1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiều thập kỷ qua, bệnh Sốt xuất huyết vẫn là một trong những bệnh truyền
nhiễm gây dịch xảy ra trên nhiều quốc gia và có xu hướng lan rộng ra nhiều vùng
khác nhau trên thế giới. Các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trong đó Đông Nam
Á và Tây Thái Bình Dương là hai nơi có tỷ lệ mắc bệnh cao nhất. Ước tính mỗi
năm có khoảng 390 triệu ca mắc sốt xuất huyết trên toàn thế giới với 96 triệu
người có biểu hiện lâm sàng nặng. Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang
tìm kiếm những biện pháp hữu hiệu nhằm khống chế bệnh sốt xuất huyết. Biện
pháp tận gốc là phải giảm và triệt nguồn sinh sản của muỗi. Nhưng sau nhiều năm
thực hiện các biện pháp phòng chống dịch sốt xuất huyết, bệnh dịch vẫn diễn biến
phức tạp. Bình Phước là một trong những tỉnh thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ,
nơi có tỷ lệ lưu hành bệnh sốt xuất huyết khá cao. Bệnh sốt xuất huyết vẫn thường
xuyên phát sinh hàng năm, đôi khi phát sinh và lan rộng tại một số xã, phường.
Mạng lưới cộng tác viên của chương trình phòng chống sốt xuất huyết quốc gia
chỉ triển khai thực hiện khoảng 10% số xã, ưu tiên chọn lựa những xã có tỷ lệ mắc
bệnh cao, trình độ dân trí, kinh tế thấp, khó tiếp cận với các phương tiện truyền
thông đại chúng. Do đó, với giả thuyết xây dựng một mạng lưới tình nguyện viên
tại cộng đồng cùng với y tế cơ sở sẽ giúp thay thế mô hình cộng tác viên để thực
hiện hoạt động phòng chống sốt xuất huyết tại cộng đồng có hiệu quả, chúng tôi
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một số đặc điểm dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết
Dengue và hiệu quả mô hình giám sát chủ động vector truyền bệnh tại tỉnh
Bình Phước” nhằm mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm dịch tễ sốt xuất huyết Dengue tại tỉnh Bình Phước giai đoạn
2008 - 2016.
2. Đánh giá hiệu quả của mô hình tình nguyện viên giám sát véc tơ truyền
bệnh sốt xuất huyết tại cộng đồng giai đoạn 2013-2016.
Những đóng góp mới của đề tài
Từ nghiên cứu này lần đầu đã có một cơ sở dữ liệu khoa học khá đầy đủ về
đặc điểm dịch tễ học của sốt xuất huyết tại Bình Phước trong giai đoạn 20082016, thể hiện được tính chất chu kỳ của dịch, xu hướng chu kì dịch kéo dài hơn
từ 3 năm lên 4 năm, tỷ lệ mắc bệnh nhóm dưới 15 tuổi giảm và type virus gây
bệnh chủ yếu là DEN-1.
2
Nghiên cứu đã đưa ra một mô hình giám sát véc tơ phòng chống sốt xuất
huyết dựa vào mạng lưới tình nguyện viên với đầu mối là trạm y tế xã. Trạm y tế
xã có vai trò là đơn vị trực tiếp thực hiện phối hợp liên ngành đồng thời quản lý,
giám sát các hoạt động của tình nguyện viên. Mạng lưới tình nguyện viên đóng
vai trò quan trọng trong chương trình và là trung tâm của chương trình. Mạng lưới
tình nguyện viên được xây dựng dựa vào đội ngũ cán bộ y tế thôn ấp làm giám sát
và đội ngũ chính quyền cơ sở, đoàn thể cùng các tình nguyện viên là người thực
hiện trực tiếp. Hoạt động của tình nguyện viên đã giúp nâng cao kiến thức, thực
hành của người dân về nhận biết sớm về bệnh, thay đổi thái độ, thay đổi những
hành vi có nguy cơ để phòng chống SXHD.
Bố cục của luận án
Luận án gồm 123 trang, 28 bảng, 10 biểu đồ, 5 hộp và 123 tài liệu tham khảo
trong đó có 57 tài liệu nước ngoài. Phần đặt vấn đề 3 trang, tổng quan tài liệu 30 trang,
đối tượng và phương pháp nghiên cứu 21 trang, kết quả nghiên cứu 35 trang, bàn luận
31 trang, kết luận và kiến nghị 3 trang.
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử phát hiện virus Dengue và vec tơ truyền bệnh
1.1.1. Khái niệm sốt xuất huyết Dengue
Sốt Dengue hay sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh nhiễm virus
Dengue cấp tính do muỗi truyền và có thể gây thành dịch lớn.
1.1.2. Lịch sử phát hiện virus và vec tơ truyền bệnh
Vào những năm 1778 - 1780, những vụ dịch SXHD đầu tiên được ghi nhận
xảy ra ở Châu Á, Châu Phi và Bắc Mỹ. Đến sau chiến tranh thế giới lần thứ II,
một vụ đại dịch SXHD xuất hiện ở Đông Nam Á và từ đó lan rộng trên toàn cầu.
Virus Dengue là nguyên nhân chính gây ra bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD).
Đến năm 1906 Bancroft đã chứng minh vectơ chính truyền bệnh là Aedes aegypti.
Những nghiên cứu gần đây ở Philippines, Indonesia và Tây Thái Bình Dương đã
chứng minh Aedes albopictus, Aedes polyneiensis cũng là những vectơ tham gia
truyền bệnh SXHD.
1.2. Dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết
Bệnh SXHD hiện đã trở thành dịch và đang lưu hành ở trên 100 nước thuộc các khu
vực có khí hậu nhiệt đới và Á nhiệt đới, vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình
3
Dương, Châu Mỹ, Châu Phi với khoảng 2,5 tỷ người sống trong vùng nguy cơ dịch.
Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là hai khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề
nhất. SXHD đang là một trong những gánh nặng về sức khoẻ cộng đồng và là mối
quan tâm chủ yếu của lĩnh vực y tế công cộng trên toàn thế giới. Số ca nhiễm
SXHD hàng năm ước tính khoảng 50 triệu người, 500.000 trường hợp SXHD phải
nhập viện mỗi năm trong đó 90% trường hợp dưới 15 tuổi. Tỷ lệ chết trung bình
khoảng 5%. Số ca mắc sốt xuất huyết Dengue được báo cáo trong khoảng thời
gian 55 năm qua đã tăng tới 2.427 lần. Vùng có mức độ ảnh hưởng nặng nề nhất là
Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương. Trong đó, các nước có tỷ lệ chết và mắc cao
trong những năm gần đây như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malayxia, Philippines,
Singapore, Lào, Campuchia.
Tại Việt Nam, vụ dịch SXHD đầu tiên xảy ra ở miền Bắc vào năm 1958, ở khu
vực phía nam vào năm 1960 với 60 bệnh nhân SXHD nhi đã tử vong. Trước năm
1990, bệnh SXHD mang tính chất chu kỳ với khoảng cách trung bình 3 - 4 năm.
Sau năm 1990, bệnh xảy ra liên tục với cường độ và qui mô ngày một gia tăng. Từ
năm 1999-2003, số mắc trung bình hàng năm đã giảm đi chỉ còn 36.826 trường
hợp và số tử vong là 66 trường hợp. Thời kỳ cao điểm của dịch SXHD là từ tháng
6 đến tháng 10 hàng năm. Trong giai đoạn từ 2001 đến 2011 có 76,9% ca mắc sốt
xuất huyết và 83,3% ca tử vong do sốt xuất huyết là ở 20 tỉnh phía Nam. Khoảng
90% số ca tử vong do SXHD là ở nhóm tuổi dưới 15. Hiện nay, dân số trong vùng
SXHD lưu hành có nguy cơ cơ mắc bệnh khoảng 70 triệu người.
1.3. Một số phương pháp kiểm soát vec tơ truyền bệnh sốt xuất huyết
1.3.1. Biện pháp hóa học:
Sử dụng các loại hóa chất diệt côn trùng. Nhưng hiện nay tình hình muỗi
Aedes kháng hóa chất đang gia tăng nên khi có dịch bệnh xảy ra, việc can thiệp
nhanh bằng hóa chất sẽ không còn hiệu quả.
