
đó là: những quy định về HĐ dân sự trong BLDS là căn cứ chung, mang tính nguyên tắc
cho HĐ KDTM; những quy định về HĐ trong KDTM ở các văn bản pháp luật chuyên
ngành được ưu tiên áp dụng trước BLDS. Tóm lại, BLDS là văn bản “gốc” điều chỉnh
HĐ vô hiệu nói chung và HĐ vô hiệu trong KDTM nói riêng. BLDS quy định các vấn đề
mang tính nguyên tắc, điều chỉnh các quan hệ HĐ khi LTM hay luật chuyên ngành không
có quy định thì sẽ áp dụng BLDS để điều chỉnh.
Thứ hai, áp dụng điều ước quốc tế. Khi áp dụng điều ước quốc tế đối với các hợp
đồng trong lĩnh vực thương mại, cần phân biệt hai trường hợp: i) Đối với những Điều ước
quốc tế mà Việt Nam đã là thành viên, nếu điều ước đó có quy định khác với pháp luật
Việt Nam, thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế - khoản 1 Điều 5 LTM năm
2005; ii) Đối với những điều ước quốc tế mà Việt Nam chưa là thành viên, thì các bên
trong HĐ có quyền thỏa thuận áp dụng những nội dung không trái với những nguyên tắc
cơ bản của pháp luật Việt Nam.
Thứ ba, áp dụng thói quen thương mại. Thói quen thương mại cũng là nguồn quy
phạm điều chỉnh quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại. Theo LTM, khoản 3 Điều 3 thì
thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình
thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên
thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong HĐ thương mại. Cũng theo
quy định tại Điều 12 Luật này về Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương
mại được thiết lập giữa các bên thì trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi
là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các
bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp
luật. Như vậy, trường hợp các bên ký kết HĐ không thỏa thuận cụ thể thì có thể áp dụng
theo thói quen trong hoạt động thương mại đã hình thành giữa các bên.
-
11
Thứ tƣ, áp dụng tập quán thương mại. Tập quán thương mại là nguồn luật rất
quan trọng điều chỉnh các quan hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là trong
thương mại quốc tế. Tập quán thương mại thường được áp dụng để điều chỉnh các quan
hệ HĐ trong lĩnh vực thương mại, khi các mối quan hệ này không được điều chỉnh bởi
HĐ giữa các bên hoặc điều ước quốc tế và luật pháp của các quốc gia. Trong mối quan
hệ với HĐ, tập quán được áp dụng theo nguyên tắc: nếu pháp luật quốc gia không có quy
định, các bên không có thỏa thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên
thì tập quán được áp dụng nhưng không trái với những nguyên tắc của pháp luật.
Thứ năm, áp dụng án lệ. Việc án lệ được công nhận và áp dụng tại Việt Nam là
một điểm mới rất tiến bộ và đáng ghi nhận của BLDS 2015. Theo đó, Điều 6 BLDS 2015
quy định: “Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân
sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán
được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự”.
“Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này
thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật
này, án lệ, lẽ công bằng”.
1.2.5 Pháp luật một số nước về hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Thứ nhất, hệ thống các nƣớc theo truyền thống luật Châu Âu lục địa – Civil Law.
Pháp luật các nước theo truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa như Pháp, Đức và các
nước chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này (Bỉ, Tây Ban Nha, một số nước ở
châu Mỹ Latin…). Ở hệ thống các nước này phân biệt khá rõ ràng GDDS và GD thương
mại nhưng chỉ coi hành vi thương mại là một dạng đặc biệt của hành vi dân sự3.
Thứ hai, hệ thống các nƣớc theo truyền thống thông luật/pháp luật Anh –
Mỹ/Common law. Các nước theo truyền thống thông luật như Anh, Mỹ, Úc, các nước
chịu ảnh hưởng của truyền thống pháp luật này và một số nước châu Âu như Italia, Hà
Lan, Thụy Sĩ… Ở hệ thống pháp luật này, không có sự phân biệt pháp luật dân sự và
pháp luật thương mại, cũng không phân biệt hành vi thương mại với hành vi dân sự. Do
vậy các văn bản pháp luật, án lệ, tập quán thương mại được áp dụng chung cho mọi HĐ
mà không phân biệt HĐ đó được ký kết vì mục đích kinh doanh hay vì mục đích sinh
hoạt, tiêu dùng.
