Tải bản đầy đủ (.pdf) (85 trang)

Vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng Ngoại ngữ Tiếng Anh ở nước ta hiện nay (LV thạc sĩ)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (983.12 KB, 85 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VÕ ANH TRƯỜNG

VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
NGOẠI NGỮ - TIẾNG ANH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VÕ ANH TRƯỜNG

VẤN ĐỀ CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG
NGOẠI NGỮ - TIẾNG ANH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 60340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN KHẮC BÌNH

HÀ NỘI - 2017




MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO
TẠO, BỒI DƯỠNG NGOẠI NGỮ - TIẾNG ANH ................................... 10
1.1. Một số khái niệm cơ bản ....................................................................... 10
1.1.1. Chính sách, chính sách công .......................................................... 10
1.1.2. Khái niệm tổ chức thực hiện chính sách công ................................ 13
1.1.3. Khái niệm Nguồn nhân lực ............................................................. 15
1.1.4. Một số khái niệm chuyên môn Ngoại ngữ - Tiếng Anh .................. 18
1.2. Vị trí và vai trò của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng Ngoại ngữ - Tiếng
Anh đối với việc phát triển nguồn nhân lực cao và hội nhập kinh tế thế giới
...................................................................................................................... 19
1.3. Quan điểm của Đảng về Đổi mới Giáo dục và Xây dựng con người phát
triển toàn diện............................................................................................... 21
1.4. Tổ chức thực hiện Đề án Ngoại ngữ Quốc gia đến năm 2020.............. 24
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG NGOẠI NGỮ - TIẾNG ANH Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY ..................................................................................................... 34
2.1. Vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng Ngoại ngữ - Tiếng Anh tại Việt
Nam theo Đề án 2020................................................................................... 34
2.2. Thực tiễn thực hiện Đề án 2020 và các vấn đề còn tồn tại trong chính
sách đào tạo, bồi dưỡng Ngoại ngữ - Tiếng Anh tại Việt Nam ................... 40
2.2.1. Thành tựu của đề án đối với đời sống kinh tế - xã hội ................... 40
2.1.2. Hạn chế của đề án đối với kinh tế - xã hội ..................................... 47
2.1.3. Nguyên nhân của hạn chế ............................................................... 52
2.3. Đánh giá việc thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng – Tiếng Anh
theo Đề án 2020 từ năm 2011 đến nay ........................................................ 54



Chương 3: GIẢI PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO
TẠO, BỒI DƯỠNG NGOẠI NGỮ - TIẾNG ANH TẠI VIỆT NAM
TRONG NHỮNG NĂM TỚI ....................................................................... 61
3.1. Xác định một số vấn đề căn bản của chính sách đào tạo, bồi dưỡng
Ngoại ngữ - Tiếng Anh làm căn cứ xây dựng giải pháp.............................. 61
3.2. Một số giải pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng ngoại
ngữ - Tiếng Anh tại Việt Nam trong những năm tới ................................... 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 78


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC

:Cán bộ - Công chức

CEFR

:Common European Framework of
Reference for Languages

IELTS

:International

English

Language


Testing System
KNLNNVN

:Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng
cho Việt Nam

TA

:Tiếng Anh

VSTEP

:Vietnamese Standardized Test of
English Proficiency


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Khi mà xu thế hội nhập đang ngày càng phát triển thì mối quan hệ của
con người cũng như sự hợp tác trong công việc không chỉ bó hẹp trong đất
nước Việt Nam mà còn mở rộng ra môi trường quốc tế. Có thể thấy, vai trò và
sự đóng góp của việc hội nhập kinh tế quốc tế, của các nhân sự được đào tạo
theo chương trình và chuẩn quốc tế đang ngày một chiếm tỷ trọng cao trong
giá trị kinh tế thương mại quốc gia. Nhờ có sự đầu tư từ các tập đoàn và công
ty lớn của nước ngoài, nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển hơn.
Vậy, nếu không có tiếng Anh thì chúng ta sẽ giao tiếp với bạn bè quốc tế như
thế nào, du học sinh Việt Nam sẽ sống và học tập ra sao tại một nước nói
tiếng Anh? Các công ty Việt Nam sẽ truyền đạt ý tưởng, quan điểm của mình
với các đối tác nước ngoài bằng cách nào? Và còn nhiều dẫn chứng khác nữa
để nói lên vai trò to lớn của tiếng Anh trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Quan điểm của Đảng ta về phát triển nguồn nhân lực có bước phát triển
qua các thời kỳ Đại hội và ngày càng trở nên hoàn thiện hơn, sâu sắc hơn.
Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ năm 1991, Đảng ta đã
chỉ rõ con người chính là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi
nguồn lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước. Đảng ta luôn đưa ra những
chiến lược phát triển con người và khẳng định sự cần thiết phải phát triển
nguồn nhân lực nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của sự phát triển đất nước.
Căn cứ những thực tế đó, Đảng và Chính Phủ đã có nhiều chính sách để
nhằm phát triển chất lượng hoạt động Đào tạo Ngoại ngữ - Tiếng Anh (TA)
tại Việt Nam. Theo đó tại Quyết định số 1400/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính
phủ : Về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục
quốc dân giai đoạn 2008 – 2020". Đề án đã được ban hành và thực hiện trong
gần 10 năm, phần nào đã cải thiện được chất lượng giảng dạy và trình độ
1


