Tải bản đầy đủ (.doc) (27 trang)

SKKS LUYỆN chuẩn nhất (05-06)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (927.24 KB, 27 trang )

PHềNG GD & T HUYN HNG H
TRNG THCS Lấ DANH PHNG

Một số giải pháp nâng cao chất lợng giáo dục
sức khỏe sinh sản vị thành niên cho học sinh THCS
------------

C quan, n v ỏp dng sỏng kin: Trng THCS Lờ Danh Phng
Th trn Hng H- Thỏi Bỡnh
Tỏc gi: Trn Vn Luyn

Hng H, ngy 26 thỏng 3 nm 2016

0


1


THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe
sinh sản vị thành niên cho học sinh THCS”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo dục giới tính
3. Tác giả:
Họ và tên: Trần Văn Luyện
Nam (nữ): Nam
Ngày tháng năm sinh: 03-01-1980
Trình độ chuyên môn: ĐH Sư phạm Sinh
Chức vụ, đơn vị công tác: Giáo viên trường THCS Lê Danh Phương – Thị
trấn Hưng Hà – Thái Bình
Điện thoại: 01295916869. Email:


4.Đơn vị áp dụng lần đầu:
Trường THCS Lê Danh Phương - Thị trấn Hưng Hà – Thái Bình
4. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2014 - 2015

2


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết đầy đủ

Viết tắt

Quan hệ tình dục
Sức khỏe sinh sản
Giáo dục sức khỏe sinh sản
Vị thành niên
Trung học cơ sở
Bệnh lây truyền qua đường tình dục
Sức khỏe sinh sản vị thành niên
Giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
Học sinh
Kế hoạch hóa gia đình
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Giáo dục giới tính
Dân số
Sức khỏe bà mẹ trẻ em

QHTD
SKSS
GDSKSS

VTN
THCS
BLTQĐTD
SKSSVTN
GDSKSSVTN
HS
KHHGĐ
HĐGDNGLL
GDGT
DS
SKBMTE

3


SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
SỨC KHỎE SINH SẢN VỊ THÀNH NIÊN CHO HỌC SINH THCS”
Phần 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn sáng kiến:
Ước tính mỗi năm trên thế giới có khoảng 16 triệu nữ tuổi từ 13 đến 18 có
thai, 95% trong số này tập trung ở các quốc gia có thu nhập trung bình hoặc thu
nhập thấp trong đó có Việt Nam. “Cơn bão” văn hóa phẩm đồi trụy xâm nhập vào
Việt Nam nhưng giới trẻ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức về giới tính, nhiều trẻ
bước vào đời sống “chăn gối” trong độ tuổi vị thành niên. Thực tế này khiến Việt
Nam trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới trong
những năm gần đây. Theo thống kê tại ba bệnh viện công thuộc thành phố Hồ Chí
Minh gồm: Từ Dũ, Hùng Vương và Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản, trong
năm qua tỷ lệ nữ ở tuổi vị thành niên có thai đến khám tại đây chiếm 4% trong số

các trường hợp có thai. Trong số 90.649 ca sinh thì có tới 2.434 sản phụ tuổi vị
thành niên, 60.352 ca phá thai thì có 3.471 trường hợp nữ tuổi vị thành niên (chiếm
5,81% tổng số ca phá thai).
Qua nghiên cứu việc xác định tỷ lệ tuổi nữ vị thành niên có thai và các yếu tố
nguy cơ, cho thấy trẻ vị thành niên quan hệ tình dục sớm dẫn đến có thai là do thiếu
kiến thức về sức khỏe sinh sản, không áp dụng hoặc áp dụng không thường xuyên
các biện pháp tránh thai. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng trên
phần lớn là do nữ vị thành niên thiếu sự quan tâm của gia đình, nhà trường. Các phụ
huynh còn khá dè dặt trong việc trao đổi với con em mình về sức khỏe sinh sản, đùn
đẩy trách nhiệm cho nhà trường. Trong khi đó, chương trình học chính khóa đã quá
dày nên việc giáo dục chăm sóc sức khỏe sinh sản cho trẻ vị thành niên ở trường chỉ
mang tính phong trào. Những nguyên nhân khách quan và chủ quan nói trên đẩy trẻ
vị thành niên vào thế “tự tìm hiểu”.
Riêng ở Việt Nam, mỗi năm có từ 1,2 đến 1,4 triệu trường hợp nạo phá thai,
trong số này có khoảng 300.000 là nữ thanh niên chưa có gia đình. So với các nước
trong khu vực, tỷ lệ nạo phá thai ở nước ta là quá cao. Điều này không những chỉ
tốn kém về kinh tế, vật chất mà còn đem lại những hậu quả nặng nề về mặt sức
khoẻ cho trẻ vị thành niên.
Bên cạnh đó, tình hình tệ nạn ma tuý đang xâm nhập vào thế hệ trẻ ngày một
gia tăng. Trên thế giới hiện nay có trên 300 triệu người nghiện ma tuý. Ở nước ta,
con số này cũng không ngừng tăng lên. Năm 1997 là 7.800 và năm 1998 là 10.000.
Trong số 24.151 người nhiễm HIV/AIDS ở nước ta năm 2000 có tới 65% bị lây
nhiễm qua tiêm chích ma tuý. Năm 2005 con số này đó tăng lên gấp nhiều lần. Tổ
chức y tế thế giới cho biết trong số 20 phụ nữ mắc bệnh lây truyền qua đường tình
dục thì 1 ở tuổi vị thành niên. Trong tổng số người bị nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
có 50% là dưới 25 tuổi.

4



Nếu gia đình và nhà trường không quan tâm đến việc giáo dục, hướng dẫn để
thanh thiếu niên có những kiến thức, kỹ năng, thái độ phòng chống các vấn đề xã
hội thì sẽ trở thành gánh nặng trực tiếp ảnh hưởng đến lao động, kinh tế của đất
nước trong tương lai không xa. Vì vậy giáo dục sức khoẻ vị thành niên, đặc biệt là
sức khoẻ sinh sản phải được đặt lên hàng đầu trong chiến lược chăm sóc sức khoẻ
nhân dân và chiến lược xây dựng con người mới, xã hội mới của quốc gia. Sức khoẻ
vị thành niên liên quan trực tiếp đến sự phát triển của mỗi con người từ lúc còn ở
tuổi vị thành niên và cả tương lai duy trì nòi giống của họ sau này. Nó ảnh hưởng
đến sự tồn vong của dân tộc vì tuổi trẻ là tương lai của dân tộc. Việc cung cấp thông
tin, truyền thông giáo dục sức khoẻ và đáp ứng các dịch vụ sức khoẻ vị thành niên ở
mỗi nước có cách làm riêng phù hợp với lối sống, phong tục tập quán, văn hoá xã
hội cũng như luật pháp của từng nước.
Thanh thiếu niên là một lực lượng to lớn và nòng cốt của xã hội. Ở những
nước đang phát triển có cấu trúc dân số trẻ thì lực lượng thanh thiếu niên chiếm
phần nửa dân số. Đây là nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước trong tương lai.
Trong mỗi gia đình, thanh thiếu niên có vai trò quan trọng là lực lượng lao động sẽ
thay thế cha mẹ để bảo đảm đời sống cho các thành viên trong gia đình và sự tồn
tại, phát triển của mỗi gia đình, mỗi dân tộc. Vì vậy nếu trẻ vị thành niên được bắt
đầu cuộc sống một cách tốt đẹp, họ có thể có được một sức sống và một ý chí để
học tập, để lao động. Ngược lại nếu họ mắc sai lầm trong thời kỳ này thì sẽ bị tổn
thương lớn về thể chất, tinh thần mà có thể không bao giờ hồi phục lại được.
Tóm lại, tuổi vị thành niên là giai đoạn quan trọng để hình thành tính cách và
hoàn thiện cấu tạo cơ thể. Đây cũng là giai đoạn nhiều thanh thiếu niên tham gia
vào cuộc sống xã hội và có đóng góp dưới nhiều hình thức khác nhau. Đối với
những thách thức của cuộc sống hiện nay mà các em đang gặp phải, không có lời
giải đơn giản hay biện pháp tác động đơn lẻ nào có thể đối phó được. Các em cần
được sống an toàn, cần sự hỗ trợ và giúp đì của người lớn. Xã hội có nhiệm vụ dẫn
dắt và hỗ trợ thế hệ trẻ qua những năm tháng ở tuổi Trẻ vị thành niên với sự đối xử
tôn trọng và thông cảm. Khi xã hội hoàn thành tốt trách nhiệm này sẽ đem lại lợi
ích to lớn cho tương lai. Xuất phát từ những lí do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu:

“Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên
cho học sinh THCS”
2. Tổng quan những thông tin liên quan đến những vến đề mà sáng kiến đã đề
cập.
Nội dung sáng kiến gồm những phần sau:
- Cơ sở khoa học của giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
- Thực trạng giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên THCS Lê Danh Phương.
- Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên.
- Những kết quả đạt được sau khi áp dụng sáng kiến.
-

5


3. Tính mới về khoa học có trong đề tài.
Đề tài đã căn cứ trên cơ sở khoa học về cấu tạo, tâm sinh lí lứa tuổi cấp
THCS, khảo sát thực trạng thực tế của một đơn vị THCS, về nhận thức của học sinh
về sức khỏe sinh sản vị thành niên, những tâm tư, nguyện vọng của học sinh từ đó
có những giải pháp cụ thể và hiệu quả nhất. Đề tại có phối hợp nhiều giải pháp, huy
động nhiều lượng cùng tham gia nên hiệu quả đạt được rất cao.

6


Phần 2: PHẦN NỘI DUNG
1. Đánh giá thực trạng vấn đề mà sáng kiến cần giải quyết
Khi nghiên cứu thực trạng về giáo dục sức khỏe sinh sản tại trường THCS Lê
Danh Phương thị trấn Hưng Hà – Thái Bình tôi thu được kết quả như sau:
1.1) Thực trạng về nguy cơ bị lạm dụng SKSSVTN của học sinh THCS.
Khi nghiên cứu thực trạng về nguy cơ bị lạm dụng SKSSVTN của học sinh

THCS Lê Danh Phương tôi nhận thấy đã có một số thuận lợi và khó khăn sau:
* Thuận lợi
- Do bản chất là học sinh vùng nông thôn nên đa số các em ngoan ngoãn,
vâng lới thầy cô, cha mẹ.
- Đa số các em ham học nên ít có thời gian vi phạm các tai tệ nạn xã hội.
- Với đặc thù là học sinh chất lượng cao, đại đa số học sinh ngoan, chăm học,
ý thức được những hành động của mình.
- Phần lớn học sinh được sinh ra trong gia đình được bố mẹ rất quan tâm.
- Nhà trường được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo nên đã tạo điều kiện
thuận lợi cho các hoạt động đặc biệt các hoạt động liên quan đến sức khỏe vị thành
niên
- Ban giám hiệu luôn đặt giáo dục đạo đức học sinh lên hàng đầu.
* Khó khăn
- Với đặc thù là ngôi trường vùng nông thôn, sự hiểu biết về các vấn đề liên
quan đến sức khỏe sinh sản vị thành niên còn hạn chế.
- Mặt khác do tập tục cộng với sự hiểu biết của cha mẹ học sinh còn hạn chế
nên việc trò chuyện, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên cửa cha mẹ học sinh
gặp rất nhiều khó khăn
- Với đặc trưng của trường THCS Lê Danh Phương có học sinh trong địa bàn
toàn huyện theo học, đa số học sinh ở xa trường, đường đi về hẻo lánh, nguy hiểm
luông rình rập đặc biệt nguy hiểm với những học sinh nữ.
- Sự biểu biết về pháp luận của người dân còn rất hạn chế dẫn đến nhiều
trường hợp vi phạm pháp luật, đặc biệt là vi phạm luật về xâm hại, làm dụng tình
dục vị thành niên.
- Do cơn bão văn hóa phẩm đồi trụy đã tràn ngập về vùng nông thôn cộng với
sự không hiểu biết của giới trẻ nơi đây dẫn đến số vụ xâm hại tình dục vị thành niên
ngày càng ra tăng.
- Cá biệt một số học sinh có bố mẹ đi làm ăn xa phải ở một mình hoặc ở với
ông bà… nên sự giám sát của cha mẹ với các em không thường xuyên và gặp rất
nhiều khó khăn.

1.2) Thực trạng nhận thức của học sinh về sức khỏe sinh sản vị thành niên.
Theo khảo sát ngẫu nhiên học sinh trường THCS Lê Danh Phương về một số
nội dung sau:

7


a. Nhận thức của HS trường THCS về tình bạn, tình bạn khác giới
* Nhận thức về tình bạn
Tình bạn là một loại tình cảm gắn bó hai hoặc nhiều người với nhau trên cơ
sở hợp nhau về tính tình, giống nhau về sở thích, có sự phù hợp về xu hướng (thế
giới quan, lý tưởng, niềm tin…) và một số nét nhân cách khác mà qua đó mỗi người
đều tìm thấy ở bạn mình một cái “tôi” thứ hai ít nhiều mang tính chất lý tưởng. Đối
với VTN tình bạn đóng một vai trò quan trọng, kết quả cho thấy các em đã nhận
thức đúng về tình bạn,
Hầu hết HS của trường đã nhận thức đúng những đặc điểm của tình bạn tốt.
Tuy nhiên một tỷ lệ cho rằng tình bạn tốt: “Là tình cảm duy nhất giữa hai người và
chỉ hai người mà thôi”đã là bạn tốt phải che chở mọi khuyết điểm cho nhau, bao che
cho bạn cả khi bạn sai, đây không phải là một tình bạn tốt bởi nếu làm như vậy sẽ
không giúp cho bạn hoàn thiện bản thân mà vô tình đã làm cho bạn của mình nghĩ
rằng mọi điều mình làm đều đúng và được ủng hộ.
* Nhận thức về tình bạn khác giới
Tình bạn khác giới cũng giống như tình bạn cùng giới đó là một loại tình cảm
giữa hai hoặc một nhóm người hợp nhau về tính tình, giống nhau về sở thích, có
chung một quan niệm sống, lí tưởng, ước mơ…Trong tình bạn khác giới mỗi người
đều coi bạn mình như một điều kiện để tự hoàn thiện mình, tình bạn khác giới làm
tôn vẻ đẹp của mỗi người. Giữa hai bạn khác giới thường có một khoảng cách tế nhị
do đó không thể dễ dàng biểu lộ sự gần gũi như bạn cùng giới.
Đa số HS của trường đều có cách nhìn nhận khá đúng đắn về tình bạn khác
giới, đa số các em lựa chọn đúng các cách ứng xử trong tình bạn khác giới còn thấy

rằng các em đã biết tránh những cách ứng xử trong tình bạn khác. Một số em tuổi
VTN vẫn còn có lòng ích kỷ và tính đố kị vì các em cho rằng khi đã chơi thân với
nhau thi không được quan tâm đến ai khác và ngộ nhận tình bạn khác giới khi rất
thân nhau là tình yêu.
Ở lứa tuổi này, tình bạn đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân
cách của các em. Tình bạn sẽ nâng đỡ những ước mơ, hoài bão giúp các em có
thêm sức mạnh để thực hiện những hoài bão đó. Tuy nhiên, nếu như các em không
có nhận thức đúng về tình bạn cũng có thể dẫn đến những sai lầm như: bao che
những điều xấu, đua đòi…Vì vậy mà GDSKSS cho HS trong nhà trường cần phải
giúp các em nhận thức đúng, hiểu rõ về vấn đề này.
b. Nhận thức của HS về tình yêu, tình dục
* Nhận thức về tình yêu
Do sống trong thời đại mới thời đại công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật
phát triển, các mối quan hệ đa dạng và phức tạp hơn rất nhiều so với trước đây nên
quan niệm về tình yêu của học trò cũng rất xa. Ngày nay, tình yêu ở tuổi VTN
không còn xa lạ với các em. Đa số các em thú nhận là mình đã có người yêu nhưng
chưa phân biệt được giữa tình yêu và tình bạn khác giới. Nhiều số liệu khảo sát đã
minh chứng khá rõ cho chúng ta rằng ở lứa tuổi này các em đã bắt đầu có tình cảm
yêu đương. Mặc dù đã có người yêu nhưng liệu các em có thể hiểu khái niệm tình