1.3.2. Biện pháp sinh học
Các biện pháp sinh học được dùng chủ yếu để loại trừ bọ gậy, cắt đứt chu
trình truyền nhiễm của bệnh như Mesocyclop, rệp nước, ấu trùng chuồn chuồn,
nấm, vi khuẩn Wolbachia, thả cá trong các dụng cụ chứa nước…
1.3.3. Mô hình cộng đồng tham gia phòng chống sốt xuất huyết
Rất nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài đã đánh giá cao mô hình phòng
chống SXHD dựa vào cộng đồng. Sự hợp tác và tham gia của cộng đồng là yếu tố
không thể thiếu trong công tác phòng chống SXHD. Huy động xã hội và truyền
thông thay đổi hành vi đã mang lại nhiều lợi ích cho chương trình phòng chống
4
SXHD như: giảm mức độ lây lan SXHD trong các vụ dịch, giúp các cơ sở y tế
không bị quá tải bởi quá nhiều ca bệnh cùng một lúc; giảm tình trạng nhiễm virus
Dengue nhiều lần; cộng đồng đóng vai trò cốt yếu trong việc nhanh chóng hành
động khi có dịch bùng phát; đồng thời nâng cao điều kiện y tế môi trường. Ở Việt
Nam, từ năm 1999, dự án quốc gia phòng chống SXHD hình thành và hoạt động
trên qui mô toàn quốc với mục tiêu là giảm tỉ lệ chết và mắc bệnh SXHD. Chiến
lược chính của dự án là kiểm soát bọ gậy dựa vào cộng đồng. Để thực hiện được
chiến lược này, dự án đã tập trung chủ yếu vào giáo dục truyền thông với cả 2 hình
thức là gián tiếp và trực tiếp. Truyền thông gián tiếp được thực hiện thông qua các
kênh truyền thông đại chúng như: Đài phát thanh, truyền hình, báo chí, tranh ảnh…
Bằng hình thức này, dự án đã cung cấp cho cộng đồng những kiến thức cơ bản
nhất về phòng chống bệnh SXHD, với mong muốn sau cùng là người dân tự thay
đổi thái độ và hành vi đúng trong phòng chống bệnh SXHD.
Tuy nhiên, việc chuyển đổi hành vi của người dân là một vấn đề hết sức
phức tạp. Do vậy, bên cạnh việc truyền thông gián tiếp, dự án phòng chống
SXHD đã triển khai thí điểm hình thức tuyên truyền trực tiếp tại cộng đồng, có
kiểm tra giám sát với sự giúp đỡ hỗ trợ của chính quyền địa phương. Để triển
khai dự án có hiệu quả, chính quyền và y tế các cấp đề ra kế hoạch hành động,
người dân sẽ tự thực hiện các biện pháp thích hợp theo hướng dẫn để tiêu diệt
nguồn vectơ tại hộ gia đình. Trong đó, cộng tác viên (CTV) sẽ là khâu trung gian
truyền tải các kế hoạch, phương pháp, các kiến thức cơ bản về phòng chống bệnh
SXH, đồng thời giúp người dân tự thực hiện các biện pháp cần thiết để loại bỏ những
ổ chứa bọ gậy. Tuy nhiên, nguồn lực của dự án không đủ bao phủ toàn bộ mà chỉ tập
trung vào các xã điểm và chiếm khoảng 10% số xã, phường.
1.4. Các nghiên cứu về đánh giá hiệu quả hoạt động phòng chống SXHD dựa
vào cộng đồng thông qua hoạt động CTV.
Đánh giá hiệu quả hoạt động của CTV là một công việc khá phức tạp bao
gồm rất nhiều mặt. Từ đầu vào, quá trình thực hiện cho đến kết quả đầu ra. Sự
thay đổi về kiến thức, thái độ, hành vi của người dân, sự gia tăng số hộ gia đình
không có bọ gậy là những biểu hiện phản ảnh trực tiếp nhất, dễ nhận biết và dễ
đánh giá nhất. Đa số các nghiên cứu chỉ đi sâu vào điều tra sự cải thiện của các
chỉ số côn trùng qua điều tra tại hộ gia đình trước, trong và sau can thiệp không
khảo sát về hành vi của người dân. Một số nghiên cứu khác lại chỉ quan tâm đến
hành vi của người dân trước, trong và sau can thiệp mà ít quan tâm đến các chỉ số
côn trùng.
5
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
* Giai đoạn 1: nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học
- Các trường hợp bệnh nhân mắc sốt xuất huyết được giám sát theo dõi qua
sổ sách, báo cáo tại trạm y tế xã, sổ tay hoạt động CTV, các báo cáo của Trung
tâm Y tế dự phòng tỉnh Bình Phước về số ca mắc/chết.
- Kết quả xét nghiệm Mac - ELISA các trường hợp sốt xuất huyết.
- Đặc điểm véc tơ truyền bệnh: muỗi, bọ gậy qua số liệu điều tra vectơ hàng
tháng (muỗi Aedes aegypti).
* Giai đoạn 2: nghiên cứu can thiệp cộng đồng
- Các cán bộ y tế: trung tâm y tế huyện, trưởng trạm y tế, cán bộ phụ trách
chương trình phòng chống SXHD.
- Các tình nguyện viên tham gia đội ngũ giám sát véc tơ phòng chống SXHD
tại 2 xã can thiệp.
- Chủ hộ gia đình hoặc người đại diện (lứa tuổi trưởng thành).
- Dụng cụ chứa nước, vật phế thải tại hộ gia đình.
- Véc tơ truyền bệnh: muỗi, bọ gậy.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu can thiệp cộng đồng trước sau có đối
chứng, kết hợp giữa nghiên cứu định tính và điịnh lượng
2.2.1.1. Nghiên cứu dịch tễ học mô tả: đánh giá đặc điểm dịch tễ của SXH tại
Bình Phước giai đoạn 2008 - 2016. Trong đó, Giai đoạn từ 2008-2012 là giai đoạn
thu thập số liệu hồi cứu về đặc điểm dịch tễ học của sốt xuất huyết toàn tỉnh Bình
Phước.
+ Giai đoạn 2013-2016 là giai đoạn theo dõi dọc đặc điểm dịch tễ học của sốt
xuất huyết trên toàn tỉnh và áp dụng các biện pháp can thiệp tại địa bàn nghiên
cứu can thiệp.
2.2.1.2. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng trước sau
Tại các xã can thiệp (xã không có cộng tác viên của chương trình phòng
chống SXHD quốc gia), nghiên cứu xây dựng hệ thống tình nguyện viên thực hiện
giám sát côn trùng tại cộng đồng. Can thiệp chính trong nghiên cứu là xây dựng
mạng lưới giám sát côn trùng tại tuyến y tế cơ sở dựa trên đội ngũ tình nguyện
viên và các trang thiết bị, nguồn lực thực tế tại các xã. Tại thời điểm nghiên cứu,
6
các xã đều đã có sẵn kính hiển vi và cán bộ được đào tạo để sử dụng thiết bị này
(được cung cấp từ trước trong chương trình phòng chống sốt rét). Do đó, nghiên
cứu đã chọn mỗi xã 1 cán bộ y tế xã đã sử dụng thành thạo kính hiển vi điện tử để
đi đào tạo thêm về kỹ thuật giám sát véc tơ SXHD tại trung tâm y tế dự phòng tỉnh
Bình Phước. Sau đó, hàng tháng cán bộ y tế xã tiến hành giám sát các chỉ số côn
trùng trên địa bàn xã theo hướng dẫn của chương trình phòng chống sốt xuất huyết.
Mỗi xã chọn các điểm cố định và giám sát vào một ngày cố định trong tháng.
