1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiều thập kỷ qua, bệnh Sốt xuất huyết vẫn là một trong những bệnh
truyền nhiễm gây dịch xảy ra trên nhiều quốc gia và có xu hướng lan rộng ra
nhiều vùng khác nhau trên thế giới. Các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới
trong đó Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là hai nơi có tỷ lệ mắc bệnh
cao nhất. Nếu như năm 2003 chỉ có 8/10 quốc gia trong khu vực Đông Nam
Á có lưu hành dịch sốt xuất huyết thì đến năm 2006, 100% số quốc gia trong
khu vực đã xuất hiện dịch. Ước tính mỗi năm có khoảng 390 triệu ca mắc
sốt xuất huyết trên toàn thế giới với 96 triệu người có biểu hiện lâm sàng
nặng [82].
Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang tìm kiếm những biện
pháp hữu hiệu nhằm khống chế bệnh sốt xuất huyết [80],[105]. Qua kinh
nghiệm triển khai thực hiện ở một số quốc gia, đã cho thấy dùng hóa chất diệt
muỗi chỉ có tính chất tạm thời, trấn an cộng đồng hơn là phòng chống dịch.
Mặt khác, sử dụng hóa chất đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nhiều hơn.
Trong khi đó, biện pháp tận gốc là phải giảm và triệt nguồn sinh sản của
muỗi, điều này đồng nghĩa với việc kiểm soát bọ gậy một cách có hiệu quả.
Nhưng sau nhiều năm thực hiện các biện pháp phòng chống dịch sốt xuất
huyết, bệnh dịch vẫn diễn biến phức tạp, tỷ lệ bệnh luôn tiếp tục gia tăng hàng
năm và không còn mang tính chu kỳ 3, 4 năm như trước đây mà dịch hầu như
xảy ra mang tính chất thường xuyên hơn . Tại Việt Nam, Vụ dịch sốt xuất
huyết Dengue đầu tiên xảy ra ở Việt Nam vào năm 1958 [10]. Đến nay, bệnh
SXHD đã trở thành một bệnh dịch lan truyền rộng rãi, là vấn đề y tế quan
trọng vì tỉ lệ mắc và tử vong cao nếu không phát hiện, xử trí đúng và phòng
chống kịp thời [40],[43],[56],[62]. Năm 1999, chương trình Quốc gia phòng
chống bệnh SXHD tại Việt Nam được hình thành và đi vào hoạt động với mục
2
tiêu giảm chết, giảm mắc, không để dịch xảy ra và xã hội hóa hoạt động
phòng chống sốt xuất huyết [4].
Từ khi triển khai chương trình đến nay, thực trạng hoạt động phòng
chống sốt xuất huyết cho thấy số tử vong do sốt xuất huyết có chiều hướng
giảm nhưng số mắc không giảm nhiều, thậm chí có thời kỳ còn gia tăng, bùng
phát thành dịch lớn. Do đó, trong những năm gần đây phòng chống sốt xuất
huyết là vấn đề y tế được nước ta đặt lên hàng đầu .
Bình Phước là một trong những tỉnh thuộc khu vực miền Đông Nam
Bộ, nơi có tỷ lệ lưu hành bệnh sốt xuất huyết khá cao . Mặc dù, Dự án Quốc
gia về phòng chống sốt xuất huyết cũng đã được triển khai phủ khắp các
huyện. Tuy nhiên, bệnh sốt xuất huyết vẫn thường xuyên phát sinh hàng năm,
đôi khi phát sinh và lan rộng tại một số xã, phường. Sau nhiều năm triển khai
dự án, do nguồn ngân sách hạn chế, mạng lưới cộng tác chỉ triển khai thực
hiện khoảng 10% số xã, ưu tiên chọn lựa những xã có tỷ lệ mắc bệnh cao,
trình độ dân trí, kinh tế thấp, khó tiếp cận với các phương tiện truyền thông
đại chúng. Các xã còn lại sử dụng các y tế thôn ấp thực hiện việc tuyên truyền
giáo dục người dân phòng bệnh sốt xuất huyết lồng ghép vào các nội dung
hoạt động khác tại địa phương. Do vậy, hoạt động tuyên truyền cho cộng
đồng có kiến thức về sốt xuất huyết tương đối đầy đủ và toàn diện nhưng
thực hành về phòng chống sốt xuất huyết còn hạn chế do không đủ nguồn
lực có cộng tác viên cho tất cả các xã. Tuy nhiên, sau năm 2013, Dự án Quốc
gia về phòng chống sốt xuất huyết cũng không còn duy trì mô hình cộng tác
viên này nữa. Hoạt động phòng chống sốt xuất huyết được lồng ghép chung
trong các hoạt động của trạm y tế. Do đó, với giả thuyết xây dựng một mạng
lưới tình nguyện viên tại cộng đồng cùng với y tế cơ sở sẽ giúp thay thế mô
hình cộng tác viên để thực hiện hoạt động phòng chống sốt xuất huyết tại
cộng đồng có hiệu quả, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số đặc
3
điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue và hiệu quả mô hình giám
sát chủ động của tuyến y tế cơ sở vector truyền bệnh tại tỉnh Bình Phước”
nhằm mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm dịch tễ sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Bình Phước giai
đoạn 2008 - 2016.
2. Đánh giá hiệu quả của mô hình tình nguyện viên giám sát véc tơ truyền
bệnh sốt xuất huyết tại tuyến y tế cơ sở giai đoạn 2013-2016.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử phát hiện virus Dengue và vec tơ truyền bệnh
1.1.1. Khái niệm sốt xuất huyết Dengue
Sốt Dengue hay sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm virus
Dengue cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn.
1.1.2. Lịch sử phát hiện virus và vec tơ truyền bệnh
Vào những năm 1778 - 1780, những vụ dịch SXHD đầu tiên được ghi
nhận xảy ra ở Châu Á, Châu Phi và Bắc Mỹ. Sự xuất hiện gần như đồng thời
của các vụ dịch trên ba lục địa khác nhau chứng tỏ rằng virus gây bệnh cũng
như vectơ truyền bệnh đã phân bố rộng rãi trên toàn thế giới từ hàng trăm
năm trước. Vào thời gian này SXHD chỉ được xem là một bệnh nhẹ. Đến sau
chiến tranh thế giới lần thứ II, một vụ đại dịch SXHD xuất hiện ở Đông Nam
Á và từ đó lan rộng trên toàn cầu [108],[110].
Virus Dengue là nguyên nhân chính gây ra bệnh sốt xuất huyết (SXH).