Thứ ba, các nƣớc có nền kinh tế chuyển đổi nhƣ Liên bang Nga, Trung Quốc.
Ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi, cũng đã có sự thống nhất pháp luật điều chỉnh
quan hệ HĐ. Đây là xu thế phát triển tất yếu của hệ thống pháp luật về HĐ bởi các HĐ
không có sự khác biệt về bản chất, cho dù nó được giao kết phục vụ hoạt động KDTM
hay đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng.
Nhìn chung xu hướng chung trên thế giới và Việt Nam hiện nay là không phân
biệt rạch ròi HĐ thương mại với HĐ (dân sự) trong các văn bản pháp luật (các khái niệm
HĐ thương mại với HĐ dân sự chỉ mang tính học thuật chứ không phải là thuật ngữ
3
Nguyễn Thị Dung (2012), Giáo trình một số hợp đồng đặc thù trong hoạt động thương mại và kỹ năng đàm phán,
soạn thảo, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.25.
12
chính thức được sử dụng trong pháp luật thực định). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa
là không nghiên cứu về nó và trên thực tế ngày càng nhiều các nhà luật học đã và đang
bắt đầu có những nghiên cứu chuyên biệt về loại HĐ này nhằm đáp ứng nhu cầu thực
tiễn của toàn xã hội nói chung và các nhà kinh doanh nói riêng. Điều đó càng khẳng định
vai trò không thể phủ nhận của HĐ thương mại đối với đời sống kinh tế trên phạm vi
toàn cầu.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Ngày nay trước sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nền kinh tế nước ta phải phát
huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định
hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi tính dân tộc, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo
vệ môi trường để tạo nên uy tín và sức mạnh cho nước ta trên trường thế giới. Tham gia
sân chơi trong khu vực và thế giới đòi hỏi nền kinh tế nước nhà phải vững mạnh, hệ
thống pháp luật liên quan cần phải thông thoáng, nhưng chặt chẽ để các nhà đầu tư trong
và ngoài nước yên tâm, thu hút đầu tư và hơn hết các cá nhân, tổ chức, pháp nhân hoạt
động thương mại cần thiết phải bản lĩnh, thông minh và không chỉ dừng lại ở biết luật mà
còn hiểu đúng, hiểu sâu và nắm bắt kịp thời, chính xác các quy định pháp luật hiện hành
để thu lợi nhuận và hạn chế rủi ro cho chính bản thân. Công cụ thể xác lập quyền, nghĩa
vụ của các chủ thể hoạt động thương mại là HĐ. Do đó, HĐ phải tuân thủ theo quy định
của pháp luật để có hiệu lực ràng buộc các bên kết ước, góp phần bảo vệ lợi ích chính
đáng của những chủ thể kinh doanh chân chính.
Do vậy, xuất phát từ sự quan trọng của HĐ trong kinh doanh và thực tiễn trong
việc lợi dụng HĐ để tuyên vô hiệu, gây hoang mang, bất ổn định của những doanh
nghiệp kinh doanh chân chính, nên việc phân tích và nghiên cứu các trường hợp HĐ vô
hiệu trong KDTM là vô cùng cần thiết. Và qua chương 1 của cuốn luận văn tác giả giải
quyết hai vấn đề cơ bản nhất: i) Đƣa ra những vấn đề cơ bản của HĐ vô hiệu trong
KDTM và giải quyết mối quan hệ giữa HĐ dân sự và HĐ trong KDTM. Từ đó giải
thích tại sao BLDS là nguồn căn cứ/văn bản “gốc” để điều chỉnh HĐ trong KDTM
vô hiệu; ii) Đánh giá những quy định pháp luật về HĐ vô hiệu trong KDTM qua các
thời kỳ phát triển và hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Nêu, phân tích và đánh giá
những vấn đề cơ bản nhất của pháp luật hiện hành về HĐ vô hiệu trong KDTM.
