Tiểu luận
Đề tài: Luật tục Gia Lai
Mục lục: A. Một vài nét đặc trưng của con người và vùng đất Gia lai:
Đặc điểm địa lí
Đặc điểm kinh tế
Tổ chức cộng đồng
Hôn nhân gia đình
Văn hóa
Nhà cửa
Trang phục
B. Một vài lễ hội đặc trưng của Gia Lai
Luật tục ứng xử với người chết
Lễ Pơ thi
Tượng nhà mồ
Luật tục cúng thần linh
hội đâm trâu
Lễ hội cơm mới
Lễ cầu mưa
Lễ cúng bến nước
Lễ đền ơn đáp nghĩa cha mẹ
Tục lệ hôn nhân
C: Kết luận
A: Một vái nét đặc trưng của con người và vùng đất Gia Lai:
Đặc điểm địa lý:
Gia Lai là một tỉnh miền núi - biên giới nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên
độ cao 600 - 800 mét so với mực nước biển. Chiếm tuyệt đai đa số cư dân bản
địa ở Gia Lai là hai dân tộc Jrai và Bahnar. Theo những tài liệu dân tộc học và
khảo cổ học thì có thể giả định địa danh cư trú gốc của người Jrai là cao nguyên
Pleiku và hai lưu vực sông Ayun và sông Ba. Rồi từ địa bàn đó, dần dần người
Jrai tiến xa lên về phía tây và về phía bắc. Còn người Bahnar thì cư trú chủ yếu
ở đông bắc tỉnh Gia Lai (huyện An Khê, huyện Kbang, huyện Kông Chro và
huyện Mang Yang) và ở đông nam tỉnh Kon Tum (quanh thị xã Kon Tum,
huyện Kon Plông).
Hai dân tộc Jrai và Bahnar không chỉ là hai dân tộc lớn nhất, có ý thức rõ
về địa vực lưu trú, mà còn có những tác động nhất định đối với các dân tộc khác
trong khu vực.
Đặc điểm kinh tế:
Người Jrai sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt nương rẫy, lúa tẻ là cây
lương thực chính. Công cụ canh tác của người Jrai giản đơn, chủ yếu là con dao
chặt cây, phát rừng, cái cuốc xới đất và cây gậy chọc lỗ khi tra hạt giống. Chăn
nuôi trâu, bò, lợn, chó, gà phát triển. Xưa kia, người Jrai có đàn ngựa khá đông.
Người Jrai còn nuôi cả voi. Đàn ông thạo đan lát các loại gùi, giỏ, đàn bà giỏi
dệt khố váy, mền đắp, vải may áo cho gia đình. Săn bắn, hái lượm, đánh cá là
những hoạt động kinh tế phụ khác có ý nghĩa đáng kể đối với đời sống của họ
xưa và nay.
Tổ chức cộng đồng:
Người Jrai sống thành từng làng (plơi hay buôn). Trong làng ông trưởng
làng cùng các bô lão có uy tín lớn và giữ vai trò điều hành mọi sinh hoạt tập thể,
ai nấy đều nghe và làm theo. Mỗi làng có nhà rông cao vút.
Hôn nhân gia đình:
Dân tộc Jrai theo truyền thống mẫu hệ, phụ nữ tự do lựa chọn người yêu
và chủ động việc hôn nhân. Sau lễ cưới, chàng trai về ở nhà vợ, không được
thừa kế tài sản. Trái lại, con gái lấy chồng lần lượt tách khỏi cha mẹ ra ở riêng,
được phân chia một phần tài sản. Con cái đều theo họ mẹ. Ngoài xã hội, đàn ông
đóng vai trò quan trọng hơn, nhưng trong nhà phụ nữ có ưu thế hơn. Ngày xưa,
có tục những người cùng dòng họ (theo phía mẹ), khi chết chôn chung một hố,
nay tục này đã giảm.
