Tải bản đầy đủ (.pdf) (132 trang)

Dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư từ thực tiễn Bệnh viện K

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (2.01 MB, 132 trang )

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ HÕA

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI CHO BỆNH NHÂN UNG THƢ
TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN K

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHAN THỊ HÕA

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI CHO BỆNH NHÂN UNG THƢ
TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN K
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM TIẾN NAM

HÀ NỘI, 2017




LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về “Dịch vụ công tác xã
hội cho bệnh nhân ung thƣ từ thực tiễn Bệnh viện K” là đề tài nghiên do tôi thực
hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Phạm Tiến Nam. Số liệu và kết quả nghiên cứu
trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, được trích dẫn theo đúng qui định hiện
hành.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên.
Tác giả luận văn

Phan Thị Hòa


LỜI CẢM ƠN
Để có được cuốn luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội với đề tài
“Dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư từ thực tiễn Bệnh viện K”, bên
cạnh sự nỗ lực của bản thân, trong quá trình thực hiện tôi luôn nhận được sự quan
tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo thuộc Học viện Khoa học xã hội – Viện
Hàn lâm Khoa học Việt Nam; các thầy, cô giáo tại Bộ môn Công tác xã hội –
Trường Đại học Y tế Công cộng; các cán bộ, nhân viên, người bệnh của Bệnh viện
cùng gia đình, bạn bè.
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Khoa Công
tác xã hội, Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Việt Nam đã truyền
đạt, chia sẻ cho tôi kiến thức quý báu trong suốt hai năm học tập. Đó là nguồn kiến
thức vô cùng hữu ích để giúp tôi vận dụng vào luận văn này. Tôi xin chân thành gửi
tới TS Phạm Tiến Nam - Giảng viên Khoa Công tác xã hội – Học viện Khoa học xã
hội; Giảng viên Bộ môn Công tác xã hội – Trường Đại học Y tế Công cộng lời cảm
ơn sâu sắc. Thầy đã luôn tận tình hướng dẫn, bổ sung, góp ý và động viên tôi trong
suốt thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn này.

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo và các bạn tại Bộ môn Công tác
xã hội – Trường Đại học Y tế Công cộng đã tư vấn, tham gia hỗ trợ tôi trong quá
trình thực hiện luận văn, trong đó có TS. Dương Minh Đức, Ths. Vũ Thị Thanh
Mai, CN. Nguyễn Kim Oanh, CN. Vũ Hải Đăng, CN. Cao Hữu Quang…
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo Bệnh viện K, CN. Phạm
Minh Tuấn - Trưởng phòng Điều dưỡng, Ths. Bs. Nguyễn Bá Tĩnh - Trưởng phòng
Công tác xã hội, và các anh/chị là nhân viên công tác xã hội, trưởng phó các khoa
điều trị, các điều dưỡng trưởng, các điều dưỡng viên đã giúp đỡ, tham gia nghiên
cứu, chia sẻ kinh nghiệm cũng như tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong công
việc để tôi tham gia thực hiện và hoàn thành luận văn này. Tôi cũng xin chân thành
cảm ơn toàn thể 436 bệnh nhân và thân nhân người bệnh tại bệnh viện K đã trực
tiếp hợp tác trả lời các bảng hỏi, các cuộc thảo luận nhóm, trao đổi phỏng vấn sâu
với tinh thần cởi mở, chia sẻ, nghiêm túc, để tôi có được dữ liệu tin cậy, khách quan
về thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại bệnh viện,
làm căn cứ đề xuất hoàn thiện dịch vụ công tác xã hội tại bệnh viện K trong thời
gian tới.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, người thân, bạn bè đã
luôn hỗ trợ, động viên và sát cánh bên tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành
luận văn thạc sĩ.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Tác giả
Phan Thị Hòa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG
TÁC XÃ HỘI CHO BỆNH NHÂN UNG THƢ.................................................... 14
1.1. Bệnh nhân ung thư: Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu ...................................... 14

1.2. Lý luận về cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư nói chung
và bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K....................................................................... 16
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh
nhân ung thư tại bệnh viện K .................................................................................... 24
1.4. Cơ sở pháp lý về cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư tại bệnh viện
K…………………… ................................................................................................ 27
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI CHO
BỆNH NHÂN UNG THƢ TẠI BỆNH VIỆN K ................................................... 35
2.1. Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu ................................................. 35
2.2. Thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh
viện K……. ............................................................................................................... 46
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã
hội cho bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K .............................................................. 57
Chƣơng 3 ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG CUNG CẤP
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI CHO BỆNH NHÂN UNG THƢ TỪ THỰC
TIỄN BỆNH VIỆN K.............................................................................................. 69
3.1. Định hướng tăng cường cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung
thư từ thực tiễn Bệnh viện K ..................................................................................... 69
3.2. Giải pháp tăng cường cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư
từ thực tiễn Bệnh viện K ........................................................................................... 73
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 80
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLĐTBXH

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội


BN

Bệnh nhân

BVK

Bệnh viện K

CS

Chính sách

CSBHYT

Chính sách bảo hiểm y tế

CSSXKD

Cơ sở sản xuất kinh doanh

CSSKND

Chăm sóc sức khỏe nhân dân

CTXH

Công tác xã hội

ĐT


Điều trị

K

Bệnh ung thư

KH

Kết hôn

NNBN

Người nhà bệnh nhân

NT

Nông thôn

Nxb

Nhà xuất bản

PVS

Phỏng vấn sâu



Quyết định


QH

Quốc hội

THCS

Trung học cơ sở

THPT

Trung học phổ thông

TCXH

Trợ cấp xã hội

TS

Tổng số

TT

Thành thị

TTg

Thủ tướng

TW


Trung ương

TLN

Thảo luận nhóm

UBND

Ủy ban nhân dân

UBNDTP

Ủy ban nhân dân Thành phố


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1. Đặc điểm bệnh lý và điều trị của bệnh nhân ung thư ............................... 38
Bảng 2.2. Đặc điểm tâm lýcủa bệnh nhân ung thư theo đặc điểm nhân khẩu và
điều trị ....................................................................................................................... 40
Bảng 2.3. Khác biệt về nhu cầu của các nhóm bệnh nhân về cung cấp dịch vụ chỉ
dẫn, tư vấn, thông tin điều trị bệnh ........................................................................... 43
Bảng 2.4. Khác biệt về nhu cầu hỗ trợ dịch vụ tâm lý – xã hội theo đặc điểm nhân
khẩu, đặc điểm điều trị bệnh và giai đoạn tâm lý của bệnh nhân ung thư ................ 45
Bảng 2.5. Thực trạng bệnh nhân ung thư được cung cấp dịch vụ thông tin, tư vấn khám,
chữa bệnh so với nhu cầu và tỉ lệ đánh giá dịch vụ đáp ứng nhu cầu của họ .................. 47
Bảng 2.6. Thực trạng bệnh nhân nhận được dịch vụ thông tin, truyền thông và giáo dục
pháp luật so với nhu cầu và tỉ lệ đánh giá dịch vụ đáp ứng nhu cầu của họ ................. 50
Bảng 2.7. Thực trạng bệnh nhân được cung cấp dịch vụ hỗ trợ tâm lý – xã hội so
với nhu cầu và tỉ lệ đánh giá dịch vụ đáp ứng nhu cầu ............................................ 53
Bảng 2.8. Thực trạng cung cấp dịch vụ tâm lý – xã hội quan tâm đến nhóm đặc