ngoại ngữ - TA cho rất nhiều giáo viên, sinh viên, học sinh và rất nhiều cán
bộ, công chức, viên chức Nhà nước. Tuy nhiên kết thúc hơn phân nửa thời
gian thực hiện, Đề án cũng đã bộc lộ nhiều khuyết điểm, sai sót trong việc đặt
vấn đề, mục tiêu, cách thức thực hiện, nguồn lực và giám sát việc thực hiện
Đề án. Những vấn đề bất cập đó đã được nêu ra trong các Kết luận của Bộ
Giáo dục, Hội thảo khoa học chuyên đề và mới đây trong buổi Chất vấn của
Quốc hội khoá XIV, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phùng Xuân Nhạ đã thừa nhận
không thực hiện được các mục tiêu của Đề án vào năm 2020. Theo giải thích
của Bộ trưởng và các chuyên gia về giáo dục là trong quá trình hoạch định Đề
án và thực hiện Đề án đã có nhiều thiếu sót. Đặc biệt là trong quá trình xác
định vấn đề, đặt mục tiêu của Đề án quá cao, vượt quá tầm điều kiện giáo dục
Việt Nam, kèm theo đó là nhiều mục tiêu mơ hồ, thiếu cơ sở khoa học và
kiểm chứng để có thể đánh giá sự thành công hay thất bại của Đề án.
Từ những lý do cấp thiết nêu trên, Học viện mạnh dạn chọn đề tài

“Vấn đề chính sách đào tạo, bồi dưỡng Ngoại ngữ - Tiếng Anh ở nước ta
hiện nay” để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp chương trình thạc sĩ chuyên
ngành Chính sách công với mong muốn góp phần nhằm nâng cao chất lượng
thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng Ngoại ngữ - Tiếng Anh ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù nhu cầu nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh ở Việt
Nam đã có từ rất lâu, có thể nói, bắt đầu từ những năm đầu của chính sách
“Mở cửa” và “Bình thường hoá” quan hệ với các nước Phương Tây, trong đó
có Mỹ.
Từ những năm 1993, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định
số 177/QĐ-TCBT ngày 30/01/1993 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
ban hành “Chương trình tiếng Anh thực hành A, B, C”.

2


Ngày 30 tháng 09 năm 2008, Chính phủ thông qua Quyết định số
1400/QĐ - TTg về việc phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữtrong hệ
thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 – 2020".
Sau đó, căn cứ kết quả thẩm định của Hội đồng quốc gia thẩm định
Chương trình giáo dục thường xuyên về tiếng Anh thực hành, Bộ Giáo dục và
Đào tạo tiếp tục ban hành Quyết định 66 “Về việc Quy định Chương trình
giáo dục thường xuyên về tiếng Anh thực hành”
Đa phần các văn bản này được ban hành dựa trên các nghiên cứu của
các nhóm chuyên gia, hội đồng khoa học của Chính phủ và Bộ Giáo dục và
Đào tạo. Trong thực tế, có rất ít các nhà khoa học nghiên cứu đề tài này dưới
góc nhìn Khoa học Chính sách.Tuy nhiên, xét trên những góc độ về “Khoa
học chính sách”, “Đào tạo Ngoại ngữ”, nhiều nhà khoa học đã có được những
đề tài sau:
Đào Hồng Thu (1996) - “Dạy và học ngoại ngữ ở môi trường không

chuyên ngữ”,Tạp chí khoa học và công nghệ 4 trường đại học, số 12.
Tóm tắt: “Trong môi trường không chuyên, dạy và học ngoại ngữ là cả
một vấn đề nếu không nói là nan giải. Việc áp dụng các phương pháp giảng
dạy ngoại ngữ ở trường Đại học Bách Khoa Hà Nội là đa dạng và nhiều lúc
chưa được định hướng rõ ràng. Dạy và học ngoại ngữ cần được xem như một
lĩnh vực khoa học và thực hành sư phạm đặc thù, là cơ sở cho việc hình thành
các phương pháp và nguyên tắc có hiệu quả. Vấn đề đặt ra là phải hoàn thiện
các kĩ năng kĩ xảo mà học viên chưa có hoặc thiếu. Ở đây phương tiện kĩ
thuật và sử dụng hợp lí chúng đóng vai trò hết sức quan trọng, sẽ nâng cao
chất lượng và hiệu quả dạy và học ngoại ngữ trong tất cả các lĩnh vực hoạt
động nghe, nói, đọc, viết.
Trong quá trình học và giảng dạy ngoại ngữ người học trò đóng vai trò
trung tâm. Các qui trình và phương pháp học ngoại ngữ cần được tiến hành
3