Đồng thời có sự nghiên cứu và so sánh với hệ thống pháp luật điển hình trên thế giới.
13
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU TRONG
KINH DOANH THƢƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TÒA KINH TẾ TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 Những quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng vô hiệu trong
kinh doanh thƣơng mại
2.1.1 Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh thương mại
Căn cứ theo Điều 117 BLDS năm 2015 và các quy định liên quan khác, có thể xác
định HĐ trong KDTM có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, chủ thể tham gia HĐ phải có năng lực chủ thể để thực hiện các nghĩa
vụ theo HĐ. Năng lực chủ thể ở đây bao gồm cả năng lực pháp luật và năng lực hành vi
phù hợp với loại HĐ được xác lập.
Nếu như các BLDS trước đây chỉ quy định: “Người tham gia GD có năng lực
hành vi dân sự” thì BLDS 2015 đã bổ sung cụm từ “chủ thể có năng lực pháp luật dân
sự”, “phù hợp với GDDS được xác lập”. Trong hai cụm từ được sửa đổi, bổ sung đó thì
việc thay thế “người” bằng “chủ thể” đơn thuần chỉ là kỹ thuật, không làm thay đổi nội
dung. Và việc thêm “...năng lực pháp luật dân sự”, theo tác giả là không cần thiết bởi:
năng lực pháp luật dân sự của cá nhân hay pháp nhân đều chỉ là khả năng có quyền và
nghĩa vụ dân sự và “không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên
quan có quy định khác” – Điều 18, Điều 86 BLDS 2015; khả năng này của mỗi loại chủ
thể trong cùng một môi trường pháp lý, môi trường xã hội là như nhau. Hơn nữa, hiện
nay, với một chính sách, pháp luật rất cởi mở thì nhiều rào cản – đặc biệt với pháp nhân,
liên quan đến năng lực pháp luật của chủ thể đã được dỡ bỏ. Do vậy, việc đưa cụm từ
này vào hầu như không làm thay đổi nội dung, cũng không có nhiều ý nghĩa thực tiễn.
Tuy nhiên, với sự bổ sung “...phù hợp với GDDS được xác lập” là có ý nghĩa cả
về pháp lý và thực tiễn, tạo sự thống nhất giữa các quy định liên quan đến năng lực hành
vi. Có thể thấy, năng lực hành vi của chủ thể là yếu tố quan trọng, là điều kiện không thể
thiếu để HĐ có hiệu lực. Khi một chủ thể không có năng lực hành vi phù hợp với HĐ mà
mình sẽ xác lập mà vẫn xác lập thì HĐ vi phạm điều kiện có hiệu lực dẫn đến HĐ bị vô hiệu.
Về năng lực pháp luật của cá nhân, đây là khả năng của cá nhân có quyền dân sự
và nghĩa vụ dân sự có được từ khi cá nhân sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết. Bao
gồm: Quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân gắn với tài sản; Quyền
sở hữu và các quyền khác đối với tài sản, quyền thừa kế và Quyền tham gia vào quan hệ
dân sự và có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ đó.
Quy định về năng lực hành vi dân sự của cá nhân, căn cứ vào BLDS 2015 thì
người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên và người thành niên là người có năng lực
hành vi dân sự đầy đủ.
Về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân. Theo quy định tại khoản 2 Điều 86
BLDS 2015 thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải
14
đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm
ghi vào sổ đăng ký.
Năng lực hành vi dân sự của pháp nhân. Về nguyên tắc, thời điểm tổ chức, doanh
nghiệp hay pháp nhân được coi là có năng lực hành vi dân sự đầy đủ phải căn cứ vào quy
định của pháp luật. Pháp luật doanh nghiệp được coi là nguồn pháp lý chủ yếu điều
chỉnh/quy định năng lực hành vi dân sự của doanh nghiệp/pháp nhân. Bên cạnh đó,
doanh nghiệp/pháp nhân hoạt động trong lĩnh vực nào thì sẽ chịu thêm sự điều chỉnh của
văn bản pháp luật của lĩnh vực đó.
