VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ NGỌC ANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM
BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60.38.01.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM HỮU NGHỊ
HÀ NỘI - 2017
HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực,
được trích dẫn từ các nguồn công khai, hợp pháp, không sao chép từ bất kỳ công
trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Ngọc Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC ................................. 7
1.1. Quan niệm về quản lý nhà nước, trách nhiệm bồi thường của nhà nước và quản lý
nhà nước về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ....................................................... 7
1.2. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật quản lý nhà nước về công tác bồi
thường nhà nước ở Việt Nam ........................................................................................ 20
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường ... 24
1.4. Pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại một số quốc gia trên thế
giới và kinh nghiệm cho Việt Nam ............................................................................... 26
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY .......... 30
2.1. Pháp luật hiện hành về quản lý nhà nước trong việc thực hiện trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay.................................................................. 30
2.2. Thực trạng tổ chức quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước ở Việt Nam hiện nay..................................................................................... 36
2.3. Kết quả giải quyết bồi thường và thực hiện trách nhiệm hoàn trả ......................... 42
2.4. Những hạn chế, bấp cập trong thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường
nhà nước ........................................................................................................................ 43
2.5. Nguyên nhân của những kết quả đạt được và nguyên nhân của những hạn chế, bất
cập trong quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ........ 49
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ
NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................................................ 56
3.1. Quan điểm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay.................................................................. 56
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước .................................................................................................... 58
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 74
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TANDTC
:
Tòa án nhân dân tối cao
TNBTCNN :
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
UBND
Ủy ban nhân dân
:
VKSNDTC :
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật TNBTCNN được Quốc hội khoá XII, thông qua ngày 18/6/2009 tại kỳ
họp thứ 5, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2010. Việc ban hành Luật
TNBTCNN có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước
gây ra, góp phần tăng cường ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức trong khi
thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Nhằm bảo đảm Luật được thực hiện một cách đầy đủ,
hiệu quả thì việc triển khai Luật mà đặc biệt là công tác quản lý nhà nước về công
tác bồi thường nhà nước phải được tổ chức thực hiện một cách bài bản và hiệu quả.
Để thực hiện nhiệm vụ này, Luật đã quy định về nội dung quản lý nhà nước cũng như
trách nhiệm của các cơ quan trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về công
tác bồi thường để hướng tới các mục tiêu cơ bản là: trật tự, kỷ cương trong việc chấp
hành các quy định của pháp luật về TNBTCNN của các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá
nhân thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật TNBTCNN; hướng đến mục tiêu là Nhà nước
phải thực hiện việc bồi thường kịp thời, đúng đối tượng, đúng pháp luật đối với các
thiệt hại theo yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, nâng cao ý thức trách nhiệm
của đội ngũ cán bộ, công chức trong thi hành công vụ, nhiệm vụ, từng bước nâng cao
hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý của bộ máy nhà nước.
Đến nay, sau hơn 6 năm thi hành, công tác quản lý nhà nước về thực hiện
TNBTCNN đã từng bước phát huy hiệu quả trên thực tế, khẳng định chủ trương
đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc các cơ quan có trách nhiệm bồi thường
nhà nước đã thực hiện việc giải quyết bồi thường theo đúng quy định của pháp luật;
ý thức, trách nhiệm của đội ngũ công chức từng bước được nâng cao, tránh được
nhiều sai sót, vi phạm; kịp thời giải đáp vướng mắc, hướng dẫn nghiệp vụ, giúp các
cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại
đúng quy định của pháp luật; hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi để người bị thiệt hại
thực hiện đúng pháp luật về quyền yêu cầu bồi thường. Qua đó có thể khẳng định
Luật TNBTCNN từng bước đi vào cuộc sống.
1
Tuy nhiên, quá trình thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước
cũng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: một số quy định của Luật TNBTCNN chưa
phù hợp với thực tiễn; nội dung quản lý nhà nước, thẩm quyền và trách nhiệm quản lý
nhà nước chưa được quy định cụ thể, rõ ràng; sự nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về
vai trò, tầm quan trọng của các cấp chính quyền trong việc thực hiện pháp luật về
TNBTCNN; việc phổ biến, giáo dục pháp luật về TNBTCNN chưa đến với các cá
nhân, tổ chức, doanh nghiệp; ý thức chấp hành pháp luật về TNBTCNN của một bộ
phận đội ngũ công chức, tổ chức, công dân còn chưa cao; chưa có sự phối hợp chặt chẽ
giữa cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường với các cơ quan có liên quan
trong thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước; đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức làm công tác bồi thường nhà nước còn thiếu về số lượng và hạn
chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ v.v.
Để từng bước nâng cao hiệu quả, chất lượng của hoạt động giải quyết bồi
thường của nhà nước có hiệu quả, thống nhất, công bằng và đúng pháp luật thì việc
nghiên cứu, phân tích, đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường
là vấn đề có ý nghĩa thiết thực, vừa làm rõ những ưu điểm, hạn chế của hoạt động
này, vừa đề ra những giải pháp nhằm triển khai hữu hiệu các quy định của Luật
TNBTCNN, đồng thời hướng tới việc hoàn thiện hơn pháp luật về TNBTCNN là
việc làm cần thiết. Do đó, việc lựa chọn và nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về
thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay” làm Luận
văn thạc sĩ luật học sẽ góp phần đáp ứng được phần nào những đòi hỏi cấp bách nêu
trên cả về phương diện lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Quản lý nhà nước về công tác bồi thường đã được các nhà nghiên cứu khoa
học xã hội và các nhà quản lý quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau. Kết quả
nghiên cứu về vấn đề này chủ yếu được thể hiện ở các đề tài nghiên cứu, luận văn,
sách và bài báo khoa học. Trong đó, có thể nêu ra một số công trình sau đây:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2013 “Các biện pháp bảo đảm thi
hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước” chủ nhiệm đề tài Thạc sĩ Nguyễn
Thanh Tịnh. Công trình đã phân tích một số nội dung về mặt lý luận và thực tiễn
2
các biện pháp đảm bảo như xây dựng, hoàn thiện pháp luật, công tác tuyên truyền,
giáo dục pháp luật, về tổ chức bộ máy, con người, kinh phí để các quy định của
Luật TNBTCNN phát huy được hiệu quả trong đời sống thực tiễn.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của trách
nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước”[26] tác giả Lê Thái Phương. Luận văn đã
khái quát một số nội dung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước, thực
trạng pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại, trong đó, tác giả đã so sánh một
số chế định cụ thể của pháp luật bồi thường thiệt hại Việt Nam với chế định tương
ứng của một số nước trên thế giới.