điểm bệnh lý và khả năng chi trả của bệnh nhân ..................................................... 54
Bảng 2.9. Đánh giá của bệnh nhân ung thư về dịch vụ hỗ trợ tâm lý – xã hội đáp
ứng nhu cầu của họ.................................................................................................... 55
Bảng 2.10. Thực trạng bệnh nhân ung thư được cung cấp dịch vụ hỗ trợ kết nối
nguồn lực và hỗ trợ từ thiện so với nhu cầu và đánh giá của họ .............................. 56
Sơ đồ 1.1. Mô hình phân tích định lượng và định tính về các yếu tố ảnh hưởng đến
thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại bệnh viện K ................................... 24


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Việt Nam cũng như trên thế giới, ung thư là một loại bệnh lý ác tính
không lây nhiễm, gia tăng nhanh chóng, điều trị phức tạp, chi phí tốn kém, gây
hoang mang lo lắng cho người dân, là thách thức của ngành y tế và cả cộng đồng.
Hiện nay, thế giới có 23 triệu người đang chung sống với ung thư, mỗi năm
có 14 triệu người mắc mới và 8,2 triệu người tử vong. Tại Việt Nam, số trường hợp
mắc mới tăng nhanh từ 68.000 ca năm 2000 lên 126.000 năm 2010 và dự kiến sẽ
vượt qua 190.000 ca vào 2020. Mỗi năm có khoảng 115.000 người chết vì căn bệnh
này, tương ứng 315 người/ngày [22]. Ung thư là một trong 10 gánh nặng chi phí
bệnh tật hàng đầu trong tổng số 74,3% gánh nặng bệnh tật do các bệnh không lây
nhiễm gây ra [23], chi phí mua thuốc điều trị thế hệ mới cho một bệnh nhân ung thư
phổi, gan, đại tràng, máu từ 500 triệu - 1,2 tỉ đồng/năm [15]. Trong năm 2012, mỗi
bệnh nhân ung thư phải chi 200 triệu đồng cho đều trị trực tiếp và gián tiếp; sau 1
năm điều trị, có 22,36% bệnh nhân gặp khó khăn về kinh tế, trong đó có gần 34%
không thể mua thuốc, 66,7% phải vay mượn chi dùng cho sinh hoạt, ăn uống, đi lại
chữa trị; 22% phải bán đi tài sản…[28].
Gánh nặng bệnh tật, chăm sóc và chi phí y tế gây ra vấn đề tâm lý cho bệnh
nhân ung thư như buồn phiền, lo lắng, chán nản, mặc cảm, tự ti, ngại giao tiếp, căng
thẳng, dễ bị kích động… Một số bệnh nhân thậm chí rơi vào tình trạng khủng

hoảng, tuyệt vọng, thay đổi tâm lý liên tục và có nguy cơ tự tử. Một số bệnh nhân
mất niềm tin vào quá trình chữa trị, gây nên những vấn đề về mối quan hệ xã hội
giữa bệnh nhân với người thân trong gia đình, bệnh nhân với đội ngũ y bác sỹ và cơ
sở khám chữa bệnh. Họ chính là đối tượng yếu thế phụ thuộc vào sự chữa trị, chăm
sóc của bệnh viện, nhân viên y tế, gia đình và nhân viên công tác xã hội.
Trên thế giới, công tác xã hội (CTXH) trong y tế hay bệnh viện đã phát triển
hơn một thế kỷ qua, đóng góp quan trọng về an sinh y tế và an sinh xã hội. Đối với
bệnh nhân ung thư, nhân viên CTXH được coi như một bác sĩ xã hội, hợp tác và hỗ
trợ nhân viên y tế góp phần giảm căng thẳng và áp lức, giảm tải bệnh viện; hỗ trợ,

1


tư vấn cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân yên tâm, tin tưởng tuân thủ phác đồ
điều trị; hỗ trợ tâm lý, nhận thức, kết nối nguồi lực, chăm sóc bệnh nhân ở khía
cạnh mối quan hệ xã hội…[49].
Tại Việt Nam, hiện đã có hệ thống khung pháp lý cơ bản của Chính phủ và
Bộ Y tế để tiến hành tổ chức các hoạt động công tác xã hội trong các bệnh viện[11],
[4], [6]. Đến nay, trên cả nước, đã có nhiều bệnh viện tuyến trung ương và tuyến
tỉnh thành lập phòng CTXH, cung cấp dịch vụ CTXH trong bệnh viện, góp phần đổi
mới phong cách, thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh, đáp ứng
yêu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của nhân dân. Tuy nhiên, thực tiễn áp
dụng chính sách còn nhiều khó khăn, bất cập.
Tại Bệnh viện K - bệnh viện chuyên khoa ung thư trực thuộc Bộ Y tế có định
hướng phát triển thành bệnh viện chuyên khoa ung thư hạng đặc biệt của Việt Nam,
mỗi năm có khoảng trên 360 ngàn lượt bệnh nhân khám và khoảng trên 36 ngàn
bệnh nhân điều trị, nhu cầu cần hỗ trợ dịch vụ CTXH là rất lớn. Ngày 1/7/2014, Tổ
Công tác xã hội trực thuộc Phòng Điều dưỡng đã được thành lập theo Quyết định số
474/QĐ-BVK của Ban giám đốc Bệnh viện[1] và chuyển đổi thành Phòng Công tác
xã hội vào tháng 5/2017. Các hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH tại bệnh viện bước

đầu tạo thuận lợi cho bệnh nhân ung thư được tiếp cận các dịch vụ CTXH nhằm giải
quyết các vấn đề gặp phải trong quá trình khám và điều trị.
Tuy nhiên do mới được thành lập, thiếu hụt nhân sự và nguồn lực cần thiết,
phòng CTXH chỉ mới tập trung hỗ trợ bệnh nhân ở khu vực khám bệnh và một số
hỗ trợ từ thiện mà chưa đủ các điều kiện và căn cứ thực tiễn để triển khai tốt các
dịch vụ hỗ trợ tâm lý – xã hội, dịch vụ truyền thông nâng cao nhận thức, giáo dục
pháp luật và kết nối nguồn lực... Vì vậy nghiên cứu đánh giá nhu cầu cung cấp dịch
vụ CTXH của các nhóm bệnh nhân ung thư theo đặc điểm nhân khẩu, đặc điểm tâm
lý và điều trị cũng như đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân
ung thư tại bệnh viện có vai trò quan trọng làm căn cứ thực tiễn để đề ra định
hướng, giải pháp nhằm tăng cường cung cấp dịch vụ CTXH chuyên nghiệp cho
bệnh nhân ung thư, góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, tăng cường sự
hài lòng của người bệnh tại bệnh viện.