8


yêu như thế nào hay đơn thuần các em cảm thấy rằng bạn khác giới quan tâm đến
mình thì được gọi là tình yêu.
Một số học sinh không nhận thức được tuổi vị thành niên, đặc biệt cấp THCS
không nên có tình yêu đôi lứa. Nó sẽ đặc biệt ảnh hưởng nghiêm trọng đến học tập
và cuộc sống sau này.
* Nhận thức về tình dục
Đa số học sinh do sự hiểu biết còn hạn chế dẫn đến lúng túng, ngượng ngùng

khi được hỏi về các vấn đề liên quan đến tình dục. Đa số học sinh đồng tình với
quan điểm tình dục đồng nghĩa với giao hợp.
Phần lớn học sinh đồng tình với quan điểm “Tình dục là cách để thể hiện tình
yêu và giữ người yêu” và“Tình dục là biểu hiện của sự hấp dẫn về thể xác và tình
cảm giữa nam và nữ”. Các em lung túng khi xác định ranh giới giữa tình dục và tình
yêu. Đây cũng là một mâu thuẫn lớn trong nhận thức của các em đồng thời cũng là
mối quan tâm lo lắng của các bậc phụ huynh cũng như của các lực lượng giáo dục
Khi được hỏi “Có nên quan hệ tình dục khi hai người yêu nhau ở tuổi vị
thành niên hay không?” . Một số HS đồng ý rằng: “Khi còn ở lứa tuổi học trò thì
không nên có QHTD” vì nó liên quan đến học tập, công tác và hạnh phúc sau này.
Ngược lại một số HS quan niệm có thể có QHTD miễn là sẽ lấy nhau, và quan
niệm “Không quan trọng nếu cả hai cùng thích” và “Có thể QHTD vì đó là cách
thể hiện tình yêu”. Nguy hiểm nhất là khi được hỏi “ Em đã từng xem quan hệ tình
dục qua phim ảnh hay chưa?” thì đa số học sinh thừa nhật đã nhiều lần xem qua
phim ảnh “văn hóa phẩm đồi trụy” trên mạng qua điện thoại di động hoặc máy
tính…
Khi được hỏi “ Em đã từng có quan hệ tình dục hay chưa?” thì đa số học sinh
ngượng ngùng, lé tránh và khẳng định là chưa, một vài học sinh có thừa nhận đa
từng có quan hệ tình dục, cá biệt có học sinh đã có quan hệ tình dục nhiều lần.
c. Nhận thức của HS lớp 9 về vấn đề phòng tránh mang thai, mang thai sớm,
nạo phá thai ở tuổi VTN:
- Khi được hỏi: “Em hãy kể tên các biện pháp tránh thai
+ Gần hết học sinh nêu được biện pháp: “sử dụng bao cao su”
+ Phần lớn học sinh nêu được biện pháp “dùng thuốc tránh thai”.
+ Số ít nêu biện pháp “tính chu kì kinh nguyệt”; “đặt vòng tránh thai”
- Khi được hỏi: “Em có hiểu gì về các biện pháp tránh thai trên”
+ Biện pháp tránh thai được các em biết đến nhiều nhất đó là: “sử dụng bao
cao su” nhưng chưa ai dạy chúng em, mà chúng em được biết qua các tài liệu, và
đọc trên sách thôi chưa có sự hướng dẫn cụ thể
+ Về biện pháp sử dụng thuốc tránh thai: “Uống thuốc tránh thai thì em có

nghe thấy nhưng chưa được nhìn thấy, thuốc diệt tinh trùng và thuốc tránh thai khẩn
cấp chưa bao giờ sử dụng.
+ Biện Pháp đặt vòng tránh thai thì các em không hiểu mặc dù một số ít học
sinh có nghe qua.
+ Triệt sản là biệt pháp nhiều học sinh chưa từng nghe bào giời.

9


Hầu như VTN vẫn chưa có sự hiểu biết sâu rộng về một số biện pháp tránh
thai thông dụng. Có những em tỏ ra biết nhưng khi hỏi cụ thể thì mới chỉ dừng lại ở
biết cách sử dụng thông qua sách báo.
Kết quả cho thấy thông tin các em có được về quan hệ tình dục chủ yếu là các
em tự tìm tòi theo tính tò mò qua tự đọc sách, qua ti vi, tự tìm kiếm trên mạng . Đây
là nguồn cung cấp kiến thức chính ở hầu hết nội dung về các biện pháp tránh thai.
Khi trao đổi với các em tôi nhận thấy rằng: Tuy sách báo, phim ảnh có tác dụng ít
nhưng cũng có vai trò không nhỏ trong việc cung cấp những kiến thức đúng đắn
cho các em về vấn đề này. Điều này cho thấy vấn đề xuất bản sách báo, phim ảnh có
tính khoa học, hệ thống và ngăn chặn các loại sách báo, phim ảnh “ngoài luồng” có
ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc GDSKSS cho VTN. Nguồn thông tin từ Bạn
bè đứng vị trí lớn về kiến thức QHTD. Chứng tỏ vai trò tương đối quan trọng của
nguồn thông tin này. VTN rất coi trọng tình bạn, các em thường trao đổi với nhau
tất cả những suy nghĩ, những quan tâm của mình với bạn, qua bạn bè các em thu
thập được nhiều kiến thức khác nhau. Các em nữ thường xuyên trao đổi về những
vấn đề kinh nguyệt, sự khác biệt trên cơ thể của tuổi mới lớn, và cả những biện
pháp tránh thai.
Nhà trường là nơi cung cấp kiến thức về SKSS một cách khoa học, có hệ
thống giữ vị trí hàng đầu. Nhưng thực tế khảo sát đem lại kết quả không như vậy.
Trong nhà trường hiện nay Bộ đã quy định học môn Giáo dục đời sống gia đình và
GDGT thì nhà trường phải giữ vị trí thứ nhất song các trường vẫn chưa thực hiện

được nhiệm vụ này, có chăng cũng chỉ là một số nội dung được cung cấp nồng ghép
và tích hợp qua một số môn như: sinh học, giáo dục công dân… Các nguồn cung
cấp thông tin khác cho VTN đều rất thấp
d. Nhận thức của HS cấp THCS về vấn đề xâm hại, lạm dụng tình dục VTN
Là lứa tuổi rất dễ bị xâm hại và lạm dụng tình dục, trong khi đó các em lại
thiếu kỹ năng, kinh nghiệm sống để có thể ứng phó kịp thời trước những tình huống
xảy ra. Tìm hiểu vấn đề này tôi đưa ra câu hỏi: “Những biểu hiện nào được coi là
xâm hại, lạm dụng tình dục”
Xã hội phát triển kéo theo đó cũng xuất hiện nhiều luồng văn hóa không lành
mạnh đang tác động ngày càng mạnh mẽ tới các em, đặc biệt là vấn đề xâm hại và
lạm dụng tình dục. Nhưng qua số liệu điều tra một kết quả đáng mừng rằng đại đa
số HS đã có thể nhận biết được những dấu hiệu của việc xâm hại, lạm dụng tình
dục: “Dùng tiền bạc, vật chất hoặc uy quyền ép người khác tham gia vào hoạt động
tình dục” . Có nhiều em cho rằng ngay khi là bạn bè cũng trêu đùa nhau, nhiều khi
cũng làm cho bạn khó chịu nhưng điều đó không có nghĩa là xâm hại và lạm dụng
tình dục. Đại đa số học sinh có quan điểm sai lầm là lạm dùng tình dục là phải liên
quan đến thể xác mà không biết rằng làm dụng tình dục là có cả những cử chỉ, lời
nói…
Số đông các em đã lựa chọn đúng biện pháp để phòng tránh xâm hại, lạm
dụng tình dục có hiệu quả đó là: “Có cách ứng xử kịp thời, quyết đoán để bảo vệ
mình khỏi hành vi xâm hại tình dục” và “Không đi một mình nơi đường vắng”. Có
ý kiến cho rằng: “Không để người lạ vào nhà nhất là khi ở nhà chỉ có một mình”.
Nhưng khi trò chuyện với các em, lại thấy rằng số ít HS còn thiếu cảnh giác, ít đề