- Luận văn Thạc sĩ Luật học “Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước trong Thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay”[22], tác giả Trần
Việt Hưng. Luận văn đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi
hành án dân sự, đưa ra giải pháp bảo đảm hiệu lực thi hành của các văn bản pháp
luật đã ban hành trong lĩnh vực thực hiện pháp luật về TNBTCNN trong thi hành án
dân sự ở Việt Nam hiện nay.
- Luận văn Thạc sĩ luật học "Pháp luật của Việt Nam và một số quốc gia trên
thế giới về TNBTCNN".[19], tác giả Hoàng Xuân Hoan.
- Sách chuyên khảo “Những vấn đề cơ bản của Luật Trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước năm 2009”, tác giả Tiến sĩ Đinh Trung Tụng chủ biên. Cuốn sách đã
đề cập các quy định pháp luật về TNBTCNN nói chung và giới thiệu Luật
TNBTCNN nói riêng, trong đó tập trung nêu lên sự cần thiết, mục tiêu ban hành và
quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật TNBTCNN.
Ngoài ra còn có một số chuyên đề, bài viết, bài nghiên cứu của một số tác giả
làm công tác xây dựng pháp luật với nội dung đề cập đến nhiều vấn đề cơ bản của
Luật TNBTCNN cũng là những tài liệu nghiên cứu quan trọng được tác giả lựa
chọn tham khảo khi thực hiện đề tài nghiên cứu, cụ thể: “Kỷ yếu các Tọa đàm thuộc
dự án hợp tác pháp luật và tư pháp giữa Việt Nam và Nhật Bản về Luật Bồi thường
Nhà nước” do Bộ Tư pháp phối hợp với dự án JICA thực hiện, giai đoạn 2003 –
2006; “Quản lý nhà nước đối với công tác bồi thường”, của Tiến sĩ Trần Văn
Quảng, Bộ Tư pháp, chuyên đề Tạp chí Dân chủ và Pháp luật năm 2011; “Tăng
3
cường hiệu quả quản lý nhà nước nhằm bảo đảm tính khả thi của cơ chế bồi thường
nhà nước”, của Thạc sĩ Nguyễn Thanh Tịnh, số chuyên đề tạp chí Dân chủ và Pháp
luật năm 2011; “Một số vấn đề lý luận về TNBTCNN”, của tác giả Từ Ninh, Tạp
chí Dân chủ và Pháp luật Bộ Tư pháp năm 2011; “Cẩm nang hướng dẫn nghiệp vụ
quản lý nhà nước về công tác bồi thường”, chủ biên Nguyễn Thanh Tịnh, Nhà xuất
bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2014 v.v..
Nhìn chung, các công trình khoa học trên đây đã được các tác giả nghiên cứu
nghiêm túc, đóng góp được rất nhiều vấn đề cơ bản cả về lý luận và thực tiễn về bồi
thường nhà nước nói chung và những vấn đề liên quan đến quản lý nhà nước về công
tác bồi thường nhà nước nói riêng. Các tác giả đã triển khai nghiên cứu ở nhiều góc
độ, khía cạnh khác nhau, là nguồn tư liệu quan trọng để tác giả tham khảo thực hiện
đề tài này. Tuy nhiên, đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào về quản lý nhà
nước về thực hiện pháp luật TNBTCNN được thực hiện theo chuyên ngành Luật
Hiến pháp và luật Hành chính.
Kế thừa một số kết quả nghiên cứu của các công trình nêu trên, Đề tài “Quản
lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam hiện
nay” tiếp tục nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống, toàn diện về quản lý nhà
nước về công tác bồi thường nhà nước ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về công tác bồi
thường nhà nước. Trên cơ sở đó bước đầu đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu
quả quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật đối với quản lý nhà nước về
TNBTCNN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà
nước tại Việt Nam hiện nay, qua đó tìm ra nguyên nhân của những hạn chế.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về công tác
bồi thường nhà nước.
4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là tập trung nghiên cứu nội dung quản lý nhà
nước về thực hiện TNBTCNN và thực hiện quản lý nhà nước về công tác bồi thường
nhà nước từ thực tiễn nước ta hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những vấn đề cơ bản nhất về quản lý
nhà nước đối với TNBTCNN. Luận văn đề cập đến quản lý nhà nước về công tác
bồi thường nhà nước ở góc độ thực tiễn trên phạm vi toàn quốc.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và
chính sách, pháp luật của Nhà nước kết hợp với cách tiếp cận đa ngành, liên ngành
về TNBTCNN.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp
sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu: tác giả nghiên cứu một số tài
liệu như: Hiến pháp, Luật, văn bản quy phạm pháp luật, đề tài khoa học, sách báo,
tạp chí, các bài viết trên internet và các báo cáo có nội dung liên quan đến hoạt động
quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước để tìm kiếm, chắt lọc các căn cứ
lý luận và thực tiễn pháp lý cho việc phân tích, đánh giá và kiến nghị tăng cường
hiệu quả quản lý nhà nước về TNBTCNN ở Việt Nam hiện nay.
