Tải bản đầy đủ (.pdf) (101 trang)

Luận văn Tiền giả định trong văn bản luật tục Ê Đê

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (932.31 KB, 101 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM THỊ XUÂN NGA

TIỀN GIẢ ĐỊNH
TRONG VĂN BẢN LUẬT TỤC Ê ĐÊ
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số:

60.22.02.40

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đỗ Việt Hùng

HÀ NỘI, 2014


LờI CảM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, ngoài nỗ lực của bản thân, chúng tôi đã
nhận đ-ợc sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của giáo viên h-ớng dẫn và các thầy
cô giáo tr-ờng Đại học S- phạm Hà Nội. Vì vậy, chúng tôi xin bày tỏ lòng
cảm ơn chân thành đến:
- Thầy Đỗ Việt Hùng, ng-ời trực tiếp h-ớng dẫn, tận tình giúp đỡ tôi
trong suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này.
- Các thầy cô giáo tr-ờng Đại học S- phạm nói chung và các thầy cô bộ
môn Ngôn ngữ nói riêng đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá
trình thực hiện cũng nh- đóng góp các ý kiến thiết thực để luận văn này hoàn
chỉnh hơn.


Xin gửi lời tri ân đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những ng-ời thân
yêu luôn quan tâm, chia sẻ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học
tập và hoàn thành luận văn.
Với sự nghiêm túc, sự đam mê, tìm tòi, học hỏi, chúng tôi rất mong nhận
đ-ợc ý kiến đóng góp của Quý thầy cô.
Hà Nội,, tháng 10 năm 2014
Học viên thực hiện

Phạm Thị Xuân Nga


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài............................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu................................................ 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................ 6
5. Ý nghĩa của đề tài.......................................................................... 7
6. Phương pháp nghiên cứu .............................................................. 7
7. Bố cục của đề tài ........................................................................... 7
CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ THUYẾT ................................................ 8
1.1. Tổng quan về người Ê Đê và Luật tục Ê Đê .............................. 8
1.1.1. Sơ lược về tộc người Ê Đê ..................................................... 8
1.1.1.1. Địa bàn cư trú ....................................................................... 8
1.1.1.2. Đặc điểm dân cư ................................................................... 9
1.1.1.3. Tổ chức xã hội .................................................................... 10
1.1.1.4. Ngôn ngữ ........................................................................... 11
1.1.1.5. Văn hóa - tín ngưỡng .......................................................... 13
1.1.2. Vài nét về luật tục Ê Đê......................................................... 14
1.1.2.1. Sự ra đời và nội dung của luật tục Ê Đê............................. 14

1.1.2.2. Giá trị của luật tục Ê Đê ..................................................... 18
1.2.2. Phân loại tổng quát ý nghĩa hàm ẩn không tự nhiên............ 24
1.3. Tiền giả định trong phát ngôn .................................................. 25
1.3.1. Khái niệm tiền giả định ........................................................ 25
1.3.2. Phân loại tiền giả định .......................................................... 27
1.3.3. Vai trò của tiền giả định trong giao tiếp, đặc biệt trong xử
phạt bằng luật tục Ê Đê ................................................................... 31


CHƢƠNG 2: TIỀN GIẢ ĐỊNH BÁCH KHOA TRONG VĂN
BẢN LUẬT TỤC Ê ĐÊ ................................................................. 32
2.1. Tiền giả định bách khoa về cách ứng xử giữa con người với thế
giới tự nhiên trong văn bản luật tục................................................. 33
2.1.1. Sự xuất hiện của tiền giả định bách khoa về cách ứng xử giữa
con người với thế giới tự nhiên ....................................................... 33
2.1.2. Nhận định về tiền giả định bách khoa trong cách ứng xử giữa
con người với thế giới tự nhiên ....................................................... 33
2.1.2.1. Tiền giả định bách khoa về cách ứng xử với rừng ............. 35
2.1.2.2. Tiền giả định bách khoa về cách ứng xử với đất đai, nương
rẫy
............................................................................................ 39
2.1.2.3. Tiền giả định bách khoa về cách ứng xử với nguồn nước . 41
2.1.2.4. Tiền giả định bách khoa về cách ứng xử với cây trồng ..... 43
2.1.2.5. Tiền giả định bách khoa về cách ứng xử với vật nuôi ....... 44
2.2. Tiền giả định bách khoa về cách ứng xử trong các mối quan hệ
xã hội ............................................................................................... 47
2.2.1. Sự xuất hiện tiền giả định bách khoa về các mối quan hệ xã
hội .................................................................................................... 47
2.2.2. Nhận định về tiền giả định bách khoa về các mối quan hệ xã
hội .................................................................................................... 48

2.2.2.1. Tiền giả định bách khoa về các tội xúc phạm đến người đầu
làng và quy định các tội của Trưởng buôn ...................................... 48
2.2.2.3. Tiền giả định bách khoa về quyền hạn, nhiệm vụ của Chủ
đất..................................................................................................... 50
2.2.2.4. TGĐBK về những vi phạm lợi ích cộng đồng ................... 52
2.2.2.5. TGĐBK về quan hệ giữa cha mẹ - con cái ........................ 54
2.2.2.6. TGĐBK về quan hệ hôn nhân và về tội gian dâm ............. 56

4


2.2.2.7. TGĐBK về các điều khoản liên quan đến tài sản, của cải . 59
2.2.2.8. TGĐBK về các trọng tội .................................................... 62
2.3. Tiểu kết chương 2 ..................................................................... 63
CHƢƠNG III: BƢỚC ĐẦU TÌM HIỂU TIỀN GIẢ ĐỊNH
NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN LUẬT TỤC Ê ĐÊ ................ 65
3.1. Tiền giả định từ vựng trong văn bản luật tục Ê Đê .................. 65
3.1.1. Khái quát sự xuất hiện của TGĐ từ vựng trong văn bản luật tục Ê
Đê
............................................................................................ 65
3.1.2. Nhận định về TGĐ từ vựng trong văn bản luật tục Ê Đê ..... 66
3.1.2.1. Tiền giả định từ thực .......................................................... 66
3.1.2.2. Tiền giả định từ hư ............................................................. 70
3.2. Tiền giả định cú pháp trong văn bản luật tục Ê Đê .................. 74
3.2.1. Sự xuất hiện của TGĐ cú pháp trong văn bản luật tục Ê Đê 74
3.2.2. Nhận định về TGĐ cú pháp trong văn bản luật tục Ê Đê ..... 75
3.2.2.1. Tiền giả định cú pháp: Cấu trúc lặp ................................... 75
3.2.2.2. Tiền giả định cú pháp: Cấu trúc so sánh ............................ 81
3.3. Tiền giả định đề tài ................................................................... 86
3.3.1. Sự xuất hiện của TGĐ đề tài trong văn bản luật tục Ê Đê .... 86