Lâm sàng của bệnh đã được biết từ những năm 1800, nhưng mãi đến năm
1944 người ta mới tìm ra virus. Virus đầu tiên được Sabin A.B tìm ra trong
thế chiến thứ II trong những binh lính ở Calcutta, New Guinea và Hawaii. Các
virus được phân lập ở Ấn Độ, Hawaii và một chủng ở New Guinea có kháng
nguyên giống nhau được gọi là DEN-1. Ba chủng khác còn lại ở New Guinea
có kháng nguyên khác với chủng trên, được gọi là DEN-2. Sau đó, 2 typ
huyết thanh khác là DEN-3 và DEN-4 lần lượt được Hammon W. MCD tìm ra
từ bệnh nhân mắc SXH ở Manila vào năm 1956. Cho tới nay, đã có rất nhiều
virus Dengue được tìm ra ở nhiều nơi trên thế giới, song tất cả đều nằm trong
4 typ huyết thanh đã phân loại. Sự nhiễm với bất kì type nào cũng không bảo
vệ bệnh nhân khỏi sự nhiễm với 3 type còn lại. Nhưng việc bị nhiễm liên tiếp
với nhiều type là một trong những tiền đề cho hội chứng sốc Dengue [81],
[86],[87],[93].
5
Trước đây, người ta đã nghĩ đến muỗi là tác nhân truyền bệnh SXH,
nhưng phải đến năm 1903, Graham mới đưa ra được dẫn chứng cụ thể và tới
năm 1906 Bancroft đã chứng minh vectơ chính truyền bệnh là Aedes aegypti.
Những nghiên cứu gần đây ở Philippines, Indonesia và Tây Thái Bình Dương
đã chứng minh Aedes albopictus, Aedes polyneiensis cũng là những vectơ
tham gia truyền bệnh SXH.
Virus Dengue typ II luôn là typ chủ đạo trong các vụ dịch lẻ tẻ. Một số
nhận xét của Dar L, Gupta E và Narang P đã cho thấy sự phức tạp của các
virus Dengue bằng sự xuất hiện của cả 4 dạng virus Dengue typ 1, 2, 3, 4 tại
Delhi Ấn Độ và virus Dengue typ 2 vẫn là typ chủ đạo gây ra vụ dịch năm
2003 ở đây.
SXH là bệnh không thuốc đặc trị, chưa có vaccin phòng bệnh, vì vậy
diệt vectơ chính là biện pháp hữu hiệu trong phòng chống bệnh. Từ lâu, các
quốc gia đã nỗ lực nghiên cứu tìm ra các biện pháp kết hợp diệt muỗi và bọ
gậy trong phòng chống bệnh SXH.
1.2. Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết
SXH là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Dengue gây ra và
muỗi Aedes aegypti là trung gian truyền bệnh. Bệnh thường có triệu chứng sốt
cao, đột ngột kéo dài trong vòng 2-7 ngày kèm theo đau đầu, đau cơ, đau
xương khớp và nổi ban. Bệnh diễn biến nặng có xuất huyết với nhiều mức độ
khác nhau và có thể tiến triển đến hội chứng sốc Dengue, tử vong.
6
1.2.1. Đặc điểm dịch tễ
1.2.1.1. Tác nhân gây bệnh.
Virus Dengue gây bệnh SXH do côn trùng truyền bệnh gọi là virus
Arbo thuộc nhóm Flaviridae. Có 4 typ huyết thanh: I, II, III, IV. Khi vào cơ
thể, virus nhân lên trong tế bào bạch cầu đơn nhân để gây bệnh. Ở mỗi nước
hay khu vực có thể gặp cả 4 typ, nhưng trong mỗi vụ dịch tùy theo có typ nổi
trội hơn.
Hình 1.1: Muỗi Aedes aegypti
Muỗi trưởng thành
Cung quăng
Trứng
Bọ gậy
Hình 1.2. Vòng đời của muỗi Aedes aegypti
7
1.2.1.2. Nguồn truyền nhiễm:
Nguồn truyền nhiễm chính là bệnh nhân. Trong đó nhóm người mắc thể
nhẹ, ít được phát hiện là nguồn bệnh quan trọng. Các nhà nghiên cứu ở
Malaixia đã chứng minh được loài khỉ hoang dại là nguồn bệnh trong tự
nhiên, nhưng chưa có bằng chứng từ khỉ truyền cho người.
1.2.1.3. Đường lây truyền:
- Bệnh không lây truyền trực tiếp từ người sang người mà qua muỗi
Aedes đốt người bệnh rồi truyền virus sang người lành qua vết đốt. Ở Việt
Nam có hai loài muỗi truyền bệnh chính là:
+ Muỗi Ae. aegypti.
+ Muỗi Ae. albopictus.
Trong đó quan trọng nhất là Ae. aegypti.
Aedes aegypti là loại muỗi vằn, có nhiều ở thành phố, thị xã, khu đông
dân cư, thích trú đậu trong nhà, ưa đốt người, đốt dai (đốt nhiều lần đến khi
no), sau khi đốt thì đậu ở nơi tối, đốt chủ yếu ban ngày, đặc biệt lúc sáng sớm
và chiều tối (còn gọi là muỗi ngày), bay xa khoảng 400m, đậu cao từ 2m trở
xuống, thích đậu ở chỗ tối, mát, ở các giá thể sẫm màu. Sinh sản thuận lợi ở
những dụng cụ chứa nước gần nhà. Nhiệt độ thuận lợi cho trứng phát triển là
trên 26oC (11-18 ngày), ở nhiệt độ cao hơn: 32-35 oC chỉ cần 4-7 ngày. Muỗi
cái đẻ trứng trong suốt đời sống của nó khoảng 6 - 7 lần, mỗi lần khoảng 60
- 100 trứng, tuy nhiên trong điều kiện phòng thí nghiệm muỗi có thể đẻ đến
13 lần. Muỗi Aedes aegypti nghiên cứu trong phòng thí nghiệm trung bình
sống từ 20 - 40 ngày [74].
8
1.2.1.4.Tính cảm nhiễm và sức đề kháng
Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có thể mắc bệnh. Trẻ em dễ
bị nhiễm hơn với bệnh cảnh thường nhẹ so với người lớn. Sau khi khỏi bệnh
cơ thể sẽ có miễn dịch suốt đời với typ virus Dengue gây bệnh nhưng không
có miễn dịch đầy đủ với các typ virus Dengue khác. Nếu bị mắc bệnh lần thứ
hai do typ virus Dengue khác, có thể bệnh nhân sẽ bị bệnh nặng hơn và dễ
xuất hiện sốc Dengue.
1.2.1.5. Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền:
Thời kỳ ủ bệnh từ 3-14 ngày. Thông thường từ 5-7 ngày. Bệnh nhân là
nguồn lây bệnh trong thời kỳ có sốt, nhất là 5 ngày đầu đây là giai đoạn trong
máu có nhiều virus. Muỗi bị nhiễm virus từ 8-12 ngày sau khi hút máu và có
thể truyền bệnh suốt đời.
1.2.1.6. Điều kiện phát sinh dịch và phân vùng dịch tễ
Dịch SXH trong những năm gần đây có xu hướng lan rộng ra nhiều
vùng khác trên thế giới. Đông Nam Á, Tây và Nam Thái Bình Dương là
những vùng có dịch lưu hành cao. Việt Nam là một trong những nước nằm
trong khu vực này.