Tại các thôn, y tế thôn, trưởng thôn, cán bộ đoàn thể (hội phụ nữ, đoàn
thanh niên) và người dân tình nguyện tham gia được tập huấn đào tạo các kiến
thức cơ bản về truyền thông phòng chống SXHD, các biện pháp kiểm soát và xử
lý bọ gậy tại hộ gia đình. Sau đó, y tế thôn thực hiện công tác giám sát, truyền
thông hộ gia đình tại địa bàn quản lý. Các cán bộ đoàn thể và người dân tình
nguyện tham gia chương trình (gọi chung là các tình nguyện viên) được chia
nhóm theo cụm dân cư (phụ trách khoảng 50 nhà). Hàng tháng, tình nguyện viên
đi thăm từng hộ gia đình, truyền đạt cho người dân các kiến thức về bệnh SXH,
giúp người dân hiểu được tác nhân chính làm lây truyền bệnh và hướng dẫn người
dân tự loại bỏ các ổ chứa bọ gậy trong và ngoài nhà.
* Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành của người dân: Tiến hành điều tra
kiến thức, thái độ, hành vi của người dân, sau đó, so sánh kết quả trước và sau khi
thực hiện can thiệp và so sánh với nhóm chứng là nhóm có cộng tác viên của
chương trình phòng chống SXHD.
* Đánh giá hiệu quả giảm các chỉ số giám sát vec tơ
2.2.2. Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu dịch tễ học: Chọn mẫu toàn bộ
- Cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp:
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu:
{z
n=
1−α/ 2
}
2p(1− p) +z1−β p1(1− p1) + p2(1− p2)
2
(p1 − p2)2
Cỡ mẫu theo tính toán là 276, thực tế sau can thiệp có 294 đối tượng nhóm
can thiệp và 287 đối tượng nhóm đối chứng tham gia nghiên cứu và đủ tiêu chuẩn
đưa vào phân tích dữ liệu.
7
Chọn mẫu: Chọn có chủ định huyện Bình Long là huyện là một trong những
địa phương có dịch SXHD lưu hành nhiều năm qua Dựa vào đặc điểm tự nhiên,
kinh tế xã hội và y tế của các xã trong huyện, tiến hành chọn chủ định 2 xã chưa
có cộng tác viên để tiến hành can thiệp là xã Thanh Phú và Phú Thịnh. Đây là 2 xã
có đặc điểm tương đồng với 2 xã đối chứng là 2 xã có cộng tác viên (xã An Lộc
và Hưng Chiến). Chọn hộ gia đình phỏng vấn, giám sát côn trùng lấy theo nguyên
tắc cổng liền cổng.
Nghiên cứu chọn phỏng vấn sâu 2 cán bộ trung tâm y tế huyện Bình Long, 4
trạm trưởng của 4 trạm y tế xã, 4 cán bộ y tế phụ trách trực tiếp chương trình
phòng chống SXHD của 4 xã để phỏng vấn sâu các nội dung liên quan đến hoạt
động phòng chống SXHD. Nghiên cứu tổ chức 2 buổi thảo luận nhóm với các
cộng tác viên của 2 xã chứng và các giám sát viên, tình nguyện viên ở 2 xã can
thiệp để thảo luận các nội dung liên quan đến hoạt động phòng chống SXHD.
2.2.3. Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu: phối hợp cả nghiên cứu định
lượng và định tính như phỏng vấn theo bộ câu hỏi điều tra, phỏng vấn sâu và thảo
luận nhóm, giám sát bọ gậy, muỗi trưởng thành, xét nghiệm chẩn đoán SXHD.
2.3.4. Xử lý số liệu: Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0. Sử dụng
các test thống kê trong nghiên cứu y sinh học để phân tích kết quả.
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
6000
20
5237
18
5000
Số
ca
mắc
4000
16
3521
3470
2881
3000
6
0
2008
2009
2010
2011
Số ca mắc
2012
6
1415
630
2
2
2
1
2013
Số
Ca
tử
vong
8
1895
5
4
1000
12
10
2346
2099
2000
14
2014
4
3
2015
2
0 0
2016
Năm
Số ca tử vong
Biểu đồ 3.1. Số ca mắc/chết do sốt xuất huyết giai đoạn 2008-2016
8
Kết quả biểu đồ 3.1. cho thấy, SXHD thường xuyên được phát hiện tại Bình
Phước với số ca mắc luôn biến động qua các năm. Năm 2008 số mắc là 3521, sau
đó có xu hướng giảm rõ rệt trong năm 2009 rồi lại tăng lên và giảm nhẹ trong 2
năm tiếp theo. Đỉnh dịch xuất hiện vào năm 2012 với trên 5000 ca mắc nhưng sau
đó số ca mắc giảm mạnh và thấp nhất trong năm 2014 rồi lại có xu hướng tăng lên
trong năm 2015, 2016. Như vậy, biểu đồ đã cho thấy một xu hướng thể hiện rõ rệt
chu kỳ dịch là 4 năm/lần.
Số
ca
mắc
Tháng
Biểu đồ 3.2. Số ca mắc SXH giai đoạn 2008 - 2016 theo các tháng trong năm
Qua biểu đồ 3.2 cho thấy, bệnh nhân mắc SXHD xảy ra quanh năm từ tháng
1 đến tháng 12. Dịch SXHD bắt đầu vào tháng 5 và tháng có dịch lớn là tháng 6
đến tháng 8 rồi giảm dần. Năm 2008 và 2012, đường biểu diễn số ca mắc cho thấy
tình hình dịch SXHD tại Bình Phước nằm cao hơn so với trung bình 5 năm 20082012.
9
573,8
600
Số
Ca
mắc
/100.000
dân
4
3,5
500
3
412,9
367,8
400
322,5
300
Số
Ca
tử
vong
/100.000
dân
2
259,1
239,2
205,6
200
1,5
149,8
0,7
0,4
100
0,1
2,5
0,5
0,2
0,2
67,6
0,2
0,3
2013
2014
2015
1
0
0,5
0
0
2008
2009
2010
2011
2012
2016
Năm
Số ca mắc/100000 dân
Số ca tử vong/100000 dân
Biểu đồ 3.3. Số ca mắc/chết do sốt xuất huyết trên 100.000 dân
giai đoạn 2008-2016
Kết quả biểu đồ 3.3 cho thấy, tính theo số ca mắc/chết do sốt xuất huyết
trên 100.000 dân cho thấy, tỷ lệ mắc gặp cao nhất ở các năm 2008, 2012, 2016.
Như vậy, tính theo cơ cấu dân số thì xu hướng chu kỳ dịch vẫn là 4 năm/lần. Tuy
nhiên, tỷ lệ tử vong có xu hướng giảm hơn.
Số
ca
mắc
Huyện
Biểu đồ 3.4. Số ca mắc bệnh trung bình/100.000 dân theo địa bàn
10
Qua biểu đồ 3.4 cho thấy, số ca mắc bệnh trung bình/100.000 dân cao nhất
ở Chơn Thành (665,5) rồi đến Đồng Xoài (477,7), Hớn Quản (437,5), Đồng Phú
(359,6). Bù Đăng là nơi có số ca mắc bệnh trung bình thấp nhất trong toàn tỉnh.
Số ca
mắc
400
332
300
269
344
369
339
297
209
200
138
91
100
0
≤5
64
58
37
67
5 ->10 11->15 16-20 21-25 26-30 31-35 36-40 41-45 46-50 51-55 56-60 >60 Nhóm
tuổi
Biểu đồ 3.5. Số ca mắc sốt xuất huyết Dengue trung bình theo nhóm tuổi
Qua biểu đồ 3.5 cho thấy số ca sốt xuất huyết gặp nhiều nhất ở nhóm 16 -20
tuổi, tiếp đến là các nhóm 11- 15, 21-25, 25-30, 5-10 tuổi. Nhóm dưới 5 tuổi cũng
có số ca mắc khá cao trung bình 269 ca/năm. Sau 30 tuổi, tỷ lệ mắc SXH giảm dần
Bảng 3.1. Chỉ số nhà có bọ gậy (HI-BG) Aedes aegypti phân bố theo tháng
Năm
01
02
03
04
05
2008
28
30
32
38
50
2009
12
16
20
40
40
2010
12
12
36
36
8
2011
21
25
34
30
33
2012
17,5 17,5 17,5
33
55
TB08’-12’ 18,1 20,1 27,9 35,4 37,2
2013
20
20
23
35 43,5
2014
17,5 17,5 17,5 30
34
2015
8,5 10
5
23
33
2016
6,67 10
6,7 26,7 33,3
Tháng
06
07
56
60
20
12
16
20
61,5
42
23,5
43
35,4 35,4
40
25
25
33
28,5 20
40
30
08
54
44
50
38
25
42,2
21,5
30
28
30
09
32
36
26
22
33,5
29,9
13,4
22
33,5
56,7
10
44
40
42
22
16,5
32,9
11,5
32
27
33,3
11
36
20
34
36
33,5
31,9
11,5
25
23
33,3
12
36
10
26
31
10
22,6
23,5
20
11,5
23,3
Qua bảng 3.1 cho thấy chỉ số nhà có bọ gậy gặp cao nhất ở các năm 2008,
2009, 2011, 2016. Đây là những năm có chỉ số bọ gậy ở hầu hết các tháng đều cao
hơn so với trung bình 5 năm từ 2008-2012. Vào các tháng mùa mưa chỉ số này
đều tăng khá cao so với các tháng mùa khô.