theo từng bước, nghĩa là từ suy nghĩ đến lời nói, học trúng, nhanh, nhiều và
kết hợp học có ý thức và ngẫu nhiên.”
Trần Mai Ước (2016) - “Giáo dục Việt Nam với xu thế toàn cầu hoá”,
Đại học Ngân hàng Tp. HCM.
Tóm tắt: Hội nhập toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội to lớn cho đất nước
phát triển, nhưng cũng đồng thời là thách thức lớn. Việt Nam tuy đã thoát
khỏi cái bẫy của nước thu nhập thấp nhưng trình độ kinh tế vẫn lạc hậu, tăng
trưởng chưa bền vững, phân tầng xã hội và chênh lệch vùng miền chưa thu
hẹp, nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế kéo theo nguy cơ tụt hậu xa hơn về
giáo dục. Xuất phát từ nhận thức: yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền
vững trong bối cảnh thế giới hội nhập và phát triển, có nhiều cơ hội nhưng
cũng lắm thách thức, bắt buộc nền giáo dục nước ta phải được đổi mới toàn
diện và căn bản. Có 5 nhóm giải pháp cơ bản: 01, Phát triển môi trường
pháp lý về giáo dục hoàn chỉnh theo hướng xây dựng và phát triển một nền

giáo dục hiện đại; 02, Păng cường công tác phát hiện, bồi dưỡng, giáo dục và
đào tạo cán bộ quản lý giáo dục với việc hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính
sách trong các khâu tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đãi ngộ nhân sự; 03, Xây
dựng một triết lý giáo dục đại học mới, với những yêu cầu mới để phù hợp
hơn với nền giáo dục thời kỳ đổi mới và hội nhập; 04, đẩy mạnh hơn nữa
công tác xã hội hóa giáo dục; 05, chính sách cụ thể khuyến khích tăng cường
hợp tác quốc tế về giáo dục theo hướng song phương, đa phương, đa dạng
hóa.
Văn Tất Thu (2012) -“Yêu cầu nâng cao chất lượng trình độ, năng lực
đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý nhà nước trong sự nghiệp CNH, HĐH đất
nước và hội nhập kinh tế quốc tế” - Kỷ yếu hội thảo khoa học “Phát triển
nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH và hội nhập quốc tế”, Tạp chí
Cộng sản- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tổ chức 8/2012 tại Hà Nội;
4


Tóm tắt: “Chất lượng đội ngũ lãnh đạo quản lý nhà nước có ý nghĩa
cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành bại của quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở nước ta. Vì vậy, nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng trong thực hiện 3 khâu
đột phá chiến lược mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra. Phân tích
tầm quan trọng của Chất lượng đội ngũ lão đạo quản lý nhà nước. Tác giả đã
nêu những ưu điểm, và hạn chế của đội ngũ cán bộ quản lý, lãnh đạo nhà
nước hiệ nay. Đề xuất 05 giải pháp để nâng cao chất lượng cán bộ quản lý,
lãnh đạo nhà nước bao gồm: 01,nâng cao năng lực tham mưu, đề xuất về chủ
trương, đường lối, chính sách, chế độ ở tầm chiến lược; 02, nâng cao năng
lực, trình độ thể chế hóa các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của
Đảng thành hệ thống thể chế, chế độ, chính sách của Nhà nước, các chương
trình, kế hoạch thực hiện cụ thể; 03, nâng cao năng lực, trình độ lãnh đạo,
chỉ đạo thực hiện các thể chế, chế độ, chính sách, các chương trình, kế hoạch

phát triển kinh tế - xã hội; 04, nâng cao năng lực, trình độ giám sát kiểm tra
việc thực hiện các thể chế, chế độ, chính sách, các chương trình, kế hoạch
tổng thể phát triển kinh tế xã hội; 05, nâng cao trách nhiệm và trình độ đào
tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kế cận, bảo đảm
cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước”.
Văn Tất Thu (2017) -“Vấn đề Chính sách phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước – Chuyên mục Nghiên cứu, trao
đổi;
Tóm tắt: “Bài viết nêu lên 8 luận điểm về Chính sách phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao tại Việt Nam. Thứ nhất, Nguồn nhân lực chất lượng
cao là lực lượng tinh túy, quan trọng cấu thành nguồn nhân lực nhà nuớc,
nhân tố quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Thứ hai,
Vai trò quan trọng của nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công
5


nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Thứ ba, Để có được
nguồn nhân lực chất lượng cao có đủ trình độ, năng lực đáp ứng yêu cẩu
nhiệm vụ, Nhà nước phải đặc biệt quan tâm đến đầu tư đào tạo, bồi dưỡng,
xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Thứ tư, Trong từng
giai đoạn cách mạng xây dựng và phát triển đất nước cần phải có nguồn
nhân lực chất lượng cao tương thích đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của giai đoạn
đó. Thứ năm. Những hạn chế của việc thực hiện chính sách đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao thời gian vừa qua. Thứ sáu, Khẩn trương đào tạo,
bồi dưỡng, xây dựng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng
các yêu cầu nhiệm vụ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây
dựng nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc
tế. Thứ bảy, Nhà nước cần phải có chính sách đầu tư xây dựng và phát triển
nguồn nhân lực này. Thứ tám, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao chỉ
có thể thành công thông qua chính sách hợp lý của Nhà nước”.