- Phương pháp phân tích: nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong
công tác quản lý nhà nước về thực hiện TNBTCNN.
- Phương pháp thống kê: để thống kê các số liệu trong thực tiễn quản lý nhà
nước về công tác bồi thường nhà nước làm cơ sở cho việc đưa ra những nhận xét,
kết luận và kiến nghị hoàn thiện các quy định về thể chế bồi thường của Nhà nước.
5
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp
so sánh, tổng hợp, phương pháp trao đổi, v.v..
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
- Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý của quản
lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu phục vụ công tác nghiên cứu khoa
học và đào tạo về công tác bồi thường nhà nước.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Các kiến nghị về giải pháp của Luận văn có giá trị tham khảo đối với cơ quan,
tổ chức hữu quan trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về công tác bồi
thường nhà nước.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của quản lý nhà nước về thực hiện trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về thực hiện pháp luật trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước ở nước ta hiện nay
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam hiện nay
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THỰC HIỆN
TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC
1.1. Quan niệm về quản lý nhà nước, trách nhiệm bồi thường của nhà nước
và quản lý nhà nước về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
- Khái niệm về trách nhiệm: Theo Đại từ điển tiếng Việt, dưới góc độ ngôn
ngữ học, trách nhiệm là "điều phải làm, phải gánh vác hoặc phải nhận lấy về mình"
[48, tr.1571]. Khái niệm này rất gần nghĩa với "nghĩa vụ" là "bổn phận phải làm đối
với xã hội hoặc với người khác". Dưới phương diện đạo đức xã hội, trách nhiệm là
sự ràng buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những nghĩa vụ nghiêng về bổn phận
mang tính luận lý, đạo đức. Dưới góc độ pháp lý, trách nhiệm pháp lý của cá nhân,
tổ chức phát sinh trên cơ sở pháp luật và được đảm bảo thực hiện bằng pháp luật.
- Khái niệm về thiệt hại: Theo Đại từ điển tiếng Việt, dưới góc độ ngôn ngữ
học, thiệt hại được hiểu là "mất mát, hư hỏng nặng nề về người và của" [48,
tr.1571]. Dưới góc độ khoa học pháp lý, theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học
của Trường Đại học Luật Hà Nội thì thiệt hại là "tổn thất về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, uy tín, tài sản của cá nhân, tổ chức được pháp luật bảo vệ" [43, tr.46].
Dưới góc độ luật thực định, từ cách tiếp cận khái niệm "trách nhiệm bồi thường
thiệt hại" trong quan hệ pháp luật về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo Điều
310 Bộ Luật dân sự năm 1995 thì "Trách nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách
nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh
thần" [30]. Tiếp theo đó Điều 307 Bộ Luật dân sự năm 2005 khẳng định: "Trách
nhiệm bồi thường thiệt hại bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất,
trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần" [32]. Điều 360 Bộ Luật dân sự
năm 2015 quy định: "trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có
nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc
luật có quy định khác" [36]; đồng thời, Điều 361 Bộ Luật dân sự cũng quy định
"thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh
7
thần" [33]. Luật TNBTCNN năm 2009 cũng quy định thiệt hại được bồi thường bao
gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.
Như vậy, thiệt hại bao gồm: thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.
Trong đó, thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm
tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu
nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần
do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích
nhân thân khác của một chủ thể. Những thiệt hại vật chất và tinh thần phải do hành
vi vi phạm pháp luật gây ra.
- Khái niệm về bồi thường thiệt hại: “Bồi thường” theo Đại từ điển tiếng Việt
được hiểu là "đền bù những tổn thất đã gây ra" [48, tr.191]. Về mặt pháp lý, bồi
thường là một dạng cụ thể của nghĩa vụ dân sự phát sinh do hành vi gây thiệt hại. Vậy
bồi thường có thể hiểu là việc đền bù những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần
nhằm khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại gây ra.
- Khái niệm về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là "sản phẩm" tất yếu của xã hội dân
chủ, công bằng và văn minh, xuất phát từ các nguyên tắc cơ bản của Nhà nước pháp
quyền và xã hội dân sự. Một trong những đặc điểm cơ bản của Nhà nước pháp
quyền là quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, bảo vệ và và bảo đảm
thực hiện theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật. Trên cơ sở bảo đảm
nguyên tắc tối thượng của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, Nhà nước và công
dân đều bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước là
một chủ thể của quyền lực công, Nhà nước có quyền ban hành pháp luật và thực
hiện quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật. Theo đó, các cơ quan nhà
nước, các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức chính trị - xã
hội - nghề nghiệp, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các đơn vị
kinh tế và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật. Mọi
hành vi vi phạm Hiến pháp, pháp luật đều bị xử lý theo Hiến pháp và pháp luật. Do
vậy, nếu cán bộ, công chức cơ quan nhà nước có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại
cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước phải chịu trách nhiệm bồi thường.
8
Bồi thường nhà nước là một cơ chế pháp lý phức tạp, được quy định trên
nguyên tắc và bản chất bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự
(người bị thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường hoặc không yêu cầu bồi thường, việc
yêu cầu bồi thường về nguyên tắc không được cao hơn thiệt hại thực tế xảy ra).
Việc xác định mức thiệt hại cũng như mức bồi thường đều mang bản chất của quan
hệ dân sự, tức là bình đẳng và thực tế, trên cơ sở tôn trọng thương lượng, thỏa
thuận, bình đẳng giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại từ hành vi xâm phạm quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân là trách nhiệm pháp lý được xác định với mọi chủ thể. Vì
vậy, khi Nhà nước thực hiện công quyền gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì cũng
phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của
Nhà nước không chỉ nhằm khôi phục các thiệt hại về tài sản mà còn phải bù đắp
những thiệt hại về tinh thần cho các cá nhân, tổ chức bị thiệt hại. Do vậy có thể
hiểu: Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm pháp lý mà theo đó
Nhà nước phải bồi thường những thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần trong
trường hợp người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại về tài
sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm cho các cá nhân, tổ chức.