3.3.2. Nhận định về TGĐ đề tài trong văn bản luật tục Ê Đê ......... 87
3.4. Tiểu kết chương 3 .................................................................... 88
KẾT LUẬN .................................................................................... 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 93

5


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Luật tục (customary law, folk law, traditional law) còn được gọi là tập
quán pháp, phong tục địa phương... là một hình thức của tri thức bản địa, tồn
tại ở nhiều dân tộc trên thế giới. Ở Việt Nam, luật tục có ở hầu hết các dân tộc
thiểu số từ Việt Bắc, Tây Bắc đến Nam Bộ, Tây Nguyên và dân tộc Kinh
(hương ước). “Đó là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương,
được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử với
môi trường và ứng xử xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn, điều chỉnh và
điều hòa các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với môi trường tự
nhiên. Những chuẩn mực ấy của luật tục được cả cộng đồng thừa nhận và
thực hiện, tạo nên sự thống nhất và công bằng xã hội của mỗi cộng
đồng”[53;180].
Luật tục của các dân tộc Tây Nguyên nói chung, luật tục Ê Đê nói riêng
là sản phẩm của xã hội cổ truyền, xã hội thời kì tiền giai cấp, mang tính khép
kín, biệt lập. Đồng bào Ê Đê gọi di sản luật tục của mình là klei bhiăn kdi.
Luật tục ra đời từ chính cộng đồng. Đây là bộ luật bất thành văn quy định
cách ứng xử của con người với con người và cách ứng xử của con người với
tự nhiên. Luật tục khác với luật pháp ở chỗ: Luật pháp là do một số người
nào đó thay mặt cho nhà nước soạn ra bằng văn bản viết, còn luật tục là do
nhân dân xây dựng nên theo phương thức truyền miệng dân gian. Luật tục
cũng khác với phong tục, tập quán ở chỗ không phải bất cứ những gì thuộc về

phong tục, tập quán đều có thể trở thành luật tục mà chỉ có những phong tục,
tập quán nào có liên quan trực tiếp đến việc quản lý để ổn định phát triển
cộng đồng và nó bắt buộc mọi người trong cộng đồng phải thực hiện, khi đó
được gọi là luật tục. Vì thế, nội dung ý nghĩa của luật tục chính là sự kế thừa
và nâng cao nội dung của phong tục, tập quán. Nếu con người thực hiện

1


phong tục, tập quán của mình như một thói quen sẵn có thì thực hiện luật tục
lại vừa có thói quen vừa bắt buộc. Sống không theo phong tục, tập quán thì
thường bị cộng đồng lên án, còn sống mà vi phạm luật tục thì bị cộng đồng và
thần linh xử phạt. Tính chất bắt buộc và xử phạt của luật tục là đặc điểm
giống với pháp luật của nhà nước, còn thói quen tự giác thực hiện luật tục là
đặc điểm giống với phong tục, tập quán.
Có thể nói, Luật tục Ê Đê là tác phẩm có giá trị cả về nội dung lẫn hình
thức thể hiện. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách
đầy đủ.
Bên cạnh đó, nghiên cứu vấn đề ngôn ngữ trong văn bản luật tục Ê Đê
đang là mảnh đất bỏ ngõ đối với các nhà khoa học, trong đó có vấn đề về tiền
giả định. Tiền giả định trong ngôn ngữ là những hiểu biết, những kinh nghiệm
về thế giới tự nhiên và xã hội được các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa
nhận. Vì vậy, trong nhận thức của các nhân vật giao tiếp, tiền giả định luôn
luôn đúng, là cơ sở để tạo nghĩa tường minh trong các phát ngôn. Việc nghiên
cứu, tìm hiểu giá trị của bộ luật tục Ê Đê thông qua nghệ thuật ngôn ngữ mà
tiền giả định là một điển hình, được xem là quan trọng và có tính cấp thiết.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài Tiền giả định trong văn bản luật tục
Ê Đê để khảo sát, nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Sơ lược tình hình nghiên cứu luật tục ở Việt Nam và một số nước

Cuối thế kỉ XIX, luật tục đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu. Để xây
dựng luật pháp phục vụ việc quản lí xã hội, phục vụ cho mục đích cai trị và
khai thác thuộc địa, nhiều công trình nghiên cứu tập trung ở các nước thuộc
địa để tìm hiểu phong tục tập quán của người bản xứ. Bronislaw
Maninowski, nhà nghiên cứu về luật tục khẳng định rằng: “Không dùng một
thể chế xã hội này áp đặt cho một xã hội khác, mà phải sử dụng bản thân thể

2


chế xã hội vốn có để quản lí xã hội đó” [54; 14]. Ở châu Âu và một số nước
châu Phi, hầu như người ta chỉ quan tâm đến luật tục chỉ khi từ góc độ tập
quán nâng lên thành luật pháp, được tòa án công nhận và được chấp nhận,
thi hành như là luật.
Đầu thế kỉ XX, các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu luật tục dưới góc độ
nhân loại học và bắt đầu văn bản hóa luật tục, mở rộng phạm vi nghiên cứu
trên các bình diện khác nhau, chẳng hạn như vấn đề lí luận và phương pháp
nghiên cứu luật tục. Dựa vào quan điểm này, nhiều nhà khoa học bắt đầu
nghiên cứu luật tục của các dân tộc ở nhiều vùng, nhiều quốc gia trên thế giới.
Theo tác giả Ngô Đức Thịnh [54; 18], ở châu Á có công trình của Masaji
Chiba (người Nhật Bản, chủ biên), trình bày luật tục của người Ai Cập, Hồi
giáo, Iran Hồi giáo, Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản, xuất bản năm 1986. Tiếp đến
là các công trình nghiên cứu của Von Benda - Beckmann K. và Von Benda –
Beckmann F. (người Hà Lan) về luật tục Inđônêxia, luật tục Malayxia. Công
trình nghiên cứu của Kayleen M. Hazle Hurst đề cập đến luật tục Canada,
Australia và New Zealand.
Có thể nói, ở thế kỉ XX, việc nghiên cứu luật tục trên thế giới đã đạt được
những bước phát triển đáng kể cả về lí luận và nghiên cứu cụ thể. Đó là điều
kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu luật tục ở Việt Nam.
Đầu thế kỉ XX, ở nước ta, luật tục của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên

được các quan chức thuộc địa Pháp quan tâm sưu tầm và công bố như: Luật
tục Ê Đê (1926), luật tục Stiêng, luật tục Srê (1951), luật tục Ba Na, Xê Đăng
(1952), luật tục Mạ (1957), luật tục Ja Rai (1963)... Từ năm 1996, Viện
nghiên cứu Văn hóa dân gian đã phối hợp với các sở Văn hóa Thông tin của
các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục sưu tầm, bổ sung và lần lượt xuất bản: Luật tục
Ê Đê (1996), luật tục Ja Rai (1997), luật tục M’Nông (1998). Ở miền núi phía
Bắc, những năm 80 của thế kỉ XX, việc sưu tầm luật tục được xúc tiến. Năm
1999, luật tục của dân tộc Thái cũng được giới thiệu.