2


Từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề “Dịch vụ công tác xã hội cho
bệnh nhân ung thư từ thực tiễn Bệnh viện K” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
tốt nghiệp thạc sĩ ngành công tác xã hội của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trên thế giới và tại Việt Nam đã có những nghiên cứu về CTXH cho bệnh
nhân ung thư trong bệnh viện, đóng góp vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực
tiễn về cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư. Các nghiên cứu được chia
thành hai nhóm với nội dung sau:
2.1. Một số nghiên cứu trên thế giới về thực trạng dịch vụ CTXH cho bệnh
nhân ung thư trong bệnh viện
2.1.1. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu cần cung cấp dịch vụ CTXH của bệnh
nhân ung thư
Theo Chandwani, Kavita D và các cộng sự (2012), tỷ lệ hiện mắc các rối

loạn tâm thần nói chung ở bệnh nhân ung thư dao động từ 24% đến 59%, tỷ lệ mắc
rối loạn trầm cảm dao động từ 0 đến 46%, đối với rối loạn lo âu là từ 1 đến 49%.
Tính trung bình, khoảng 1/3 bệnh nhân ung thư có các biểu hiện lo âu, căng thẳng
và đau khổ về tâm lý. Tỷ lệ mắc các rối loạn tâm lý thay đổi theo từng loại bệnh ung
thư và có khác biệt giữa các quốc gia; tỷ lệ rối loạn trầm cảm ở bệnh nhân ung thư
vú trung bình là 50% trong khi ở bệnh nhân mắc ung thư phổi là 67% [46]. Trầm
cảm ở bệnh nhân ung thư có mối liên hệ với một số đặc điểm nhân khẩu học, xã hội,
và các yếu tố liên quan đến điều trị bệnh, các yếu tố về tâm lý, lối sống, sự hỗ trợ xã
hội và chất lượng cuộc sống [45].
Dịch vụ được nhấn mạnh mà bệnh nhân ung thư cần cung cấp là trị liệu tâm
lý cho các rối loạn tâm thần, rối loạn lo âu và trầm cảm và hỗ trợ xã hội. Hầu hết
bệnh nhân sau chuẩn đoán ung thư vú đều có nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội và cung
cấp thông tin càng sớm càng tốt. Tâm lý lành mạnh, hạnh phúc của bệnh nhân là
yếu tố quan trọng góp phần điều trị bệnh ung thư vú hiệu quả. Hỗ trợ xã hội cũng là
yếu tố quan trọng để chất lượng cuộc sống tốt hơn và giảm mức độ các sang chấn
tâm lý mà bệnh nhân ung thư vú gặp phải[52].

3


2.1.2. Vai trò và thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư
Sau thế chiến thứ II (1945), ung thư đã trở thành một vấn đề y tế công cộng
hàng đầu ở nhiều nước phát triển trên thế giới. Đến những năm 1970, nhân viên
CTXH chuyên ngành ung bướu nổi lên như là một chuyên ngành trong CTXH tham
gia giải quyết các thách thức trong điều trị. Trong hơn 40 năm phát triển, nhân viên
CTXH chuyên ngành ung bướu đã có nhiều bước phát triển vượt bậc ở cả các nước
phát triển và đang phát triển [50]. Nhân viên CTXH chuyên ngành ung bướu là một
chuẩn bắt buộc với nhiều bệnh viện ở các nước phát triển; là một loại hình cán bộ
phải có hiểu biết về hai vai trò hoàn toàn khác biệt: (1) kiến thức và thực hành về
CTXH và (2) khoa học và nghệ thuật trong điều trị ung thư [47].Vai trò của họ là

“sử dụng tối đa các dịch vụ trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ của bệnh nhân, giúp
xây dựng các chiến lược ứng phó tối ưu và huy động tốt nhất các nguồn lực hỗ trợ
từ cộng đồng"[44]. Ở nhiều nước phát triển, nhân viên CTXH về ung bướu được
đào tạo các kiến thức và kỹ năng lâm sàng cũng như tâm lý học xã hội để đánh giá
nhu cầu, thực hiện can thiệp cho người bệnh và gia đình của họ để giúp họ có những
quyết định tốt nhất trong quá trình điều trị; đồng thời, nhân viên CTXH có thể làm
việc với các cán bộ y tế khác, đào tạo và giám sát các cán bộ trẻ hơn [48]. Hiệu
quả hoạt động của họ được chứng minh thông qua việc tăng tỷ lệ sống sót cũng như
chất lượng cuộc sống rõ rệt cho các bệnh nhân ung thư.
Nhân viên CTXH đang đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của bệnh nhân ung
thư, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển, nơi phần lớn các trường hợp ung thư
trên thế giới (56,8%) và tử vong do ung thư (64,9%) xảy ra ở đây. Tuy vậy, hiện các
cơ sở điều trị ung thư ở hầu hết các nước đang phát triển đều đang phải đối mặt với
các vấn đề về thiếu hụt nguồn nhân lực và tài chính để ngăn chặn, chẩn đoán, và
điều trị ung thư, cũng như cung cấp dịch vụ CTXH, chăm sóc hỗ trợ và giảm nhẹ để
giảm gánh nặng của căn bệnh này [44]. Thiếu hụt cán bộ và khâu tổ chức dịch vụ
yếu kém dẫn đến sự chậm trễ trong chẩn đoán, chẩn đoán sai và thiếu các dịch vụ
chăm sóc và tư vấn hỗ trợ cho bệnh nhân [53]. Bên cạnh đó, việc cung cấp các dịch
vụ đặc thù như dịch vụ CTXH thường chỉ được thực hiện bởi các cán bộ được đào

4


tạo chung để làm việc trong các hệ thống y tế công cộng thay vì những cán bộ được
đào tạo chuyên ngành ung thư [50].
Việc thiếu hụt cán bộ được đào tạo chuyên ngành như điều dưỡng và cán bộ
CTXH là một vấn đề toàn cầu đe dọa đến việc tiếp tục cải thiện hiệu quả của các
dịch vụ điều trị và chăm sóc người bệnh ung thư ở các nước có thu nhập thấp và
trung bình. Đây được coi là một trong những thách thức hàng đầu trong việc chăm
sóc người bệnh ung thư hiện nay.