10


phòng vì các em cho rằng môi trường nơi các em đang sống rất an toàn và yên bình,
thậm chí các em không hề có ý nghĩ rằng đối tượng lạm dụng tình dục đôi khi là
những người sống xung quanh các em, những người các em tin tưởng, quý mến.

Nhiều khi do sự hồn nhiên, trong sáng của các em đã để lại những hậu quả đáng tiếc
xảy ra. Số rất ít HS đồng ý rằng “Giữ khoảng cách khi quan hệ với người khác
giới”. Như vậy có thể thấy rằng, đa số HS chưa có được những kỹ năng cần thiết để
phòng tránh xâm hại, lạm dụng tình dục. Bởi các em vẫn nghĩ rằng cuộc sống, môi
trường xung quanh em rất an toàn. Như vậy, khi GDSKSS cần phải cung cấp cho
các em hiểu và có những kỹ năng cơ bản, cần thiết đối với vấn đề xâm hại và lạm
dụng tình dục.
e. Nhận thức của HS về quyền được chăm sóc SKSS
Là sự tổng hợp các biện pháp, kỹ thuật và dịch vụ dành cho SKSS để đạt
được trạng thái khỏe mạnh bằng cách phòng và giải quyết các vấn đề SKSS. Nhưng
rất ít học sinh biết được mình có quyền được chăm sóc SKSS. Cá biệt có một số
học sinh chưa từng nghe thấy quyền này và cũng không hiểu gì về quyền được
chăm sóc SKSS. Tuy rằng tỷ lệ trên không cao nhưng đó cũng là một tỷ lệ đáng
được quan tâm trong công tác GDSKSS, cần phải giúp cho HS có được những kiến
thức hiểu biết về những quyền chăm sóc SKSS mà các em được hưởng
1.3) Thực trạng của việc GDSKSSVTN ở trường THCS
a. Thực trạng chương trình nội dung GDSKSSVTN cho học sinh THCS
Nội dung GDSKSSVTN cho học sinh cấp THCS còn rất ít, đặc biệt không
được soạn thành một môn học riêng mà chỉ được nồng ghép trong một số môn như
Sinh học, Giáo dục công dân… nên các giáo viên khó thực hiện và các em cũng ít
được tiếp cận với luồng kiến thức chính thống về GDSKSSVTN.
Sách tham khảo, sách giáo dục giới tính còn hạn chế cả vế, đầu sách, số
lượng và chất lượng. Nội dung giáo dục mới chỉ đề cập nhiều đến các khía cạnh tâm
lý, đạo đức, pháp lý, còn các nội dung khác vẫn ít được chú ý.
Nội dung dùng cho cha mẹ học sinh GDSKSS VTN cho con em không được
soạn đồng bộ.
b. Thực trạng về thực hiện chương trình GDSKSSVTN cho HS
- Công tác GDSKSS trong nhà trường đã được thực hiện chủ yếu là: tuyên
truyền GDSKSS trong các cuộc họp phụ huynh, việc lồng ghép, tích hợp GDSKSS
VTN vào các môn học và đưa nội dung GDSKSS vào các buổi sinh hoạt lớp đặc

biệt tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về SKSS và tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ
lên lớp được thực hiện còn rất hạn chế.
- Mời các chuyên gia tâm lý, y tế về nói chuyện, trao đổi với các em chưa
được thực hiện thường xuyên. Với đội ngũ giáo viên thì có rất ít thầy cô biên soạn
tài liệu để dạy tốt hơn.
- Một số giáo viên còn e dè khi dạy phần chương trình có liên quan đến sinh
sản, sinh dục. Có nhiều giáo viên chỉ giảng qua loa thậm chí bỏ không dạy dẫn đến
học sinh hiểu không đến nơi đến chốn làm phản tác dụng của chương trình. Một số
giáo viên chứ nhận thức hết được tầm quan trọng của việc GDSKSSVTN, chưa có
quan điểm đúng đắn là phải “vẽ cho hươu chạy đúng đường”

11


2. Nội dung của sáng kiến
a. Các nguyên tắc xây dựng giải pháp
- Xuất phát từ mục đích giáo dục phát triển toàn diện nhân cách con người:
vừa có năng lực chuyên môn, vừa có phẩm chất đạo đức tốt, có ý chí nghị lực vươn
lên trong cuộc sống.
- Xuất phát từ bản chất của quá trình giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống,
tổ chức hoạt động và giao lưu cho đối tượng. Do đó, những hiểu biết, thái độ, hành
vi, thói quen phù hợp về SKSS VTN chỉ có thể hình thành một cách hiệu quả thông
qua con đường tổ chức hoạt động và giao lưu. Dạy học là con đường cơ bản được tổ
chức có mục đích, kế hoạch, phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý của HS nhằm đem
lại cho các em những tri thức cơ bản nhất.
- Xuất phát từ quan điểm giáo dục giới tính nói chung, GDSKSS VTN nói
riêng là một bộ phận của giáo dục nhân cách, nó được tiến hành cơ bản và chủ yếu
trong nhà trường.
- Xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng của cán bộ giáo viên và HS trong công
tác GDSKSS VTN (được biểu hiện qua biều đồ 1, 2, 3, 4)


12


13


b. Một số giải pháp đề xuất
Thông qua sự dạy dỗ, hướng dẫn của các thầy cô trên lớp các em được truyền
đạt những kiến thức một cách có hệ thống, đầy đủ và đúng đắn. Thầy cô là người
cha mẹ thứ hai trong đời của các em, cung cấp cho học sinh nhiều thông tin nhất, dễ
hiểu, dễ nhớ nhất, đặc biệt những kiến thức có liên quan đến SKSSVTN. Thầy cô
luôn đóng vai trò như những chuyên gia tâm lý đứng bên các em giúp các em vượt
qua những băng khoăn, lo lắng của tuổi mới lớn. Các biện pháp cần thực hiện:
Giải pháp 1: Tăng cường sự chỉ đạo và cải tiến trong chương trình giảng
dạy trong nhà trường THCS
Sở dĩ chúng ta cần thực hiện tốt khâu này là vì chỉ đạo, tổ chức là một yêu
cầu tối cần thiết của công tác quản lý. Nếu trong nhà trường công tác quản lý tốt thì
hoạt động được phân công trong nhà trường mới vận hành đạt kết quả tốt. Không
ngừng cải tiến chương trình giảng dạy cũng là một yêu cầu không thể thiếu trong
công tác giảng dạy. Nội dung giảng dạy luôn phải đáp ứng nhu cầu người học, phải
theo kịp thời đại và phải đón trước thời đại. Sắp xếp lại những nội dung đã được
quy định sao cho phù hợp với đối tượng giảng dạy (tâm sinh lý, giới tính, khả năng
nhận thức, chuẩn mực văn hóa xã hội, thời đại,…). Ngành GD - ĐT cần triển khai
một cách đầy đủ, chi tiết và có hệ khống hơn nữa với những nội dung có liên quan
đến SKSSVTN vào chương trình giảng dạy chính khóa ở các trường THCS trong
tỉnh, kể cả đưa vào nội dung các giờ của công tác chủ nhiệm lớp. Chương trình
giảng dạy SKSS cần được sắp xếp trên cơ sở xác định nội dung và phương pháp
giáo dục có sự tích hợp và lồng ghép với một số môn trong nhà trường. Lồng ghép
nội dung GDSKSS vào các môn học khác với nhùng nội dung phù hợp cần được ưu