Bệnh SXH tuy có nhiều trường hợp nhẹ, nhưng cũng có nhiều trường
hợp nặng như thể sốc, thể não,… và tỷ lệ tử vong cao (từ 2-3 đến 10% tuỳ
theo mỗi nước).
Điều kiện phát sinh dịch
Cần 3 điều kiện:
- Mật độ muỗi Ae. aegypti cao (≥ 1 con/nhà và 50% nhà có muỗi).
- Khí hậu, thời tiết thích hợp: Mùa mưa (nhiều ổ nước đọng), nhiệt
độ > 25oC.
9
- Đặc điểm dân cư: Mật
độ dân cư cao, chưa có miễn
dịch hoặc mới tiếp xúc hạn
chế với virus Dengue; trẻ em
chiếm tỉ lệ cao trong tập thể.
Điều kiện sinh hoạt vệ sinh
thấp: nhà ở chật chội, ẩm
thấp, tối, thiếu nước dùng
Hình 1.3: Chu trình tái nhiễm SXH
(phải dự trữ nước), có nhiều
cống rãnh ứ trệ, ao tù…
Ở nước ta, SXH được chia thành 3 vùng:
- Vùng 1: có bệnh quanh năm, phát triển mạnh vào mùa hè thu, gặp
chủ yếu ở trẻ em (Đồng bằng sông Cửu Long, ven biển miền Trung…).
- Vùng 2: không có bệnh vào những tháng rét nhưng phát thành dịch
vào mùa mưa - nóng, gặp cả ở trẻ em và người lớn (Bắc Trung Bộ, đồng bằng
Bắc Bộ…).
- Vùng 3: bệnh tản phát ở vài tháng mưa - nóng, thường không thành
dịch (Tây Nguyên, miền núi phía Bắc…).
Về type gây bệnh, theo Trương Uyên Ninh và cộng sự khi nhận xét về
mặt huyết thanh học, virus học thì bệnh SD/SXHD xuất hiện tại Việt Nam
trong giai đoạn từ 1987 đến 2007 tại một số tỉnh miền Bắc và miền Trung thì
các typ virus Dengue thường chuyển dịch từ virus Dengue typ 2 sang virus
Dengue typ 1 rồi đến virus Dengue typ 3. Dự báo trong giai đoạn tới, khi mặt
bằng đáp ứng kháng thể của cộng đồng dân cư đối với các typ virus Dengue 1
và 2 thì các vụ dịch có thể chuyển sang virus Dengue typ 3, typ 4 nhưng virus
10
Dengue typ 2 vẫn luôn có mặt và là nguyên nhân chính gây nên dịch
SD/SXHD ở Việt Nam.
Qua các báo cáo nghiên cứu của Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Viện
Pasteur Thành Phố Hồ Chí Minh, cho thấy tại khu vực miền Bắc thì chủ yếu
lưu hành các typ D1 và D2. Đối với các tỉnh phía Nam thì hầu như luôn xuất
hiện cùng lúc 4 typ virus D1, D2, D3, D4. Tuy nhiên, đối với các trường hợp
SXHD độ III, IV thì typ virus D1 và D2 vẫn chiếm ưu thế.
Trong năm 2011, qua giám sát tại các tỉnh phía nam, kết quả phân lập
typ virus cho thấy số mẫu dương tính với D1 chiếm tỷ lệ cao nhất ( 9,53%) kế
đến là D2 ( 6,46%) ; D3 ( 1,89%) và D4 là 4,91%.
1.2.2. SXH và vấn đề phòng chống bệnh SXH trên thế giới
Bệnh SXH hiện đã trở thành dịch và đang lưu hành ở trên 100 nước thuộc
các khu vực có khí hậu nhiệt đới và Á nhiệt đới, vùng Đông Nam Á và Tây Thái
Bình Dương, Châu Mỹ, Châu Phi với khoảng 2,5 tỷ người sống trong vùng nguy
cơ dịch. Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là hai khu vực chịu ảnh
hưởng nặng nề nhất. SXH đang là một trong những gánh nặng về sức khoẻ cộng
đồng và là mối quan tâm chủ yếu của lĩnh vực y tế công cộng trên toàn thế giới.
Số ca mắc SXH liên tục tăng cao trong những năm gần đây. Trong giai đoạn từ
1970 đến 1995 trên toàn cầu, số mắc SXH đã tăng 4 lần, Số ca nhiễm SXH hàng
năm ước tính khoảng 50 triệu người, 500.000 trường hợp SXHD phải nhập viện
mỗi năm trong đó 90% trường hợp dưới 15 tuổi. Tỷ lệ chết trung bình khoảng
5%. Theo tổ chức Y tế thế giới số ca mắc sốt xuất huyết Dengue được báo cáo
trong khoảng thời gian 55 năm qua đã tăng tới 2.427 lần. Giai đoạn ghi nhận
báo cáo đầu tiên 1955-1959 trung bình mỗi năm chỉ có khoảng 908 ca, tuy
nhiên giai đoạn 1960-1969 có số ca mắc trung bình gấp hơn 15 lần so với giai
đoạn trước đó. Và số ca mắc tiếp tục tăng cao [75],[76],[77],[78].
11
Trong các khu vực chịu gánh nặng về bệnh SXH cho sức khoẻ cộng đồng,
vùng có mức độ ảnh hưởng nặng nề nhất là Đông Nam Châu Á và Tây Thái
Bình Dương. Trong đó phải kể đến các nước có tỷ lệ chết và mắc cao trong
những năm gần đây như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malayxia, Philippines,
Singapore, Lào, Campuchia [108],[109].
Năm 1987, tại Thái Lan báo cáo có 175.000 ca mắc và 1.000 ca tử
vong. Đến năm 1996, tại Brazil có 180.000 ca mắc, tiếp theo là các nước như
Mỹ Latinh, các nước Đông Nam Á và khu vực Tây Thái Bình Dương đã báo
cáo có 1.300.000 ca mắc và 3.500 ca tử vong vào năm 1998. Năm 2001, tại
Brazil chu kỳ dịch đã lặp lại và tăng một cách đáng kể so với năm 1996 là gần
400.000 trường hợp mắc bệnh, đặc biệt đã thấy các trường hợp xuất huyết
nặng ở người lớn. Đến năm 2007, một vụ dịch lớn đã xảy ra tại Singapore,
Campuchia, Malaysia, Philippines và Việt Nam với hơn 133.000 trường hợp
lâm sàng được báo cáo và 850 trường hợp tử vong [110].