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng cả về phương
diện chính trị và pháp lý. Về phương diện chính trị, TNBTCNN là một biểu hiện
của Nhà nước pháp quyền. Thông qua pháp luật, Nhà nước bảo đảm quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Mọi hành vi xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức đều bị xử lý theo quy định của pháp luật mà không
có sự phân biệt chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật là tổ chức, cá nhân hay
Nhà nước. Việc thừa nhận TNBTCNN và thiết lập cơ chế bảo đảm thực thi trách
nhiệm pháp lý này là công cụ hữu hiệu để thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân. Do đó, việc xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật về TNBTCNN là
công việc thiết thực để thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Thông qua cơ chế
TNBTCNN, một mặt, người bị thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra
được quyền yêu cầu bồi thường đối với những thiệt hại về vật chất và tổn thất về
9
tinh thần mà mình đã phải gánh chịu, qua đó nâng cao uy tín của Đảng và Nhà
nước, mặt khác, cán bộ, công chức sẽ có ý thức, trách nhiệm hơn trong khi thi
hành công vụ, đóng góp tích cực vào việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt
động của bộ máy nhà nước, của hoạt động công vụ.
Về phương diện pháp lý, TNBTCNN là cơ chế pháp lý hữu hiệu để bảo đảm
thực hiện quyền được bồi thường của tổ chức, cá nhân đã được Hiến pháp ghi
nhận, đồng thời, góp phần duy trì sự ổn định của hoạt động công vụ. Trong cơ chế
TNBTCNN, Nhà nước là chủ thể bồi thường thay thế người thi hành công vụ đã
gây ra thiệt hại. Trên cơ sở thừa nhận TNBTCNN, thông qua công cụ pháp luật,
Nhà nước quy định cụ thể các tiêu chí, chuẩn mực xác định trách nhiệm bồi
thường, xác định thiệt hại được bồi thường, trách nhiệm và thủ tục giải quyết bồi
thường để bảo đảm quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại được thực
hiện trên thực tế. Mặt khác, cơ chế TNBTCNN có ý nghĩa bảo đảm sự ổn định của
hoạt động công vụ. Trường hợp cán bộ, công chức có lỗi vô ý hoặc cố ý trong khi
thi hành công vụ gây ra thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước sẽ đảm nhận
trách nhiệm bồi thường. Hơn nữa, với địa vị là chủ thể quản lý ngân khố quốc gia,
việc Nhà nước thực hiện trách nhiệm của bên bồi thường sẽ tạo thuận lợi cho việc
thực hiện nghĩa vụ chi trả tiền bồi thường vì Nhà nước không bị hạn chế bởi năng
lực tài chính so với cá nhân cán bộ, công chức. Với những ý nghĩa đó, cơ chế pháp
lý về TNBTCNN được xác lập đã đánh dấu một bước tiến hết sức quan trọng của
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam và hội nhập quốc tế hiện nay.
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước
Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó
đến trạng thái cần đạt được. Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với
lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động. “Bất kỳ lao động
xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành trên quy mô tương
đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt
10
động cá nhân và thực hiện những chức năng chung... Một nhạc công tự điều khiển
mình nhưng một dàn nhạc cần phải có nhạc trưởng” [8, tr.23, tr. 342].
Từ quan điểm trên có thể thấy, quản lý xã hội không phải là sản phẩm của sự
phân chia quyền lực, mà là sản phẩm của sự phân công lao động nhằm liên kết và
phối hợp hoạt động chung của con người. Là một hoạt động gắn liền với sự xuất
hiện của Nhà nước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý
xã hội. Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các cơ
quan nhà nước. Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều
hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để
thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành
chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ
quản lý nhà nước). Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động
nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng bị quản lý.
Dưới góc độ hình thức, quản lý nhà nước về thực hiện TNBTCNN có thể
được hiểu là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng quyền lực của
mình tác động có tổ chức và điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động giải
quyết bồi thường, chi trả tiền bồi thường và thực hiện trách nhiệm hoàn trả theo
các nguyên tắc nhất định nhằm đạt được mục tiêu của quản lý nhà nước về công
tác bồi thường nhà nước.
Dưới góc nội dung, quản lý nhà nước về thực hiện TNBTCNN bao gồm
nhiều hoạt động, như ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về TNBTCNN;
chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản này; tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật
về TNBTCNN; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức, viên chức làm công
tác bồi thường nhà nước; chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ về giải quyết bồi thường;
kiểm tra, xử lý vi phạm và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong việc thực hiện pháp
luật về TNBTCNN.
Trên cơ sở những nhận định trên, có thể đưa ra khái niệm cơ bản về quản lý
nhà nước về thực hiện TNBTCNN như sau: Quản lý nhà nước về thực hiện trách
nhiệm bồi thường của Nhà nước là quá trình tác động có tổ chức và bằng quyền lực
nhà nước đến các hoạt động thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của
11
Nhà nước, do các cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường từ trung ương
đến địa phương tiến hành để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được nhà nước
giao, nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong hoạt động quản lý nhà nước về công
tác bồi thường nhà nước.
1.1.3. Nội dung quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật về TNBTCNN
Đây là hoạt động quản lý cơ bản tạo ra công cụ quản lý nhà nước về công tác
bồi thường, điều này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong tiến trình xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo đó, mọi hoạt động của Đảng, của
Nhà nước, các tổ chức, cá nhân công dân đều phải tuân thủ theo quy định của pháp
luật. Việc xây dựng một hệ thống các quy định về TNBTCNN mang tính đồng bộ,
thống nhất, toàn diện và có tính khả thi cao sẽ tạo ra công cụ hữu hiệu trong quản lý
nhà nước về thực hiện TNBTCNN.