Như vậy, năng lực pháp luật và năng lực hành vi là hai yếu tố của chủ thể khi
tham gia quan hệ HĐ, chúng có nội hàm khác nhau, ảnh hưởng đến tính có hiệu lực của
HĐ là rất khác nhau.
Thứ hai, chủ thể tham gia HĐ hoàn toàn tự nguyện. BLDS 2015 kế thừa hoàn
toàn quy định này từ BLDS 2005. Ý chí của chủ thể, sự tự do tự nguyện tham gia HĐ là
rất quan trọng, nó vừa là quyền con người, quyền công dân vừa là một điều kiện quan
trọng để HĐ có hiệu lực pháp lý. Có thể thấy các quy định tại Điều 126, Điều 127 BLDS
2015 là biểu hiện của trường hợp vô hiệu do vi phạm điều kiện này.
Thứ ba, mục đích và nội dung của HĐ không vi phạm điều cấm của luật, không
trái đạo đức xã hội. Điều cấm của luật là những quy định quy luật không cho phép chủ
thể thực hiện những hành vi nhất định. Còn chuẩn mực xã hội là những chuẩn mực ứng
xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Để có được quy
định này chúng ta đã phải đi một chặng đường không hề ngắn. Trước khi BLDS đầu tiên
được dự thảo, cũng như khi BLDS 1995 có hiệu lực, chúng ta đều cho rằng, mục đích và
nội dung của GDDS không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì GD mới được coi là hợp
pháp, nếu vi phạm điều cấm của pháp luật thì GDDS sẽ vô hiệu. Với những quy định đó,
tất yếu sẽ là, nếu các chủ thể không thực hiện đúng quy định của pháp luật hoặc luật
không có quy định nào cho phép hoặc có quy định cấm đoán mà các chủ thể vẫn xác lập,
thực hiện GD thì GD đó đều bị coi là trái pháp luật. Như vậy, không gian dành cho các
chủ thể trong xác lập GD rất hạn chế, chỉ trong phạm vi pháp luật cho phép. Nhưng từ
khi BLDS năm 2015 được ban hành và có hiệu lực thì không gian dành cho các chủ thể
muốn xác lập GD mới thực sự rộng mở bằng quy định: “mục đích và nội dung của GDDS
không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.
Điều kiện này chứa đựng hai cặp yếu tố:
i) Cặp yếu tố “mục đích và nội dung của GDDS” là cặp yếu tố có tính cốt lõi của
GD. Mục đích là cái mà các bên trong GD hướng tới và Điều 118 đã định nghĩa rất cụ
thể: “Mục đích của GDDS là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập GD
đó”. Còn nội dung của GD chính là thỏa thuận của các bên về quyền, nghĩa vụ trong GD
mà các bên phải thực hiện hoặc quyền của những chủ thể tham gia nhằm đạt được mục đích
khi xác lập, tham gia GD. BLDS 2015 kế thừa hoàn toàn nội dung này trong BLDS 2005.
ii) Cặp yếu tố thứ hai được quy định rõ ràng, dứt khoát nhằm xác định, chỉ dẫn
một hành lang pháp lý để các bên xử sự trong quá trình xác lập, thực hiện GD, đó là GD
“không vi phạm điều cấm của luật...”. So với BLDS 2005 thì Bộ luật 2015 đã có sự sửa
15
đổi quan trọng, dù chỉ bỏ một chữ “pháp” trong thuật ngữ “pháp luật” tại Điều 123 của
Bộ luật, điều này đem đến một nội hàm mới về cả pháp lý và thực tiễn.