Tại Singapore, năm 2004 là năm có số mắc SXH cao nhất kể từ năm 1998,
số mắc ghi nhận lên tới 8.500 trường hợp mắc, cao gấp 2 lần số mắc năm 2003
và là số mắc cao nhất trong 10 năm trở lại đây ở nước này. Malayxia cũng ghi
nhận tới 33.203/58 trường hợp mắc/chết trong năm 2004, số mắc cao nhất kể từ
năm 1999 tại nước này. Một số nước khác trong khu vực cũng ghi nhận có tỷ lệ
chết/mắc do SXH cao là Philippines (0,7%), Srilanca (0,6%).
Riêng tại khu vực Đông Nam Á, từ năm 2003, chỉ có 8 quốc gia báo cáo
có cas bệnh SXH thì đến năm 2006 10/11 quốc gia trong khu vực báo cáo có cas
bệnh (Bangladesh, Bhutan, India, Indonesia, Maldives, Myanmar, Nepal, Sri
Lanka, Thailand anh Timor-Leste). Bhutan báo cáo vụ dịch vào năm 2004, trong
vụ dịch này, tỉ lệ tử vong rất cao (3,55%). Kế đến là Đông Timor báo cáo vụ dịch
vào năm 2005.
Bệnh ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề kinh tế, xã hội. Thứ nhất gánh
nặng kinh tế xã hội do bệnh SXH bao gồm các chi phí trực tiếp cho bệnh nhân
12
nằm viện, thiệt hại kinh tế cho bệnh nhân và người nhà phải nghỉ việc để chăm
sóc người ốm. Thứ hai là thiệt hại do chi phí tốn kém diệt vectơ truyền bệnh
trong các vụ dịch. Thứ 3 là thiệt hại về du lịch. Các quốc gia khác có số mắc
cao lần lượt thuộc về các quốc gia tại Châu Mỹ La Tinh và Châu Á Thái Bình
Dương [75],[76],[77],[78].
Kết quả một số nghiên cứu trên thế giới về tác động kinh tế của bệnh
SXH cho thấy số liệu ước tính cho điều trị một ca bệnh SXHD là 299 USD tại
Cuba, 44 USD tại Nicaragua, 28 USD tại Puerto Rico và 118 USD tại Thái Lan.
Chi phí cho ngăn chặn một vụ dịch SXH đã lên tới con số hàng triệu đôla. Vụ
dịch SXH tại Cuba 1981 đã tiêu tốn trên 103 triệu đôla Mỹ, trong đó 43 triệu
đôla dành cho các hoạt động diệt vectơ. Các chi phí trực tiếp dập dịch tại vụ dịch
SXHD ở nước láng giềng Thái Lan năm 1994 bao gồm phí điều trị và diệt muỗi
cũng lên tới 13 triệu đôla Mỹ. Tại Indonesia chi phí cho chiến dịch phòng và
điều trị SXH năm 2004 là 30 triệu đôla Mỹ.
Năm
Số ca mắc (x1000)
400
1.4
Tỷ suất tử vong (%)
350
1.2
1
250
0.8
200
0.6
150
0.4
100
0.2
50
2011
2010
2009
2008
2007
2006
2005
2004
2003
2002
2001
2000
1999
1998
1997
1996
1995
1994
1993
1992
0
1991
0
Tỷ suất tử vong (%)
Số ca mắc (x1000)
300
Biểu đồ 1.1. Số trường hợp mắc/chết SXHD ở khu vực Tây Thái Bình
Dương, giai đoạn 1991 - 2011 (Nguồn: WHO Western Pacific Regional Office)
Đến năm 2011, các nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương đã xảy
ra 244.880 trường hợp mắc, trong đó 839 ca tử vong, tỷ lệ chết/mắc là 0,34%.
13
Tại Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Philippines, Marshall, Singapore
và Việt Nam có hơn 1.000 trường hợp mắc vào năm 2011, số trường hợp mắc
cao hơn so với năm 2010. Bên cạnh đó, có sự biến đổi lớn giữa các quốc gia
trong khu vực về phân phối type huyết thanh. Tại Campuchia năm 2011 có
15.980 trường hợp mắc và 73 trường hợp tử vong với cao điểm dịch vào
tháng 7. Nhóm mắc bệnh là nam vị thành niên và người lớn chiếm tỷ lệ cao
hơn nữ. Có sự phân bố đầy đủ 4 type huyết thanh qua kết quả giám sát huyết
thanh và phân lập virus: 77% type DEN - 1; 19% type DEN - 2; 2% type
DEN - 3 và 2% type DEN - 4. Tại Lào có số mắc thấp hơn Campuchia với
3.905 trường hợp mắc và 7 trường hợp tử vong với một đỉnh dịch xảy ra trong
tháng chín. Riêng Philippine năm 2011 đã có số ca mắc cao nhất trong khu
vực với 125.975 trường hợp mắc và 654 ca tử vong, cao điểm dịch xảy ra vào
tháng 8. Số trường hợp mắc ở nam thanh niên cao hơn nữ thanh niên. Không
có sự phân bố đầy đủ 4 type huyết thanh ở quốc gia này, chủ yếu là DEN - 1
(44%), DEN - 3 (43%) và DEN - 2 (13%) [109].
Tại khu vực Đông Nam Á, từ năm 2000 đến nay SXH đã lan nhanh ra
toàn khu vực. Năm 2003, có 8 quốc gia trong khu vực có dịch SXH là:
Bangladesh, Ấn Độ, Indonesia, Maldives, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan và
Timor - Leste. Tại Nepal đã xuất hiện trường hợp SXH lần đầu tiên vào tháng
11/2006. Riêng Hàn Quốc là nước duy nhất của khu vực Đông Nam Á là
không có SXH. Các nước nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa và xích đạo
như Indonesia, Myanmar, Sri Lanka, Thái Lan và Timor - Leste xem dịch
SXH là một vấn đề y tế công cộng lớn.
14
350000
Năm
Số tử vong
2000
300000
Số ca mắc
2500
250000
1500
200000
1000
150000
100000
Số tử vong
400000
Số mắc
500
50000
0
0
2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012
Biểu đồ 1.2. Số trường hợp mắc và tử vong ở khu vực Đông Nam Á
(Nguồn: WHO Regional Office for South - East Asia, New Delhi)
Chu kỳ bùng phát dịch SXHD thường xuất hiện lặp lại 5 đến 6 năm
một lần. Mặc dù đã có những vụ dịch xuất hiện, nhưng vẫn còn một số lượng
lớn người cảm nhiễm luôn tồn tại trong quần thể, lý do là vì có tới 4 chủng
virus gây bệnh và vì số người cảm nhiễm mới luôn gia tăng trong quần thể,
thông qua số sinh mới và qua nhập cư từ nơi khác tới.
Công tác phòng chống dịch SXH đã được thực hiện thông qua Chiến
Lược Phòng Chống Dengue giai đoạn 2008 - 2015 của WHO tại khu vực
Đông Nam Á và khu vực Tây Thái Bình Dương. Chiến lược này nhằm chuẩn
bị đối phó với các mối đe dọa ngày càng tăng của bệnh SXH với nguy cơ lan
rộng đến các khu vực địa lý mới và gây tử vong cao trong giai đoạn đầu dịch.