Văn hóa:
Nói đến dân tộc Jrai phải kể đến những trường ca, truyện cổ nổi tiếng như
"Đăm Di đi săn", "Xinh Nhã"... Dân tộc Jrai cũng độc đáo trong nghệ thuật chơi
chiêng, cồng, cạnh đó là đàn T'rưng, đàn Tưng - nưng, đàm Krông - pút. Những
nhạc cụ truyền thống này gắn liền với đời sống tinh thần của đồng bào. Người
Jrai hầu như hát múa từ tuổi nhi đồng cho đến khi già yếu, không còn đủ sức
nữa, mới chịu đứng ngoài những cuộc nhảy múa nhân dịp lễ hội tổ chức trong
làng hay trong gia đình.
Nhà cửa:
Có nơi ở nhà dài, có nơi làm nhà nhỏ, nhưng đều chung tập quán ở nhà
sàn, đều theo truyền thống mở cửa chính nhìn về hướng bắc.
Trang phục:
Có nét riêng trong phong cách tạo hình và trang trí. Mặc dù hoa văn trang
trí cụ thể các nhóm khác nhau nhưng có thông số chung của tộc người.
Trang phục nam:
Thường nhật, nam đội khăn, theo lối quấn nhiều vòng trên đầu rồi buông
sang một bên tai, hoặc quấn gọn ghẽ như khăn xếp của người Kinh, khăn màu
chàm. Nhìn chung nam giới Jrai đóng khố, khố này thường ngắn hơn khố ngày
hội, là loại vải trắng có kẻ sọc. Ngày lễ họ mang khố màu chàm (dài 410 cm x
29 cm), khố loại này được trang trí hoa văn màu trắng, đỏ thành các đường viền
ở mép khố, đặc biệt hai đầu với các tua trên nền chàm. Có nhóm ở trần, có nhóm
mang áo (loại cộc tay và loại dài tay màu chàm, khoét cổ chui đầu). Loại áo cộc
tay thường có đường viền chỉ màu trắng bên sườn. Loại áo dài tay giống phong
cách áo dài nam Ê-đê hay Mnông.
Trang phục nữ:
Phụ nữ để tóc dài búi sau gáy hoặc quấn gọn trên đỉnh đầu. Áo là loại áo
ngắn, chui đầu, phổ biến là kiểu chui đầu cổ "hình thuyền", riêng nhóm Jrai
Mthur lại có kiểu cổ thấp hình chữ V và các loại cổ phổ biến. Trên nền chàm áo
được trang trí các sọc hoa văn theo bố cục ngang thân áo ở cổ, vai, ống tay, giữa
ngực, gấu áo và hai cổ tay áo, đó là các sọc màu đỏ xen trắng và vàng trên nền
chàm hoặc màu xanh nhạt diệp và màu chàm. Váy là loại váy hở quấn vào thân
(kích thước trên dưới 140 cm x 100 cm). Phong cách trang trí trên váy cũng
thiên về lối bố cục ngang với các đường sọc màu (như áo là chính). Có nhóm
ở Pleiku với nguyên tắc trên nhưng được mở rộng thành các mảng hoa văn ở
giữa thân váy, nửa thân dưới áo và hai ống tay. Trang sức có vòng cổ, vòng tay.
B:Một số lê hội đặc trưng của Gia Lai:
1.Luật tục ứng xử với người chết:
* Lễ Pơ Thi (Lễ bỏ mả)
Hàng năm khi mùa mưa vừa chấm dứt (từ tháng 11 đến hết tháng 4 dương lịch
năm sau), khi muà màng thu hoạch xong, cả hai tộc người Bahnar và Jrai ở tỉnh
Gia Lai tổ chức Lễ bỏ mả và họ cùng gọi là Pơ thi. Lễ bỏ mả là lễ hội lớn nhất,
đông vui và dài ngày nhất.
Theo quan niệm của cư dân bản địa, người sống đều có hồn, khi người
chết hồn biến thành ma. Hàng ngày, người thân của người chết phải đem cơm
nước đến nhà mồ, quét dọn nhà mồ. Mục đích của lễ hội chính là tiễn đưa các
tinh linh (ma mới) về với thế giới tổ tiên, về với "ma cũ". Chỉ sau khi làm Lễ bỏ
mả người chết mới đi về với thế giới tổ tiên, chấm dứt mọi ràng buộc giữa người
sống với người chết.