3


2.2. Tình hình sưu tầm, nghiên cứu luật tục Ê Đê
Luật tục Ê Đê được viên Công sứ Pháp tại tỉnh Đăk Lăk là L. Sabatier
cho sưu tầm từ năm 1913 qua hình thức ghi âm bằng một thứ chữ Ê Đê mới,
được các cố đạo người Pháp xây dựng dựa vào bộ vần chữ La tinh. Sau đó cho
xuất bản lần đầu tiên tại Pháp năm 1926. Đây cũng là công trình về luật tục đầu
tiên ở Việt Nam. Năm 1940, D. Antomarchi, một dịch giả người Pháp dịch luật
tục này ra tiếng Pháp và in trên tạp chí Trường Viễn đông Bác cổ (B.E.F.E.O).
Năm 1984, nhà nghiên cứu Dân tộc học Nguyễn Hữu Thấu dựa vào văn bản
luật tục Ê Đê bằng tiếng Pháp dịch qua tiếng Việt. Cũng vào năm này, với
chương trình Tây Nguyên II của Nhà nước, luật tục Ê Đê được sưu tầm, bổ
sung và cho in song ngữ Việt – Ê Đê, do Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn,
Nguyễn Hữu Thấu biên soạn, xuất bản năm 1996, Nxb Chính trị Quốc gia.
Các công trình nghiên cứu về luật tục ở Việt Nam cũng như ở Tây
Nguyên nói chung, luật tục Ê Đê nói riêng còn khá khiêm tốn. Phần lớn các
công trình chỉ tập trung tìm hiểu về các giá trị nội dung; về thế giới và nhân
sinh quan; về mối quan hệ giữa luật tục và luật pháp hiện hành; việc vận dụng
luật tục vào quản lí cộng đồng trong thời kì mới;... Cho đến nay, vẫn chưa có
những chuyên khảo bàn sâu về giá trị ngôn ngữ của luật tục.

GS. Văn hóa học Ngô Đức Thịnh khi trình bày về luật tục Ê Đê đã khẳng
định: Luật tục Ê Đê là nguồn tư liệu quý để nghiên cứu xã hội tộc người và
văn hóa tộc người; là di sản văn hóa độc đáo của dân tộc; là tri thức dân
gian về quản lí cộng đồng [53; 130]. Tác giả cũng nêu mối quan hệ giữa luật
tục với đời sống và sự tác động của nó đối với quá trình phát triển xã hội, với
nhiều nội dung cụ thể, như: Luật tục, tòa án phong tục và tổ hòa giải của
buôn làng; từ luật tục đến pháp luật nhà nước; luật tục, từ buôn làng đến
quốc gia – dân tộc;... Tác giả còn cho rằng: “Bộ luật tục là những trang sử
truyền khẩu được ghi chép lại, nó phản ánh sắc nét chân dung của một tổ

4


chức xã hội mẫu hệ còn khá điển hình trên cao nguyên miền Trung nước ta
vào những thập niên đầu thế kỉ XX” [53; 121].
Một số công trình nghiên cứu khác khi bàn về luật tục Ê Đê được tập hợp
trong quyển Chuyên đề về luật tục của Bộ Tư pháp (1997). Các bài viết đề
cập đến các vấn đề như: Cách thức tổ chức và vận hành của luật tục; những
quy định về hình phạt của luật tục; những yếu tố làm nền tảng cho luật tục;
quá trình vận động và phát triển của luật tục; bản chất và giá trị của luật tục;
luật tục, hương ước so với những quy định của bộ luật dân sự; luật tục Ê Đê
với việc bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên; vai trò của người phụ nữ Ê Đê
qua luật tục, vấn đề hôn nhân và gia đình trong luật tục Ê Đê;...
Về phương diện ngôn ngữ, trong số tài liệu chúng tôi tham khảo về luật
tục Ê Đê, tác giả Ngô Đức Thịnh trong công trình Luật tục Ê Đê, xuất bản
năm 1996 đã nhận xét khái quát rằng: “Ngôn ngữ luật tục là loại văn vần, đó
là hình thức chuyển tiếp giữa khẩu ngữ hàng ngày với ngôn ngữ thơ ca. Hình
thức ấy làm cho người ta dễ nhớ, dễ lưu truyền để làm theo.(…) Hình thức
văn vần (klei duê) không chỉ có trong luật tục, mà còn là một hình thức phổ
biến trong văn chương truyền miệng như khan, tục ngữ, dân ca, câu đố,… nó

tạo nên hình thức ngôn từ đặc biệt. Thực ra, klei duê là một hình thức ngôn từ
được phát triển lên từ khẩu ngữ hàng ngày với cách nói luôn ví von, so sánh,
cụ thể, lặp đi lặp lại, ưa thích dùng ngoa ngữ để khẳng định điều muốn nói.
Chính vì thế mà klei duê trong luật tục cũng như trong các thể loại khác của
văn chương truyền miệng Ê Đê rất gần gũi với nhau”[51; 34-35].
Trong Tổng tập văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam (Đặng Nghiêm
Vạn chủ biên), các tác giả nhận xét rằng: Luật tục của người Ê Đê và M’Nông
lại được cơ cấu bằng văn nói, điểm xuyết nhiều thành ngữ và tục ngữ, tiến bộ
hơn nhiều so với bộ luật tục của người Xrê do J. Dournes và luật tục của
người Ja Rai do P.B Lafont và Phan Đăng Nhật giới thiệu, có thể sánh

5


ngang, nhưng chính xác hơn bộ luật của người Ba Na và Xơ Đăng do P.
Guilleminet sưu tập [58; 36].
Nhìn chung, khi nhận xét về phương diện ngôn ngữ của luật tục, các nhà
nghiên cứu đều cho rằng ngôn ngữ luật tục mang một số phẩm chất của ngôn
ngữ văn chương truyền miệng và đã đề cập một cách khái quát về đặc điểm
của yếu tố vần, yếu tố hình ảnh và biện pháp nghệ thuật,... Một số những yếu
tố thuộc các hình thức nghệ thuật khác, đặc biệt tìm hiểu về tiền giả định của
văn bản luật tục Ê Đê, theo chúng tôi được biết, hiện nay chưa có công trình
nào đề cập đến, chưa có đề tài nào trùng tên với đề tài luận văn mà chúng tôi
nghiên cứu.
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung chỉ ra các tiền giả định trong luật tục của người Ê Đê về
cách ứng xử với thế giới tự nhiên và với cộng đồng xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu khoa học để xây dựng cơ sở lí thuyết.
- Thống kê, phân loại các biểu thức ngôn ngữ trong các điều luật của luật
tục Ê Đê rồi phân tích, miêu tả làm rõ các giá trị tri thức nền mà người Ê Đê
đã vận dụng điều chỉnh các hành vi của cộng đồng trong đời sống.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là tiền giả định trong bộ luật tục
của người Ê Đê.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi khảo sát chủ yếu của luận văn là 11 chương với 236 điều của bộ
Luật tục Ê Đê (Tập quán pháp) do Ngô Đức Thịnh, Chu Thái Sơn, Nguyễn

6


Hữu Thấu biên soạn, Nxb Văn hóa dân tộc tái bản năm 2012. Ngoài ra, chúng
tôi còn tham khảo, tìm hiểu thêm luật tục Ja Rai, M’Nông để so sánh, đối
chiếu, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu đề tài được thuận lợi.
5. Ý nghĩa của đề tài
5.1. Ý nghĩa lí luận
Trên cơ sở tìm hiểu tiền giả định trong văn bản luật tục Ê Đê, đề tài góp
phần giải quyết những biểu hiện cụ thể của các loại tiền giả định có mặt trong
văn bản luật tục Ê Đê dựa trên sự tiếp thu những thành quả lí luận của các nhà
nghiên cứu đi trước như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Diệp Quang Ban…
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên của đề tài nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu, tham khảo
trong nghiên cứu khoa học về một bộ luật tục có giá trị như luật tục Ê Đê.
Những kiến giải mà đề tài luận văn đưa ra cũng góp phần làm tài liệu tham
khảo cho các nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa và những người quan tâm
đến vấn đề tiền giả định trong luật tục của người Ê Đê.

6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử
dụng kết hợp các lí thuyết, quan điểm nghiên cứu về văn hóa học, ngôn ngữ
học và các kiến thức liên ngành liên quan đến việc khảo chứng hệ thống ngữ
liệu trong Luật tục Ê Đê. Cụ thể, trong luận văn này, chúng tôi chủ yếu dùng
phương pháp miêu tả đồng đại. Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng các thủ
pháp thống kê, phân loại, so sánh, phân tích để hoàn thiện luận văn.
7. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài luận văn gồm
ba chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết
Chƣơng 2: Tiền giả định bách khoa trong văn bản luật tục Ê Đê
Chƣơng 3: Bước đầu tìm hiểu tiền giả định ngôn ngữ trong văn bản luật
tục Ê Đê

7


CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÍ THUYẾT
1.1. Tổng quan về ngƣời Ê Đê và Luật tục Ê Đê
1.1.1. Sơ lược về tộc người Ê Đê
1.1.1.1. Địa bàn cư trú
Tây Nguyên được biết đến là vùng đất cổ sơ và nguyên sinh, mang tính
chất bi hùng và mẫn tiệp. Truyền thống dân cư ở Tây Nguyên là mỗi dân tộc
tự tìm cho mình một địa bàn cư trú thích hợp. Mỗi dân tộc đều có một đặc
trưng văn hóa, những phong tục, tập quán, lối sống riêng, và tộc người Ê Đê
cũng không ngoại lệ.
Người Ê Đê (trước đây còn được gọi bằng những tên khác nhau như:
Rhadé, Raday, Rđê, Ănak Đê, Êgar…) là một trong 12 dân tộc thiểu số tại

chỗ Tây Nguyên, và cũng là một trong bốn dân tộc bản địa có số dân đông
nhất Tây Nguyên1. Người Ê Đê trước đây là chủ nhân của vùng đất rộng lớn
gồm các huyện nằm trên hai cao nguyên Buôn Ma Thuột, M’Đrăk và một
phần bình nguyên Ea Súp của tỉnh Đắk Lắk. Đồng bào Ê Đê có số dân
331.194 người, hiện sống trên địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai, Phú Yên,
Khánh Hòa và Đăk Nông. Ở Đắk Lắk có 298.534 người Ê Đê sinh sống,
chiếm 17,2% dân số toàn tỉnh và 90,1% số người Ê Đê ở Việt Nam. Tại Đắk
Lắk, người Ê Đê cư trú hầu hết ở các huyện, thành phố như: Čư M’gar 60.333
người, Buôn Ma Thuột 36.845 người, Čư Kuin 26.955 người, Krông Buk
17.960 người, Buôn Hồ 17.750 người, Krông Ana 15.963 người, Ea Kar
15.465 người, Ea H’Leo 14.727 người, M’Đrăk 14.635 người, Krông Bông
14.312 người, Krông Năng 14.289 người, Buôn Đôn 10.185 người, Lăk

1

Bốn dân tộc đó là: Ja Rai, Ba Na, Cơ Ho và Ê Đê.

8


3.629 người, Ea Súp 131 người2. Người Ê Đê bao gồm nhiều nhóm địa
phương, trong đó đáng kể là các nhóm Kpă, Adham, Mdhur, Bih, Blô, Ktul,
Krung, Êpan, Hwing,… Mỗi nhóm thường phân bố tập trung ở một địa bàn
nhất định. Chẳng hạn, nhóm Kpă sống quanh thành phố Buôn Ma Thuột và
một số huyện lân cận như Krông Păk, Čư Kuin; nhóm Adham sống ở Krông
Buk và Čư M’gar; nhóm Bih sống ở Krông Ana; nhóm Krung sống ở Ea
H’leo; nhóm Mdhur sống giáp ranh với hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa…
Người Ê Đê là một cộng đồng tương đối thống nhất về ý thức tộc người, về
ngôn ngữ cũng như văn hóa, Tuy nhiên, cũng có những sự khác biệt về thổ âm,
những chi tiết trong sinh hoạt văn hóa ở các địa bàn cư trú, nhưng không có sự

khác biệt lớn giữa các nhóm địa phương. Người Ê Đê sống quanh thành phố
Buôn Ma Thuột đã có quan hệ giao lưu văn hóa với người Việt từ rất sớm, chịu
ảnh hưởng của văn minh đô thị, sự phân hóa xã hội và giai cấp khá rõ nét.
1.1.1.2. Đặc điểm dân cư
Địa hình Tây Nguyên bị chia cắt bởi hệ thống sông suối và các dãy núi
cao, xen kẽ là các cao nguyên, bình nguyên tạo ra những cao độ khác nhau, vì
vậy, vị trí các buôn làng thường cách xa nhau. Nhìn chung, việc phân bố dân
cư chủ yếu tuân theo quy luật của tự nhiên, chưa có những tác động đáng kể
của chiến tranh cũng như các yêu cầu tổ chức sản xuất.
Trong xã hội truyền thống của người Ê Đê, đơn vị cư trú cơ sở và cũng là
cao nhất là buôn. Dưới buôn có thể có những đơn vị cư trú nhỏ hơn, gọi là alú
(như xóm của người Việt), tuy về sinh hoạt kinh tế - xã hội, nó không phải là
đơn vị độc lập, mà chỉ là bộ phận hữu cơ của buôn; nhưng nó có thể trở thành
buôn nhỏ khi số dân đông lên. Buôn làng cổ truyền của các tộc người tại chỗ
Tây Nguyên nói chung và tộc người Ê Đê nói riêng là thực thể đơn nhất.
Buôn làng thực hiện chức năng “kép”: vừa là đơn vị cư trú, vừa là đơn vị tự
2

Phòng Dân số - Cục Thống kê Đắk Lắk, Số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009

9


quản. Buôn làng được hợp thành bởi nhiều gia đình mẫu hệ. Trong mỗi gia
đình mẫu hệ thường có vài thế hệ cùng sinh sống. Buôn có nhà sàn dài truyền
thống để sinh hoạt cộng đồng như hội họp, tiến hành các nghi lễ truyền
thống… Mỗi buôn có ranh giới đất đai và rừng núi, thuộc sở hữu chung, các
thành viên có thể chiếm dụng nhưng không được quyền sở hữu, quyền chuyển
nhượng, bao gồm đất canh tác, đất chăn thả gia súc, đất ở, đất rừng, sông suối,
nghĩa địa… và nó được gọi là ala buôn (đất làng) [19; 71]. Diện tích đất buôn

được phân định ranh giới bởi những cây cổ thụ, những con suối, những tảng
đá… và được các buôn láng giềng chấp nhận. Họ cũng gắn cho đất của buôn
một vị thần cai quản làm tăng sự linh thiêng. Như vậy, xâm chiếm đất tức là
xúc phạm đến thần linh và sẽ bị trừng phạt của thần, đồng thời cũng bị xử
phạt theo luật tục của cộng đồng.
Người Ê Đê sinh sống trong nhà sàn dài, kiến trúc mô phỏng hình chiếc
thuyền. Nhà được làm bằng gỗ, tre, nứa, mái lợp cỏ tranh. Nhà sàn dài truyền
thống bao giờ cũng được làm theo hướng Bắc – Nam và được chia thành hai
gian: Gian trong (ôk) là gian sinh hoạt của các tiểu gia đình và gian ngoài (gah)
là nơi tiếp khách, uống rượu, sinh hoạt văn nghệ và tiến hành các nghi lễ.
Ngày nay, phong trào định canh, định cư khuyến khích gia đình nhỏ cư
trú riêng; mặt khác, rừng bị thu hẹp, vật liệu làm nhà sàn đắt đỏ đã làm giảm
bớt lượng nhà sàn truyền thống ở các buôn.
1.1.1.3. Tổ chức xã hội
Xã hội truyền thống của người Ê Đê mang đậm tính chất mẫu hệ. Thể
hiện rõ nhất trong phong tục tập quán, trong quan hệ hôn nhân, huyết thống
và cuộc sống gia đình với các quy định: hôn nhân một vợ một chồng, người
phụ nữ chủ động cưới chồng, người đàn ông cư trú bên nhà vợ, con cái mang
họ mẹ, mặc dù anh chị em con dì không được kết hôn với nhau nhưng khuyến
khích hôn nhân con cô con cậu… Theo chế độ này, con gái luôn được quý

10


trọng hơn con trai. Bên cạnh đó, có thể kể đến vai trò của người cậu trong gia
đình; việc sở hữu tài sản trong gia đình, việc phân công lao động… Đứng đầu
đại gia đình truyền thống là khoa sang, đó là người phụ nữ lớn tuổi và có uy
tín. Trên thực tế, người đàn ông chồng của khoa sang thực thi phần lớn nhiệm
vụ nhưng quyền quyết định lại thuộc về người vợ.
Đối với đồng bào Ê Đê, dòng họ (djuê) đóng vai trò quan trọng. Trong

một buôn, một vùng thường có nhiều dòng họ khác nhau như Ê Ban, Ayũn,
Byă, Mlô, Duôn Du, HMok, Niê Kđăm, Kbur… Nhưng đồng bào quan niệm
rằng các dòng họ trên đều xuất phát từ một hai dòng (họ gốc, họ mẹ) là Niê và
Mlô. Theo đó, những người tuy mang tên họ khác nhau nhưng nếu chung một
gốc (Niê hay Mlô) thì không thể kết hôn với nhau được. Trong tập quán hôn
nhân, tồn tại hôn nhân chị em vợ và hôn nhân chị em chồng mà người Ê Đê
gọi là tục nối nòi (čuê nuê), thể hiện rõ nét trong luật tục: “khi cái giát sàn đã
nát thì phải thay đi, khi người này chết thì phải thay thế bằng người khác”. Vì
vậy, khi chồng chết, người phụ nữ có quyền đòi hỏi nhà chồng một người em
trai để nối nòi. Ngược lại, người vợ chết, chồng bà ta có thể lấy em gái vợ để
nối nòi. Thực ra, tục nối nòi trong xã hội cổ truyền Ê Đê vượt ra ngoài cả hôn
nhân chị em vợ và hôn nhân anh em chồng. Đó là những quan hệ hôn nhân
hợp phong tục xưa với quan niệm sẽ đem lại những điều may mắn, tốt đẹp.
Trong tổ chức tự quản xã hội của người Ê Đê, hai nhân vật có vị trí nổi
bật nhất là chủ bến nước (pô pin ea) và chủ đất (pô lăn).
1.1.1.4. Ngôn ngữ
Ngôn ngữ của người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai – Polynesia
(ngữ hệ Nam Ðảo). Tiếng Ê Đê có quan hệ gần gũi với tiếng Gia rai, Chăm,
Bahasa Malayu, Bahasa Indonesia. Tiếng Ê Đê ngày nay phát triển thành một
aam tiết đơn lập. Ngoài vốn từ vựng có nguồn gốc Mã Lai - Đa Đảo, tiếng Ê
Đê còn vay mượn vốn từ vựng có nguồn gốc từ Môn - Khmer và một số từ

11


vựng tiếng Pháp. Chẳng hạn, nhiều từ vựng tiếng Ê Đê trong bảng sau so với
các ngôn ngữ Nam Đảo (tiếng Gia Rai, Chăm, Mã Lai) chúng ta thấy âm đọc
và cách viết giống hoặc gần giống nhau:

một


Tiếng Ê
Đê
Sa

Sa

Tiếng
Chăm
sa (tha)

mười

Pluh

Pluh

pluh

Puluh

một trăm

sa êtuh

sa rơtuh

sa tuh

se rituh


tôi

Kâo

Kâo

kâo

Ku

con đường

Êlan

Jơlan

jưlan

Jalan

con

Anak

Ană

anưk

Anak


đêm

Mlam

Mlam

mưlam

Malam

cơm

Êsei

Rơsơi

sei

Nasi

Tiếng Việt

Tiếng Gia Rai

Tiếng Mã Lai
Satu

So với các dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam, người Ê Đê là tộc người có
chữ viết theo mẫu tự La-tinh khá sớm. Người Ê Đê có chữ viết từ những năm

20 của thế kỉ XX do các nhà truyền giáo Tin Lành phối hợp với các chuyên
viên ngôn ngữ học tại Viện Ngôn ngữ Mùa hè (Summer Institute of
Linguistics) dạy cho đồng bào Ê Đê để tiện việc truyền đạo.
Ngôn ngữ Ê Đê cũng như kho tàng ngôn ngữ của các dân tộc Tây
Nguyên có thể chia thành hai loại phong cách khác nhau: ngôn ngữ giao tiếp
thông thường và ngôn ngữ văn học. Ngôn ngữ thông thường là ngôn ngữ
được sử dụng trong sinh hoạt hằng ngày. Loại ngôn ngữ này thường biểu đạt
các sự vật, hiện tượng trong đời sống. Do vậy nó thường mang nghĩa đen, đơn
nghĩa. Ngôn ngữ văn học lại thiên về lối nói ví von, bóng gió, giàu hình ảnh,
hình tượng. Loại ngôn ngữ này chủ yếu do các nghệ nhân hát kể sử thi, người
xử kiện bằng luật tục sử dụng. Trước đây ngôn ngữ văn học, thông qua các
hình thức văn học dân gian, vẫn thường xuyên được sử dụng trong các buôn

12


làng Ê Đê. Hiện nay, loại ngôn ngữ này rất ít được sử dụng, vì các sinh hoạt
văn nghệ dân gian bị suy giảm nhiều.
1.1.1.5. Văn hóa - tín ngưỡng
a) Văn hóa
Dân tộc Ê Đê là một trong những dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên
có nền văn hóa vô cùng phong phú, đậm đà bản săc dân tộc, thể hiện qua các
lĩnh vực văn hóa mưu sinh, văn hóa xã hội, văn hóa vật chất và văn hóa tinh
thần. Trong lĩnh vực văn hóa mưu sinh là canh tác nương rẫy và lối sống
nương rẫy; trong văn hóa xã hội là thiết chế tự quản buôn làng, luật tục và
thiết chế dòng họ, hôn nhân, gia đình mẫu hệ; trong văn hóa vật chất là cách
bố trí buôn làng, là nhà sàn dài mang đậm tính mẫu hệ, là chiếc khố chữ T,
chiếc váy mở, chiếc áo hai mảnh chui đầu với nhiều kiểu hoa văn trang trí, là
tục hút thuốc bằng tẩu, tập quán thích ăn thực phẩm nướng hơn xào và luộc,
tục uống rượu cần…; trong văn hóa tinh thần là kho tàng văn học truyền

miệng phong phú: hàng nghìn câu chuyện cổ, thần thoại, cổ tích, tục ngữ, ca
dao, dân ca, câu đố về quan hệ xã hội, về tình yêu, về kinh nghiệm trong lao
động, sản xuất…, đặc biệt là khan (sử thi, trường ca), nổi tiếng như: Dam Săn,
Xinh Nhã, Dăm Di, Khinh Du, Hơng Dia.
Văn hóa tinh thần của người Ê Đê còn được biết đến với bộ luật tục hàng
trăm điều, phản ánh những luật lệ nghiêm ngặt của cộng đồng thị tộc Ê Đê cổ
đại; với hệ thống các nghi lễ dân gian, đó là lễ vòng đời người (chẳng hạn: lễ
đặt tên, thổi tai, lễ trưởng thành, lễ cưới, lễ bỏ mả…) và lễ nông nghiệp (lễ
cúng bến nước, lễ cúng thần lúa, lễ rước hồn lúa, lễ mừng lúa mới…); với
tiếng nhạc cồng chiêng là âm thanh không thể thiếu trong các lễ hội; với các
làn điệu dân ca tình tứ: ei rei, k’ưt, mmuiñ…
Người Ê Đê có câu:
“Thiếu tiếng chiêng, tiếng k’ưt, tiếng khan
Như cuộc sống thiếu muối, thiếu cơm”

13


Nhiều trong các yếu tố văn hóa trên được coi là giá trị đặc trưng, tiêu biểu
cần nghiên cứu nhằm góp phần xây dựng đời sống văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc ở các buôn làng Ê Đê nói riêng, buôn làng Tây Nguyên nói chung.
b) Tín ngƣỡng
Người Ê Đê quan niệm “vạn vật hữu linh”. Tín ngưỡng của họ là tín
ngưỡng đa thần. Họ quan niệm vũ trụ có ba tầng: tầng trời (ti adiê), tầng đất
(ti lăn) và tầng dưới mặt đất (ti gu lăn). Vì vậy, trong xã hội cổ truyền, đời
sống của con người gắn chặt với tín ngưỡng và lễ thức. Các hoạt động tín
ngưỡng, lễ nghi chiếm vai trò quan trọng. “Trong đó, địa vị của các Pô riu
yang (người khấn thần), pô pa giê (thầy cúng, thầy bói), pô bhiăn kđi (người
xử kiện) được coi trọng nhất. Từ quan niệm này đã nảy sinh ra những mối
giao cảm tinh thần giữa con người với thiên nhiên, con người với vạn vật tạo

ra những cảm xúc, những tư tưởng bay bổng, nhân cách hóa mọi vật. Nhưng
cũng chính nó vây hãm con người trong những ám ảnh đe dọa, bởi sự không
tự lí giải được…” [33; 32].
Người Ê Đê còn tin thần thánh liên quan đến cuộc sống nên thực hiện
nhiều điều kiêng cữ, cúng bái để cầu sức khỏe, mùa màng bội thu, tránh rủi
ro, hoạn nạn.
Hiện nay, phần lớn người Ê Đê theo đạo Tin Lành, một số theo đạo Thiên
Chúa và Phật giáo. Các tín đồ Tin Lành thường đọc kinh cầu nguyện tại các
điểm, nhóm sinh hoạt hoặc nhà riêng của các tín đồ. Số còn lại vẫn theo tín
ngưỡng cổ truyền, thờ cúng các thần hộ mệnh cho mình.
1.1.2. Vài nét về luật tục Ê Đê
1.1.2.1. Sự ra đời và nội dung của luật tục Ê Đê
a) Sự ra đời luật tục Ê Đê
Luật tục Ê Đê là những quy tắc xử sự chứa đựng những tiêu chí về đạo
đức, luân lí, các phong tục tập quán, lễ nghi tôn giáo; do nhiều thế hệ trong

14


cộng đồng người Ê Đê có quan hệ huyết thống xây dựng nên và lưu truyền
đến ngày nay, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, điều hòa và bảo vệ xã hội
truyền thống trong cộng đồng người Ê Đê; được mọi thành viên trong cộng
đồng chấp nhận và thực hiện một cách tự giác.
Đồng bào Ê Đê gọi di sản luật tục của mình là klei bhiăn kdi. Luật tục ra
đời từ chính cộng đồng, được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài qua
kinh nghiệm ứng xử với môi trường và xã hội đã được định hình dưới nhiều
dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua
thực hành sản xuất và thực hành xã hội. Nó hướng tới việc hướng dẫn, điều
chỉnh và điều hòa các quan hệ xã hội, quan hệ con người với môi trường tự
nhiên. Mọi thành viên trong cộng đồng đều phải tuân thủ các quy định của

luật lệ này. Chủ đất (pô lăn) và chủ bến nước (pô pin ea) là những người có
trách nhiệm bảo tồn luật tục. Người trực tiếp dùng klei bhiăn kdi để xét xử các
vụ vi phạm, tranh kiện gọi là pô phat kdi (thầy xử kiện).
Tính chất nền sản xuất, thiết chế gia đình, tín ngưỡng đã hình thành nên
bản sắc văn hóa của người Ê Đê, trong đó có văn hóa pháp lý được thể hiện
trong luật tục của họ. Mặc dù cuộc sống còn hoang sơ, nhưng sự hình thành
luật tục của đồng bào đã phản ánh nhu cầu khách quan là: cần quản lý, phối
hợp và điều chỉnh những mối quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng để
duy trì sự tồn tại và phát triển. Trong quá trình đó, luật tục đã dần dần được
hình thành từ những kinh nghiệm được chắt lọc qua cuộc sống của nhiều thế
hệ, góp phần tạo nên các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của dân tộc, cụ
thể hóa các chuẩn mực đạo đức, pháp lý theo quan niệm của cộng đồng.
b) Nội dung của luật tục Ê Đê
Văn bản luật tục Ê Đê được L.Sabatier chia 236 điều ra làm 11 chương
và cơ cấu, sắp xếp nội dung theo từng mảng chủ đề, tương ứng với các bình
diện khác nhau của đời sống xã hội, cụ thể như sau:

15


Chương I: Mta êlâo (Các quy định mở đầu), gồm 23 điều.
Chương II: Klei nga\ soh ho\ng khua (Về các tội xúc phạm đến người
đầu làng), gồm 33 điều.
Chương III: Klei khua nga\ soh (Những vi phạm của người trưởng
buôn), gồm 11 điều.
Chương IV: Klei nga\ soh ho\ng jih buôn sang (Các vi phạm lợi ích
cộng đồng), gồm 27 điều.
Chương V: Klei bi dok ung mô# (Những vi phạm về hôn nhân), gồm 48
điều.
Chương VI: Klei ami\ ama ho\ng anak (Những vi phạm giữa cha mẹ con cái), gồm 6 điều.

Chương VII: Klei êkei mniê soh dih hra\m (Những vi phạm gian dâm),
gồm 11 điều.
Chương VIII: Klei soh pro\ng (Các trọng tội), gồm 21 điều.
Chương IX: Do\ nga\n kdra\p (Những vi phạm về của cải, tài sản), gồm 38
điều.
Chương X: Klei êmô kbao bi soh ho\ng klei ara\ng nga\ bi soh ho\ng
êmô kbao ( Những vi phạm về việc trâu bò gây thiệt hại cho người ta và về
trâu bò bị người ta làm thiệt hại), gồm 10 điều.
Chương XI: Klei la\n ho\ng pô lăn (Những vi phạm đối với đất đai và
người chủ đất), gồm 8 điều.
Luật tục Ê Đê không có sự phân định rõ ràng giữa các quy phạm điều
chỉnh những quan hệ dân sự và những hành vi phạm tội. Điều này xuất phát
từ một thực tế là do trình độ sản xuất thấp kém nên những quan hệ dân sự
trong cộng đồng người Ê Đê còn rất mờ nhạt, đặc biệt là quan hệ trao đổi
hàng hóa (mua bán, vay mượn), chỉ được quy định trong 6 điều, từ điều 186
đến điều 191 với nội dung rất đơn giản. Số lượng điều luật chiếm nhiều nhất

16


và cũng chặt chẽ nhất là những điều luật quy định về Hôn nhân và gia đình
(54 điều), đó là nhóm quan hệ xã hội rường cột nhất chi phối đời sống của
từng cá nhân trong cộng đồng. Thứ đến là vấn đề sở hữu tài sản với 38 điều.
Đó là tài sản của gia đình mẫu hệ. Mọi của cải trong gia đình đều thuộc quyền
quản lý của mẹ hay người đại diện cho mẹ là chị cả. Nhóm những điều luật
chiếm vị trí thứ 3 về số lượng gồm 33 điều quy định mối quan hệ giữa người
đứng đầu buôn với các thành viên, nhằm đảm bảo kỷ cương, đảm bảo quyền
dân chủ, bình đẳng trong quan hệ cộng đồng buôn làng.
Về nội dung, Luật tục ở mức độ nào đó chỉ mới bó hẹp trong phạm vi
một buôn, nhưng đã đề cập đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống,

từ sản xuất, tổ chức xã hội và quan hệ cộng đồng, gia đình và quan hệ gia
đình, quan hệ nam nữ đến lễ nghi, tín ngưỡng…
Luật tục được đặt ra những khuôn khổ, cách thức sống không đơn thuần
là sự nhận thức cảm tính mà đã được định hình bằng những lý lẽ được coi như
chân lý mà ai cũng phải nghe theo. Chẳng hạn, trong gia đình con cái phải
nghe theo lời cha mẹ, ngoài cộng đồng mỗi thành viên phải nghe theo lời của
trưởng buôn, ai làm trái với điều ấy phải đưa ra xét xử, đó là quy tắc. Những
lý lẽ đưa ra để thuyết phục người ta cần phải xử sự theo quy tắc đó là:
“Có cây đa thì phải hỏi cây đa, có cây sung thì phải hỏi cây sung, có mẹ
cha thì phải hỏi mẹ cha.
Kẻ như lưỡi dao lại muốn dày hơn sống dao, là một trẻ nít lại muốn khôn
ngoan hơn người lớn; có mẹ, có cha mà không hỏi mẹ cha.
Có cây đa đầu suối, có cây sung đầu làng, người trông nom dân làng mà
không hỏi.
Hắn đi rừng lấy củi mà không hỏi cha, đi suối lấy nước mà chẳng nói với
mẹ; bán cái này, mua cái nọ mà không hỏi các ông già bà cả.
Như vậy là có chuyện sai lầm phải đưa ra xét xử ” [51; đk 27].

17


Những lý lẽ ấy đã được bắt nguồn từ chính cuộc sống hiện thực mà con
người không thể phủ nhận, tạo cho họ niềm tin và dẫn dắt họ trong cuộc sống.
1.1.2.2. Giá trị của luật tục Ê Đê
Luật tục Ê Đê có giá trị nhiều mặt. Đó là đối tượng nghiên cứu cùng lúc
của nhiều ngành khoa học như: Dân tộc học, xã hội học tộc người, tâm lí học
tộc người, luật học, ngôn ngữ học, văn hóa học…Vì vậy, đây là nguồn tài liệu
vô cùng quý báu để nghiên cứu tộc người và văn hóa tộc người nói chung,
văn hóa tộc người Ê Đê nói riêng. Luật tục còn là vốn tri thức dân gian về
nhiều phương diện như quản lí cộng đồng, các quy tắc ứng xử cộng đồng, văn

hóa làng buôn… Chúng tôi hoàn toàn thống nhất với Giáo sư Văn hóa học
Ngô Đức Thịnh, người đã nhiều năm tìm hiểu, nghiên cứu về luật tục Tây
Nguyên nói chung, luật tục Ê Đê nói riêng đã có những nhận xét, đánh giá
khá toàn diện và chính xác về văn hóa của người Ê Đê cũng như luật tục của
tộc người này như sau:
a) Luật tục Ê Đê là nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu xã hội tộc
người và văn hóa tộc người
Luật tục Ê Đê đề cập đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng
đồng như: Sản xuất, quan hệ sở hữu, tổ chức xã hội, quan hệ cộng đồng, hôn
nhân, gia đình, phong tục, lễ nghi,… Luật tục ra đời từ chính đời sống của
cộng đồng, bởi thế, để tìm hiểu dân tộc và xã hội tộc người, nhất là xã hội cổ
truyền, thì luật tục như là một tư liệu gốc để nhận biết về bức tranh văn hóa
tổng hợp của tộc người Ê Đê với các đặc trưng cơ bản: kiếm sống bằng cách
làm rẫy, săn bắn, hái lượm; nghề thủ công như đan mây tre, trồng bông, dệt
thổ cẩm; đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy tấm, trang sức có vòng đồng và
chuỗi hạt; thích ăn cơm tẻ bằng nồi với cá và các thực phẩm nướng, uống
rượu cần và hút thuốc lá bằng tẩu; cư trú trong ngôi nhà sàn dài của dòng mẹ;
buôn là đơn vị xã hội duy nhất; hôn nhân trao đổi giữa hai dọng họ gốc là Niê

18


và Mlô, khuyến khích kết hôn con cô, con cậu, giữ gìn và tuân theo tục čuê
nuê; tín ngưỡng đa thần, tin ở vạn vật hữu linh; xã hội vận hành theo luật tục;
văn chương truyền miệng và âm nhạc cồng chiêng phát triển,… Luật tục Ê Đê
như đã thể hiện thật chi tiết một nền văn hóa tiêu biểu của tộc người mình.
“Có thể coi đây là những chuẩn mực ứng xử xã hội đã hình thành trong quá
trình phát triển lâu dài của cộng đồng, được mọi người chấp nhận và tự giác
tuân theo để thành tập quán…Ở đây, “Luật tục” từ đời sống cộng đồng mà
hình thành, phản ánh chân thật bộ mặt xã hội cổ truyền của dân tộc. Bởi thế,

để tìm hiểu dân tộc và xã hội tộc người, nhất là xã hội cổ truyền thì “Luật
tục” như là một tài liệu gốc không có gì thay thế.”[53; 270].
b) Luật tục Ê Đê như một di sản văn hóa tộc người
Ngoài giá trị tư liệu để nghiên cứu xã hội tộc người, Luật tục Ê Đê còn có
giá trị lớn về văn hóa và là di sản độc đáo, quý báu của dân tộc. Ngôn ngữ của
Luật tục là loại văn vần (klei duê), đó là hình thức chuyển giữa khẩu ngữ hàng
ngày với ngôn ngữ thơ ca. Việc tạo ra một văn bản có vần, có nhịp làm tăng
thêm tính hấp dẫn, đồng thời cũng giúp cộng đồng dễ nhớ trong bối cảnh là
một văn bản truyền khẩu. Chính hình thức này đã làm ngôn ngữ của luật tục
gần gũi với ngôn ngữ thơ ca.
Hình thức klei duê không chỉ có trong Luật tục mà còn là một hình thức
phổ biến trong văn chương truyền miệng khác của đồng bào Ê Đê như khan,
tục ngữ, dân ca, câu đố,… Klei duê với cách nói luôn ví von, so sánh, cụ thể,
thích dùng ngoa ngữ để diễn đạt ý muốn nói đã tạo nên hình thức ngôn ngữ
đặc biệt. Klei duê là một sáng tạo của cộng đồng, một biểu hiện của văn hóa
thông tin nên so với khẩu ngữ, nó hoàn thiện hơn, hấp dẫn hơn, khả năng
truyền thụ nhạy bén hơn, ngưng đọng hơn, ấn tượng hơn.
Người Ê Đê trong một thời gian dài chưa có chữ viết nên truyền miệng là
hình thức thông tin duy nhất để các thành viên trong cộng đồng chuyển tải các

19


thông điệp, gửi gắm tâm tư, tình cảm, đưa ra các quy ước, giao ước cộng
đồng. Việc phản ánh những nhu cầu trên đây đã tạo nên một kho tàng nghệ
thuật một cách tự nhiên mà Luật tục là một sản phẩm đặc trưng, góp phần
quan trọng trong kho tàng tri thức và nghệ thuật dân gian đặc biệt ấy.
c) Luật tục Ê Đê là kho tàng tri thức dân gian
Có thể nói, Luật tục đề cập đến hầu hết các phương diện của đời sống xã
hội, từ sản xuất nông nghiệp, tổ chức xã hội, từ quan hệ cộng đồng, gia đình và

quan hệ gia đình, hôn nhân, về nghi lễ, lễ hội, phong tục, tập quán… Ở từng lĩnh
vực, các tri thức ấy đều được định hình và nêu thành các nguyên tắc ứng xử
nhằm giáo dục, răn đe mọi người, ngăn chặn những hành vi làm tổn hại đến lợi
ích của người khác và của cộng đồng, hướng con người tới điều thiện, phù hợp
với nhận thức và trình độ xã hội, đảm bảo sự ổn định và điều tiết xã hội.
Cần thấy rằng, các quy định trong từng điều khoản của Luật tục chính là
triết lí nhân sinh của cộng đồng về lĩnh vực đó vì nó được chắt lọc từ thực tế cuộc
sống. Tuy nhiên, do ra đời trong một tổ chức xã hội khép kín, bị chi phối
bởi nhiều tác động xã hội, hơn hết, đó là khả năng nhận thức của cộng đồng
trong một giai đoạn và hoàn cảnh lịch sử nhất định nên một số điều quy
định trong Luật tục đã không còn phù hợp trong xã hội hiện đại ngày nay.
Chẳng hạn quan niệm và quy định về tục nối nòi (čuê nuê), quy định về ma
lai, các quy định về lễ cưới, về sở hữu tài sản và một số nghi lễ mang nặng
yếu tố dị đoan. Luật tục vẫn sống mãi với cộng đồng Ê Đê bởi rất nhiều nội
dung tiến bộ, đặc biệt là tri thức về tự quản và quản lí cộng đồng, về cách
thức sử dụng những nguyên tắc điều chỉnh các quan hệ xã hội mà pháp luật
ngày nay vẫn không thể thay thế.
Một kho tàng tri thức dân gian khác cũng hiện lên trong Luật tục, đó là sự
hiểu biết về đời sống của các động thực vật và các hiện tượng tự nhiên. Thế
giới tự nhiên này thường được làm vật chuẩn để so sánh, đối chiếu các hành

20


×