Theo báo cáo của WHO, năm 2010 đã xảy ra số trường hợp mắc SXHD cao
nhất ở khu vực Đông Nam Á tính từ năm 2003 đến nay, số trường hợp mắc
cao nhất là 355.525 trường hợp và tử vong 1982 ca (biểu đồ 1.2). Sau năm
2010 thì xu hướng dịch giảm, có thể do đây là năm chu kỳ dịch. Tuổi mắc
SXHD có thay đổi, gặp nhiều ở trẻ trên 15 tuổi, tuổi trung bình mắc SXHD là
31,59 đến 35,42.
15
Theo WHO, mục tiêu của Chiến lược phòng chống SXHD toàn cầu là
giảm bùng phát dịch trên thế giới. Đến năm 2020, giảm tỷ lệ mắc xuống thấp
nhất dưới 50% và tỷ lệ tử vong dưới 25% (tính từ năm 2010) [110]. Để làm
được điều này thì hiệu quả huy động cộng đồng là một chỉ số đánh giá đã
được chứng minh từ nhiều nghiên cứu về sự thay đổi hành vi của người dân.
1.2.3. Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết ở Việt Nam
Gánh nặng bệnh truyền nhiễm luôn là mối đe dọa lớn đối với sức khỏe
cộng đồng ở tất cả các nước trên thế giới. Tại Việt Nam, bệnh SXHD là một
bệnh truyền nhiễm đã và đang tái nổi, tuy con số tử vong do bệnh này là
không cao bằng các bệnh truyền nhiễm khác như HIV/AIDS... nhưng số mắc
bệnh xảy ra hàng năm là không nhỏ, khoản kinh phí hàng năm phải chi trả
cho công tác phòng chống bệnh và dập dịch là rất lớn. Năm 2011, tổng ngân
sách phải bỏ ra cho kế hoạch hoạt động phòng chống bệnh và dập dịch SXHD
là 105 tỷ đồng. Chính vì vậy, có thể xem bệnh SXHD là một trong những
bệnh truyền nhiễm mang lại gánh nặng rất lớn cho Y tế quốc gia.
Hiện nay, SXH đang tồn tại nhiều nguy cơ gây dịch lớn. Khi dịch xảy ra
thường xuất hiện trên địa bàn rộng, gây nên quá tải cho bệnh viện, ảnh hưởng
nghiêm trọng đến xã hội, kinh tế quốc gia. Môi trường sinh thái hiện nay là điều
kiện thuận lợi cho bệnh phát triển do quá trình đô thị hoá, cơ sở hạ tầng thấp
kém vì vậy SXH chưa thể khống chế được trong tương lai gần. Bệnh có thể gây
ra ở mọi lứa tuổi, tập trung chủ yếu ở trẻ em dưới 15 tuổi, chiếm 90% tổng số
mắc.
Các yếu tố nguy cơ của bệnh ngày càng phức tạp và chưa thể kiểm soát
được. Các yếu tố tự nhiên như khí hậu, thời tiết nắng nóng hiện tượng Elnino,
Elnina trên thế giới tác động đến sự gia tăng của quần thể vectơ SXH. Tập
quán trữ nước trong các dụng cụ chứa nước sinh hoạt để đối phó với thời tiết
khô hạn đặc biệt tại các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long là yếu tố làm gia
tăng quần thể muỗi truyền bệnh SXH và gia tăng nguy cơ xảy ra dịch lớn tại
16
các địa phương này [13]. Việc sử dụng các hoá chất diệt côn trùng không
kiểm soát làm tăng tính kháng của vectơ truyền bệnh. Sự gia tăng các hoạt
động giao lưu, buôn bán và du lịch giữa các vùng miền trong nước, ngoài
nước góp phần làm tăng nguy cơ lan truyền SXH trong cộng đồng. Dự báo có
sự biến đổi chủng virus Dengue và có khả năng gây dịch lớn.
Theo Đỗ Quang Hà, vụ dịch SXHD đầu tiên xảy ra ở miền Bắc vào
năm 1958 được Chu Văn Tường và Mihow thông báo vào năm 1959, ở miền
Nam vào năm 1960 với 60 bệnh nhân nhi tử vong. Từ đó bệnh trở thành dịch lưu
hành địa phương ở vùng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long và dọc theo bờ
biển miền Trung. Bệnh không chỉ xuất hiện ở đô thị mà cả ở vùng nông thôn,
nơi có muỗi truyền bệnh SXHD. Đây là bệnh gây tử vong hàng đầu trong
tổng số 24 bệnh truyền nhiễm phải báo cáo theo qui định của Bộ Y tế Việt
Nam. Sau năm 1963, dịch SXHD đã xảy ra liên tiếp ở 19 tỉnh, thành khu vực
phía Bắc. Từ năm 1970 đến năm 1974, tại Hà Nội bắt đầu xuất hiện các vụ
dịch lẻ tẻ ở một số điểm trong nội thành Hà Nội với số bệnh nhân từ vài chục
tới hàng trăm trường hợp phải vào bệnh viện để điều trị. Trong thời gian đó
dịch cũng lan nhanh ra các thành phố, thị xã, thị trấn và cả vùng nông thôn.
Trong những năm đầu, SXHD chỉ xuất hiện ở một vài địa phương với
các ổ dịch nhỏ, số người mắc bệnh ít nhưng tỷ lệ tử vong cao. Nhưng về sau,
dịch càng lan rộng, với số người mắc bệnh ngày càng nhiều. Ðỉnh cao là vào
các năm 1983, 1987 với qui mô toàn quốc. Tỷ lệ mắc bệnh chung cho cả nước
từ năm 1981 đến 1987 là 41,02 ca mắc/100.000 dân đến 462,24 ca mắc /
100.000 dân. Do công tác điều trị đạt được nhiều tiến bộ nên tỷ lệ tử vong bắt
đầu giảm từ 2,7 ca/100.000 dân trong năm 1983 xuống còn 0,16 ca/100.000
dân vào 1994. Tỷ lệ mắc bệnh giữa các năm và giữa các vùng miền trong
nước dao động rất khác nhau. Tỷ lệ mắc bệnh ở miền Nam thường cao hơn
nhiều lần so với miền Trung và miền Bắc. Kết quả theo dõi những năm có
dịch lớn (1983, 1987, 1991) cho thấy miền Nam có 87,2% số huyện thị xuất
hiện bệnh; tỷ lệ này ở miền Bắc là 59,5%; miền Trung là 58,7%; Tây nguyên
chỉ có 29,5%. Kết quả khảo sát những vùng này đều thấy sự hiện diện của
17
trung gian truyền bệnh là muỗi vằn Aedes aegypti với mật độ cao. Càng về
sau, bệnh tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và Nam. Đến năm 1995 1996, tỷ lệ mắc bệnh ở miền Nam cao hơn miền Bắc (66 - 67% so với 2 - 3%).