Thứ hai, tổ chức triển khai, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc thực hiện pháp luật
về TNBTCNN
Nhóm nội dung trên bao gồm các hoạt động phổ biến, tuyên truyền pháp luật về
TNBTCNN; hướng dẫn các cơ quan có trách nhiệm bồi thường thực hiện việc giải
quyết bồi thường; bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường cho cán bộ thực
hiện công tác giải quyết bồi thường; theo dõi, kiểm tra việc giải quyết bồi thường; theo
dõi, đôn đốc việc chi trả tiền bồi thường và thực hiện trách nhiệm hoàn trả.
Các cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có trách nhiệm thực
hiện đầy đủ các hoạt động quản lý nêu trên phù hợp với phạm vi, lĩnh vực quản lý.
Nhóm các hoạt động quản lý này có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm thực thi hiệu
quả cơ chế bồi thường của Nhà nước, vì trong quan hệ bồi thường của Nhà nước
của mình, người yêu cầu bồi thường luôn ở vị thế yếu hơn so với bên bồi thường là
nhà nước, vì vậy, những khó khăn, vướng mắc sảy ra đối với người bị thiệt hại
trong quá trình yêu cầu bồi thường là điều khó tránh khỏi, trong khi cơ quan có
trách nhiệm bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây ra
thiệt hại đồng thời là cơ quan giải quyết bồi thường, điều này dễ dẫn đến tình trạng
12
đùn đẩy, né tránh, bao che cho công chức đã gây ra thiệt hại. ngoài ra công tác
hướng dẫn kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường cho các cơ quan có trách
nhiệm bồi thường là rất cần thiết, đặc biệt là đối với các lĩnh vực phức tạp, thường
xuyên phát sinh các vụ việc yêu cầu bồi thường. Việc thực hiện tốt các nội dung
quản lý nêu trên góp phần bảo đảm cho các cơ quan có trách nhiệm bồi thường, cán
bộ thực hiện nhiệm vụ giải quyết bồi thường thực hiện đúng, đầy đủ và khách quan
các quy định của pháp luật về TNBTCNN trong quá trình giải quyết và thực hiện
bồi thường.
Thứ ba, xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường
Để khắc phục tình trạng người bị thiệt hại không thể thực hiện được quyền yêu
cầu bồi thường của mình do không xác định được cơ quan có trách nhiệm giải quyết
bồi thường, nên pháp luật quy định một trong những nội dung quản lý nhà nước về
công tác bồi thường nhà nước là: xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong
trường hợp người bị thiệt hại yêu cầu hoặc không có sự thống nhất về cơ quan có
trách nhiệm bồi thường (khoản 5 Điều 21 Nghị định số 16/2010/NĐ-CP). Thẩm
quyền xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường được quy định cụ thể cho các cơ
quan gồm TANDTC, VKSNDTC, các Bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh,
UBND cấp huyện.
Sự phân định rõ trách nhiệm nêu trên bảo đảm không có sự chồng chéo cũng
như đùn đẩy, né tránh trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý trong việc xác định cơ
quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng và thi
hành án, bảo đảm cơ chế hỗ trợ xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường cho tổ
chức, cá nhân có yêu cầu bồi thường.
Thứ tư, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực
bồi thường nhà nước
Thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm là hoạt động cơ bản,
tiếp theo bảo đảm thực thi chính sách pháp luật, góp phần thiết lập trật tự quản lý
nhà nước trong thực hiện TNBTCNN theo ý chí của chủ thể quản lý. Việc thực hiện
theo dõi, kiểm tra, thanh tra việc giải quyết bồi thường, giải quyết khiếu nại, tố cáo
và xử lý vi phạm pháp luật về TNBTCNN sẽ do cơ quan quản lý nhà nước về công
13
tác bồi thường thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành về thanh tra,
giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Thứ năm, thực hiện thống kê, tổng kết, đánh giá việc thực hiện TNBTCNN
Thông tin là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của hoạt động quản lý
nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về thực hiện TNBTCNN nói
riêng. Để ban hành các quyết định quản lý phù hợp với quyết định của pháp luật
đồng thời khả thi trong thực tiễn, đòi hỏi chủ thể quản lý ngoài việc nắm chắc các
quy định của pháp luật về lĩnh vực quản lý còn phải nắm bắt kịp thời, đầy đủ và
toàn diện những thông tin có độ tin cậy cao về đối tượng quản lý. Vì vậy, thống kê,
tổng kết, đánh giá thực tiễn là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động
quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước nhằm cung cấp thông tin cho các
chủ thể quản lý.
1.1.4. Vai trò, đặc điểm, nguyên tắc của hoạt động quản lý nhà nước về
công tác thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
1.1.4.1. Vai trò quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước
Thực tiễn cuộc sống cũng như những yêu cầu của pháp luật hiện nay cho thấy
hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có vai trò thiết thực
trên nhiều phương diện nhất định, cụ thể:
Thứ nhất, thông qua việc theo dõi tình hình yêu cầu bồi thường và giải quyết
yêu cầu bồi thường nhà nước, chi trả tiền bồi thường và thực hiện trách nhiệm hoàn
trả, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thể kịp thời có biện pháp
tháo gỡ khó khăn, vướng mắc bảo đảm việc triển khai thi hành Luật TNBTCNN
được thông suốt.
Thứ hai, để hoạt động giải quyết bồi thường được thống nhất trên phạm vi
toàn quốc thì việc kịp thời hướng dẫn kỹ năng, nghiệp vụ giải quyết bồi thường cho
các cơ quan có trách nhiệm bồi thường là rất cần thiết, đặc biệt là đối với các lĩnh
vực phức tạp, thường xuyên phát sinh các vụ việc yêu cầu bồi thường.