11
Bảng 3.2. Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy muỗi Aedes trong 100 nhà
điều tra (BI) phân bố theo tháng trong giai đoạn 2008-2016
Năm
01
02 03 04
05
2008
28
30 38 42
92
2009
24
28 30 50
30
2010
20
16 46 48
10
2011
22,5 29 25 39,5 51
2012
30 37,5 31,5 78
75
TB08’-12’ 24,9 28,1 34,1 51,5 51,6
2013
25
20 33,5 40 46,5
2014
17,5 15 20 31,5 22,5
2015
8,5 11,5 5 23,5 36,5
2016
7
10 10 27
47
Tháng
06 07
08
09
10
11
12
102 104 94
78
72
62
62
24 24
84
50
46
36
30
30 40 120 50
44
38
34
99 128 38
32
28
50
35
23,5 70
43 41,5 20
43
10
55,7 73,2 75,8 50,3 42 45,8 34,2
58 25
28 16,5 11,5 11,5 23,5
28 38
35 26,5 45 36,5 25
36,5 20
30 43,5 33,5 25 11,5
53 40
43 123 47
57
27
Qua bảng 3.2 cho thấy, chỉ số BI của các tháng năm 2008 cao hơn rất
nhiều so với trung bình 5 năm (2008-2012). Còn các năm 2010, 2011, 2016 có các
đỉnh trong các tháng mùa mưa cao hơn so với trung bình.
Bảng 3.3. Chỉ số nhà có muỗi (HI-M) Aedes aegypti phân bố theo tháng
Năm
01
2008
10
2009
10
2010
10
2011
13,5
2012
13,5
TB08’-12’ 11,4
2013
12
2014
13,5
2015
5
2016
6,67
02
10
13,3
6,7
17,5
13,5
12,2
9,985
30
13,5
6,67
03
13,3
13,3
20
21,5
22,5
18,12
21,5
7
5
3,33
04
23,3
16
20
23
20
20,46
29,95
35
16,5
26,67
05
30
24
6,7
35
36,5
26,44
30
21,5
31,5
30
Tháng
06
07
36,7 43,3
10
10
10 13,3
32,5 33,5
16,5 20
21,14 24,02
33,5 22
21,5 25
31,5 17
33,3 20
08
53,3
36,7
30
23,3
15
31,66
22
11,5
33,5
23,3
09
43,3
26,7
16,7
15
23,5
25,04
16,5
20
20
36,67
10
33,3
23,3
13,3
16,5
13,5
19,98
16,5
20
21,5
30
11
26,7
10
10
11,5
30
17,64
15
22
11,5
16,67
12
26,7
13,3
6,7
15
7
13,74
30
15
15
16,67
Bảng số liệu 3.3 cho thấy từ năm 2008 đến 2016 chỉ số nhà có muỗi luôn ở
mức khá cao và nằm trong dấu hiệu nguy cơ xảy ra dịch ở mỗi tháng, cao điểm
bắt đầu vào tháng 4, tháng 5 kéo dài đến tháng 9, tháng 10 mỗi năm. So với trung
bình 5 năm (2008 - 2012), năm 2008, 2011 và 2016 chỉ số nhà có muỗi tăng hơn vào
các tháng mùa mưa. Đặc biệt có 2 đỉnh vào tháng 8, tháng 9/2008 và tháng 9/2016,
chỉ số nhà có muỗi tăng lên khoảng 40% đến gần 60% số nhà được điều tra.
12
2.5
0
7.5
D1
D2
D3
D4
90
Biểu đồ 3.6. Cơ cấu các type virus sốt xuất huyết Dengue
Qua biểu đồ trên cho thấy 90% số trường hợp có kết quả xét nghiệm huyết
thanh là SXHD là type D1, còn lại là type 2 và 4.
3.2. Xây dựng đội ngũ giám sát véc tơ truyền bệnh SXHD tại tuyến y tế cơ sở
và đánh giá hiệu quả can thiệp
3.2.1. Xây dựng đội ngũ giám sát vec tơ
Nghiên cứu thực hiện xây dựng đội ngũ giám sát véc tơ theo mô hình tự
quản. Trạm y tế xã là đơn vị trực tiếp thực hiện phối hợp liên ngành đồng thời
quản lý, giám sát các hoạt động của các tình nguyện viên. Mạng lưới cộng tác
viên tình nguyện viên đóng vai trò quan trọng trong chương trình và là trung tâm
của chương trình. Mạng lưới tình nguyện viên được xây dựng dựa vào đội ngũ cán
bộ y tế thôn ấp và đội ngũ chính quyền cơ sở.
Để xây dựng một hệ thống tổ chức cho hoạt động của chương trình
PCSXHD, chương trình đã đào tạo cho 2 cán bộ y tế xã, 15 cán bộ y tế thôn, ấp
làm các giám sát viên và 45 các đoàn thể ấp và 34 tình nguyện viên trước khi triển
khai chương trình, đây là nhóm nòng cốt của chương trình. Y tế thôn, ấp, phụ nữ
ấp, đoàn thanh niên xã, trưởng ấp và tình nguyện viên được Trung tâm Y tế huyện
tập huấn về các hoạt động của chương trình bao gồm: xác định các ổ bọ gậy
nguồn, nhận biết dấu hiệu bệnh, các biện pháp tuyên truyền giáo dục sức khỏe,
các hoạt động giám sát véc tơ tại cộng đồng.
13
Bảng 3.4.Hoạt động của CTV huy động sự tham gia của cộng đồng
trong quá trình triển khai can thiệp
Xã
Xã
Nội dung
Thanh
Phú
Phú
Thịnh
Số y tế thôn, phụ nữ ấp, đoàn thanh niên xã, trưởng
11
4
ấp tham gia chương trình PCSXH
Trung bình số hộ gia đình 1 CTV phải quản lý
43
52
Tỷ lệ ký cam kết phòng chống SXH giữa chính
100
100
quyền và hộ dân được ký kết hàng năm
Số tờ rơi được phát (1lần/năm x 2 năm 2013,2015)
4.520
2.410
Số lần phát thanh (1 tháng/lần x 2 năm)
528
192
Số lần họp dân để tuyên truyền (6 tháng/lần/ấp )
88
32
Số áp phích được treo tại các khu vực công cộng
14
7
Nội dung hoạt động của chương trình can thiệp PCSXHD
Chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe với mục tiêu: Nâng cao kiến
thức, thực hành của người dân về nhận biết sớm về bệnh, thay đổi thái độ và quan
điểm sai, thay đổi những hành vi có nguy cơ về phòng chống SXHD. Chương
trình này được thực hiện qua phân tích đối tượng đích để hình thành các sản phẩm
truyền thông. Bên cạnh đó, bộ công cụ truyền thông được thiết kế dựa trên các
công văn, quyết định và chỉ thị về việc tăng cường các biện pháp phòng chống
SXHD tại Việt Nam.
Các sản phẩm truyền thông
(1) Tờ cam kết: Bản cam kết được sự đồng ý ký kết giữa các chủ hộ gia
đình, CTV, giám sát viên chương trình và lãnh đạo Ủy ban nhân dân xã. Trong
bản cam kết có hướng dẫn người dân thực hiện các hoạt động loại trừ bọ gậy và
phòng chống muỗi đốt.