Tại Việt Nam, vụ dịch SXHD đầu tiên xảy ra ở miền Bắc vào năm
1958, ở khu vực phía nam vào năm 1960 với 60 bệnh nhân SXHD nhi đã tử
vong. Từ đó bệnh trở thành dịch lưu hành địa phương ở vùng châu thổ sông
Hồng, sông Cửu Long và dọc theo bờ biển miền Trung. Trước năm 1990,
bệnh SXHD mang tính chất chu kỳ tương đối rõ nét, với khoảng cách trung
bình 3 - 4 năm. Sau năm 1990, bệnh xảy ra liên tục với cường độ và qui mô
ngày một gia tăng. Trận dịch SXHD năm 1987 với 378.517 trường hợp mắc
và 904 trường hợp tử vong. Sau đó trận dịch lớn thứ hai vào năm 1998, cả
nước có 234.920 trường hợp mắc và 377 trường hợp tử vong do SXHD, tỷ lệ
mắc trên 100.000 dân là 306, tỷ lệ chết trên mắc là 0,19%. Giai đoạn từ năm
1999-2003, số mắc trung bình hàng năm đã giảm đi chỉ còn 36.826 trường
hợp và số tử vong là 66 trường hợp [10],[11],[12],[72].
Từ năm 2000 đến 2011, tình hình nhiễm SXHD ở Việt Nam không ổn
định nhưng thời kỳ cao điểm của dịch SXHD là từ tháng 6 đến tháng 10 hàng
năm. Gần như tất cả các ca mắc SXHD và tử vong đều ở các tỉnh phía Nam.
Trong giai đoạn từ 2001 đến 2011 có 76,9% ca mắc sốt xuất huyết và 83,3%
ca tử vong do sốt xuất huyết là ở 20 tỉnh phía Nam. Khoảng 90% số ca tử
vong do SXHD là ở nhóm tuổi dưới 15. Chu kỳ dịch SXHD có khoảng cách
xảy ra muộn hơn một năm so với giai đoạn trước năm 1990, thường xảy ra
theo chu kỳ từ 3 đến 5 năm một lần. Năm 2000, số trường hợp tử vong do
SXHD ở khu vực phía Nam chiếm tỷ lệ trên 80% tổng số tử vong của cả
nước. Giai đoạn từ năm 1999 - 2003, số mắc trung bình hàng năm đã giảm đi
chỉ còn 36.826 trường hợp và số tử vong là 66 trường hợp. Tuy nhiên từ năm
2004 đến nay số mắc và số tử vong do SXHD có xu hướng gia tăng. Năm 2006
cả nước đã ghi nhận 77.818 trường hợp mắc SXHD, trong đó 68 ca tử vong, tỷ
18
lệ mắc 88,6 trường hợp/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc là 0,09%. Đến năm 2010,
số mắc SXHD của cả nước tiếp tục tăng lên, ghi nhận có 128.710 ca mắc, trong
đó 109 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc lên tới 146,69 trường hợp/100.000 dân
và tỷ lệ chết/mắc là 0,85%. Đến năm 2011, số trường hợp mắc bệnh đã giảm gần
một nửa so với năm 2010, nguyên nhân là có thể do số trường hợp mắc bệnh
năm 2010 đã được miễn dịch ở cộng đồng, mặt khác năm 2011 không còn nằm
trong chu kỳ dịch chung của cả nước. Hiện nay, bệnh SXHD là một trong mười
bệnh truyền nhiễm do véc tơ truyền có tỉ lệ mắc và tử vong cao nhất trong 10
năm trở lại đây, tỉ lệ mắc do SXHD đứng hàng thứ tư và tỉ lệ chết đứng thứ
năm. Dân số trong vùng SXHD lưu hành có nguy cơ mắc bệnh khoảng 70
triệu người [27],[54],[61],[70].
Biểu đồ 1.3. Tình hình mắc và tử vong do sốt xuất huyết ở Việt Nam,
1980 - 2017
19
Hiện nay, sự biến đổi của khí hậu cũng đã mang tới những thách thức
mới trong việc kiểm soát các bệnh truyền nhiễm. Đặc tính của vectơ truyền
bệnh SXHD thích ứng rất tốt với môi trường đô thị và nó sinh sản trong các
DCCN sạch. SXHD là bệnh theo mùa và thường liên quan tới thời tiết nóng
và ẩm ướt. Tính chất mùa của SXHD đã được nghiên cứu ở nhiều nước trong
khu vực Đông Nam Á chứng minh rằng số trường hợp mắc SXHD ở khu vực
Đông Nam Á tăng theo lượng mưa và quần thể vectơ, trong đó số bệnh nhân
tăng sau lượng mưa khoảng một tháng. Do đó, ảnh hưởng của biến đổi khí
hậu lên bệnh SXHD phụ thuộc vào cả 2 yếu tố: lượng mưa và nhiệt độ. Trong
đó, nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong việc lan truyền virus Dengue bởi sự
ảnh hưởng của nó tới việc phân bố, khả năng hút máu của vectơ, giai đoạn ủ
bệnh trong muỗi và đời sống muỗi trưởng thành. Thời gian cần cho virus tới
tuyến nước bọt muỗi thay đổi theo nhiệt độ và có tầm quan trọng trong việc
gây nên sự lưu hành. Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới sự trưởng thành của muỗi,
nhiệt độ cao trứng nở nhanh hơn. Nhiệt độ cao hơn muỗi cần hút máu nhiều
hơn để cung cấp protein cho quá trình sản xuất trứng. Nhiệt độ từ 16 oC đến
20oC bọ gậy phát triển nhanh, song ở 26oC là nhiệt độ tốt nhất cho sự phát
triển. Còn đối với sự phát triển của virus, nhiệt độ phù hợp là 22 oC. Chính
điều này đã làm tăng số lượng cá thể bị nhiễm và tăng khả năng truyền bệnh
của vectơ theo mùa [7].
20
Biểu đồ 1.4. Phân bố ca mắc SXHD theo vùng miền
Bệnh SXHD ở Việt Nam phát triển theo mùa và cũng có sự khác biệt
giữa miền Bắc và miền Nam, 84,4% ca SXH xuất hiện ở khu vực phía Nam.
Ở miền Bắc thuộc vùng khí hậu á nhiệt đới, bệnh thường xảy ra từ tháng 4
đến tháng 11, những tháng khác bệnh ít xảy ra vì thời tiết lạnh, ít mưa, không
thích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của muỗi Aedes aegypti. Bệnh phát
triển nhiều hơn từ tháng 6 đến tháng 10 và đỉnh cao vào tháng 7, 8, 9 và 10. Ở
miền Nam và Nam Trung bộ bệnh SXHD xuất hiện trong suốt năm với tần số
mắc nhiều hơn vào tháng 4 đến tháng 11, đỉnh cao cũng vào các tháng 7, 8, 9
và 10. Chỉ số mật độ muỗi ở miền Nam cao hơn từ 4 - 9 lần so với khu vực
miền Bắc [2],[3],[15],[21],[24]. Chu kỳ dịch trung bình khoảng từ 3 đến 5
năm, dịch có thể lan rộng và có thể ảnh hưởng tới số đông dân cư [5],[53].