Ngày xưa người Jrai tổ chức lễ hội bỏ mả trong 7 ngày, nay chỉ còn 4
ngày:
Ngày thứ nhất gọi là ngày vào hội
Ngày thứ hai là ngày vỡ hội
Ngày thứ ba là ngày rửa nồi
Ngày thứ tư là ngày giải phóng cho người goá bụa.
Công việc chuẩn bị khá công phu: đốn cây to làm hàng rào quanh mồ, đẵn
gỗ để đẽo tượng dựng quanh nhà mồ. Cuối cùng làm nhà mồ.
Lễ bỏ mả thường diễn ra vào buổi chiều, đó là một cuộc trình diễn lớn
quanh nhà mồ. Sau khi già làng làm lễ cúng xong, thân nhân của người quá cố
vào nhà mồ khóc than lần cuối với người đã chết. Tiếng cồng chiêng, tiếng trống
nổi lên tiễn đưa người chết đi về thế giới bên kia, đoàn đưa tiễn gồm những
người đánh khiêng và đánh trống, người đánh cồng chiêng, người đeo mặt nạ,
người trình diễn những con rối, phụ nữ thì múa, họ đi vòng quanh nhà mồ biểu
diễn những động tác theo tiếng nhạc. Trang phục của những người tham gia đều
rất trang nghiêm và sặc sỡ.
Có thể nói, lễ hội bỏ mả là biểu tượng nổi trội nhất, hấp dẫn nhất trong
các lễ hội nói riêng và những sắc thái văn hoá của người Jrai nói chung. Bởi lẽ,
Lễ hội bỏ mả là cuộc trình diễn nghệ thuật lớn nhất, mang tính chất tổng hợp
trong tất cả các loại hình nghệ thuật dân gian của dân tộc Jrai. Bữa ăn bên nhà
mồ là bức tranh đầy đủ về "văn hoá ẩm thực" của tộc người Jrai. Đây là bữa ăn
mang tính cộng đồng lớn nhất về quy mô những người tham dự, về sự phong
phú của các món ăn và cả về nghi thức tín ngưỡng đời thường. Nghệ thuật nhà
mồ cũng là hình thức tổng hợp bao gồm nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau
như: kiến trúc, điêu khắc, hội hoạ, trang trí, nghệ thuật đan. Nghệ thuật nhà mồ
đề cao tính nhân văn của con người, lấy con người làm trung tâm vũ trụ. Những
ngày Lễ bỏ mả thực sự là những ngày hội văn hóa tưng bừng đầy chất nghệ
thuật. Trong những ngày này, người sống ăn bữa ăn cộng cảm cuối cùng với
người chết để rồi lưu luyến tiễn đưa người chết về thế giới bên kia bằng bài nhạc
cồng chiêng, bằng những con rối... Sau khi làm lễ giải phóng, người sống
không còn ràng buộc gì với người thân đã chết. Họ có thể lấy vợ, lấy chồng, có
thể dự những cuộc vui của dân làng. Đến đây lễ bỏ mả chấm dứt, ngôi nhà mồ
cũng bị bỏ luôn, không còn được chăm sóc.
Xét dưới góc độ tôn giáo tín ngưỡng thì Lễ bỏ mả là một nghi thức tang
ma. Thế nhưng nhìn ở khía cạnh văn hóa thì Lễ bỏ mả của người Tây Nguyên
mà điển hình nhất của người Jrai và người Bahnar ở tỉnh Gia Lai là đỉnh điểm
của những hoạt động văn hóa truyền thống. Đương nhiên thông qua lễ hội, chủ
lễ nhằm giải quyết mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người
với thế giới tự nhiên. Có thể nói, Lễ bỏ mả là một trong những đặc trưng văn
hóa tiêu biểu nhất của các dân tộc tỉnh Gia Lai. Đến với Lễ bỏ mả, du khách
còn được chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc nhà mồ, điêu khắc tượng nhà mồ -
những giá trị có một không hai của đất nước Việt Nam.