2.2. Một số nghiên cứu về dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư ở Việt Nam
2.2.1. Đặc điểm nhân khẩu, tâm lý, nhu cầu cung cấp dịch vụ CTXH của
bệnh nhân ung thư.
Các nghiên cứu ghi nhận rằng, tại nhiều cơ sở y tế trên toàn quốc có số bệnh
nhân nam điều trị nội trú cao hơn số bệnh nhân nữ (57% so với 43%), tập trung ở
nhóm tuổi 50-69 (khoảng 2/3 số bệnh nhân), chiếm tỉ lệ cao nhất là nông dân và
công nhân (khoảng 1/3) và tiếp theo là nhóm công chức nhà nước (khoảng 1/5) [7].
Bệnh nhân ung thư có chất lượng sống thấp, sức khỏe yếu do gặp thêm các bệnh lý
mãn tính khác (42%) hoặc do sức khỏe yếu, các khuyết tật chức năng khác (58%)
hạn chế khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày (11%). Những người
dưới 65 tuổi và không có khả năng lao động chiếm 17% [42]. Đa số bệnh nhân ung
thư có hoàn cảnh kinh tế trung bình và nghèo (92%), vì vậy gặp khó khăn trong
điều trị. Họ cần được hỗ trợ về vật chất để được tiếp cận thuốc điều trị ung thư [42].
Trong năm 2012,mỗi bệnh nhân ung thư phải chi 200 triệu đồng cho đều trị trực
tiếp và gián tiếp, sau 1 năm điều trị, có 22,36% bệnh nhân bị khó khăn về kinh tế,
trong đó có gần 34% bệnh nhân không thể mua thuốc; 24% bệnh nhân không thể
thanh toán tiền gas, điện, nước; 21% không thể thanh toán chi phí đi lại và có tới
15,2% không có tiền mua đồ ăn uống. Để giải quyết những vấn đề này, 66,7% bệnh
nhân phải vay mượn; 22% bệnh nhân phải bán đi tài sản [28].
Bệnh nhân thường bị khủng hoảng tâm lý khi phát hiện bị bệnh ung thư, do
gánh nặng gia đình, định kiến xã hội, tâm lý chán nản khi phải phụ thuộc cuộc sống
tại bệnh viện..., hơn 1/2 bệnh nhân ung thư vú cảm thấy suy sụp và bất lực khi biết
mình mắc bệnh [29], bệnh nhân ung thư dạ dày có 2/3 rối loạn trầm cảm và trên

5


80% rối loạn lo âu [18], các biểu hiện lâm sàng thường gặp là lo sợ, mệt mỏi, buồn
chán, khí sắc trầm, giảm hoạt động [32].
Hầu hết các bệnh nhân ung thư gặp các vấn đề về tâm lý có nhu cầu được tư

vấn tâm lý, giảm căng thẳng (>80%); tư vấn chăm sóc bản thân và tư vấn giao tiếp
(khoảng 50%). Bên cạnh đó, phần lớn bệnh nhân (>80%) cần tư vấn nội dung liên
quan đến diễn biến bệnh, tiên lượng bệnh, phương thức điều trị, các tác dụng phụ
của thuốc, cách chăm sóc trong quá trình điều trị và chi phí cho điều trị. Ngoài ra,
họ cũng mong muốn được tư vấn trực tiếp bởi bác sỹ điều trị tại phòng tư vấn riêng
sau khi đã có chẩn đoán xác định và trước khi ra viện. Họ cũng có các nhu cầu được
cung cấp thông tin về các mạng lưới, hỗ trợ tài chính, tư vấn chăm sóc con cái và tư
vấn sức khỏe tình dục [21].
2.2.2. Vai trò và thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư
Theo Lý Thị Hảo (2016), một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ hài lòng của
người bệnh về hoạt động giao tiếp với cán bộ y tế với người bệnh là trên 3/4. Tuy
nhiên, bệnh nhân ung thư nhận được khá ít các dịch vụ hỗ trợ về giải quyết các thủ
tục hành chính, về chi phí điều trị hoặc các chính sách dành cho người bệnh ung
thư. Ba yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến nhu cầu hỗ trợ tâm lý - xã hội của bệnh nhân
ung thư là kinh tế của người bệnh, người chăm sóc và tinh thần người bệnh[21].
Vai trò cần thiết của nhân viên CTXH được khẳng định dưới góc nhìn của
người đào tạo CTXH và cán bộ quản lý bệnh viện. Nhân viên CTXH là thành phần
không thể thiếu của nhóm chăm sóc bệnh nhân ung thư với tiêu chí lấy người bệnh
làm trung tâm [36]. Dù không tham gia vào hoạt động điều trị bằng y học nhưng họ
là người hỗ trợ về mặt tâm lý – xã hội tích cực cho người bệnh và gia đình, kết nối
các nguồn lực trợ giúp khác [29]. Tuy vậy, hiện ở Việt Nam, các bệnh viện ung thư
vẫn chưa có đội ngũ nhân viên CTXH, các công việc chăm sóc bệnh nhân chủ yếu
là gia đình, và cán bộ y tế không được đào tạo chuyên môn CTXH [26].
Hiện mô hình thử nghiệm CTXH mới đang được tiến hành ở một số bệnh
viện lớn, đánh giá ban đầu cho thấy, trong dịch vụ tư vấn chuyên sâu cho bệnh nhân
ung thư, nhân viên CTXH đóng vai trò trong việc kết nối, chuyển giao tới nhân viên
y tế có chuyên môn để tư vấn cho bệnh nhân [36]. Tuy vậy, một số điểm yếu cũng

6



được đề cập bao gồm việc triển khai mô hình thực hiện vai trò mang nặng tính từ
thiện, nhân viên CTXH tập trung vào kết nối nguồn lực, huy động cộng đồng mà
chưa chú trọng đến các dịch vụ trợ giúp khác của CTXH cho bệnh nhân[31].
Kết quả các nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy, dịch vụ CTXH
chuyên ngành ung bướu có vai trò khá quan trọng như một bác sĩ xã hội tham gia
vào việc hỗ trợ tâm lý, động viên, khuyến khích bệnh nhân tham gia có hiệu quả
hơn trong vào quá trình điều trị. Tuy nhiên, ở các bệnh viện Việt Nam, các hoạt
động cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân hiện còn nhiều hạnh chế và còn ít
được nghiên cứu thực tiễn, ngoài thực tế nhân viên CTXH còn ít kiến thức lâm sàng
hoặc người chăm sóc bệnh nhân ung thư chủ yếu là gia đình và nhân viên y tế
không có chuyên ngành về CTXH. Chính vì vậy, nội dung nghiên cứu của luận văn
này tập trung mô tả nhu cầu, thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp
dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường
cung cấp dịch vụ CTXH đáp ứng nhu cầu người bệnh. Hy vọng sẽ tạo thêm một
luận cứ về vai trò của CTXH trong hỗ trợ điều trị, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế,
tạo sự hài lòng cho bệnh nhân ung thư từ thực tiễn bệnh viện K.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung
thư đang điều trị tại bệnh viện K; phân tích các yếu tố ảnh hưởng; từ đó đề xuất một
số định hướng và giải pháp tăng cường hiệu quả cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh
nhân ung thư tại bệnh viện K.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung vào giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Tổng hợp, phân tích những vấn đề lý luận về công tác xã hội cho bệnh
nhân ung thư.
- Phân tích, đánh giá thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động
cung cấp dịch vụ CTXH đáp ứng nhu cầu cho bệnh nhân ung thư từ thực tiễn bệnh

viện K.