(2) Tờ rơi: Tờ rơi được thiết kế hai mặt với nội dung hướng dẫn cụ thể,
giúp người dân biết cách phòng, nhận biết sớm bệnh và hướng dẫn cách xử trí. Tờ
rơi được CTV phát đến từng hộ gia đình.
(3)Áp phích: với kích thước lớn được treo tại các điểm tập trung đông
người nhằm gây sự chú ý, tò mò của người dân. Áp phích hướng dẫn cụ thể chu
trình phát triển của vectơ và các biện pháp loại trừ bọ gậy.
14
3.2.2. Hiệu quả cải thiện kiến thức, thái độ, thực hành của người dân
Bảng 3.5. So sánh hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh SXHD
Nội dung
Nghe nói về
bệnh SXH
SXH do
muỗi đốt
n
%
n
%
Nhóm CT
(n=294)
Trước
Sau
p
270
276
>0,05
91,8
96,5
271
274
>0,05
92,2
93,2
Nhóm chứng
(n=287)
Trước
Sau
p
265
269
>0,05
92,3
97,1
264
267
>0,05
92,0
93,0
HQCT
(%)
0,1
0,01
Kết quả bảng trên cho thấy các đối tượng nghiên cứu hầu hết đã được nghe
nói và biết nguyên nhân sốt xuất huyết là do muỗi truyền (trên 90%).
Bảng 3.6. So sánh về nguồn cung cấp thông tin về bệnh sốt xuất huyết cho đối
tượng nghiên cứu
Nguồn cung cấp
thông tin
Ti vi
Radio
Tranh ảnh
Sách báo
Loa phát
thanh
Cán bộ y tế
CTV
Chính quyền,
đoàn thể
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
n
%
Trước
234
79,6
76
25,9
19
6,5
48
16,3
105
35,7
88
29,9
46
15,6
16
5,4
Nhóm CT
(n=294)
Sau
247
84,0
83
28,2
109
37,1
53
18,0
247
84,0
226
76,9
243
82,7
74
25,2
p
> 0,05
> 0,05
< 0,05
> 0,05
< 0,05
< 0,05
< 0,05
< 0,05
Nhóm chứng
(n=287)
Trước
Sau
p
246
259
> 0,05
85,7
90,2
71
80
> 0,05
24,7
27,9
8
6
> 0,05
2,8
2,1
34
42
> 0,05
11,9
14,6
81
85
> 0,05
28,2
29,6
38
46
> 0,05
13,2
16,0
41
45
> 0,05
14,3
15,7
7
9
> 0,05
2,4
3,1
HQCT
(%)
0,3
3,7
495
13
130
136
420
339
Kết quả bảng 3.15 cho thấy nguồn thông tin mà người dân được cung cấp về
bệnh SXH trước can thiệp chủ yếu là từ tivi. Sau can thiệp, thông tin người dân
được cung cấp từ tranh ảnh, loa phát thanh, cán bộ y tế và từ chính quyền đoàn thể
tăng cao ở nhóm can thiệp. Sự khác biệt với p <0,05.
15
Bảng 3.7. So sánh kiến thức về nhận biết bệnh SXHD và cách xử trí
Nhóm CT
(n=294)
Trước
Sau
Hiểu biết đúng
p
Nhận biết bệnh
n
89
131
Sốt cao liên
< 0,05
tục
%
30,3
44,6
n
113
139
XH dưới da
< 0,05
%
38,4
74,3
Kiến thức về cách xử trí khi có người thân mắc bệnh
102
226
Đưa đi khám n
< 0,05
và điều trị
%
34,7
76,9
Nhóm chứng
(n=287)
Trước Sau
p
148
51,6
127
44,3
154
53,7
131
45,6
186
64,8
220
76,7
HQCT
(%)
> 0,05
43
> 0,05
90,3
< 0,05
103
Kết quả bảng 3.16 cũng cho thấy, sau can thiệp, người dân có hiểu biết tốt
hơn về các dấu hiệu nhận biết của bệnh (p<0,05). Tỷ lệ có kiến thức xử lý đúng
khi có người thân mắc bệnh đã tăng gấp đôi so với trước can thiệp (34,7% so
với 76,9%) với hiệu quả can thiệp là 103%.
Bảng 3.8. Tỷ lệ đối tượng chấp nhận hay ủng hộ các hành động bảo vệ nguồn
nước phòng bọ gậy
%
Nhóm CT
Nhóm chứng
(n=294)
(n=287)
Trước Sau
p
Trước Sau
p
68
171
113
136
> 0,05
< 0,05
23,1 58,2
39,4
47,1
212
283
264
278
> 0,05
< 0,05
72,1 96,3
92,0
96,9
216
279
268
277
> 0,05
< 0,05
73,5 94,9
93,4
96,5
n
%
n
%
221
75,2
194
66,0
Nội dung
Chấp nhận thả cá
Súc rửa dụng cụ
thường xuyên
Đổ bỏ nước có bọ
gậy
Đậy kín DCCN
Dọn dẹp phế thải
chứa nước
n
%
n
%
n
282
95,9
288
98,0
< 0,05
<0,05
261
90,9
260
90,6
278
96,9
278
96,9
HQCT
(%)
132
28
25,8
> 0,05
21,0
> 0,05
41,6
Kết quả bảng 3.20 cho thấy, người dân đã có thái độ rất tích cực đối với
việc bảo vệ nguồn nước, phòng chống bọ gậy sinh sống. Sự khác biệt rất rõ rệt
khi so sánh trước sau can thiệp ở nhóm can thiệp (p<0,05). Còn ở nhóm đối
chứng, sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê do đối tượng đã có thái độ
phòng chống khá tốt từ trước (p>0,05).
16
Bảng 3.9. Đánh giá hiệu quả hoạt động kiểm tra nơi có bọ gậy sinh sống
Thực hành đúng
Có kiểm tra bọ
gậy
Kiểm tra bọ gậy
hàng tuần
n
%
n
%
Nhóm CT
(n=294)
Trước Sau
p
123
258
< 0,05
41,8
87,8
106
222
< 0,05
36,1
76,5
Nhóm chứng
(n=287)
Trước
Sau
p
213
262
> 0,05
74,2
91,3
210
240
> 0,05
73,2
83,6
HQCT
(%)
86,8
97,9
Qua bảng 3.21 cho thấy, sau can thiệp đã có trên 80% số đối tượng có kiểm
tra bọ gậy trong đó 76,5% kiểm tra ở mức hàng tuần. Hiệu quả can thiệp là 86,8%
và 97,9%.
Bảng 3.10. Thực hành của đối tượng trong việc diệt bọ gậy và muỗi
Nội dung
Đập bỏ vật
chứa
Nhang muỗi
Bình xịt muỗi
Vợt, đèn bắt
muỗi
n
%
n
%
n
%
n
%
Trước
110
37,4
103
35,0
97
33,0
21
7,1
Nhóm CT
Nhóm chứng
(n=294)
(n=287)
Sau
p
Trước Sau
p
260
231
272
> 0,05
< 0,05
88,4
80,5
94,8
129
96
115
> 0,05
> 0,05
43,9
33,5
40,1
114
109
120
> 0,05
> 0,05
38,8
38,0
41,8
24
21
27
> 0,05
> 0,05
8,2
7,3
9,4
HQCT
(%)
118,6
5,4
7,5
13,7
Kết quả bảng 3.22 cho thấy, sau can thiệp, thực hành diệt bọ gậy của đối
tượng đã tốt hơn so với trước can thiệp (p<0,05). Còn các hình thức phòng tránh
muỗi không có sự khác biệt nhiều giữa các nhóm.
3.2.3. Hiệu quả cải thiện chỉ số giám sát
Bảng 3.11. So sánh số mắc và tỷ lệ mắc SXHD ở 2 nhóm xã
Năm
2012
2013
2014
2015
2016
Xã CT
Tỷ lệ mắc
Số mắc
/100.000 dân
153
927,3
14
84,6
4
24,2
8
48,5
4
24,2
Xã ĐC
Tỷ lệ mắc
Số mắc
/100.000 dân
297
1117,2
20
82,0
9
36,9
36
147,5
29
118,9
p
>0,05
>0,05
<0,05
<0,05
<0,05
17
Qua bảng trên cho thấy trong năm 2012, 2013 tỷ lệ mắc SXH của 2 nhóm
xã không có sự khác biệt nhưng đến từ năm 2014, nhóm xã can thiệp có tỷ lệ mắc
thấp hơn hẳn so với nhóm xã có CTV của chương trình phòng chống SXHD. Sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05.