Dưới góc độ pháp lý thì những vấn đề có ý nghĩa quan trọng phải được luật điều
chỉnh và tư duy này đã được thể hiện nhất quán trong rất nhiều điều luật. Theo đó, kể từ
thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực, chỉ những điều cấm quy định trong văn bản luật chứ
không phải văn bản dưới luật (nghị định, thông tư…) mới là căn cứ pháp lý để xác định
GD có vi phạm điều kiện này hay không. Dưới góc độ thực tiễn thì lợi ích của người dân
nói chung, lợi ích chính đáng của các bên trong HĐ nói riêng phải được bảo đảm một
cách chắc chắn bởi cơ quan quyền lực cao nhất, có như vậy mới không còn nguy cơ bị
méo mó bởi những văn bản dưới luật của cơ quan hành pháp hoặc cơ quan tư pháp, có
tác dụng tăng niềm tin khi các bên tham gia HĐ, góp phần thúc đẩy quan hệ HĐ.
Đây là một trong những điều kiện quan trọng, có thể coi là quan trọng nhất. Bởi
lẽ, mục đích, nội dung của HĐ chính là “linh hồn” của HĐ, nó không chỉ tác động trực
tiếp đến lợi ích của các bên tham gia HĐ mà có thể ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ
thể khác, dù họ không tham gia HĐ, nếu các bên tham gia HĐ không lấy pháp luật, đạo
đức xã hội làm chuẩn, làm cơ sở trong quá trình xác lập HĐ.
Thứ tƣ, hình thức của HĐ là điều kiện có hiệu lực của HĐ trong trường hợp luật
có quy định. Hình thức của HĐ trong KDTM phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Đối với một số HĐ trong KDTM đặc biệt mà pháp luật quy định phải được lập thành văn
bản mới có hiệu lực pháp luật (HĐ MBHH quốc tế, HĐ quảng cáo, HĐ tín dụng...) hoặc
công chứng, chứng thực hay đăng ký (HĐ bảo lãnh, HĐ thế chấp QSDĐ...) thì việc lập
HĐ bằng văn bản và công chứng, chứng thực hay đăng ký là điều bắt buộc.
Đối với điều kiện này, BLDS 2015 đã bỏ chữ “pháp” trong thuật ngữ “pháp luật”
so với BLDS 2005 – khoản 2 Điều 119, còn những nội dung khác BLDS 2015 vẫn giữ
nguyên. BLDS 2015 gần như kế thừa quy định về hình thức của GD được quy định tại
Điều 124 BLDS 2005, khoản 1 Điều này chỉ bổ sung cho cụ thể hơn, và khoản 2 bỏ chữ
“pháp” để vừa đảm bảo tính nhất quán giữa các quy định, vừa khẳng định chỉ khi “luật
quy định GD dân sự phải được thể hiện bằn văn bản có công chứng, chứng thực, đăng
ký” thì các bên mới bắt buộc phải tuân theo quy định đó.
Như vậy, hình thức của HĐ phải được thể hiện dưới hình thức văn bản có công
chứng, chứng thực, đăng ký chỉ khi có luật định, khi đó nó mới trở thành điều kiện bắt
buộc về hình thức của HĐ. Vì vậy, dù HĐ đó quan trọng hay không quan trọng mà
không có luật nào quy định HĐ phải công chứng, chứng thực, đăng ký thì các bên không
thực hiện công chứng, chứng thực, đăng ký HĐ vẫn có hiệu lực. Quy định này đã thể
hiện rõ hơn triết lý “việc dân sự cốt ở hai bên”, nội dung của HĐ, sự tự nguyện của các
chủ thể mới là yếu tố quan trọng, còn hình thức của HĐ chỉ có ý nghĩa trong một chừng
mực nhất định. Chúng ta sẽ thấy rõ hơn về điểm này khi nghiên cứu các trường hợp HĐ
vô hiệu, nhất là quy định HĐ vi phạm điều kiện về hình thức. Ngoài ra, HĐ trong KDTM
khi được giao kết phải đảm bảo các nguyên tắc về quyền tự do, bình đẳng, tự nguyện,
thiện chí, hợp tác và trung thực.