7


- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ
công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư điều trị tại bệnh viện K.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư từ thực tiễn bệnh viện K.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu vấn đề lý luận và thực tiễn về cung cấp
dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K, cụ thể là cung cấp 4 dịch
vụ: (1) Dịch vụ cung cấp thông tin, tư vấn khám, chữa bệnh; (2) Dịch vụ truyền
thông nâng cao nhận thức và phổ biến pháp luật; (3) Dịch vụ hỗ trợ tâm lý - xã hội;
(4) Dịch vụ kết nối nguồn lực và hỗ trợ từ thiện.
- Phạm vi về khách thể:
+ Khảo sát định lượng với 418 bệnh nhân trong đó có 203 nam (chiếm
48.6%) và 215 nữ (chiếm 51,4%).
+ Khảo sát định tính: được thực hiện với 30 người, bao gồm 18 bệnh nhân và
người nhà bệnh nhân, 12 lãnh đạo, nhân viên y tế, nhân viên công tác xã hội.
- Phạm vi về địa điểm: Tại Bệnh viện K, tại trụ sở chính Tân Triều và cơ sở
Tam Hiệp; tại 04 khoa Ngoại (phẫu thuật); 02 khoa Nội (truyền hóa chất); 03 khoa
Xạ và 01 khoa chăm sóc giảm nhẹ.
- Phạm vi về thời gian: Từ tháng 4/2017 đếntháng 9/2017.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận:
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa
duy vật lịch sử cùng hệ thống các quan điểm, chính sách, pháp luật, qui định của
Đảng và Nhà nước Việt Nam, Bộ Y tế về chăm sóc sức khỏe nhân dân; chăm sóc

sức khỏe và bảo trợ xã hội cho bệnh nhân nghèo; cung cấp dịch vụ CTXH trong
bệnh viện; hướng đến một nền y tế công bằng - hiệu quả - phát triển; quan điểm
phát triển nghề CTXH trong bệnh viện và trợ giúp bệnh nhân ung thư với các giá
trị, nguyên tắc, kỹ năng nghề nghiệp.

8


Phương pháp duy vật biện chứng đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu phải đặt
cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư trong bệnh viện với mối quan hệ
tương tác khách quan tất yếu với các yếu tố khác như quản lý nhà nước, cộng đồng
hỗ trợ, đơn vị và các nhân tố trực tiếp cung cấp dịch vụ (nhân viên CTXH và mạng
lưới hỗ trợ), đồng thời, xem xét trong bối cảnh điều kiện, đặc điểm, nhu cầu của
chính bệnh nhân….Các định hướng và giải pháp đề xuất không thể chỉ hướng tới
các mối quan hệ nội tại bên trong các nhân tố cung cấp dịch vụ trực tiếp như trình
độ kiến thức, kỹ năng chuyên môn của nhân viên CTXH; trách nhiệm, vai trò, ý
thức của mạng lưới hỗ trợ; đặc điểm đối tượng trợ giúp; mà còn phải có các giải
pháp tác động vào các chủ thể xây dựng cơ chế, chính sách, tổ chức thực hiện và
quản lý chất lượng cung cấp dịch vụ để có được hiệu quả trợ giúp cao nhất.
Với phương pháp duy vật lịch sử, khi nghiên cứu đòi hỏi phải đặt đối tượng,
cụ thể ở đây là cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K
trong hoàn cảnh môi trường xã hội, thời gian cụ thể mà hoạt động này được triển
khai. Trong bối cảnh thực tế, bệnh viện K là bệnh viện chuyên ngành ung bướu của
Bộ Y tế, số lượng bệnh nhân đông, nhu cầu cung cấp dịch vụ CTXH lớn; trong khi
đó, Phòng CTXH mới được thành lập, nhân sự thiếu và yếu; mặc dù việc cung cấp
dịch vụ CTXH được lãnh đạo Bệnh viện quan tâm, nhưng quá trình thực hiện còn
nhiều khó khăn, hoạt động chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tiễn; cơ chế
phối hợp trong mạng lưới cung cấp dịch vụ nội bộ và bên ngoài bệnh viện chưa
được đồng bộ… Phương pháp duy vật lịch sử cũng đòi hỏi khi nghiên cứu phải
nắm vững những quan điểm, chủ trương và đường lối ứng với những thời điểm, giai

đoạn cụ để đề ra những phương hướng, giải pháp phù hợp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
*Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp trong và ngoài nước
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp được thực hiện trong các giai
đoạn như phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá và khái quát hoá cơ sở lý luận và thực
tiễn về các vấn đề liên quan đến nội dung của nhiệm vụ nghiên cứu:
 Bệnh nhân ung thư, đặc điểm tâm lý và nhu cầu cung cấp dịch vụ công
tác xã hội

9


 Khái niệm, cơ sở pháp lý, chính sách và nội dung cung cấp dịch vụ công
tác xã hội cho bệnh nhân ung thư trên thế giới, tại Việt Nam và tại bệnh viện K.
Loại tài liệu bao gồm: báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, bài báo nghiên
cứu, báo cáo thống kê, báo cáo chuyên ngành, bài viết tổng quan, sách, báo cáo hội
thảo khoa học, giáo trình…. Nguồn tài liệu: Chỉ sử dụng các tài liệu có nguồn gốc
rõ ràng, đáng tin cậy, bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, nghiên
cứu của các cá nhân/tổ chức đã công bố hoặc chưa xuất bản.; Về ngôn ngữ: Tiếng
Việt và tiếng Anh…
*Phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi:
- Sử dụng với mục đích thu thập thông tin định lượng bằng cách phỏng vấn
người được hỏi trả lời trực tiếp vào bảng hỏi thiết kế sẵn.
- Bảng hỏi được thiết kế gồm 2 phần: Phần 1: Tìm hiểu thông tin về bệnh
nhân (đặc điểm nhân khẩu học, tình trạng bệnh tật, tình trạng chữa trị, đặc điểm tâm
lý, người chăm sóc, tình trạng bảo hiểm y tế, khả năng chi trả); Phần II về thực
trạng nhu cầu và thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư, đánh
giá của bệnh nhân mức độ đáp ứng của dịch vụ đối với nhu cầu của họ.
* Phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận
nhóm:

- Sử dụng với mục đích thu thập các thông tin định tính về quan điểm của
bệnh nhân, người nhà bệnh nhân; quan điểm của lãnh đạo, nhân viên y tế, nhân viên
CTXH trong bệnh viện của về nhu cầu và thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH tại
bệnh viện và các đề xuất giải pháp tăng cường cung cấp dịch vụ.
- Phương pháp thảo luận nhóm: Nhằm tìm hiểu thông tin sâu với nhóm
bệnh nhân nam, nữ và người nhà bệnh nhân, nhân viên điều dưỡng và nhân viên
công tác xã hội. Sử dụng bản gợi ý nội dung bán cấu trúc.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được sử dụng với bệnh nhân, người nhà
bệnh nhân, lãnh đạo bệnh viện, nhân viên điều dưỡng, nhân viên công tác xã hội.
*Phương pháp chọn mẫu:
- Chọn mẫu với khảo sát định lượng: công thức chọn mẫu đáp ứng mức ý
nghĩa thông kê của nghiên cứu là 95%. Công thức chọn mẫu định lượng là:

10


Trong đó:
n= cỡ mẫu cần khảo sát; N không biết trước.
z2(1 – α/s): mức tin cậy định trước tối thiếu = 0,95
P: tỉ lệ P cần ước lượng = 0,05 để có được mức ý nghĩa thông kê của nghiên
cứu là 95%;
d: sai số tuyệt đối = 0,05
o Tổng số mẫu định lượng (n) đã được đưa vào nghiên cứu là 420 người
(385 người + 10% đề phòng bỏ cuộc), mẫu nghiên cứu thực tế là 418 người; được
lựa chọn phân phối tương đương theo giới và theo 4 nhóm khoa điều trị phẫu thuật,
hóa trị, xạ trị và chăm sóc giảm nhẹ.
o Tiêu chuẩn chọn mẫu: Bệnh nhân được chuẩn đoán mắc bệnh lý ung thư,
đang điều trị tại bệnh viện; đồng ý trả lời phỏng vấn; người nhà đồng ý trả lời thay
thế cho bệnh nhân trong trường hợp bệnh nhân không đủ sức khỏe trả lời.
- Chọn mẫu cho khảo sát định tính: được thực hiện với 30 người, bao gồm:

+ Với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân: 18 người (08 ngườivới nhóm thảo
luận bệnh nhân nam khoa Nội 1; 05 người với nhóm thảo luận nhóm bệnh nhân nữ
khoa Ngoại 1; phỏng vấn sâu 03 bệnh nhân và 02 người nhà bệnh nhân)
+ Với Lãnh đạo bệnh viện và nhân viên điều dưỡng, nhân viên công tác xã
hội: 12 người (07 nhân viên CTXH với nhóm thảo luận, phỏng ván sâu 01 trưởng
phòng điều dưỡng, 01 trưởng phòng Công tác xã hội, 01 nhân viên công tác xã hội,
01 trưởng khoa, 01 điều dưỡng trưởng)
*Phương pháp thống kê toán học:
Đề tài sử dụng phần mềm xử lý thống kê số liệu SPSS phiên bản 20.0 dùng
trong môi trường windown dành cho các nghiên cứu khoa học xã hội để việc xử lý
số liệu khảo sát đảm bảo được tính khách quan, khoa học. Các thông số và phép
toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này nhằm phân tích thống kê mô tả và
thống kê suy luận hồi qui logictic nhằm đáp ứng các nhiệm vụ nghiên cứu.

11


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn đã làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH cho
bệnh nhân ung thư tại bệnh viện K thông qua thu thập, phân tích, hệ thống hóa tài
liệu, các văn bản luật pháp, chính sách, quyết định và các nghiên cứu trong ngoài
nước, trong đó đã thống nhất các khái niệm cơ sở, xây dựng nội dung dịch vụ
CTXH trong bệnh viện K phù hợp thực tiễn và nhu cầu bệnh nhân, xác định các yếu
tố ảnh hưởng; xác định hệ thống cơ sở pháp lý từ quan điểm, chính sách của Đảng
Nhà nước, bộ Y tế và của bệnh viện về chăm sóc sức khỏe nhân dân; khám chữa
bệnh cho bệnh nhân ung thư, cung cấp dịch vụ CTXH trong bệnh viện.
Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, thực
hành, quản lý và giảng dạy trong lĩnh vực công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư
trong bệnh viện.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đối với người bệnh và thân nhân người bệnh: Đề tài góp phần tác động
nâng cao chất lượng cung cấp dịch CTXH, chất lượng khám chữa bệnh cho người
bệnh tại bệnh viện K thông qua mô tả nhu cầu bênh nhân các khuyến nghị, giúp họ
đáp ứng tốt hơn với phác đồ điều trị.
- Đối với các cán bộ, nhân viên y tế: Đề tài cung cấp cái nhìn khái quát về
đặc điểm nhân khẩu, tâm lý, nhu cầu của bệnh nhân ung thư để giúp lập kế hoạch và
thực hiện các giải pháp cung cấp dịch vụ CTXH chuyên nghiệp, hiệu quả, sát hợp
với tình hình thực tiễn.
- Đối với cán bộ quản lý bệnh viện: Đề tài cung cấp các số liệu thực tiễn về
nhu cầu và thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH, các khuyến nghị của các bên liên
quan, là cơ sở để tham mưu, tư vấn và xây dựng các chính sách, chương trình phù
hợp, hiệu quả, nâng cao chất lượng chỉ đạo và triển khai cung cấp dịch vụ CTXH
cho bệnh nhân ung thư tại bệnh viện.
- Đối với cộng đồng, các nhà tài trợ, hảo tâm: Đề tài cung cấp cái nhìn
khách quan về thực trạng nhân khẩu học, đặc điểm tâm lý, nhu cầu của bệnh nhân,
khả năng chi trả y tế, giúp cộng đồng thực hiện tăng cường xã hội hóa công tác

12


cung cấp dịch vụ CTXH, chăm sóc người bệnh hiểm nghèo có hoàn cảnh đặc biệt
khó khăn trong bệnh viện và cả ở cộng đồng, đáp ứng nhu cầu của họ.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân
ung thư.
Chương 2: Thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư từ
thực tiễn Bệnh viện K.

Chương 3: Định hướng và giải pháp tăng cường cung cấp dịch vụ CTXH đáp
ứng nhu cầu bệnh nhân K từ thực tiễn Bệnh viện K.