Bảng 3.12. So sánh kết quả giám sát chỉ số nhà có bọ gậy
Tháng
Nhóm can thiệp
9/2013
10/2013
11/2013
12/2013
1/2014
2/2014
3/2014
4/2014
5/2014
6/2014
7/2014
8/2014
5,0
1,2
3,7
1,7
0
0,8
0
0,8
2,1
3,3
6,7
4,2
Điểm giám sát thường
xuyên của huyện
16,7
12,4
13,3
10,0
20,0
26,7
2,7
2,0
3,7
5,1
9,6
9,9
p
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
Bảng 2.24 cho thấy chỉ số nhà có bọ gậy ở nhóm can thiệp đều thấp hơn so
với kết quả giám sát thường xuyên của huyện ở tất cả các tháng trong năm (p<
0,05). Sự khác biệt rõ rệt nhất là ở các tháng 10/2013 đến tháng 2/2014.
Bảng 3.13. So sánh kết quả giám sát chỉ số DCCN có bọ gậy
Tháng
Nhóm can thiệp
9/2013
10/2013
11/2013
12/2013
1/2014
2/2014
3/2014
4/2014
5/2014
6/2014
7/2014
8/2014
3,0
0,7
1,5
0,6
0,0
0,8
0,0
0,3
1,2
0,9
2,5
2,1
Điểm GS thường
xuyên của huyện
6,5
10,0
3,1
2,6
10,0
10,4
10,0
6,7
13,3
10,0
30,0
20,0
p
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
18
Qua bảng 3.25 cho thấy chỉ số DCCN có bọ gậy ở 2 xã can thiệp cũng thấp
hơn rất nhiều so với điểm giám sát thường xuyên của huyện.
Bảng 3.14. So sánh kết quả giám sát chỉ số mật độ muỗi
Tháng
Nhóm can thiệp
9/2013
10/2013
11/2013
12/2013
1/2014
2/2014
3/2014
4/2014
5/2014
6/2014
7/2014
8/2014
0,05
0,01
0,01
0,00
0,01
0,02
0,01
0,05
0,03
0,03
0,02
0,03
Điểm giám sát thường
xuyên của huyện
0,2
0,1
0,1
0,2
0,3
0,4
0,0
0,1
0,1
0,2
0,3
0,3
p
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
>0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
Qua bảng 3.27 cho thấy chỉ số mật độ muỗi ở 2 xã can thiệp cũng thấp hơn
rất nhiều so với điểm giám sát thường xuyên của huyện. Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở tất cả các tháng với p<0,05.
Bảng 3.15. So sánh kết quả giám sát chỉ số nhà có muỗi cái Aedes aegypti
trưởng thành
Tháng
Nhóm can thiệp
9/2013
10/2013
11/2013
12/2013
1/2014
2/2014
3/2014
4/2014
5/2014
6/2014
7/2014
8/2014
3,3
0,4
0,8
0,4
0,8
1,7
1,2
4,5
2,9
2,1
1,7
2,8
Điểm giám sát thường
xuyên của huyện
20,0
13,3
13,3
16,7
20,0
40,0
3,3
6,7
10,0
20,0
20,0
23,3
p
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
19
Qua bảng 3.28 cho thấy chỉ số nhà có muỗi cái Aedes aegypti trưởng thành
ở 2 xã can thiệp cũng thấp hơn rất nhiều so với điểm giám sát thường xuyên của
huyện. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở tất cả các tháng với p<0,05. Sự khác
biệt này đặc biệt rõ rệt ở các tháng 1,2 năm 2014.
CHƯƠNG IV.
BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm dịch tễ Sốt xuất huyết Dengue tại Bình Phước giai đoạn 2008-2016
Nghiên cứu đặc điểm dịch SXHD tại Bình Phước giai đoạn 2008 -2016
cho thấy tỉnh Bình Phước liên tục xảy ra các trường hợp mắc SXHD với những
thay đổi khác nhau theo từng năm. Trong gần 10 năm qua (2008 - 2016), chu kỳ
xảy ra dịch tại Bình Phước không giống như nhận định về tình hình chung của
các tỉnh khu vực phía Nam là trung bình 10 năm lại xuất hiện cao điểm dịch. Tại
Bình Phước, bệnh SXHD mang tính chất chu kỳ tương đối rõ nét với khoảng
cách trung bình 4 năm/lần, điển hình đã xảy ra dịch vào năm 2008, năm 2012.
Năm 2008 số mắc là 3521, sau đó có xu hướng giảm rõ rệt trong năm 2009 rồi
lại tăng lên và giảm nhẹ trong 2 năm tiếp theo. Giai đoạn này đỉnh dịch xuất hiện
vào năm 2012 với trên 5000 ca mắc nhưng sau đó số ca mắc giảm mạnh và thấp
nhất trong năm 2014 rồi lại có xu hướng tăng lên trong năm 2015, 2016. Số ca tử
vong do SXHD dao động khác nhau và không tương ứng với số mắc. Số ca tử
vong dao động từ 1 đến 6 ca mỗi năm. Năm 2014, mặc dù tỷ lệ mắc rất thấp
nhưng vẫn có 2 ca tử vong do SXHD. Tính chất chu kỳ dịch ở Bình Phước tương
đối giống với chu kỳ dịch của các tỉnh trong khu vực phía Nam như Cà Mau,
Đồng Tháp, Đồng Nai đều xảy ra chu kỳ dịch với khoảng cách 4 năm và khác
với tính chất chu kỳ dịch ở các tỉnh miền Trung như Nghệ An, Quảng Trị với
khoảng cách trung bình từ 2 đến 5 năm.
Chỉ số tử vong do SXHD trên 100.000 dân cũng phần nào đánh giá được
kết quả của các hoạt động phòng chống dịch ở Bình Phước. Tỷ lệ chết/mắc do
SXHD ở Bình Phước so với mức độ dịch và so với các tỉnh là khá thấp. Kết quả
này có được cũng do công tác giám sát phát hiện và đến cơ sở y tế sớm để điều
trị kịp thời.
Phân tích các trường hợp mắc theo tháng qua các năm để biết được mùa
nguy cơ nhằm đưa ra biện pháp ứng phó chủ động và kịp thời là việc làm cần
thiết trong chương trình phòng chống SXHD. Kết quả cho thấy, bệnh nhân mắc
SXHD xảy ra quanh năm từ tháng 1 đến tháng 12. Dịch SXHD bắt đầu vào tháng
20
5 và tháng có dịch lớn là tháng 6 đến tháng 8 rồi giảm dần. Trung bình các tháng
cao điểm có 600 ca mắc/tháng. Năm 2008 và 2012, đường biểu diễn số ca mắc
cho thấy tình hình dịch SXHD tại Bình Phước nằm cao hơn so với trung bình 5
năm 2008-2012. Trung bình các tháng thường xảy ra dịch dao động từ 400-600
ca mắc/tháng. Năm 2015, đường biểu diễn thấp hơn so với trung bình nhưng lại
có một xu hướng hơi khác biệt. Tỷ lệ mắc rất thấp trong các tháng 1,2,3,4 sau đó
tăng dần từ tháng 6 và tăng cao nhất đến tháng 10 và có xu hướng duy trì, không
rõ đỉnh dịch. Sang năm 2016, đường biểu diễn cơ bản giống các năm 2008-2012
và cao hơn so với đường trung bình 5 năm. Như vậy, bệnh SXHD lưu hành
quanh năm nhưng các tháng mùa khô thì số trường hợp mắc thấp, ngược lại số
trường hợp mắc SXHD bắt đầu tăng lên vào mùa mưa. Điều này thể hiện tính
phân bố theo mùa của SXHD là không đổi. Đặc điểm phân bố các trường hợp
mắc theo tháng của Bình Phước phù hợp với tình hình SXHD trên qui mô toàn
quốc và cũng tương tự với nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước nghiên cứu
về dịch tễ SXHD ở các tỉnh trong khu vực. Tuy nhiên, riêng năm 2015, đặc điểm
dịch sốt xuất huyết lại có sự khác biệt so với các năm trước. Số trường hợp mắc
SXHD bắt đầu tăng muộn hơn 2 tháng. Dịch bắt đầu tăng từ tháng 7 và cao điểm
liên tục trong các tháng 9, 10, 11, 12. Điều này có thể giải thích là năm 2014, tỷ
lệ mắc SXHD của Bình Phước giảm thấp hẳn hơn so với các năm nên khi đến
chu kỳ SXHD tiếp theo có thể tăng chậm hơn. Tuy nhiên, vấn đề đến tháng 12 là
bắt đầu vào mùa khô mà tỷ lệ sốt xuất huyết vẫn còn cao thì nguy cơ bùng phát
dịch vào năm sau là rất cao. Và thực tế số liệu năm 2016 và 6 tháng đầu năm
2017 đã khẳng định chu kỳ dịch 4 năm 1 lần của dịch SXHD.