Thứ ba, bằng công tác kiểm tra hoạt động giải quyết bồi thường, chi trả tiền
bồi thường, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường có thể kịp thời phát
14
hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình giải quyết bồi thường để có hướng
dẫn cụ thể, qua đó, thúc đẩy hoạt động giải quyết bồi thường được thực hiện nhanh
chóng và đúng pháp luật.
Thứ tư, thông qua hoạt động tham gia thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo
trong hoạt động bồi thường nhà nước, cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi
thường có thể phát hiện những sai phạm trong việc thực hiện công tác bồi thường
nhà nước, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân.
Thứ năm, về phía người bị thiệt hại, để giúp họ thực hiện hiệu quả và đúng
pháp luật quyền yêu cầu bồi thường của mình, thông qua công tác giải đáp vướng
mắc, hướng dẫn, hỗ trợ người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường nhà
nước, cơ quan quản lý nhà nước về bồi thường sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động giải
quyết bồi thường, giúp người bị thiệt hại đánh giá, cân nhắc về việc thực hiện quyền
yêu cầu bồi thường của mình, tránh lãng phí về thời gian và tiền bạc đối với người
bị thiệt hại và cũng qua đó là một kênh thông tin để theo dõi, thực hiện tốt các
nhiệm vụ quản lý chuyên ngành khác về công tác bồi thường nhà nước.
Thứ sáu, đảm bảo công tác phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về công tác
bồi thường trong các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án để đáp ứng
yêu cầu theo quy định của pháp luật
Hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường là một trong những nội
dung mới được quy định trong Luật TNBTCNN và Nghị định số 16/2010/NĐ-CP,
do đó, việc tổ chức thực hiện và phối hợp thực hiện giữa các ngành được đánh giá
là khó khăn, phức tạp vì đối tượng quản lý rất rộng, bao gồm: các cơ quan quản lý
nhà nước về công tác bồi thường, các cơ quan có trách nhiệm bồi thường ở các Bộ,
ngành và địa phương; các cơ quan chuyên môn từ trung ương đến địa phương;
UBND các cấp; người yêu cầu bồi thường nhà nước và các tổ chức, cá nhân tham
gia vào quá trình giải quyết bồi thường thuộc trách nhiệm của Nhà nước. Do vậy,
đặt ra yêu cầu phối hợp giữa các cơ quan có liên quan đáp ứng yêu cầu nâng cao
hiệu quả thực thi trên thực tế của Luật TNBTCNN cũng như nâng cao trách nhiệm
công vụ của cán bộ, công chức
15
1.1.4.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về thực hiện trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước
Với vị trí, vai trò là một hoạt động quản lý trong một lĩnh vực cụ thể, hoạt
động quản lý nhà nước về thực hiện TNBTCNN thực chất là việc các cơ quan quản
lý hành chính nhà nước (các Bộ, ngành, cơ quan tố tụng ở trung ương, UBND cấp
tỉnh, cấp huyện ở địa phương) thực hiện các chức năng, nhiệm vụ do Luật
TNBTCNN quy định và do cơ quan nhà nước ở trung ương phân cấp, hoặc giao
thực hiện (cơ quan chuyên môn thuộc các Bộ, ngành ở trung ương và cơ quan
chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện). Do đó, hoạt động quản lý nhà nước
về thực hiện TNBTCNN chính là hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi
thường, có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tính chính trị
Cũng như bất cứ hoạt động quản lý nhà nước nào khác ở Việt Nam, quản lý
nhà nước về công tác bồi thường phải bảo đảm phục vụ các mục tiêu chính trị, theo
đúng chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về TNBTCNN đối với
hoạt động của các tổ chức, công dân.
Thứ hai, tính quyền lực nhà nước
Đây cũng là một đặc điểm cơ bản của quản lý nhà nước về công tác bồi thường,
đặc điểm này thể hiện ở các nội dung cơ bản là: Tư cách pháp nhân của chủ thể quản
lý, công cụ, phương pháp quản lý.
Tư cách pháp nhân của chủ thể quản lý: là yêu cầu trước tiên trong hoạt động
quản lý nhà nước về công tác bồi thường, theo đó, để triển khai hoạt động, cần có cơ
quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường, trên thực tiễn, cơ quan được thành lập
mới (Cục Bồi thường nhà nước thuộc Bộ Tư pháp), hoặc được giao nhiệm vụ (tổ chức
Pháp chế các Bộ, ngành ở trung ương và tại cơ quan chyên môn thuộc UBND cấp tỉnh;
Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh, Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp huyện) thực hiện.
Tuy nhiên, bên cạnh các cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường đều có chức
năng, nhiệm vụ như nhau, thì ở mỗi cấp, các cơ quan đều có những nhiệm vụ khác
nhau (ví dụ: chỉ có Bộ, ngành ở trung ương mới có nhiệm vụ tham mưu xây dựng văn
bản quy phạm pháp luật về TNBTCNN) hoặc chỉ có Cục Bồi thường nhà nước thuộc
16
Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp thuộc UBND cấp tỉnh và Phòng Tư pháp thuộc UBND cấp
huyện được giao nhiệm vụ cung cấp thông tin, hướng dẫn thủ tục hỗ trợ người bị thiệt
hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính.
Công cụ, phương pháp quản lý: Công cụ quản lý nhà nước về công tác bồi
thường được hiểu là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về TNBTCNN; phương
pháp quản lý là sử dụng phương pháp mệnh lệnh hành chính mang tính quyền lực
nhà nước.