tiên hàng đầu, bởi lẽ nó mang lại hiệu quả giáo dục, hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng
được yêu cầu khắt khe về khung thời gian đào tạo trong nhà trường. Tuy nhiên, để
14


việc lồng ghép mang lại hiệu quả, đòi hỏi giáo viên bộ môn không chỉ có ý thức
trách nhiệm cao mà còn phải hiểu rõ mục đích, nội dung của GDSKSS, kiết xác
định đúng thời lượng, số lượng kiến thức lồng ghép để tránh hiện tượng quá thiên
về nội dung SKSS làm ảnh hưởng đến nội dung môn học chính. Hơn nữa, những
kiến thức được lồng ghép vào các môn học sẽ được các em tiếp thu một cách phiến
diện, thiếu tính hệ thống. Do vậy, công tác giáo dục cần phải phát huy vai trò của
các biện pháp khác để nhằm cung cấp kiến thức đến cho các em đầy đủ và hiệu quả.
Nên chăng trong điều kiện hiện nay, mỗi nhà cần thành lập một ban chuyên gia làm
công tác tư SKSS, sức khỏe tình dục cho học sinh? Tại đây học sinh được cung cấp
nhùng kiến thức đầy đủ, phong phú về giới tính dưới các góc độ khác. nhau. Ngoài
ra, các chuyên gia còn có thể phát triển ở các em những kỹ năng tiếp tổ chúc, tuyên
truyền GDSKSS.
Giải pháp 2: Cần đẩy mạnh hơn nữa công việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ để có
đội ngũ cán bộ đông đảo, có kiến thức và phương pháp giáo dục, hướng dẫn về
VTN về yêu, tình dục và các vấn đề về SKSS
Ngoài việc đào tạo chuyên môn sâu hàng năm ngành GD-ĐT và nhà trường
cần có kế hoạch tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng, hoặc tổ chúc các buổi dự
giảng về những bài có tích hợp lồng ghép những nội dung GDSKSSVTN, có các
buổi tọa đàm giữa các giáo viên với các nhà khoa học có chuyên môn sâu để không
ngừng nâng cao kiến thức, kỹ năng giáo dục, tư vấn, lắng nghe và cảm thông với
những vướng mắc các em gặp phải trong cuộc sống. Cán bộ giáo viên trong trường
cần được gửi đi học các lớp bồi dưỡng, đào tạo ngắn, dài hạn ở các tổ Đoàn, Hội cơ
sở…
Giải pháp 3: Xây dựng nhà trường thành những đơn vị văn hóa, đẩy mạnh
công tác giáo dục đạo đức, xây dựng nếp sống văn hóa trong học sinh

Mỗi giáo viên trong tập thể giáo viên của nhà trường phải không ngừng phấn
đấu, tu dưỡng đạo đức là tấm ngương sáng về mọi mặt để học sinh noi theo. Bên
cạnh đó cần đẩy mạnh xây dựng và gìn giữ truyền thống tốt đẹp của nhà trường để
mỗi học sinh nhật thức được vai trò và trách nhiệm của mình trong học tập và tu
dưỡng đạo đức. Mỗi học sinh phải nhận thức được trách nhiệm hình thành ở mình
một nét văn hóa chuẩn mực riêng của ngôi trường mình đang theo học
Giải pháp 4: Tổ chức các hoạt động ngoại khóa có chất lương, xây dựng các
mô hình tác động: các loại hình câu lạc bộ, các mô hình tư vấn, giáo dục đồng
đẳng, lồng ghép các hoạt động tập thể của lớp
Đây được xem là giải pháp then chốt góp phần không nhỏ trong GDSKSS
VTN. GDSKSS không chỉ đóng khung trong các giờ dạy trên lớp mà còn phải được
thực hiện thông qua các biện pháp có tính phong trào. Đó là hình thức tổ chức giáo
dục có tính ngoài giờ học. Việc tổ chức các hình thức hoạt động ngoài giờ học nhằm
vào các mục tiêu: Nó không chỉ thu hút đông đảo các lực lượng tham gia; từ đó
nâng cao nhận thức thái độ cua họ đối với vất đề SKSS mà còn bổ trợ cho những
kiến thức các em được học trên lớp. Tôi đưa ra hai hình thức GDSKSS ngoài giờ
học như sau: Sinh hoạt câu lạc bộ theo chủ đề: Câu lạc bộ là môi trường sinh hoạt
tập thể hấp dẫn và bổ ích. Loại hình hoạt động này không chỉ là phương tiện thỏa
mãn các nhu cầu tinh thần phong phú của lứa tuổi thanh thiếu niên mà còn là môi

15


trường thuận lợi để qua đó tuyên truyền, giáo dục cho VTN. Nội dung, hình thức
sinh hoạt trong câu lạc bộ rất đa dạng, Ở đây luôn có sự lồng ghép nội dung các
môn học với việc tuyên truyền giáo dục phòng chống các tệ nạn xã hội, xây dựng
nếp sống văn hóa mới, trong đó có nội dung GDSKSS cho VTN thông qua các cuộc
nói chuyện chuyên đề, hội diễn văn nghệ, du lịch dã ngoại,... Thi tìm hiểu, sáng tác
theo chủ đề GDSKSS Loại hình hoạt động này không đòi hỏi một bộ máy phức tạp,
các điều kiện không cầu kỳ, thời gian không bị khống chế nhất định, thu hút đông

đảo học sinh tham gia. Học sinh VTN đặc biệt thích hưởng ứng, được trực tiếp
tham gia vào các hoạt động ngoại khóa, thích đóng vai trong các vở diễn… Vào các
ngày lễ lớn của xã hội, của trường (như ngày Phụ nữ Việt Nam, ngày Nhà giáo Việt
Nam, . . . ) ở các trường THCS cần tăng cường tổ chức các hoạt động này cùng với
sự kết hợp của các tổ chức Đoàn, Hội, ủy ban dân số, ủy ban phòng chống
HIV/AIDS. Để hoạt động này thực sự đạt hiệu quả thì điều chủ yếu là việc định
hướng chủ đề cần thi và cung cấp đủ tài liệu phản ánh nội dung thi cho học sinh
tham khảo. Như vậy, để thực hiện tốt các nhóm biện pháp thuộc trách nhiệm của
nhà trường cần xây dựng và tổ chức triển khai chương trình GDSKSS cho học sinh
thống nhất; bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên nội dung, phương pháp, kỹ năng tổ
chức tư vấn; cung cấp đủ sách báo, tài liệu, mô hình, phim ảnh, tranh vẽ để phục vụ
cho công tác truyền thông, tư vấn và giảng dạy có hiệu quả các chủ đề nhạy cảm
SKSSVTN.
*Một số hình thức giáo dục SKSSVTN thông qua HĐGDNGLL:
Chương trình HĐGDNGLL ở THCS với nhiều hình thức hoạt động đa dạng
được thể hiện trong các chủ đề hoạt động của các tháng. Như trên đã nêu, việc tích
hợp nội dung giáo dục SKSSVTN vào chương trình HĐGDNGLL được thể hiện ở
một số chủ đề hoạt động. Đây là những thời điểm có nhiều khả năng tích hợp nội
dung giáo dục SKSSVTN trong chương trình HĐGDNGLL. Cùng với các hình
thức hoạt động đã có trong chương trình HĐGDNGLL, cần phải xây dựng những
hình thức hoạt động mang đặc trưng của giáo dục SKSSVTN. Có thể kể ra đây một
vài hình thức cụ thể như:
- Thi hỏi đáp về một chủ đề giáo dục SKSSVTN.
- Trình diễn trang phục có liên quan đến nhận thức, thái độ của học sinh về
chăm sóc SKSS.
- Thi giải quyết các tình huống có liên quan đến quan hệ tình bạn, tình yêu
tuổi học trò.
- Trình bày tiểu phẩm về chủ đề giáo dục SKSSVTN
- Biểu diễn văn nghệ.
- Vẽ tranh châm biếm, đả kích những hành vi và thói quen xấu trong quan hệ

tình bạn, tình yêu tuổi học trò.
- Thi tìm hiểu về Luật hôn nhân và gia đình.
- Thi hùng biện về một chủ đề nào đó trong giáo dục SKSSVTN .
- Thi viết bài tuyên truyền về SKSSVTN