16
2.1.2 Các trường hợp hợp đồng vô hiệu trong kinh doanh thương mại
Tại Điều 122 BLDS 2015 đã quy định như sau: "GDDS không có một trong các
điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật
này có quy định khác." Quy định này chứa đựng hai nội dung rất quan trọng: i) nội dung
thứ nhất hoàn toàn kế thừa quy định của BLDS 2005: "GDDS không có một trong các
điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu". Đây là một quy định
có tính khẳng định, xét dưới góc độ triết học nó thể hiện mối quan hệ không thể tách rời
giữa nội dung và hình thức của sự vật. Vì vậy, trên nguyên tắc, quy định này không gây
ra băn khoăn, tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở nội dung này như quy định trong BLDS 2005,
theo tác giả là có phần cứng nhắc vì chưa đáp ứng được sự đa dạng, tính mềm dẻo trong
quan hệ dân sự, chưa coi bản chất sự vật, ý chí của các bên tham gia GD mới là yếu tố
cốt lõi; ii) nội dung thứ hai của điều kiện này là "trừ trường hợp Bộ luật này có quy định
khác" là nội dung mới được bổ sung, hé mở sẽ có quy định mới trong các quy định tiếp
theo của Bộ luật, đồng thời, từ quy định này khi sửa đổi, bổ sung hoặc xây dựng luật mới
cần có sự cân nhắc theo hướng hạn chế những trường hợp quy định hình thức là điều
kiện bắt buộc đối với loại GD.
Dưới đây là các trường hợp HĐ vô hiệu được nghiên cứu và phân tích dựa trên
các quy định trong BLDS 2015. Bộ luật không thiết kế theo hướng liệt kê, do đó, không
được nhầm lẫn cho rằng Bộ luật đã quy định đầy đủ tất cả các trường hợp GD/HĐ vô
hiệu mà cần phải thấy đó chỉ là các trường hợp có tính phổ biến, điển hình.
Thứ nhất, HĐ vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội – dựa
theo Điều 123 BLDS 2015.
Nếu như BLDS 1995 dựa trên nguyên tắc công dân được làm những gì pháp luật
cho phép, thì khi BLDS 2005 được thông qua một tư duy mới đã bắt đầu nảy nở với ý
tưởng là công dân được làm những gì pháp luật không cấm. Tư tưởng này đã được khẳng
định trong Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa rõ nét trong BLDS 2015.
Khi một bên hoặc cơ quan có thẩm quyền cho rằng, HĐ vi phạm điều cấm của
luật, trái đạo đức xã hội thì phải chỉ rõ điều cấm nào của luật, quy định nào không cho
phép các bên xác lập HĐ, nếu vi phạm thuộc lĩnh vực đạo đức cũng phải chỉ rõ vi phạm
chuẩn mực nào trong lĩnh vực đạo đức. Nếu không chỉ ra các căn cứ pháp lý cụ thể thì
không áp dụng điểm c khoản 1 Điều 117, Điều 123 của Bộ luật để tuyên vô hiệu HĐ.
Ví dụ: Doanh nghiệp tư nhân HB ký HĐ mua bán Rùa nước ngọt đốm đen với
Doanh nghiệp X – quốc tịch nước ngoài. HĐ mua bán này vô hiệu do vi phạm điều cấm
của luật. Cụ thể là vi phạm điểm c khoản 1 Điều 6 Luật Đầu tư năm 2014, mua bán động
vật thuộc danh mục cấm kinh doanh theo Phụ lục I, phần III mục 1 tiểu mục 1.3 Công
ước quốc tế về buôn bán các loại động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ký tại
Washington D.C ngày 01/3/1973.
Thứ hai, HĐ vô hiệu do giả tạo – dựa theo Điều 124 BLDS 2015.
Điều 124 BLDS 2015 quy định: “1. Khi các bên xác lập GDDS một cách giả tạo
nhằm che giấu một GDDS khác thì GDDS giả tạo vô hiệu, còn GDDS bị che giấu vẫn có
17
hiệu lực, trừ trường hợp GD đó cũng vô hiệu theo quy định của Bộ luật này hoặc luật
khác có liên quan; 2. Trường hợp xác lập GDDS giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với
người thứ ba thì GDDS đó vô hiệu”.