Thứ ba, tính chuyên môn hóa cao: Các công chức thực hiện nhiệm vụ trong
các cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường phải bảo đảm các tiêu chuẩn
về trình độ chuyên môn theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và đáp ứng
được các quy định về trình độ chuyên ngành bồi thường nhà nước; việc tuyển dụng
phải theo đúng quy định của Nhà nước về tuyển dụng cán bộ, công chức trong các
cơ quan nhà nước.
Thứ tư, tính hiệu lực, hiệu quả: Thông qua hoạt động quản lý nhà nước về
công tác bồi thường, trước tiên, phải bảo đảm việc chấp hành nghiêm túc, có hiệu
quả quy định về hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan nhà nước thuộc
phạm vi điều chỉnh của Luật TNBTCNN. Tiếp theo đó, các vụ việc phải thực hiện
giải quyết bồi thường thuộc phạm vi Luật TNBTCNN và thực hiện trách nhiệm
hoàn trả phải được cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết đúng thời hạn,
đúng pháp luật về TNBTCNN về trình tự, thủ tục giải quyết.
Thứ năm, tính xã hội: Việc thực hiện pháp luật về TNBTCNN phải được triển
khai thực hiện trong các cơ quan nhà nước và trong toàn xã hội, dó đó, việc quán
triệt, phổ biến, giáo dục pháp luật cho các cơ quan, đơn vị nhà nước, tổ chức, cá
nhân trong xã hội nắm vững và thực hiện đúng quy định của pháp luật về
TNBTCNN rất là cần thiết. Đồng thời, do việc tổ chức thực hiện pháp luật về
TNBTCNN là sử dụng ngân sách nhà nước để chi trả bồi thường cho người bị thiệt
hại. Do đó, phải bảo đảm cơ chế, điều kiện thuận lợi cho tổ chức, công dân tham gia
và giám sát việc thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về bồi thường.
Thứ sáu, tính đa dạng, phức tạp và thống nhất: Đặc điểm này thể hiện ở chỗ,
hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường do hai hệ thống cơ quan hành
17
pháp và tư pháp cùng tiến hành thực hiện, được quy định tại Điều 11 Luật
TNBTCNN và Nghị định số 16/2010/NĐ-CP, theo đó, Chính phủ thống nhất quản
lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành
án; TANDTC, VKSNDTC quản lý công tác bồi thường trong hoạt động tố tụng.
Như vậy, hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường thuộc phạm vi điều
chỉnh của Luật TNBTCNN được quy định theo mô hình phân tán, do hai hệ thống
cơ quan: cơ quan hành pháp (Chính phủ) và cơ quan tư pháp (TANDTC,
VKSNDTC) cùng thực hiện. Tuy nhiên, mặc dù có sự phân công trong thực hiện
quản lý nhà nước về các lĩnh vực (quy định tại Điều 11 Luật TNBTCNN), nhưng sự
thống nhất trong quản lý được thể hiện ở các điểm sau: Nội dung quản lý, phương
pháp quản lý nhà nước về công tác bồi thường cũng bao hàm các đặc điểm như trên
đã nêu và đặc biệt là quy định về hoạt động phối hợp thực hiện các nhiệm vụ quản
lý nhà nước về công tác bồi thường như: định kỳ hàng năm TANDTC, VKSNDTC
đều phải thông báo tình hình và kết quả thực hiện quản lý công tác bồi thường trong
hoạt động thuộc phạm vi do mình quản lý cho Chính phủ (thông qua Bộ Tư pháp là
cơ quan tham mưu, giúp Chính phủ thực hiện) để phục vụ cho hoạt động quản lý
nhà nước về công tác bồi thường trên phạm vi toàn quốc, cũng như tổng hợp chung
tình hình để báo cáo Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội khi có yêu cầu.
1.1.4.3. Nguyên tắc quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước
Nguyên tắc pháp chế trong hoạt động quản lý
Đảm bảo pháp chế được hiểu như là những điều kiện, những phương tiện và
những khả năng hiện thực trên thực tế đối với pháp luật hiện hành nhằm xây dựng
và củng cố chính quyền của dân, do dân, vì dân, bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của
công dân trên tất cả các mặt của đời sống xã hội.
Bảo đảm pháp chế trong quản lý hành chính Nhà nước suy cho cùng là hoạt
động thực thi pháp luật ngày càng có hiệu quả trong thực tế.
- Các yêu cầu cụ thể trong công tác thực hiện trách nhiệm bồi thường nhà nước:
+ Hoạt động đảm bảo pháp chế phải diễn ra trên cơ sở các quy định của Luật
trách nhiệm bồi thường của nhà nước
18
+ Hoạt động đảm bảo phải thực hiện một cách thường xuyên nhanh chóng và
kịp thời.
+ Các biện pháp bảo đảm pháp chế phải được phối hợp với nhau vì mỗi biện
pháp chỉ tác động tới một đối tượng nhất định trong một thời hạn nhất định.