16


Giải pháp 5: Biện pháp lồng ghép giáo dục giữa gia đình, nhà trường và xã hội
SKSSVTN thực chất là sức khỏe liên quan trực tiếp đến sự phát triển của một
con người từ lúc còn ở tuổi VTN và liên quan đến cả tương lai duy trì nòi giống của
họ sau này. Tuổi trẻ là tương lai của dân tộc. Vấn đề SKSSVTN có tác động đến sự
tồn vong của một dân tộc. Trách nhiệm GDSKSSVTN là của mọi người, của các
cấp, các ngành trong tỉnh. Huy động rộng rãi các lực lượng tham gia vào công tác
GDSKSSVTN sẽ tạo được thế mạnh tổng hợp, tạo được dư luận xã hội và sự chú ý
của cả cộng đồng, dựng thời tận dụng dược nguồn lực từ các chương trình khác.
Việc thống nhất trong gia đình, nhà trường và cộng đồng xã hội về nhận thức, thái
độ, hành vi giáo dục và chăm sóc SKSSVTN là biện pháp rất cơ bản và lâu dài, cần
phải được thống nhất từ cấp vĩ mô đến nội bộ từng trường học, các nhà giáo dục,
nhà chuyên môn, từng thành viên trong gia đình và cả cộng đồng trong việc giáo
dục trẻ VTN. Nhà trường đóng vai trò trung gian quan trọng trong việc tập hợp và
phát huy thế mạnh của các yếu tố xã hội, phối hợp các đoàn thể xã hội để tổ chức
các hoạt động GDSKSSVTN. Nhà trường chủ động kết hợp với gia đình nhằm phát
huy vai trò của gia đình trong việc phối hợp tham gia công tác giáo dục. Thông qua
các hoạt động thực tiễn, sau khi đã có thời gian tổng kết kinh nghiệm, đánh giá, tìm
ra những nguyên nhân, thiếu sót:.. để từ đó có những đề xuất kiến nghị tới các cơ
quan chức năng, tăng cường công tác chỉ đạo, phối hợp các nguồn lực giáo dục đảm
bảo hiệu quả giáo dục cho VTN. Biện pháp chủ yếu:
- Mở những cuộc vận động chính trị, các hoạt động xã hội cung cấp thông tin
để thu hút sự quan tâm và trách nhiệm giáo dục, chăm sóc SKSS, SKSSVTN .

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch hành động về dân số phát triển và chăm
sóc SKSS ở các cấp.
- Phát động các chiến dịch truyền thông rộng rãi kết hợp cung cấp dịch vụ
chăm sóc SKSS tại cộng đồng.Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cần đẩy mạnh
hơn nữa việc tổ chức các hoạt động giáo dục, thành lập các câu lạc bộ, các trung
tâm tư vấn và các hoạt động giao lưu.
- Tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa có sự tham gia của các nhà lãnh đạo,
các nhà chuyên môn, các thầy cô giáo các bậc cha mẹ học sinh...
- Thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật đã ban hành, như
các điều luật có liên quan đã quy định trong luật hôn nhân và gia đình, luật dân.sự,
luật hình sự. Bổ sung các chính sách cần thiết, xác định rõ mô hình tác động, điều
chỉnh của chính sách DS-KHHGĐ đối với đối tượng VTN. Tăng cường quản lý của
nhà nước trong các hoạt động văn hóa. Ngăn chặn tình trạng sách báo, băng hình
xấu đang còn lưu hành trôi nổi trong xã hội, quản lý chặt chẽ các hoạt động của
những cơ sở thuê truyện, thuê băng hình, các nhà trọ, nhà hàng... Đẩy mạnh đấu
tranh phòng chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là nạn mại dâm, tạo môi trường sống
lành mạnh.
- Lực lượng gia đình - nhà trường - xã lội cần có sự phối hợp chặt chẽ với các
lực lượng khác như: các cơ sở y tế, trung tâm Bảo vệ SKBMTE-KHHGĐ, Ủy ban
dân số-KHHGĐ, đơn vị phòng chống các tệ nạn xã hội, các phương tiện thông tin
đại chúng... để giáo dục cho tuổi trẻ. Theo chức năng của mình, các cơ sở y tế tham
17


gia vào các dịch vụ tư vấn để chăm sóc SKSSVTN và các vấn đề liên quan phù hợp
với đặc điểm lâm sinh lý của các em. Thông qua các phương tiện thông tin đại
chúng, chúng ta có thể gửi thông điệp nhanh nhất tới đông đảo đối tượng. Các
phương tiện truyền thông của huyện thời gian qua đã có nhiều cố gắng chuyển tải
nhiều thông điệp về DS/KHHGĐ, SKSSVTN... tới cho các em học sinh. Tuy nhiên,
thời lượng phát hành các nội dung này vẫn còn chưa nhiều và cũng cần có sự cải

tiến về nội dung, hình thức cho hấp dẫn hơn. Bằng nhiều biện pháp nhằm phát huy
vai trò của hệ thống thông tin đại chúng trong huyện, đặc biệt chú ý đến việc hướng
dẫn dư luận xã hội, thống nhất nhận thức của xã hội về tút cần thiết của việc nâng
cao nhận thức về SKSS-SKSSVTN cho cả cộng đồng nói chung và cho VTN nói
riêng. Để điều phối các lực lượng trên cần có sự quan tâm và đầu tư nguồn lực của
các cấp ủy Đảng và chính quyền, thống nhất chỉ đạo và thực hiện quản lý.
GDSKSSVTN là sự nghiệp chung của mọi tổ chức, cá nhân. Vì vậy các cấp lãnh
đạo cần có trách nhiệm đứng ra điều phối chung một cách nhịp nhàng và đồng bộ.
Cần có sự phân công rõ ràng tránh chồng chéo hoặc đùn đẩy lẫn nhau giữa các cơ
quan đoàn thể làm giảm hiệu quả giáo dục. Đồng thời cũng cần huy động các nguồn
lực tài chính cho chương trình GDSKSSVTN. Điều này có nghĩa là nhà nước cần
tăng cường nguồn lực tài chính, đảm bảo đủ cho các hoạt động GDSKSS cho học
sinh trong tỉnh. Bên cạnh việc sử dụng các nguồn ngân sách nhà nước, ủy ban nhân
dân tỉnh cần có sự chỉ đạo việc hội tụ các nguồn lực của các cơ quan khác. Chẳng
hạn như chương trình chăm sóc SKBMTE và DS-KHHGĐ, chương trình phòng
chống AIDS, … Ngoài ra cần tổ chức huy động các nguồn lực từ các tổ chức xã hội,
phát huy phong trào tự nguyện đóng góp dưới mọi hình thức cá nhân, tập thể và các
cơ quan trong tỉnh. Hơn nữa, sau khi đã huy động được nguồn lực tài chính cho
chương trình, chúng ta cũng cần điều phối sao cho các chương trình không chồng
chéo lên nhau để các nguồn chi không bị lãng phí trong điều kiện nguồn tài chính
còn rất hạn hẹp
Giải pháp 6: Xây dựng hòm thư tư vấn:
Hòm thư tư vấn giúp giải đáp những thắc mắc của học sinh, những điều các
em muốn biết nhưng ngại hỏi. Qua hòm thư giáo viên sẽ hiểu được tâm tư, nguyện
vọng của các em từ đó giáo viên sẽ có hưỡng dẫn, trả lời, tư vấn một cách thỏa
đáng. Giáo viên có thể bồi dưỡng, hướng dẫn một nhóm học sinh tham gia để các
em trực tiếp trả lời, tư vấn cho nhau sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Hòm thư sẽ được mở
thường xuyên để giáo viên có kế hoạc tư vấn, giáo dục kịp thời.
3. Những kết quả đạt được
Khảo sát về quan điểm của học sinh về vấn đề quan hệ tình dục và sử dụng