Văn Tất Thu (2016) -“Năng lực thực hiện chính sách công - những vấn
đề lý luận và thực tiễn” - Tạp chí Tổ chức Nhà Nước;
Tóm tắt: “Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn năng lực thực hiện
chính sách có ý nghĩa khoa học, thiết thực và cấp bách hiện nay. Ý nghĩa của
việc nghiên cứu vấn đề lý luận và thực thiễn năng lực thực hiện chính sách có
ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối
các khâu (các bước) trong chu trình chính sách thành một hệ thống. Hoạch
định được chính sách đúng, có chất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện
đúng chính sách còn quan trọng hơn. Có chính sách đúng nếu không được
thực hiện sẽ trở thành khẩu hiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà
còn ảnh hưởng đến uy tín của chủ thể hoạch định và ban hành chính sách (uy
tín của nhà nước). Nếu chính sách không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự
thiếu tin tưởng và sự phản ứng của nhân dân đối với nhà nước. Điều này
6


hoàn toàn bất lợi về mặt chính trị và xã hội, gây những khó khăn, bất ổn cho
nhà nước trong công tác quản lý. Qua thực hiện mới biết được chính sách có
đúng, phù hợp và đi vào cuộc sống hay không. Quá trình thực hiện với những
hoạt động thực tiễn sẽ góp phần điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện chính sách
cho phù hợp với thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống”.
Tuy nhiên, như tác giả đã đề cập phía trên. Hiện nay, chưa có đề tài
nghiên cứu vấn đề Đào tạo ngoại ngữ - Tiếng Anh dưới góc nhìn Khoa học
Chính sách.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo Ngoại ngữTiếng Anh và khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện chính sách đào
tạo Ngoại ngữ-Tiếng Anh hiện nay để đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện
chính sách đào tạo Ngoại ngữ - Tiếng Anh tại Việt Nam trong những năm tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Xác lập cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo Ngoại
ngữ - Tiếng Anh.
- Đánh giá việc tổ chức thực hiện các chính sách đào tạo Ngoại ngữ Tiếng Anh tại Việt Nam.
- Đề xuất giải pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo Ngoại ngữTiếng Anh ở Việt Nam trong giai đoạn mới của đất nước.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Giải pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo Ngoại ngữ - Tiếng Anh
tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:

7


- Về nội dung: Nghiên cứu tổ chức thực hiện chính sách đào tạo Ngoại
ngữ - Tiếng Anh tại Việt Nam.
- Về thời gian: Từ năm 2008 đến năm 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
Chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng,
Nhà nước về xây dựng con người mới, nguồn nhân lực chất lượng cao và hội
nhập quốc tế. Để thực hiện đề tài, tác giả thu thập số liệu, tham khảo các tài
liệu, sách khoa học chuyên khảo, tạp chí khoa học và chuyên ngành, những
luận văn, đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu trong nước về
lĩnh vực quản lý nhà nước và tài liệu trên mạng internet. Luận văn sử dụng
các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: thống kê, so sánh, phân tích, tổng
hợp, tổng kết thực tiễn…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến
vấn đề chính sách đào tạo Ngoại ngữ - Tiếng Anh tại Việt Nam và ảnh hưởng
của chính sách này đến việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, xác

định đúng thực trạng, những vấn đề còn tồn tại của chính sách hiện hành, xác
định nguyên nhân của những vấn đề này. Từ kết quả nghiên cứu, làm sáng tỏ
vấn đề của chính sách đào tạo Ngoại ngữ - Tiếng Anh, minh chứng các học
thuyết liên quan đến chính sách công, từ đó hình thành các tiến trình đề xuất
giải pháp để hoàn thiện chính sách.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia làm 03 phần
chương:
Chương 1: Lý luận về tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
ngoại ngữ - tiếng anh.
8


Chương 2:Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
ngoại ngữ - tiếng anh ở nước ta hiện nay.
Chương 3:Giải pháp tổ chức thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng
ngoại ngữ - tiếng anh tại việt nam trong những năm tới.

9


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI
DƯỠNG NGOẠI NGỮ - TIẾNG ANH
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Chính sách, chính sách công
Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như
sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực
cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc

vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…”.
Chính sách công là tập hợp những quyết định mang tính chính trị của
Đảng cầm quyền nhằm vạch ra những đường hướng hành động ứng xử cơ bản
của chủ thể quản lý với các vấn đề, hiện tượng tồn tại trong đời sống để thúc
đẩy và quản lý sự phát triển nhằm đạt tới những mục tiêu nhất định. Khái
niệm Chính sách công được diễn đạt khái quát như sau: Chính sách công là
tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các
mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của
xã hội theo mục tiêu xác định của Đảng chính trị cầm quyền.
Cấu trúc của chính sách công gồm 3 bộ phận:
- Những đường hướng hành động ứng xử (là quan điểm và định hướng
chính sách).
- Biện pháp thực hiện chính sách, các công cụ của chính sách.
- Mục tiêu mà chính sách hướng tới.
Đặc trung cơ bản của chính sách công như sau:
Thứ nhất, chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước, cụ thể là các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách.