Năm 1998, tại khu vực miền Nam đã xảy ra nhiều vụ dịch lớn với
455,7 ca mắc/100.000 dân và 347 ca tử vong, tỷ lệ chết/mắc là 0,3%. Xu
hướng gia tăng tỷ lệ mới mắc bệnh SXHD được ghi nhận kể từ 2005 cho đến
nay. Tỷ lệ mắc/100.000 dân có giảm so với năm 1998 (455,7/100.000 dân) và
năm 1997 (319,9/100.000 dân) nhưng tăng so với trung bình các giai đoạn
1996-2005 và giai đoạn 2000 - 2005; đặc biệt tăng nhiều nhất là so với giai
đoạn (2003 - 2007) là 31%. Điều này cho thấy mục tiêu mà Dự án SXH quốc
21
gia đưa ra là giảm 15% tỷ lệ mắc/100.000 dân so với giai đoạn 2003 - 2010 đã
là một thách thức lớn cho công tác phòng chống SXH tại khu vực phía Nam
[33],[37],[38],[44],[48]. Đặc biệt sau 10 năm (1998 - 2007), cả nước đã xuất
hiện lại cao điểm dịch lớn, ghi nhận 104.464 trường hợp mắc SXHD, trong đó
88 ca tử vong, tỷ lệ mắc lên tới 122,61 trường hợp/100.000 dân và tỷ lệ chết/mắc
là 0,08% (biểu đồ 1.5).
450
số mắc/100000
350
400
số tử vong
300
350
300
250
250
200
200
150
150
100
100
2012
2011
2010
2009
2008
2007
2006
2005
2004
2003
2002
2001
2000
0
1999
0
1998
50
1997
50
Số ca chết do SXHD
400
1996
Số ca mắc SXHD/100.000 dân
500
Năm
Biểu đồ 1.5. Tình hình mắc, chết SXHD khu vực phía Nam, 1996 - 2012
Trong năm 2008, tại khu vực phía Nam số mắc SXHD là 12.533 ca,
trong đó trẻ dưới 15 tuổi chiếm 70% số mắc. Có 08/20 tỉnh có số ca mắc
SXHD tăng so với 2007 là Bạc Liêu, Bến Tre, Bình Dương, Bình Phước, Cà
Mau, Đồng Nai, Sóc Trăng, Tiền Giang và thành phố Hồ Chí Minh với hơn
3.000 trường hợp mắc SXHD. Tỷ lệ chết/sốc (độ III, IV) là 0,97%.Tình hình
mắc, chết do SXHD giai đoạn 2005 - 2008 tại khu vực phía Nam cho thấy
chưa có dấu hiệu khả quan. Xu hướng số mắc và số tử vong vẫn còn cao.
Năm 2008, tỷ lệ mắc/100.000 dân toàn khu vực là 248/100.000 dân, tính từ
năm 1998 (giai đoạn bắt đầu triển khai Chương trình mục tiêu phòng chống
SXH quốc gia), đây là năm có tỷ lệ mắc/100.000 dân khá cao, chỉ đứng sau
22
năm 2007. Năm 2011, tổng số ca mắc SXHD được báo cáo là 60.596 ca,
trung bình là 1.165 ca mắc/tuần. Kể từ sau tháng 8/2012 thì số ca mắc giảm
đều ở các tháng tiếp theo và thấp hơn ngưỡng cảnh báo (đường cong chuẩn
giai đoạn 2005 - 2010). Điều này cho thấy hoạt động can thiệp và chống dịch
tại khu vực phía nam đã được triển khai kịp thời và có tác động rõ rệt khiến
đường cong dự báo dịch SXHD không tăng cao trong các tháng cao điểm tiếp
theo [47],[50],[53],[63],[64].
Biểu đồ 1.6. Phân bố số ca mắc SXHD theo tháng tại các tỉnh khu vực
phía Nam năm 2012 so với năm 2011 và đường cong chuẩn 2005 - 2010
Theo nhiều kết quả nghiên cứu ở khu vực phía Nam cho thấy bệnh xuất
hiện vào tất cả các tháng trong năm với tần suất thấp nhất ở các tháng 2, 3, 4
(chiếm 10,3% số mắc cả năm), có chiều hướng gia tăng từ tháng 5, tăng dần
trong tháng 6 và cao điểm trong các tháng mưa nhiều: 7, 8, 9, 10. Điều này
thể hiện tính phân bố theo mùa của SXHD cho đến nay vẫn không thay đổi.
Kết quả này không khác biệt nhiều với khu vực phía Bắc. Tại Nghệ An từ
năm 2001 - 2010, dịch SXH thường xảy ra ở Nghệ An với chu kì 2 - 3 năm.
Dịch xuất hiện vào tháng 5, tăng mạnh ở tháng 7, đạt đỉnh cao tháng 8 - 9, giảm
23
dần vào tháng 10 - 11. Sự xuất hiện bệnh SXH phụ thuộc vào nhiệt độ, lượng
mưa, độ ẩm, các chỉ số về mật độ muỗi, mật độ bọ gậy. Từ các năm 2008 đến
nay, số mắc SXHD luôn duy trì ở mức cao [9],[29],[42],[71],[73].
Trong một nghiên cứu hồi cứu các trường hợp tử vong do SXHD của
19 tỉnh thành phía Nam năm 2000 cho thấy: Lứa tuổi tử vong tập trung chủ
yếu ở trẻ dưới 15 tuổi (93%), đặc biệt ở trẻ 5 - 9 tuổi; 81,6% các ca tử vong
thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long; 58,1% số ca tử vong diễn ra trong
24 giờ đầu nhập viện; 93% các trường hợp tử vong diễn ra trong ngày thứ 3
đến ngày thứ 6 của bệnh; đa số các ca tử vong xảy ra ở bệnh viện tỉnh
(58,1%), kế đến là bệnh viện huyện (37,2%) [5].