Nguyên tắc đảm bảo công khai minh bạch
Đảm bảo minh bạch trong hoạt động quản lý nhà nước sẽ đem lại những lợi
ích như:
Gia tăng niềm tin vào chính phủ và các cơ quan hành chính nha nước nói
chung và cơ quan quản lý nhà nước về trách nhiệm bồi thường của nhà nước nói
riêng mục tiêu quan trọng của tất cả các quốc gia và ở bất cứ giai đoạn nào.. Butler
and Cantrell xác định có 5 cơ sở để tạo niềm tin, đó là sự nhất quán, trung thực,
công bằng, minh bạch và cởi mở. Một nghiên cứu của Bok đã cho rằng, công dân
thiếu sự tin tưởng vào các cơ quan nhà nước không phải xuất phát từ những sự thật
khách quan hay những khiếm khuyết trong hoạt động của những cơ quan này, mà
chính là do những ý kiến chủ quan về hoạt động của các cơ quan nhà nước và họ
không được cung cấp đầy đủ thông tin để đánh giá chính xác về hoạt động của các
cơ quan nhà nước. Nhà nghiên cứu Campbell cũng chỉ ra nguyên nhân thiếu sự tin
tưởng ở chính phủ và các cơ quan nhà nước là công dân không được cung cấp các
tài liệu, thông tin về hoạt động của các cơ quan này. Ông khẳng định, thông tin về
hoạt động của chính phủ là yếu tố vô cùng quan trọng để xây dựng niềm tin của
công dân. Nếu thiếu thông tin về hoạt động của chính phủ, niềm tin của công dân sẽ
giảm sút hoặc ở mức độ thấp và ngược lại, nếu có đầy đủ thông tin về hoạt động của
chính phủ thì niềm tin của công dân sẽ tăng lên. Điều này có được khi cơ quan nhà
nước có sự công khai, minh bạch về các hoạt động của mình khiến cho công dân có
nhận thức đó là một cơ quan cởi mở, trung thực và sẽ ảnh hưởng tích cực đến niềm
tin của họ vào nhà nước trong hoạt động thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình,
một trong số hoạt động đó là công tác trách nhiệm bồi thường của nhà nước .
Sự minh bạch sẽ giúp chuyển đổi từ văn hóa hành chính chỉ quan tâm đến việc
tuân thủ các quy định, quy trình, thủ tục sang quan tâm đến kết quả và chịu trách
19
nhiệm về các kết quả cần phải đạt được chứ không chỉ là trách nhiệm tuân thủ các
quy trình, thủ tục.
Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp quản lý theo lãnh thổ
Theo nguyên tắc này, các cơ quan tham mưu thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước về công tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính ở địa phương (Sở
Tư pháp, Phòng Tư pháp) thực hiện chức năng, nhiệm vụ về công tác bồi thường nhà
nước theo sự chỉ đạo về chuyên môn của của cơ quan nhà nước cấp trên. Tuy nhiên,
Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, cấp
huyện, nên cũng chịu sự quản lý, chỉ đạo về tổ chức, bộ máy và chỉ đạo hoạt động
của các cơ quan này (theo nguyên tắc tổ chức song trùng trực thuộc). Đối với quản lý
nhà nước trong hoạt động thi hành án, cơ quan thi hành án dân sự và cơ quan công an
(quản lý về thi hành án hình sự) tuy được tổ chức theo hệ thống ngành dọc, nhưng
đều phải đóng trụ sở và hoạt động trên một địa bàn cụ thể, nên cũng phải chịu sự
quản lý của chính quyền địa phương theo lãnh thổ. Chính vì vậy, mọi hoạt động quản
lý nhà nước về công tác bồi thường (trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành
án) không thể tách rời hoạt động chỉ đạo của cơ quan quản lý chuyên ngành và cơ
quan quản lý tại địa phương.
Đối với quản lý nhà nước về công tác bồi thường trong hoạt động tố tụng, cơ
quan thực hiện chức năng, nhiệm vụ này là TANDTC, VKSNDTC, ở địa phương
Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, có nhiệm vụ trao đổi
thông tin các vụ việc giải quyết bồi thường cho cơ quan quản lý nhà nước về công
tác bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính cùng cấp (Sở Tư pháp, Phòng
Tư pháp) để phục vụ hoạt động quản lý công tác bồi thường ở địa phương.
1.2. Quá trình hình thành và phát triển pháp luật quản lý nhà nước về công
tác bồi thường nhà nước ở Việt Nam
Chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước đã được Nhà nước ta
ghi nhận từ sau khi thành lập nước. Điều này được thể hiện ngay từ Hiến pháp năm
1959, Điều 29 Hiến pháp 1959 quy định: “Người bị thiệt hại về hành vi vi phạm
pháp luật của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”. Hiến pháp
năm 1980 khẳng định pháp luật bảo hộ tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm
20
của công dân bên cạnh việc xác định mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính
đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh. Người bị
thiệt hại có quyền được bồi thường (Điều 70 và Điều 73). Hiến pháp năm 1992 tiếp
tục khẳng định nguyên tắc “Mọi hoạt động xâm phạm lợi ích Nhà nước và lợi ích
hợp pháp của công dân đều bị xử lý theo pháp luật” (Điều 12), nhưng đã phân biệt
hai loại trách nhiệm: Điều 72 quy định trách nhiệm của cơ quan tố tụng “Người bị bắt
bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật
chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố
xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh”. Điều 74 quy định
“Mọi hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải
được xử lý nghiêm minh. người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và
phục hồi danh dự” [39, tr18, 19] Sách chuyên khảo Những vấn đề cơ bản của Luật
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước - Nhà xuất bản Tư pháp - năm 2009”.
Trên cơ sở nguyên tắc chung của Hiến pháp năm 1992 về việc bảo hộ quyền
lợi của tổ chức, cá nhân và trách nhiệm dân sự của người có hành vi gây thiệt hại,
để xác định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm này và khắc phục các tồn tại trước đây, Bộ
luật Dân sự 1995 đã quy định trách nhiệm bồi thường tại các điều 623 và 624.
Cụ thể hoá quy định của Bộ luật Dân sự, ngày 03/5/1997 Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 47/CP về giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức
nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.
Ngay sau khi Nghị định 47/CP ra đời, để quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành Nghị định 47/CP, các cơ quan có thẩm quyền quản lý Nhà nước trong lĩnh vực
có liên quan đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn quan trọng: ngày 4/6/1998 Ban
Tổ chức - cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ) đã ban hành Thông tư số
54/1998/TT-TCCP hướng dẫn thực hiện một số nội dung Nghị định 47/CP; Ngày
30/3/1998 Bộ tài chính đã ban hành Thông tư số 38/1998/TT-BTC hướng dẫn việc
lập dự toán ngân sách Nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức,
người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng gây ra.
21