10


Thứ hai, các quyết định này là những quyết định hành động, có nghĩa là
chúng bao gồm cả những hành vi thực tiễn. Chính sách công không chỉ thể
hiện dự định của nhà hoạch định chính sách về một vấn đề nào đó mà còn bao
gồm những hành vi thực hiện các dự định nói trên.
Thứ ba, chính sách công tập trung giải quyết một vấn đề đang đặt ra
trong đời sống kinh tế - xã hội theo những mục tiêu xác định.
Thứ tư, chính sách công gồm nhiều quyết định có liên quan lẫn nhau.
Chính sách là một chuỗi hay một loạt các quyết định cùng hướng vào việc
giải quyết một vấn đề chính sách, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ

máy nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài.
Chủ thể ban hành chính sách phát triển NNL trong CQHCNN là Nhà
nước thông qua các cơ quan quyền lực Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành
thực hiện chức năng quản lý nhà nước và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương. Chính sách công được biểu hiện bằng nhiều cấp độ khác nhau: Hiến
pháp, Luật, Nghị quyết, Nghị định, Quyết định. Mục đích cuối cùng là để phát
triển NNL trong CQHCNN để tạo đà cho sự phát triển của xã hội.
Như vậy, chính sách công là những quyết sách mang tính chính trị của
nhà nước mà các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chung và riêng để dẫn dắt
sự phát triển của xã hội, đáp ứng nhu cầu xã hội của người dân. Chính sách
công có thể chi phối chung, song có những chính sách chi phối cụ thể riêng
biệt đối với từng ngành, từng lĩnh vực của đời sống xã hội.
Từ khái niệm chính sách công, chúng ta có thể trích dẫn những quan
điểm, chủ trương của Đảng, Chính phủ được định hướng đưa vào các chỉ thị,
nghị quyết, kết luận để phát triển chất lượng nguồn nhân lực thông qua các
chính sách đào tạo Ngoại ngữ như sau: Trong Kết luận của Bộ Chính trị
(Khoá X) “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII),

11


phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo đến năm 2020” có nội dung:
“Thứ bảy, tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục - đào tạo
Giáo dục trong thời kỳ hội nhập quốc tế phải bảo đảm phát triển bền
vững, không ngừng nâng cao chất lượng, phát huy tối đa nội lực, giữ vững
độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước tiếp cận nền giáo
dục tiên tiến. Mở rộng hợp tác đa phương gắn với việc tăng cường công tác
quản lý nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân về giáo dục và đào tạo.
Xây dựng cơ chế, chính sách, tạo điều kiện thuận lợi thu hút mạnh mẽ
các nguồn đầu tư nước ngoài cho giáo dục, ưu tiên lĩnh vực đào tạo đại học,

sau đại học và giáo dục nghề nghiệp; có cơ chế, chính sách thu hút các nhà
giáo, nhà khoa học người nước ngoài tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học
ở các cơ sở giáo dục đại học.
Thực hiện tốt việc đưa cán bộ, học sinh, sinh viên có đạo đức và triển
vọng đi đào tạo ở nước ngoài, chú trọng các ngành mà đất nước có nhu cầu
bức thiết; đồng thời tăng cường quản lý việc học tập, sinh hoạt của lưu học
sinh.”
Trong Nghị quyết về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào
tạo” của của Hội nghị 8, Ban Chấp hành Trung ương Khoá XI (Nghị quyết số
29-NQ/TW) có nội dung chỉ đạo: “Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để
phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu
cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.”
Hay trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII có nội dung: “Tiếp tục đổi
mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với
lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực
tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý
thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống
và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của
12


Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của
Đảng. Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng
nghiệp. Dạy Ngoại ngữ và Tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm
năng lực sử dụng của người học. Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các
dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt
Nam ở nước ngoài.”
Cũng tại các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XII khi bàn về nội dung
xây dựng con người mới, Đảng xác định phát triển con người mới cần “phải
hướng các hoạt động văn hoá, khoa học, giáo dục vào việc xây dựng con

người hướng tới các giá trị phổ quát của nhân loại là chân – thiện – mỹ. Gắn
xây dựng, rèn luyện đạo đức với thực hiện quyền con người, quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân. Nâng cao trí lực, bồi dưỡng tri thức cho con người
Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa và hội nhập quốc tế của kinh tế tri thức và xã hội học tập.”
1.1.2. Khái niệm tổ chức thực hiện chính sách công
“Tổ chức thực hiện chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính
sách là toàn bộ quá trình chuyển hoá ý chí của chủ thể chính sách thành hiện
thực. Tổ chức thực hiện chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, là bước hiện
thực hoá chính sách vào đời sống xã hội.
Nếu chính sách không được đưa vào thực hiện nó trở nên vô nghĩa. Tổ
chức thực hiện chính sách không tiến hành tốt dẫn đến thiếu tin tưởng, thậm
chí có sự chống đối của nhân dân đối với Nhà nước (thí dụ thực hiện chính
sách đền bù đất đai thời gian qua).
Tổ chức thực hiện chính sách còn giúp bổ sung hoàn thiện chính sách
dựa trên tình hình thực tế. Việc phân tích, đánh giá chính sách (mức độ tốt
xấu) chỉ có thể đầy đủ, có sức thuyết phục sau khi thực hiện chính sách. Qua