Theo đó, sẽ có hai dạng HĐ bị coi là giả tạo: i) Dạng giả tạo thứ nhất: hai bên tạo
ra hai HĐ nhưng thực chất chỉ có một HĐ là có thực còn một HĐ là giả. Như vậy, khi
một HĐ được coi là giả tạo thì dù biểu hiện về hình thức là một HĐ, có đủ các yếu tố cấu
thành của HĐ, nhưng các bên không có ý định thực hiện HĐ, không phát sinh quyền,
nghĩa vụ thực sự cho các bên, việc tạo ra HĐ này chỉ nhằm che giấu một HĐ có thực
khác, nên theo quy định tại Điều 124 BLDS 2015 thì HĐ này bị vô hiệu, còn HĐ có thực
bị che giấu vẫn có hiệu lực.
Ví dụ: Do cần tiền gấp để đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, nên anh Trịnh
Quyết Tuấn đã ký HĐ chuyển nhượng nhà đất với Công ty TNHH Minh Nhật – chính là
Công ty đã môi giới cho anh Tuấn đi xuất khẩu lao động. Sau khi sang Nhật, do không
được sắp xếp công việc như thỏa thuận từ trước nên anh Tuấn trở về nước và khởi kiện
đòi lại nhà đất đã chuyển nhượng với lý do HĐ chuyển nhượng vô hiệu. Theo đó, thực
chất giữa các bên đã xác lập một HĐ khác là HĐ vay tiền với số tiền là 200 triệu đồng.
Nhưng do Công ty Minh Nhật lo sợ anh Tuấn không thể trả nợ nên đã yêu cầu ký HĐ
chuyển nhượng nhà đất nói trên cũng với giá chuyển nhượng bằng đúng khoản tiền mà
Công ty nộp vào cho anh Tuấn là 200 triệu đồng – thấp hơn rất nhiều so với giá trị thực
của nhà đất mà anh Tuấn sở hữu. Như vậy, HĐ chuyển nhượng nhà đất vô hiệu do giả
tạo, HĐ vay tài sản mới là ý chí thực của các bên và do đó mới là HĐ có hiệu lực.
ii) Dạng HĐ thứ hai: Các bên chỉ xác lập một HĐ đối với tài sản đó, nhưng thực
chất hai bên không có ý định thực hiện HĐ này. Dù HĐ được xác lập theo đúng quy định
của pháp luật nhưng không làm phát sinh quyền nghĩa vụ của hai bên, các bên không
thực hiện những thỏa thuận được ghi trong HĐ. Việc xác lập HĐ chỉ nhằm trốn tránh
nghĩa vụ với bên thứ ba, trong trường hợp này HĐ cũng bị vô hiệu.
Ví dụ: Doanh nghiệp tư nhân A làm ăn thua lỗ và có nhiều khoản nợ sắp đến thời
hạn phải trả. Chủ doanh nghiệp A tìm cách ký các HĐ mua bán tài sản nhằm tẩu tán tài sản
của mình để tránh bị các chủ nợ “siết nợ”. Khi này HĐ mua bán các tài sản của chủ doanh
nghiệp A sẽ có thể bị tuyên vô hiệu do giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với các chủ nợ.
Một trong những yếu tố quan trọng để nhận biết được bản chất, xác định đúng
đường lối giải quyết là phải thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ, khi đã có đủ tài liệu,
chứng cứ thì việc đánh giá tài liệu, chứng cứ phải được quan tâm đặc biệt. Vì các tranh
chấp loại này thường có nhiều tài liệu, chứng cứ mâu thuẫn nhau, bước tiếp theo là áp
dụng đúng quy định của pháp luật. Khi đã có căn cứ xác định HĐ giả tạo thì áp dụng
Điều 124, các điều quy định về hậu quả HĐ vô hiệu để giải quyết.
Thứ ba, HĐ vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân
sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự xác lập, thực hiện – dựa theo Điều 125 BLDS 2015.
Khoản 1 Điều 125 quy định: "1. Khi GDDS do người chưa thành niên, người mất
năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc