Tải bản đầy đủ (.docx) (38 trang)

ĐỀ CƯƠNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (262.48 KB, 38 trang )

ĐỀ CƯƠNG QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT
Câu 1: Tại sao nói “đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt” ?
Trong số những điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động sản xuất và đời sống của con người, đất
với lớp phủ thổ nhưỡng và mặt bằng lãnh thổ (bao gồm các tài nguyên trên mặt đất, trong lòng đất và
mặt nước) là điều kiện đầu tiên. Nói về tầm quan trọng của đất, Các Mác viết: “Đất là một phòng thí
nghiệm vĩđại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất là vị trí để định cư, là n ền tảngcủa
tập thể”. Nói về vai trò của đất với sản xuất, Mác khẳng định “Lao động khôngphải là nguồn duy
nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị tiêu thụ. Lao động chỉ là chacủa của cải vật chất, còn đất là
mẹ”.
Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người và tồn tại ngoài ý muốn của con người. Đất
được tồn tại như một vật thể lịch sử tự nhiên. Cần nhận thấy rằng, đất đai ở hai thể khác nhau:
- Nếu đất tách rời sản xuất (tách rời con người) thì đất tồn tại như một vật thể lịch sử tự nhiên (trời
sinh ra đất) cứ thế tồn tại và biến đổi. Như vậy, đất không phải là tư liệu sản xuất.
- Nếu đất gắn liền với sản xuất, nghĩa là gắn với con người, gắn với lao động thì động sống và lao
động quá khứ thì đất mới trở thành một tư liệu sản xuất. Không phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xã
hội, để thực hiện quá trình lao động,cần phải có đủ 3 yếu tố:
+ Hoạt động hữu ích: chính là lao động hay con người có khả năng sản xuất, có kỹ năng lao động và
biết sử dụng công cụ, phương tiện lao động để sản xuất ra của cải vật chất.
+ Đối tượng lao động: là đối tượng để lao động.tác động lên trong quá trình lao động.
+ Tư liệu lao động: là công cụ hay phương tiện lao động được lao động sử dụng để tác động lên đối
tượng lao động.
Như vậy, quá trình lao động chỉ có thể bắt đầu và hoàn thiện được khi có con người và đi ều kiện vật
chất (bao gồm cả đối tượng lao động và công cụ lao động hay phương tiện lao động).
Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa
là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động, như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm
đất...) vừa là phương tiện lao động (mặt bằng cho sản xuất, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc...), vì vậy
đất đai là “Tư liệu sản xuất”.
Tuy nhiên, cần lưu ý các tính chất “đặc biệt” của loại tư liệu sản xuất là đất so với các tư liệu sản
xuất khác như sau:
*) Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người; là sản phản
của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện tự nhiên của laođộng. Chỉ khi tham gia vào hoạt động


sản xuất của xã hội, dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất.
*) Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế về số lượng, diện tích đất (số lượng) bị
giới hạn bởi ranh giới đất liền trên mặt địa cầu. Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chế
tạo lại tuỳ theo nhu cầu của xã hội.


*) Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng chất dinh dưỡng, các
tính chất lý, hoá. Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất vềchất lượng, quy cách, tiêu chuẩn
(mang tính tương đối do quy trình công nghệ quy định).
*) Tính không thay thế. Đất không thể thay thế bằng tư liệu sản xuất khác, những thay thế do áp dụng
KHCN có tính chất nhân tạo chỉ mang tính tức thời, không ổn như tính vốn có của đất. Các tư liệu
sản xuất khác, tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể được thay th ế bằng tư
liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế hơn.
*) Tính cố định vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng (khi sử dụng không thể di chuyển
từ chỗ này sang chỗ khác). Các tư liệu sản xuất khác được sửdụng ở mọi chỗ, mọi nơi, có thể di
chuyển từ chỗ này sang chỗ khác tuỳ theo sự cần thiết.
*) Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không phụ thuộc vào tác động của thời gian).
Nếu biết sử dụng hợp lý, đặc biệt là trong sản xuất nông – lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng,
ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất (độ phì nhiêu) cũng như hiệu quả sử dụng đất. Khả năng tăng
tính chất sản xuất của đất tùy thuộc vào phương thức sử dụng (tính chất có giá trị đặc biệt), không tư
liệu sản xuất nào có được. Các tư liệu sản xuất khác đều bị hư hỏng dần, hiệu ích sử dụng giảm và
cuối cùng bị loại khỏi quá trình sản xuất. Có thể nói rằng: Đất không thể là đối tượng của từng cá thể.
Đất mà chúng ta đang sử dụng, tự coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta. Đất là điều kiện vật
chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất cho các thế hệ liếp nhau của loài người. Vì vậy, trong sử dụng
cần làm cho đất lốt hơn cho các thế hệ sau.

Câu 2: Hãy cho biết xu thế phát triển của sử dụng đất hiện nay
* Sử dụng đất phát triển theo chiều rộng và tập trung
Cùng với sự phát triển của xã hội, yêu cầu sinh hoạt vật chất và tinh thần của người dân ngày càng
cao, các ngành nghề cũng phát triển theo xu hướng phức tạp và đa dạng dần, phạm vi sử dụng đất

càng mở rộng.
Cùng với việc phát triển sử dụng đất theo không gian, trình độ tập trung cũng sâu hơn nhiều. Đất
canh tác cũng như đất sử dụng theo các mục đích khác đều được phát triển theo hướng kinh doanh tập
trung, với diện tích đất ít nhưng hiệu quả sử dụng.
Thời kỳ quá độ chuyển từ kinh doanh quảng canh sang kinh doanh thâm canh cao trong sử dụng đất
là một nhiệm vụ chiến lược lâu dài. Để nâng cao sức sản xuất và sức tải của một đơn vị diện tích, đòi
hỏi phải liên tục nâng mức đầu tư về vốn và lao động, thường xuyên cải tiến kỹ thuật và công tác
quản lý.
* Cơ cấu sử dụng đất phát triển theo hướng phức tạp hoá và chuyên môn hoá
Khoa học kỹ thuật và kinh tế của xã hội phát triển, sử dụng đất đai lừ hình thức quảng canh
chuyển sang thâm canh đã kéo theo xu thế từng bước phức tạp hoá và chuyên môn hoá cơ cấu sử
dụng đất.


Tiến bộ KHKT đã cho phép mở rộng khả năng kiểm soát tự nhiên của con người, áp dụng các
biện pháp bồi bổ và cải tạo sẽ nâng cao sức sản xuất của đất đai, thoả mãn các nhu cầu của xã hội.
Trước đây, việc sử dụng đất rất hạn chế, chủ yếu sử dụng bề mặt của đất đai, nông nghiệp thì độc
canh, đất lâm nghiệp, đồng cỏ, mặt nước ít được khai thác, khai thác khoáng sản còn hạn chế, xây
dựng chủ yếu là chọn mặt bằng. Khi khoa học công nghệ được khai thác triệt để, hình thức sử dụng
đa dạng, ruộng nước phát triển... đã làm cho nội dung sử dụng đất ngày một phức tạp hơn theo hướng
sử dụng toàn diện, triệt để các chất dinh dưỡng, sức tải, vật chất cấu thành và sản phẩm của đất đai để
phục vụ con người.
Để sử dụng hợp lý đất đai, đạt được sản lượng và hiệu quả kinh tế cao nhất cần có sự phân công
và chuyên môn hoá theo khu vực. Cùng với việc đầu tư, trang bị và ứng dụng các công nghệ kỹ thuật,
công cụ quản lý hiện đại sẽ yêu cầu nảy sinh phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp có quy mô lớn
và tập trung, đồng thời cũng hình thành các khu vực chuyên môn hoá sử dụng đất khác nhau về hình
thức và quy mô.
* Sử dụng đất đai phát triển theo xu hướng xã hội hoá và công hữu hoá
Đất đai là cơ sở vật chất và công cụ để con người sinh sống. Việc chuyên môn hoá theo yêu cầu
xã hội hoá sản xuất phải đáp ứng yêu cầu của xã hội hướng tới lợi ích cộng đồng và tiến bộ xã hội.

Xã hội hoá sử dụng đất là sản phẩm tất yếu và là yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội
hoá sản xuất. Vì vậy, xã hội hoá sử dụng đất và công hữu hoá là xu thế tất yếu Muốn kinh tế phát
triển và thúc đẩy xã hội hoá sản xuất cao hơn, cần phải thực hiện xã hội hoá và công hữu hoá sử dụng
đất.