13


tổ chức thực hiện chính sách biết được chính sách có phù hợp hay không phù
hợp, vào cuộc sống hay không vào cuộc sống
Đưa chính sách công vào thực tiễn là quá trình phức tạp, đầy biến động
chịu tác động của một loạt các yếu tố, thúc đẩy hoặc cản trở việc thực thi
chính sách” – Văn Tất Thu (2014) – “Những vấn đề Lý luận chung về xây
dựng và thực hiện chính sách công”, Bài giảng chương trình đào tạo Sau
Đại học HV KHXH.
Từ những khái niệm trên có thể nói: Vấn đề nguồn nhân lực chất lượng
cao đang là một vấn đề trọng điểm trong tiến trình đổi mới kinh tế, đổi mới xã

hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng và Chính phủ nhận định con
người là trọng tâm, là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của công
cuộc Đổi Mới, xây dựng công nghiệp hoá – hiện đại hoá. Hiện nay, trong quá
trình phát triển kinh tế, Đảng và Chính phủ xem việc hội nhập quốc tế là một
hoạt động không chỉ mang tính ngoại giao mà còn là đòn bẩy, là trọng tâm
phát triển kinh tế thương mại của Việt Nam, đưa sản phẩm mang trí tuệ Việt
ra thị trường thế giới. Trên tình hình đó, chất lượng nguồn nhân lực trong
nước đang trở thành một bài toán nan giải. Việt Nam tuy là quốc gia có dân số
trẻ, nguồn nhân lực dồi dào, nhưng chất lượng không cao. Đặc biệt trong vấn
đề hội nhập quốc tế, một trong những điểm yếu của nguồn nhân lực Việt Nam
là khả năng giao tiếp nói và viết tiếng nước ngoài, hay cụ thể là tiếng Anh là
rất hạn chế. Vì vậy, khi các quốc gia trên thế giới đầu tư vào Việt Nam, nhân
lực Việt Nam ít có cơ hội tiếp cận với các công việc có thu nhập cao, đa phần
là các công việc tay chân, lương thấp, giờ làm nhiều. Việc hạn chế giao tiếp,
khiến có người lao động mất khả năng đàm phán đòi quyền lợi, tiếp xúc với
các cơ hội nghề nghiệp thu nhập cao cũng như là nâng cao tay nghề thông qua
các khoá đào tạo chuyên sâu tại nước ngoài.

14


Từ một vấn đề kinh tế - xã hội, vấn đề chất lượng nguồn nhân lực mà
trọng tâm là khả năng giao tiếp ngoại ngữ - Tiếng Anh của nguồn nhân lực
Việt Nam đã thật sự trở thành một vấn đề chính trị trong nhu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế. Vì vậy đây đã thật sự trở thành một vấn đề cần được giải
quyết bằng công cụ chính sách.
1.1.3. Khái niệm Nguồn nhân lực
Khái niệm nguồn nhân lực hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế
nước ta. Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống
nhất. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về

nguồn nhân lực. Có thể nêu lên một số quan niệm như sau:
Trong Văn kiện Hội nghị Lần thứ Hai Ban Chấp hành Trung ương
Khóa VIII: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc
biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn
hẹp”, đó là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất
tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn
liền với một nền khoa học hiện đại”.
Theo quan điểm của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành
nghề, kiến thức và năng lực thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới
dạng tiềm năng của con người. Quan niệm này nhấn mạnh yếu tố chất lượng
nguồn nhân lực.
Theo quan điểm của Tổ chức quốc tế về lao động (ILO) thì nguồn nhân
lực là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất
nghiệp. Tuy nhiên việc quy định độ tuổi lao động giữa các quốc gia không hề
giống nhau. Nhiều nước lấy tối thiểu là 15 còn tối đa thì tùy thuộc vào tình
hình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, có thể là 60, 65, hay thậm chí là
70 tới 75 tuổi.

15


Có ý kiến cho rằng, nguồn nhân lực là tổng hợp cá nhân những con
người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể
chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số
trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Tại khoản 1, Điều 3 Bộ
Luật lao động năm 2012 quy định, Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở
lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương
và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.
Và điều quan trọng nhất trong nguồn nhân lực không phải là số lượng