Tính theo số ca mắc/chết do sốt xuất huyết trên 100.000 dân, nghiên cứu
của chúng tôi cho thấy, tỷ lệ mắc gặp cao nhất ở các năm 2008, 2012, 2016. Như
vậy, tính theo cơ cấu dân số thì xu hướng chu kỳ dịch vẫn là 4 năm/lần. Tuy
nhiên, tỷ lệ tử vong có xu hướng giảm hơn.
Nghiên cứu của Lê Văn Tuấn cho thấy tại Tây Nguyên giai đoạn 20112015 cũng cho kết quả tương tự. Bệnh xuất hiện tất cả các tháng trong năm với
số mắc gia tăng từ tháng 5 đến tháng 11, đỉnh dịch vào tháng 7. Đa số các trường
hợp là sốt xuất huyết Dengue và sốt xuất huyết Dengue kèm theo dấu hiệu cảnh
báo và xảy ra trên đối tượng trên 15 tuổi. Có sự lưu hành đồng thời của cả 4 typ
vi rút Dengue, trong đó DEN-1 là typ lưu hành chính năm 2011 và 2015; DEN-2
gây ra dịch SXHD năm 2012 và 2013; DEN-3 lưu hành chính năm 2014.
21
4.2. Xây dựng đội ngũ giám sát véc tơ truyền bệnh SXHD tại tuyến y tế cơ
sở và hiệu quả can thiệp giai đoạn 2013-2016
Bệnh sốt xuất huyết Dengue góp phần làm tăng gánh nặng kinh tế - xã hội
bao gồm các chi phí trực tiếp chi trả cho bệnh nhân điều trị, thiệt hại kinh tế cho
bệnh nhân và người nhà phải nghỉ việc để chăm sóc người bệnh. Thiệt hại do tốn
kém chi phí diệt véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue trong các vụ dịch, ảnh
hưởng đến du lịch. Do đó, công tác huy động sự tham gia của cộng đồng sử dụng
các biện pháp kiểm soát véc tơ được xem là biện pháp hàng đầu trong hoạt động
phòng chống bệnh sốt xuất huyết.
Mô hình phòng chống véc tơ sốt xuất huyết Dengue dựa vào cộng đồng mà
chúng tôi xây dựng trong nghiên cứu này được thiết lập chuyển vai trò giám sát
từ cán bộ y tế huyện xã xuống cho y tế thôn, ấp để đảm bảo tính duy trì liên tục.
Còn vai trò của cộng tác viên được lựa chọn không phải là y tế thôn, ấp nữa mà
chuyển sang vai trò cho chính quyền, đoàn thể và các tình nguyện viên. Trước
đây, CTV là y tế thôn, ấp nên số lượng hộ gia đình mà mỗi CTV phụ trách
thường từ 100-150 nhà nên thường không đủ thời gian thăm hộ gia đình hàng
tháng. Do vậy, trong nghiên cứu này, nhờ huy động nguồn lực cộng đồng nên
mỗi CTV của chương trình phụ trách không quá 50 hộ gia đình tại chính nơi
CTV sinh sống nên hoạt động thăm hộ gia đình được thực hiện thường xuyên và
dễ dàng hơn. Nhờ vậy, hoạt động truyền thông và hướng dẫn hộ gia đình giám
sát ổ bọ gậy nguồn được thực hiện tốt hơn. Bởi vì, tác giả Đỗ Kiến Quốc nghiên
cứu tại 4 tỉnh đại diện cho các khu vực sinh thái phía Nam cho biết trên thực tế
cộng tác viên quản lý quá nhiều hộ gia đình, do đó tỉ lệ hộ gia đình được thăm hộ
gia đình hàng tháng chỉ chiếm 59,16%. Tỉ lệ thăm hộ gia đình hàng tháng thấp là
nguyên nhân tác động đến hiệu quả truyền thông của mô hình.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nguồn thông tin mà người dân được cung
cấp về bệnh SXH trước can thiệp chủ yếu là từ tivi (79,8%) ở nhóm can thiệp và
85,7% ở nhóm đối chứng. Tiếp theo là nguồn thông tin từ loa đài, cán bộ y tế,
cộng tác viên. Sau can thiệp, nguồn thông tin mà người dân được cung cấp từ
tranh ảnh, loa phát thanh, cán bộ y tế và từ chính quyền đoàn thể tăng cao ở
nhóm can thiệp. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Còn ở nhóm đối
chứng không thấy có sự khác biệt đáng kể nào.
Từ hiệu quả nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống bệnh
sốt xuất huyết Dengue của người dân, chương trình can thiệp còn đạt hiệu quả
trong việc kiểm soát véc tơ sốt xuất huyết Dengue từ đó giảm số ca mắc SXH.
Việc kiểm soát véc tơ sốt xuất huyết Dengue đã có hiệu quả rõ rệt thể hiện qua
22
các chỉ số véc tơ được điều tra tại hộ gia đình đã giảm sau can thiệp. Chỉ số nhà
có bọ gậy ở nhóm can thiệp đều thấp hơn so với kết quả giám sát thường xuyên
của huyện ở tất cả các tháng trong năm (p< 0,05). Sự khác biệt rõ rệt nhất là ở
các tháng 10/2013 đến tháng 2/2014. Chỉ số DCCN có bọ gậy trong 100 nhà điều
tra (BI) ở 2 xã can thiệp cao nhất gặp ở tháng 7/2014 cũng chỉ là 6,6 thấp hơn rất
nhiều so với điểm giám sát thường xuyên của huyện. Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê ở tất cả các tháng với p<0,05. So với hướng dẫn giám sát véc tơ sốt
xuất huyết Dengue của Bộ Y tế Việt Nam và hướng dẫn giám sát của Tổ chức Y
tế Thế giới thì chỉ số BI của nghiên cứu thấp hơn nhiều so với ngưỡng cảnh báo
nguy cơ xảy ra dịch sốt xuất huyết Dengue (BI<50) và thấp hơn so với cả
ngưỡng an toàn (BI<20) nên tại 2 xã đã không xảy ra ổ dịch nào. Chỉ số mật độ
muỗi ở 2 xã can thiệp cũng thấp hơn rất nhiều so với điểm giám sát thường
xuyên của huyện. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở tất cả các tháng với p<0,05.