biện pháp tránh thai so sánh kết quả trước và sau khi áp dụng sáng kiến với số
lượng 100 học sinh tôi đã thu được kết quả rất khả quan như sau:

18


1.

Kết khảo sát: Suy nghĩ về tình dục ở tuổi vị thành niên

Em có nghĩ rằng mình sẽ quan Trước khi áp dụng
hệ tình dục ở tuổi vị thành
sáng kiến
niên không?
SL
%
Không
63
63

5
5
Còn tùy
13
13
Không biết
19
19
Tổng
100

100
2.

sáng kiến
SL
%
89
89
0
0
5
5
6
6
100
100

Kết khảo sát: Suy nghĩ về tình dục ở tuổi vị thành niên

Em sẽ làm gì nếu người khác
dụ dỗ mình quan hệ tình dục?
Kiên quyết không

Còn tùy
Không biết
Tổng
3.

Sau khi áp dụng


Trước khi áp dụng

Sau khi áp dụng

sáng kiến
SL
%
65
65
12
12
15
15
8
8
100
100

sáng kiến
SL
%
91
91
0
0
4
4
5
5
100

100

Kết khảo sát: Suy nghĩ về sử dụng biện pháp tránh thai.

Nếu giả sử có quan hệ tình
dục, em có chủ động sử dụng
biện pháp tránh thai không?

Không
Còn tùy
Tổng

Trước khi áp dụng

Sau khi áp dụng

sáng kiến
SL
%
56
56
17
17
27
27
100
100

sáng kiến
SL

%
88
88
0
0
12
12
100
100

4. Kết khảo sát: Em làm gì khi có người quấy rối và có ý định xấm hại tình dục
với mình
Nếu có người quấy rối và có ý
định xấm hại tình dục với
mình thì em sẽ:
Phản kháng lại và thông báo
cho bố mẹ, thầy cô.
Phản kháng lại và không

Trước khi áp dụng
sáng kiến

Sau khi áp dụng
sáng kiến

SL

%

SL


%

36

36

89

89

69

69

11

11

19


thông báo cho ai cả.
Mặc kệ, không có phản ứng gì
5
5
0
0
Tổng
100

100
100
100
Qua kết quả khảo sát 100 học sinh của trường THCS Lê Danh Phương trên
đây cho thấy sau khai áp dụng sáng kiến sơ vưới trước khi áp dụng thì kết quả thay
đổi theo chiều hướng tích cực rõ rệt. Đa số học sinh ý thức được nhiệm vụ của tuổi
vị thành niên là học tập chuẩn bị hành trang cho cuộc sống sau này. Các em nhận
thức được sự phát triển của cấu tạo, tâm sinh lí ở lứa tuổi này. Các em cũng nhận
thức rõ được những nguy cơ xâm hại tình dục với bản thân mình và hậu quả ghê
gớm của nó. Tứ đó các em có ý thức và biện pháp phòng chống những nguy cơ xâm
hại, lạm dụng tình dục với bản thân mình và với bạn bè và người thân xung quanh.
4. Phương pháp thực hiện
Để thực hiện sáng kiến có hiệu quả cao cần thực hiện tốt các phương pháp như:
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn.
- Phương pháp tổ chức tọa đàm, hội thảo.
- Phương pháp chuyên gia.
- Phương pháp tổ chức trò chơi.
- Phương pháp đóng vai.
- Phương pháp xây dựng và giải quyết tình huống.
- Phương pháp tư vấn.
- Phương pháp thuyết trình.
- Phương pháp thống kê và xử lí các số liệu thu được....

20


5. Khả năng ứng dụng, triển khai kết quả của sáng kiến kinh nghiệm
Khảo nghiệm về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất. Do
phạm vi và thời gian nghiên cứu cũng như do những yếu tố chủ quan và khách quan
chi phối không có điều kiện để thử nghiệm hay thực nghiệm các biện pháp đề xuất.

Tôi chọn phương pháp lấy ý kiến chuyên gia để thăm dò ý kiến đánh gía về sự cần
thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất đối với cán bộ, giáo viên của và học
sinh của trường THCS Lê Danh Phương. Đây là ý kiến đánh gía khách quan và có
giá trị nhất định. Với 6 biện pháp đề xuất, tôi tiến hành lập phiếu và điều tra trên 30
cán bộ, giáo viên và 100 học sinh với hai nội dung:
- Điều tra về tính khả thi của các biện pháp GDSKSS VTN theo 3 mức độ: rất
khả thi, không khả thi. Sau đây là bảng kết quả đánh giá về sự cần thiết và tính khả
thi của các biện pháp cụ thể như sau.
Bảng: Kết quả đánh giá của giáo viên về sự cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp GDSKSSVTN
Mức độ cần thiết
Tính khả thi
Rất
Không
Rất
Không
GP
Cần thiết
Khả thi
cần thiết
cần thiết
khả thi
khả thi
SL % SL % SL % SL % SL % SL
%
26 86,
4
13,
0
0

25 83,
5
16,
0
0
1
7
3
3
7
28 93,
2
6,7
0
0
26 86,
4
13,
0
0
2
3
7
3
27 90,
3
10,
0
0
27 90,

3
10,
0
0
3
0
0
0
0
29 96,
1
3,4
0
0
28 93,
2
6,7
0
0
4
6
3
29 96,
1
3,4
0
0
28 93,
2
6,7

0
0
5
6
3
27 90,
3
10,
0
0
26 86,
4
13,
0
0
6
0
0
7
3
Tổng
30
30
Bảng: Kết quả đánh giá của học sinh về sự cần thiết và tính khả thi của các biện pháp GDSKSSVTN

Mức độ cần thiết
GP
1
2
3

4
5
6

Rất
cần thiết
SL
%
95
95
98
98
97
97
98
98
96
96
99
99

Cần thiết
SL
5
2
3
2
4
1


%
5
2
3
2
4
1

Tính khả thi

Không
cần thiết
SL
%
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0

21

Rất

khả thi
SL
%
92
92
98
98
95
95
98
98
95
95
98
98

Khả thi
SL
8
2
5
2
5
2

%
8
2
5
2

5
2

Không
khả thi
SL
%
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0


Tổng

100
100
Sáng kiến đã giải quyết được những băn khoăn, trăn trở của tôi trong quá
trình giáo dục SKSSVTN cho học sinh. Tôi thấy sáng kiến rất cần thiết cho nhiều
đơn vị trường, đặc biệt là các trường THCS. Vì vậy sáng kiến này cần được áp dụng
thường xuyên và rộng rãi hơn nữa.
Phần 3: KẾT LUẬN