mà là chất lượng. Nói đến chất lượng nguồn nhân lực là nói đến hàm lượng trí
tuệ trong đó, nói tới “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có
phẩm chất tốt đẹp”. Xu hướng phổ biến trong xã hội là vai trò ngày càng tăng
của nguồn nhân lực. Trong nguồn nhân lực có sự kết hợp giữa thể lực, trí lực
và nhân cách. Ngoài ra, cái làm nên nguồn nhân lực còn là kinh nghiệm sống,
là nhu cầu và thói quen vận dụng tổng hợp tri thức và kinh nghiệm của mình,
của cộng đồng vào các hoạt động vật chất như các hoạt động chính trị - xã hội
và hoạt động thực nghiệm của con người. Xét theo ý nghĩa đó, nguồn nhân
lực bao gồm toàn bộ sự phong phú, sự sâu sắc của các năng lực trí tuệ, năng
lực thực hành, tổ chức và quản lý, tính tháo vát và những phản ứng của con
người trước mọi hoàn cảnh. Những năng lực đó chỉ xuất hiện trên cơ sở của
trình độ học vấn, kinh nghiệm, sự mở rộng các quan hệ xã hội, sự tiếp thu tinh
tế các ảnh hưởng văn hóa truyền thống từ gia đình tới xã hội, từ cộng đồng
quốc gia tới khu vực, quốc tế. Nguồn nhân lực được xem xét trên hai phương
diện: cá nhân và xã hội.
Từ các quan niệm nêu trên chúng ta có thể hiểu: Nguồn nhân lực là
nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông qua những khả năng về thể
lực, trí lực và tâm lực của người lao động.
16


Nguồn nhân lực có thể được đánh giá được trên hai mặt chủ yếu là số
lượng và chất lượng.
Số lượng nguồn nhân lực được đánh giá bằng các chỉ tiêu: tỉ lệ nguồn
nhân lực trong dân số; tỉ lệ lực lượng lao động trong dân số; tỉ lệ tham gia lực
lượng lao động của người trong độ tuổi lao động; tỉ lệ lao động có việc làm
trong lực lượng lao động…
Chất lượng nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng phát
triển xã hội. Vì vậy khi xem xét cấu trúc nguồn nhân lực, trước hết phải tính
đến phương diện cá thể của nó gồm ba yếu tố: thể lực, trí tuệ và đạo đức, ba

yếu tố này cấu thành chất lượng của nguồn nhân lực
- Thể lực là trạng thái sức khoẻ của con người biểu hiện ở sự phát triển
sinh học, không có bệnh tật, có sức làm việc trong một hình thái lao độngnghề nghiệp nào đó, có sức khoẻ để tiếp tục học tập, làm việc lâu dài…Thể
lực không khỏe mạnh sẽ hạn chế lớn sự phát triển trí lực, trí tuệ của cá nhân
và của cộng đồng xã hội nói chung.
- Trí lực là yếu tố trí tuệ, tinh thần, là cái nói lên tiềm lực văn hoá tinh
thần của con người. Nó quyết định phần lớn khả năng sáng tạo của con người.
Trí lực là yếu tố ngày càng có vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn
nhân lực, đặc biệt là trong thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại
do chính bàn tay, khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang
chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình. Với ý
nghĩa đó, nhà tương lai học Mỹ Alvin Toffler đã khẳng định rằng: “Tri thức
có tính chất lấy không bao giờ hết được” và xếp quyền lực trí tuệ ở vị trí hàng
đầu trong tất cả các quyền lực đã có trong lịch sử.
- Đạo đức cá nhân phản ánh những giá trị và những chuẩn mực đạo đức
xã hội. Những giá trị và chuẩn mực đó phản ánh bản chất của xã hội, lý tưởng
đạo đức mà xã hội vươn tới, được cá nhân lĩnh hội và thể hiện trong đời sống
17


của mình, nhất là trong hoạt động lao động, trong lối sống và nếp sống hàng
ngày. Các giá trị chuẩn mực đó phải thể hiện thành hiệu quả công việc, đóng
góp vào sự phát triển xã hội, vào sự hoàn thiện nhân cách cá nhân. Đạo đức
gắn liền với năng lực tạo nên những giá trị cơ bản của nhân cách, của chất
lượng nguồn nhân lực từ phương diện cá thể đến phương diện xã hội.
1.1.4. Một số khái niệm chuyên môn Ngoại ngữ - Tiếng Anh
Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (sau đây gọi là
Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam, viết tắt: KNLNNVN) áp dụng cho các
chương trình đào tạo ngoại ngữ, các cơ sở đào tạo ngoại ngữ và người học
ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân.

KNLNNVN được phát triển trên cơ sở tham chiếu, ứng dụng CEFR và
một số khung trình độ tiếng Anh của các nước, kết hợp với tình hình và điều
kiện thực tế dạy, học và sử dụng ngoại ngữ ở Việt Nam. KNLNNVN được
chia làm 3 cấp (Sơ cấp, Trung cấp và Cao cấp) và 6 bậc (từ Bậc 1 đến Bậc 6
và tương thích với các bậc từ A1 đến C2 trong CEFR). Cụ thể như sau:
VSTEP là từ viết tắt của tiếng Anh Vietnamese Standardized Test of
English Proficiency là kỳ thi đánh giá năng lực tiếng Anh theo Khung năng
lực ngoại ngữ (NLNN) 6 bậc dùng cho Việt Nam (tương đương với trình độ
A1, A2, B1, B2, C1,C2).
CEFR là một cách để mô tả khả năng nói và hiểu một ngoại ngữ của
bạn. Có một vài khung tham chiếu với mục đích tương tự bao gồm Quy Tắc
Thành Thạo của Hội đồng Giảng dạy Ngoại ngữ Hoa Kỳ (ACTFL), Tiêu
Chuẩn Ngôn Ngữ Canada (CLB), và thang đánh giá của Hội Bàn Tròn Các
Tổ Chức Ngôn Ngữ (ILR). CEFR không gắn với bất kỳ bài kiểm tra ngôn ngữ
cụ thể nào.
CEFR là một thang đánh giá của châu Âu và được thiết kế riêng biệt để
áp dụng cho mọi ngôn ngữ châu Âu, vì vậy nó có thể được sử dụng để mô tả
18