Chỉ số nhà có muỗi cái Aedes aegypti trưởng thành ở 2 xã can thiệp cũng thấp
hơn nhiều so với điểm giám sát thường xuyên của huyện. Sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê ở tất cả các tháng với p<0,05. Sự khác biệt này đặc biệt rõ rệt ở
các tháng 1,2 năm 2014.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chính nhờ hiệu quả của kiểm soát véc tơ
nên trong năm 2012, 2013 tỷ lệ mắc SXHD của 2 nhóm xã không có sự khác biệt
nhưng đến từ năm 2014, nhóm xã can thiệp có đội ngũ giám sát véc tơ truyền
bệnh SXHD tại tuyến y tế cơ sở có tỷ lệ mắc thấp hơn hẳn so với nhóm chứng.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Tuy nhiên, năm 2014 cũng là năm
cả tỉnh Bình Phước có số mắc SXHD thấp nhất (630 trường hợp) nên mặc dù tại
xã can thiệp cho thấy hiệu quả cả kiểm soát véc tơ sốt xuất huyết Dengue và
giảm số ca mắc SXHD nhưng có thể bị nhiễu do tỷ lệ mắc chung giảm. Do vậy,
chúng tôi tiếp tục thực hiện theo dõi và giám sát tiếp trong 2 năm 2015, 2016 tại
địa bàn nghiên cứu. Kết quả cho thấy, khi tỷ lệ mắc SXHD chung của tỉnh bắt
đầu tăng lên từ 2015 và tăng nhanh trong 2016 thì tại địa bàn nghiên cứu, số ca
mắc SXHD vẫn duy trì và giảm trong năm 2016. Điều này thể hiện rõ ràng hiệu
quả duy trì của mô hình huy động cộng đồng tham gia phòng chống SXHD tại
địa phương trong nghiên cứu của chúng tôi.
Vai trò của cộng tác viên, tình nguyện viên trong công tác phòng chống dịch
là rất quan trọng. Họ là những người truyền đạt kiến thức và giúp người dân nhận
thức được chính bản thân họ đã nuôi bọ gậy và muỗi trong nhà gây nguồn bệnh
nguy hiểm cho bản thân và gia đình, từ đó chuyển biến thành hành vi tự làm sạch
những vật chứa lăng quăng. Mỗi xã dự án thiết lập một mạng lưới cộng tác viên
23
(CTV) làm việc trực tiếp với chủ hộ để triển khai và theo dõi các hoạt động của
dự án. CTV là người địa phương, có mong muốn hoạt động trong y tế công cộng,
có đủ thời gian để tới thăm các gia đình, có khả năng học hỏi những kỹ thuật mới
và những biện pháp phòng chống SXHD và nhiệt tình công tác với khoản trợ cấp
hàng tháng khiêm tốn. Tuy nhiên, chương trình phòng chống sốt xuất huyết Quốc
gia chưa xây dựng hệ thống cộng tác viên ở toàn bộ các xã mà chỉ thực hiện ở các
xã điểm. Bên cạnh đó, các cộng tác viên phải tuân thủ các quy định trong hoạt
động giám sát như phải thực hiện báo cáo thường xuyên, họp định kỳ. Những
công việc này làm tốn thêm thời gian công sức của cộng tác viên nên nhiều người
ngại làm. Do đó, việc thực hiện lựa chọn cộng tác viên trong cộng đồng nhiều khi
không phù hợp. Nhiều người có vai trò quan trọng trong cộng đồng, có khả năng
truyền thông thuyết phục thì ngại làm hoặc có thể không biết chữ nên không đáp
ứng được việc thực hiện các thủ tục hành chính như báo cáo hoạt động hàng tháng.
Do vậy, trong nghiên cứu này đội ngũ tình nguyện viên của chúng tôi được
đánh giá cao do tính linh hoạt và dành được nhiều thời gian hơn cho hoạt động
chuyên môn truyền thông và giám sát côn trùng tại cộng đồng. Cán bộ y tế huyện,
xã đều đánh giá việc thực hiện hoạt động giám sát côn trùng tại tuyến y tế cơ sở
giúp hoạt động giám sát dịch được tốt hơn do họ có hiểu biết tốt hơn từ đó thấy rõ
vai trò và có trách nhiệm hơn trong công việc. Kết quả giám sát côn trùng là một
chỉ số riêng cho xã phường đó nên giúp cho việc dự báo dịch SXHD được chính
xác hơn và cán bộ xã phường có thể tự đánh giá được nguy cơ có hay không xảy
ra dịch ở địa phương mình. Còn các khó khăn khi thực hiện mô hình này ở tuyến
cơ sở là vấn đề nhân lực và chính sách chi trả hỗ trợ cho đối tượng tham gia thực
hiện các hoạt động giám sát côn trùng.
KẾT LUẬN
1. Đặc điểm dịch tễ Sốt xuất huyết Dengue tại Bình Phước giai đoạn 2008- 2016
- Từ năm 2008 - 2016, SXHD lưu hành trong tất cả các năm, các vụ dịch có
xu hướng thay đổi từ 3 năm qua 4 năm. Bệnh mang tính chất mùa rõ rệt từ tháng 5
đến tháng 11 hàng năm, cao nhất vào tháng 7, 8, 9. Năm 2008 số mắc là 3.521,
sau đó có xu hướng giảm rõ rệt trong năm 2009 rồi lại tăng lên và giảm nhẹ trong
2 năm tiếp theo. Giai đoạn này đỉnh dịch xuất hiện vào năm 2012 với trên 5.000 ca
mắc (572,8/100.000 dân) nhưng sau đó số ca mắc giảm mạnh và thấp nhất trong
năm 2014 (67,6/100.000 dân) rồi lại có xu hướng tăng lên trong năm 2015, 2016.
- Các chỉ số giám sát côn trùng cũng tương đồng với chu kỳ phát sinh dịch
sốt xuất huyết qua các năm.
24
- Đối tượng mắc bệnh: Tất cả mọi lứa tuổi đều có nguy cơ mắc bệnh nhưng
nhóm tuổi mắc bệnh cao nhất ở nhóm 16 -20 tuổi, tiếp đến là các nhóm 11- 15,
21-25, 25-30, 5-10 tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh nhóm dưới 15 tuổi có xu hướng giảm dần
từ 45,6% năm 2008 xuống còn 33,7% năm 2016.
- Type virus gây bệnh chủ yếu ở Bình Phước là type DEN - 1.
2. Xây dựng đội ngũ giám sát véc tơ truyền bệnh SXH tại tuyến y tế cơ sở và
đánh giá hiệu quả can thiệp giai đoạn 2013-2016
- Nghiên cứu đã xây dựng được đội ngũ giám sát véc tơ với trạm y tế xã là
đơn vị trực tiếp thực hiện phối hợp liên ngành đồng thời quản lý, giám sát các hoạt
động của tình nguyện viên. Mạng lưới tình nguyện viên đóng vai trò quan trọng
trong chương trình và là trung tâm của chương trình. Mạng lưới tình nguyện viên
được xây dựng dựa vào đội ngũ cán bộ y tế thôn ấp làm giám sát và đội ngũ chính
quyền cơ sở, đoàn thể cùng các tình nguyện viên. Hoạt động của tình nguyện viên
đã giúp nâng cao kiến thức, thực hành của người dân về nhận biết sớm về bệnh,
thay đổi thái độ, thay đổi những hành vi có nguy cơ về phòng chống SXHD.
- Sau can thiệp, nguồn thông tin mà người dân được cung cấp từ tranh ảnh,
loa phát thanh, cán bộ y tế và từ chính quyền đoàn thể tăng cao ở nhóm can thiệp.
Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <0,05. Tỷ lệ có kiến thức xử lý đúng khi có
người thân mắc bệnh đã tăng gấp đôi so với trước can thiệp (34,7% so với 76,9%)
với hiệu quả can thiệp là 103%. Trên 50% người dân đánh giá diệt bọ gậy hiệu
quả phòng chống SXH tốt hơn so với diệt muỗi.
- Trên 80% đối tượng sau can thiệp có kiểm tra bọ gậy trong đó 76,5% kiểm
tra ở mức hàng tuần. Sự khác biệt trước, sau can thiệp rất rõ rệt với
p <0,05 và hiệu quả can thiệp là 86,8% và 97,9%.
- Nhóm xã can thiệp có đội ngũ giám sát véc tơ truyền bệnh SXH tại tuyến y
tế cơ sở có tỷ lệ mắc thấp hơn hẳn so với nhóm chứng. Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê với p < 0,05.
KIẾN NGHỊ
- Với chu kỳ dịch 4 năm/ lần, tỉnh Bình Phước cần xây dựng các biểu đồ dự báo
để có kế hoạch chủ động trong phòng chống SXH tại cộng đồng.
- Mở rộng mô hình giám sát, quản lý vectơ truyền bệnh SXH bằng cách huy
động nguồn lực cộng đồng, nâng cao trách nhiệm, tính chủ động của cộng đồng
trong phòng chống dịch tại địa phương.