13


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
CHO BỆNH NHÂN UNG THƢ
1.1. Bệnh nhân ung thƣ: Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu
1.1.1. Khái niệm bệnh nhân ung thư
*Bệnh nhân:
Đề tài sử dụng khái niệm “bệnh nhân” đồng nghĩa với người bệnh theo Luật
khám, chữa bệnh (2009) [33]. Theo đó, người bệnh (bệnh nhân) là người sử dụng
dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh (Điều 2). Bệnh nhân khi đến khám bệnh và chữa
bệnh tại bệnh viện sẽ được bác sĩ thực hiện các qui trình khám – chẩn đoán bệnh và
chỉ định phương pháp điều trị phù hợp theo qui định và đã được công nhận giúp
điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng.
* Ung thư:
Cùng với nhiều định nghĩa khác nhau về ung thư, Quỹ sáng kiến Y tế Mỹ
gốc Á cho rằng: “Ung thư là thuật ngữ dùng cho những căn bệnh trong đó các tế
bào bất thường phân chia vượt ngoài tầm kiểm soát và có thể lan truyền qua các mô
khác, ….. có thể tạo thành khối gọi là khối u ác tính. Có hơn một trăm loại ung thư
và mỗi loại có một chế độ đề phòng, bảo vệ và điều trị khác nhau” [19].
Tổng hợp, kế thừa từ các khái niệm liên quan, tôi xây dựng khái niệm ung
thư như sau: “Ung thư là một nhóm các bệnh phản ảnh những sự thay đổi về sinh
sản, tăng trưởng và chức năng của tế bào. Các tế bào bình thường trở nên bất
thường (đột biến) và tăng sinh một cách không kiểm soát, xâm lấn các mô ở gần
(xâm lấn cục bộ) hay ở xa (di căn) qua hệ thống bạch huyết hay mạch máu. Di căn
là nguyên nhân gây tử vong chính của ung thư. Hiện có khoảng 200 bệnh ung thư

khác nhau”.
* Bệnh nhân ung thư:
Qua tìm hiểu, nghiên cứu một số tài liệu, tôi đưa ra quan niệm về bệnh nhân
ung thư như sau: “Bệnh nhân ung thư là người sử dụng dịch vụ khám, chữa bệnh
được chẩn đoán bệnh lý ung thư, giảm sút sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần
(tâm lý) và sức khỏe xã hội (các mối quan hệ xã hội). Họ thuộc nhóm đối tượng yếu

14


thế, phải phụ thuộc vào bệnh viện và các nhân viên y tế, cần được trợ giúp các dịch
vụ công tác xã hội”.
1.1.2. Một số đặc điểm tâm lý và nhu cầu của bệnh nhân ung thư
*Một số đặc điểm tâm lý của bệnh nhân ung thư
Chất trên vai gánh nặng bệnh tật, chăm sóc, điều trị, cộng với quan niệm
trong cộng đồng: “mắc ung thư là nhận án tử hình”, các nghiên cứu cho thấy bệnh
nhân ung thư có tâm lý chán chường, buồn phiền, lo lắng, căng thẳng, mặc cảm, tự
ti, ngại giao tiếp, thậm chí có thể rơi vào tình trạng khủng hoảng, tuyệt vọng, bị kích
động và có nguy cơ tự tử. Một số bệnh nhân mất niềm tin vào quá trình chữa trị, gây
nên những vấn đề về mối quan hệ xã hội giữa bệnh nhân với người thân trong gia
đình, bệnh nhân với đội ngũ y bác sỹ và cơ sở khám chữa bệnh.
Trích dẫn từ Triệu Thị Biển (2012), theo Kubler-Ross (1970), mô hình diễn
biến tâm lý của bệnh nhân ung thư có 5 giai đoạn, viết tắt là mô hình DABDA
(Denial – từ chối/phủ nhận) – Anger (giận dữ/phẫn nộ) – Bargaining (thương
lượng/mặc cả) – Depression (trầm cảm) – Acceptance (chấp nhận). Người bệnh trải
qua giai đoạn 1, với tâm lý phủ nhận thông tin, chối bỏ, sốc và không tin vào chẩn
đoán; giai đoạn 2, người bệnh chuyển từ tâm lý phủ nhận sang tâm lý dễ bị kích
động, khó tính, hay đòi hỏi, họ có thể nổi cơn giận, làm cho việc giao tiếp với mọi
người xung quanh trở nên khó khăn; giai đoạn 3 người bệnh mong muốn thương
lượng, mặc cả, họ mong được kéo dài sự sống, trì hoãn cái chết, giai đoạn 4, bệnh

nhân rơi vào tâm lý trầm cảm. Giai đoạn 5 là tâm lý chấp nhận. Đây là mô hình
được sử dụng khá phổ biến trong các hội thảo, hội nghị về đặc điểm tâm lý của bệnh
nhân ung thư [8].
*Nhu cầu cung cấp dịch vụ CTXH của bệnh nhân ung thư
Theo Bùi Ngọc Dũng và cộng sự (2011), nhu cầu của bệnh nhân ung thư
được khái quát ở 5 nhóm nhu cầu [17]: (1) Nhu cầu hỗ trợ tâm lý (2) Nhu cầu về
thông tin y tế (3) Nhu cầu về dịch vụ chăm sóc của người bệnh (4) Nhu cầu hỗ trợ
thể chất, sinh hoạt hằng ngày (5) Nhu cầu giao tiếp, duy trì quan hệ xã hội.
Trong nghiên cứu này, nhu cầu cung cấp dịch vụ CTXH của bệnh nhân ung
thư được căn cứ theo thông tư hướng dẫn của Bộ y tế về nhiệm vụ CTXH trong

15


bệnh viện, và bổ sung dựa trên thực tiễn hoạt động nghề CTXH trong bệnh viện tại
Việt Nam và trên thế giới, được chi tiết hóa ở 4 nhóm nhu cầu mà bệnh nhân cần:
(1) Nhu cầu cung cấp thông tin, tư vấn khám, chữa bệnh gồm 2 nội dung: (a) Dịch
vụ chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh, (b) Dịch vụ tư vấn thông
tin điều trị bệnh; (2) Nhu cầu cung cấp dịch vụ thông tin, truyền thông và phổ biến,
giáo dục pháp luật; ( 3) Nhu cầu cung cấp dịch vụ hỗ trợ tâm lý – xã hội; (4) Nhu
cầu cung cấp dịch vụ kết nối nguồn lực và hỗ trợ từ thiện. Nội dung chi tiết trong
các nhóm nhu cầu này so với qui định của Bộ y tế về nhiệm vụ công tác xã hội
trong bệnh viện có bổ sung các dịch vụ tư vấn thông tin điều trị bệnh (hỗ trợ đội
ngũ bác sĩ nhân viên y tế giảm bớt quá tải bệnh viện; giúp bệnh nhân tuân thủ tốt
hơn phác đồ điều trị) và trị liệu tâm lý - can thiệp khủng hoảng cho bệnh nhân nhằm
giải tỏa lo âu căng thẳng tâm lý xuất phát trong quá trình điều trị bệnh. Chi tiết nội
dung các dịch vụ được giải thích rõ hơn trong nội dung lý luận về cung cấp dịch vụ
CTXH cho bệnh nhân ung thư dưới đây.
1.2. Lý luận về cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thƣ
nói chung và bệnh nhân ung thƣ tại bệnh viện K