các kỹ năng tiếng Anh, tiếng Đức hoặc tiếng Estonia của bạn (nếu bạn biết
chúng). CEFR đặt ra sáu trình độ thành thạo ngoại ngữ khác nhau.
IELTS là viết tắt của từ International English Language Testing
System (tạm dịch: Hệ thống kiểm tra tiếng Anh quốc tế) được sáng lấp bởi 3
tổ chức ESOL thuộc Đại học Cambridge, Hội đồng Anh và tổ chức giáo dục
IDP (Úc) vào năm 1989.
Theo thống kê, có hơn 500 trung tâm tổ chức thi IELTS được thành lập
tại hơn 120 quốc gia trên thế giới với hơn 1.000.000 thí sinh dự thi mỗi năm.
Chính vì vậy, IELTS là kì thi tiếng Anh chuẩn hóa quốc tế uy tín nhất hiện
này và cũng là điều kiện bắt buộc khi nhập cư, tìm việc hoặc du học tại các

quốc gia nói tiếng Anh.
Hiện nay, trên thế giới có hơn 6.000 trường Đại Học và các tổ chức
giáo dục tại hơn 100 quốc gia (trong đó có rất nhiều trường ĐH lớn ở Anh,
Mỹ, Úc, New Zealand…) chấp nhận IELTS.
IELTS không có đậu - trượt, trên phiếu kết quả (giấy chứng nhận kết
quả thi IELTS) ghi các thông tin gồm điểm thành phần từng kĩ năng và điểm
tổng của toàn bộ kĩ năng. Thang điểm của IELTS được ghi là từ 1-9 và được
làm tròn đến 0,5.
1.2. Vị trí và vai trò của hoạt động đào tạo, bồi dưỡng Ngoại ngữ Tiếng Anh đối với việc phát triển nguồn nhân lực cao và hội nhập kinh tế
thế giới
Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định nhất đối với sự phát triển của
mỗi quốc gia. Trình độ phát triển của nguồn nhân lực là một thước đo chủ yếu
sự phát triển của các quốc gia. Vì vậy, các quốc gia trên thế giới đều rất coi
trọng phát triển nguồn nhân lực. Trong thế kỷ XX, đã có những quốc gia
nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhưng do phát huy tốt nguồn nhân lực nên đã

19


đạt được thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, hoàn thành công nghiệp hoá và
hiện đại hoá chỉ trong vài ba thập kỷ.
Trước xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Tiếng Anh được xem là ngôn
ngữ sử dụng phổ biến nhất thế giới khi mà có gần 60 quốc gia sử dụng tiếng
Anh là ngôn ngữ chính, bên cạnh tiếng mẹ đẻ và gần 100 quốc gia sử dụng
tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai. Vì vậy, ngoại ngữ này có vai trò rất quan trọng
trong thời kỳ hội nhập toàn cầu hóa hiện nay. Mối quan hệ của con người
cũng như sự hợp tác, đầu tư trong bất kỳ lĩnh vực nào từ kinh doanh, thương
mại, giao thông, công nghệ, truyền thông, du lịch…đến những cơ hội trong
học tập, làm việc, mở rộng các mối quan hệ để hợp tác đều không chỉ bó hẹp
ở Việt Nam mà còn mở rộng ra các nước khác trên thế giới. Tiếng Anh chính

là một trong những công cụ hữu hiệu, đóng vai trò to lớn trong việc giúp bạn
bè năm châu hiểu được tiếng nói của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc
tế.
Ngoại ngữ có vai trò và vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào
tạo và trong sự phát triển của đất nước. Nói chung, không những vì biết ngoại
ngữ là yêu cầu tất yếu của lao động có kỹ thuật cao nhằm đáp ứng các quy
trình công nghệ thường xuyên được đổi mới, mà biết ngoại ngữ còn là một
năng lực cần thiết đối với người Việt Nam hiện đại.
Trong khu vực ASEAN, Singapore nổi lên như 1 điển hình thành công
về chính sách đa ngôn ngữ, trong đó tiếng Anh là ngôn ngữ chủ đạo. Đây
cũng là một trong những yếu tố quyết định tạo nên “quyền lực mềm” của
quốc đảo xinh đẹp trong kinh tế và chính trị quốc tế. Người dân Singapore
được đánh giá là có kỹ năng sử dụng tiếng Anh tốt nhất châu Á. Học sinh
Singapore đều được học tiếng Anh và tiếng mẹ đẻ ngay từ bậc Tiểu học. Nhờ
đó, người dân Singapore không chỉ có được kỹ năng ngôn ngữ mà còn mở ra

20


×