Năm 2005, một kết quả nghiên cứu tại Khánh Hòa cũng đã chứng minh
cho thấy bệnh nhân mắc bệnh chủ yếu dưới 15 tuổi (chiếm 77,2%), nhóm trên
15 tuổi chỉ chiếm 22,9%, nhóm tuổi mắc cao nhất là 6 -10 tuổi chiếm 32,5%
[19]. Tuy nhiên, trong một nghiên cứu dịch tễ SXHD tại tỉnh Tiền Giang giai
đoạn 2001 - 2006 cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm trên 15 tuổi có xu hướng
tăng chiếm 35,7% trong tổng số, so với giai đoạn 1996 - 2000 tỷ lệ này là
23,8%. Kết quả này cho thấy từ năm 2000 đã có sự biến động về type virus ở
các vùng khác nhau trong khu vực phía Nam [32], [28]. Còn ở miền Bắc Việt
Nam, nơi có bệnh lưu hành thấp thì tất cả các lứa tuổi đều có thể bị mắc bệnh,
85% nhóm tuổi mắc bệnh trên 15 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở nhóm trẻ dưới 15
tuổi trong cả nước là 69,8%, trong đó ở khu vực phía Nam tỷ lệ này là 86,7%,
ở miền Trung là 71,6% và miền Bắc là 41,1% [57],[63],[65],[67].
1.3. Một số phương pháp kiểm soát vec tơ truyền bệnh sốt xuất huyết
Việc ngăn chặn hoặc làm giảm mức độ lây truyền của virus Dengue
phụ thuộc hoàn toàn vào việc kiểm soát các véctơ truyền bệnh. Có rất nhiều
phương pháp để kiểm soát như phương pháp hóa học, sinh học, các biện pháp
bảo vệ cá nhân phòng muỗi đốt.
1.3.1. Biện pháp hóa học
24
Nhiều biện pháp phòng chống dịch SXH đã được các nhà dịch tễ học
quan tâm nghiên cứu từ rất lâu. Đến những năm 1950, khi có hóa chất diệt
côn trùng, các nhà chuyên môn y tế dự phòng đã tin tưởng rằng sẽ diệt được
hết muỗi để khống chế bệnh SXH. Nhưng trên thực tế, hóa chất chỉ tiêu diệt
được muỗi trưởng thành và sau một thời gian (từ 5 đến 7 ngày) thì bọ gậy từ
các ổ chứa nước trong và ngoài nhà lại phát triển thành muỗi, và mật độ muỗi
lại tăng lên. Khi có mầm bệnh, thì chính nguồn vectơ này sẽ tiếp tục làm bệnh
lây lan và phát sinh rộng ra cộng đồng. Điều đáng lo ngại là khi sử dụng hóa
chất, đã làm cho tâm lý người dân ỷ lại vào các can thiệp của y tế, họ cho rằng
phun hóa chất là hết dịch bệnh, không quan tâm đến việc kiểm soát và loại bỏ
nguồn sinh sản của muỗi trong hộ gia đình. Từ đó, dịch vẫn phát sinh và lan
rộng qua nhiều thập kỷ [35].
Trước những năm 1960, dịch SXH chỉ xuất hiện ở 9 nước và đến nay,
dịch đã lan rộng trên 100 nước và vẫn tiếp tục đe dọa đến nhiều nước khác
trên thế giới. Điều này chứng tỏ rằng biện pháp sử dụng hóa chất sau nhiều
năm vẫn không mang lại hiệu quả, song song đó là vấn đề ô nhiễm môi
trường sống do sử dụng hóa chất cũng cần được quan tâm. Ngoài vấn đề gây
ô nhiễm môi trường thì hiện nay tình hình muỗi Aedes kháng hóa chất cũng là
mối lo ngại. Vì khi có dịch bệnh xảy ra, việc can thiệp nhanh bằng hóa chất sẽ
không còn hiệu quả. Trong năm 2009, viện Pasteur thành phố Hồ Chí Minh đã
tiến hành thử độ nhạy của muỗi Aedes đối với một số hóa chất mang tính chất
chiến lược để chống dịch tại 8 tỉnh thành phía Nam. Kết quả cho thấy tỷ lệ
kháng thuốc rất cao. Dung dịch DDT 4% bị kháng thuốc gần 100%. Dung
dịch Permethrin 0,75% và Deltamethrin 0,05% có tỷ lệ muỗi chết sau 24h dao
động từ 0-68% tùy theo khu vực. Hiện tại chỉ có Malathion 5% là còn nhạy
cảm, đảm bảo tỷ lệ muỗi chết sau 24h là 100% [35].
1.3.2. Một số biện pháp sinh học
Các biện pháp sinh học được dùng chủ yếu để loại trừ bọ gậy, cắt đứt
chu trình truyền nhiễm của bệnh.
25
1.3.2.1. Hiệu quả của Bacillus thuringinensis varisraelensis
Bacillus thuringiensis var israelensis (Bti) là một trực khuẩn gram (+)
bào tử của nó sản xuất ra tinh chất có độc tính rất cao và nó có thể gây tác hại
trên bọ gậy của muỗi. Khi dùng Bti thì môi trường trở nên sạch và Bti đã
được thương mại hóa. Tác giả đã so sánh hiệu quả của Bti sản xuất ở labo và
thấy rằng: 20 bọ gậy Aedes aegypti hay Aedes albopictus tuổi 2, tuổi 3 và đầu
tuổi 4, được đặt ở những chén chứa nước với nồng độ Bti biết trước.
Nghiên cứu đã sử dụng 6 nồng độ Bti thích hợp khác nhau cho mỗi
chén, sau 24 giờ ở 270C số bọ gậy còn sống ở mỗi chén sẽ được xác định bởi
đường cong tỉ lệ chết. Tác giả ghi nhận 6 nồng độ gây chết của Bti đối với bọ
gậy từ 5% đến 95%. Hiện nay, tác giả đang áp dụng những kết quả từ phòng
thí nghiệm để áp dụng trong phòng chống SXHD tại thực địa qua việc ghi
nhận sự thay đổi môi trường sống, mật độ của bọ gậy, xem xét vai trò của Bti
trong việc kiểm tra chương trình phòng chống SXH. Năm 2013, Boyce R và
cộng sự đã tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này [79]. Một số nghiên cứu khác ở
Thái Lan cũng đang sử dụng Bti như một dạng phun diệt côn trùng kết hợp
với các phương pháp giám sát khác để kiểm soát SXH như bẫy trứng.
1.3.2.2 Nghiên cứu sinh học của rệp nước thuộc họ Corixidae, dùng làm thiên
địch của bọ gậy Aedes aegypti
Theo nghiên cứu của Pankaew Rattanasingunchan (văn phòng giám sát
các côn trùng truyền bệnh ở Khon Kaen, Thái Lan), rệp nước thuộc họ
Corixidae là loại côn trùng sống dưới nước, thường sống ở ao, hồ và những
vật chứa nước có thực vật, những lu khạp dùng ở ngoài nhà. Ðây cũng là
những nơi sinh sản và phát triển của bọ gậy Aedes aegypti. Chu trình sống của
Rệp nước từ trứng đến các giai đoạn ấu trùng và con trưởng thành còn đang
được tìm hiểu thêm, tác giả ghi nhận, cần 26 đến 100 ngày đề hoàn tất vòng
đời của rệp nước và gồm 5 giai đoạn; mỗi giai đoạn rất cần bọ gậy tuổi 1 và