1.2.1. Một số khái niệm
*Dịch vụ:
Theo cuốn Từ điển Tiếng Việt (2004), dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp
cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công. Luận văn sử
dụng khái niệm dịch vụ theo từ điển Tiếng Việt này.
* Dịch vụ công tác xã hội:
Theo Đề án phát triển nghề CTXH giai đoạn 2010 – 2020 tại Quyết định số
32/2010/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, CTXH được định nghĩa:
“CTXH là hoạt động mang tính chuyên môn, được thực hiện theo các nguyên tắc và
phương pháp riêng nhằm hỗ trợ các cá nhân, gia đình, nhóm xã hội và cộng đồng
dân cư trong việc giải quyết các vấn đề của họ. Qua đó, CTXH theo đuổi mục tiêu
vì hạnh phúc cho con người và tiến bộ xã hội".
Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2013): “Dịch vụ công tác xã hội có thể được
coi là một loại hình dịch vụ xã hội được cung cấp, điều phối bởi các nhân viên công

16


tác xã hội. Việc cung cấp các dịch vụ công tác xã hội không thể tách rời với các
dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ truyền thông và các dịch vụ khác. Chính vì
vậy, nhân viên công tác xã hội phải có sự nối kết chặt chẽ với các dịch vụ xã hội
khác trong quá trình thực hiện dịch vụ công tác xã hội” [27]. Luận văn sử dụng khái
niệm dịch vụ CTXH cùa tác giả Bùi Thị Xuân Mai.
*Dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư:
Trong đề tài này, từ các khái niệm liên quan, tôi xây dựng khái niệm dịch vụ
công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư là: “Dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân
ung thư là các hoạt động do cơ sở có chức năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội,
các nhân viên công tác xã hội thực hiện nhằm ứng dụng chuyên nghiệp các giá trị,
nguyên tắc, kỹ năng công tác xã hội hỗ trợ trực tiếp bệnh nhân ung thư góp phần
giảm bớt gánh nặng bệnh tật; xây dựng mối quan hệ hài hoà giữa thể chất và tinh

thần người bệnh,giữa người bệnh với người thân, giữa bệnh nhân với những người
xung quanh, giữa bệnh nhân và cơ sở y tế, đáp ứng tốt phác đồ điều trị, nâng cao
chất lượng khám chữa bệnh”.

1.2.2.Các nguyên tắc cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân
ung thư
Dựa vào nội dung khái niệm cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung
thư, nguyên tắc cung cấp dịch vụ cho bệnh nhân ung thư cần tuân thủ theo các
nguyên tắc chung của nghề CTXH. Các nguyên tắc trong cung cấp dịch vụ CTXH
cho bệnh nhân ung thư cần được thự hiện như sau:
Thứ nhất, nguyên tắc chấp nhận bệnh nhân: nhân viên CTXH trong quá trình
trợ giúp bệnh nhân cần thừa nhận quyền được tôn trọng, chấp nhận bệnh nhân cho
dù bệnh nhân ung thư thuộc hoàn cảnh nào, bị bất cứ loại bệnh ung thư nào hay có
điều kiện sống, hành vi ra sao.
Thứ hai, nguyên tắc bệnh nhân cùng tham gia giải quyết vấn đề: Là nguyên
tắc cơ bản của nghề CTXH. Nhân viên CTXH cần khơi dậy, giúp đỡ bệnh nhân
phát huy nội lực của họ để cùng tham gia giải quyết vấn đề khó khăn họ gặp phải.
Bởi vì, hơn bất cứ ai, bệnh nhân là người hiểu họ có nhu cầu gì, đang gặp phải vấn
đề gì, hoàn cảnh và khả năng giải quyết vấn đề ra sao. Họ cần tham gia từ khâu
đánh giá vấn đề, lựa chọn và thực hiện giải pháp đến đánh giá kết quả.

17


Thứ ba, nguyên tắc tôn trọng quyền tự quyết của người bệnh: Nhân viên
CTXH không áp đặt ý kiến chủ quan, không quyết định thay bệnh nhân, mà chỉ
đóng vai trò là người xúc tác, giúp đỡ bệnh nhân đưa ra quyết định đúng đắn, phù
hợp với hoàn cảnh, có trách nhiệm và tự tin với lựa chọn của mình.
Thứ tư, nguyên tắc đảm bảo sự khác biệt (cá biệt hóa): Nhân viên CTXH
cần dựa trên đặc điểm khác biệt về nhân khẩu, tính cách, văn hóa, khả năng của

bệnh nhân để đáp ứng đúng nhu cầu và lợi ích thiết thực của họ, tránh bảo thủ, cứng
nhắc trong quá trình trợ giúp bệnh nhân.
Thứ năm, nguyên tắc giữ bí mật: Nhân viên CTXH cần tôn trọng và bảo mật
các vấn đề riêng tư của bệnh nhân, tạo điều kiện để bệnh nhân chân thành, cởi mở
bộc lộ cảm xúc, tâm trạng và vấn đề họ đang gặp phải, giúp bệnh nhân tin tưởng và
sẵn sàng trong quá trình hợp tác với nhân viên CTXH. Đây cũng là một yêu cầu
mang tính nhân văn, là tiêu chuẩn đạo đức của người làm CTXH.
1.2.3. Nội dung các dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại
bệnh viện K
Tùy thuộc vào đặc điểm nhu cầu của từng loại đối tượng cung cấp dịch vụ và
đặc điểm của cơ sở cung cấp dịch vụ mà từng cơ sở y tế hoặc các tác giả có cách
phân chia loại hình dịch vụ CTXH một cách phù hợp.
Trong luận văn này, để xác định 4 nội dung dịch vụ CTXH tại bệnh viện K mà
bệnh nhân có nhu cầu cũng như đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh
nhân tại bệnh viện K, tôi dựa vào 4 căn cứ sau: (1) sử dụng khái niệm dịch vụ CTXH
của tác giả Bùi Thị Xuân Mai, (2) nội dung nhiệm vụ và hình thức thực hiện nhiệm vụ
CTXH của bệnh viện theo qui định từ thông tư số 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế [6] ,
(3) tình hình thực tiễn cung cấp dịch vụ CTXH cho bệnh nhân ung thư của bệnh viện K
và các bệnh viện khác, (4) kinh nghiệm thực hiện nghề Công tác xã hội trong bệnh viện
tại Việt Nam và thế giới từ các y văn hiện có. Cụ thể:
- Nội dung nhiệm vụ và hình thức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội
của bệnh viện theo qui định từ thông tƣ số 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế:
Thông tư qui định 7 nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện, trong đó có 4
loại hình dịch vụ cho bệnh nhân, chi tiết phụ lục kèm theo: (1) Hỗ trợ, tư vấn giải

18


×