1. Kết quả của việc ứng dụng sáng kiến kinh nghiệm
Qua việc ứng dụng sáng kiến học sinh đã có chuyển biến về nhận thức về vấn
đề quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên đã tăng lên rõ rệt cụ thể như:
- Học sinh đã có những chuyển biến rõ rệt trong nhận thức về sức SKSSVTN.
Học sinh có những hiểu biết sâu rộng hơn về vấn đề này.
- Học sinh đã có những nhận thức tốt hơn về những nguy cơ dẫn tới lạm dụng
SKSSVTN mà nguy cơ mình chính là nạn nhân.
- Các em đã có hiểu biết và ý thức xây dựng tình bạn trong sáng để dùng nhau
tiến bộ trong học tập.
- Học sinh đã có nhì nhận đúng mực về quan hệ tình dục ở tuổi vị thành niên
và những nguy cơ có thai ở độ tuổi này.
- Học sinh đã được trang bị tốt kĩ năng từ chối trong quan hệ tình dục.
- Học sinh đã có ý thức và sự hiểu biết về các biện pháp phòng tránh thai.
- Học sinh nhận thức được trách nhiệm và có kĩ năng tuyên truyền cho bạn
cùng trang lứa về những vấn đề liên quan đến SKSSVTN.
2. Những kết luận trong quá trình nghiên cứu, triển khai sáng kiến kinh nghiệm
Từ công trình nghiên cứu của mình, tôi có thể rút ra một số kết luận sau:
GDGT, SKSS là một quá trình phát triển lâu dài để có được những thông tin chính
xác, nó giúp hình thành thái độ, niềm tin và những giá trị về bản ngã, về các mối
quan hệ tình cảm. GDGT bao gồm nhiều nội dung: sự phát triển của giới tính,
SKSS, các mối quan hệ cá nhân, tình cảm, về ngoại hình, về vai trò của giới.
GDSKSS có ý nghĩa đặc biệt, nó giúp trẻ VTN có một quan điểm tích cực về tình
dục, đồng thời cung cấp các thông tin và kỹ năng để trẻ VTN có được thái độ và
hành vi đúng, hiểu biết và có trách nhiệm về những quyết định của mình. Một số
chương trình DS/KHHGĐ được tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông
tin đại chúng, các chương trình sinh hoạt cộng đồng có liên quan trực tiếp đến cuộc
sống gia đình, cá nhân các em cũng chỉ có hiểu biết nhất định, nhìn chung vẫn chưa
đầy đủ và sâu sắc về bản chất của vấn đề. Khi tiến hành điều tra tôi nhận thấy học
sinh rất có ý thức, hứng thú và thấy sự cần thiết rnuốn biết nội dung các thông tin
đưa ra cho các em. Kết quả ban đầu này cho phép tôi khẳng định: Giả thuyết khoa

học đặt ra cho việc nghiên cứu đã được chứng minh trên cơ sở khoa học thực tiễn.
Việc nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh THCS là rất cần thiết, là
một tất yếu khách quan.Thực tế này giúp cho những người làm công tác giáo dục
thấy được ý nghĩa thực tiễn của nó để có những biện pháp và hình thức giáo dục

22


thích hợp đối với VTN. Trong công tác giáo dục, hướng dẫn về giới tính, tình dục
học và SKSSVTN cấp THCS vẫn còn đang tồn tại một số vấn đề cần giải quyết .
- Nhận thức của xã hội, thể hiện qua sự trả lời của những người lớn tuổi chưa
có sự nhất trí cao trong việc hướng dẫn, giáo dục cho VTN các kiến thức về tình
dục. Đã có nhiều ý kiến tỏ ra rất quan tâm và lo lắng trước tình trạng QHTD của
VTN, nhưng việc nhìn nhận rõ trách nhiệm của mình trong việc tham gia phòng
ngừa còn chưa cao. Đây là một hạn chế, thực tế những người lớn tuổi cần phải xem
xét lại thái độ, ý thức trách nhiệm của mình nếu không công tác giáo dục, hướng
dẫn VTN trong lĩnh vực này sẽ gặp nhiều khó khăn để có những kết quả tốt.
- VTN có nhu cầu đối với việc được tiếp nhận thông tin, hướng dẫn về vấn đề
tình dục, SKSS nhưng xã hội chưa đáp ứng nhiều được nhu cầu này. Nguồn thông
tin chính thức cho VTN về vấn đề này quá ít, kiến thức các em thu được mang tính
tự phát, nội dung các vất đề SKSS, tình dục được phổ biến trong xã hội chưa được
biên soạn phù hợp với lứa tuổi, điều kiện sống của các em. Do vậy, những nội dung
giáo dục về SKSS nói chung, vấn đề tình dục và các biện pháp tránh thai nói riêng
còn chưa theo kịp tình hình thực tế.
- Công tác GDSKSS ở cấp THCS đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa
cao. Nội dung giáo dục mới chỉ đề cập nhiều đến các khía cạnh tâm lý, đạo đức,
pháp lý, còn các nội dung khác vẫn ít được chú ý. Biện pháp giáo dục chưa đa dạng,
hình thức giáo dục chưa phong phú, chưa thật sự có những cuộc vận động có tính
chiến lược, giáo dục cao.
- Trong điều kiện tình hình thực tế hiện nay có thể sử dụng nhiều biện pháp

tác động nhằm nâng cao hiệu quả của công tác GDSKSS cho học sinh. Trong đó
cần chú ý đến phát triển hơn nữa những biện pháp đã có nhiều hiệu quả: Lồng ghép,
tích hợp các nội dung GDSKSS vào các môn học lrong nhà trường, phát huy các
biện pháp giáo dục ngoài giờ lên lớp như tổ chức hội thảo, phát thanh, tuyên truyền
có VTN tham gia trực tiếp. Như vậy, từ nghiên cứu thực trạng của vấn đề chúng ta
thấy căn nguyên của vấn đề là do sự giáo dục thiếu đồng bộ của các lực lượng giáo
dục. Trong các trường học, sách giáo khoa mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu sơ qua,
chưa có kiến giải sâu sắc cho VTN về quá trình thay đổi của cơ thể có liên quan tới
chức năng sinh sản, về nguyên nhân có thể lây lan các BLTQĐLD do QHTD bừa
bãi. Đôi khi, sự giới thiệu mang tính chất gợi mở như thế lại chính là sự kích thích
các em tìm hiểu và phái triển trí "tưởng bở" của mình. Mặt khác, trong khi các em
còn đang ở trong độ tuổi thiếu chín chắn, sự giáo dục của nhà trường chưa đầy đủ
thì sự giáo dục của gia đình là rất quan trọng. Nhưng thật đáng buồn, nhiều bậc phụ
huynh không có nhiều nhiều hoặc không có thời gian để chăm sóc, giáo dục con cái
dẫn đến chí họ cũng không biết phải giáo dục con cái ra sao nữa về những vấn đề
này. Trong giai đoạn khủng hoảng tâm lý này, sự thiếu hiểu biết của bản thân cộng
với sự giáo dục không đầy đủ của gia đình, nhà trường và xã hội đã vô tình đẩy các
em lấn sâu vào nhiều các tệ nạn xã hội khi các em vừa là thủ phạm lại vừa là nạn
nhân. Đã đến lúc chúng ta cần phải có những nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về
lứa tuổi VTN để có thể đề ra những biện pháp đồng bộ và thực sự hiệu quả cho các
em trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống nhất là việc GDSKSS và GDGT. Cần
nhanh chóng gạt bỏ tất cả những quan niệm hủ tục lạc hậu cho rằng việc giáo dục

23


đó là tế nhị, là khó nói, là vẽ đường cho hươu chạy. . . đưa việc GDSKSS trở thành
một môn học chính khóa, bắt buộc trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Về phía các
bậc làm cha, làm mẹ cần phải sắp xếp lại công việc, dành nhiều thời gian hơn nữa
cho việc chăm sóc con cái. Đây chính là bức thông điệp mà toàn xã hội cần quan

tâm.

24


×