Câu 3: khái niệm và đặc điểm của qhsdd
1.1.1.1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất đai
Để hiểu khái niệm quy hoạch sử dụng đất đai, cần tìm hiểu khái niệm về quy hoạch và đất đai
dưới góc độ quản lý đất đai. Về thuật ngữ có thể hiểu quy hoạch như sau: quy hoạch là việc xác định
một trật tự nhất định, bằng những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức...
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có định nghĩa chuẩn về đất đai. Theo cách hiểu thông thường, đất
đai là phần nổi của mặt địa cầu mà trên đó con người và vạn vật đi lại, sinh sống...
Tuy nhiên, dựa theo các quy định của pháp luật hiện hành, ta có thể hiểu thuật ngữ “đất đai” như
sau: Đất đai là tài sản quốc gia vô cùng quí giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng
hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng.
Đất đai là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, gắn liền với chủ quyền quốc gia
(không thể có quốc gia mà không có đất đai).
Đất đai là loại tài sản đặc biệt - bất động sản - tức là loại lài sản không thể di rời được (điều 181


- Bộ luật dân sự).
Đất đai là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoảnh đất, vạc đất, mảnh đất miếng đất...) có
vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, điều
kiện địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước,. nhiệt độ ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá
tính...) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo cácmục đích khác nhau

Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế - xã hội có tính chất đặc thù. Đây là một hoạt
động vừa mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý của một hệ thống các biện pháp kỹ thuật, kinh
tế, xã hội được xử lý bằng các phương pháp phân tích tổng hợp về sự phân bố địa lý của các điều kiện

tự nhiên, kinh tế, xã hội, có những đặc trưng của tính phân dị giữa các cấp vùng lãnh thổ theo quan
điểm tiếp cận hệ thống để hình thành các phương án tổ chức lại việc sử dụng đất đai theo pháp luật
của Nhà nước. Bản thân nó được coi là hệ thống các giải pháp định vị cụ thể của việc tổ chức phát
triển kinh tế, xã hội trên một vùng lãnh thổ nhất định, cụ thể là đáp ứng nhu cầu mặt bằng sử dụng đất
hiện tại và tương lai của các ngành, các lĩnh vực cũng như nhu cầu sinh hoạt của mọi thành viên xã
hội một cách tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu quả cao.
Quy hoạch sử dụng đất là một hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, kinh tế vừa mang tính pháp
chế.
- Kỹ thuật (các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh
định, xử lý số liệu...). Biểu hiện của tính kỹ thuật là ở chỗ, đất đai được đo đạc, vẽ thành bản đồ, tính
toán và thống kê diện tích, thiết kế phân chia khoảnh thửa để giao cho các mục đích sử dụng khác
nhau.
- Pháp chế (xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất nhằm đảm bảo sử dụng và
quản lý đất đai theo pháp luật).
Về mặt pháp lý, đất đai được nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng vào
các mục đích khác nhau. Nhà nước ban hành các văn bản pháp quy để điều chỉnh các mối quan hệ đất
đai. Các đối tượng sử dụng đất có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh các chủ trương chính sách về đất
đai của Nhà nước.
- Kinh tế (bằng hiệu quả sử dụng đất): Khi giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân cần
xác định rõ mục đích của việc sử dụng. Đây là biện pháp quan trọng nhất nhằm khai thác triệt để và
có hiệu quả cao tiềm năng đất. Ở đây thể hiện rõ tính kinh tế của quy hoạch sử dụng đất. Song điều
đó chỉ thực hiện được khi tiến hành đồng bộ cùng với các biện pháp kỹ thuật và pháp chế.
Như vậy, có thể định nghĩa: quy hoạch sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp của Nhà nước
(thể hiện đồng thời 3 tính chất, kinh tế, kỹ thuật và pháp chê) về tổ chức sử dụng và quản lý đất đầy
đủ (mọi loại đất đều được đưa vào sử dụng theo các mục đích nhất định), hợp lý (đặc điểm tính chất
tự nhiên, vị trí, diện tích phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng), khoa học (áp dụng thành tựu


khoa học - kỹ thuật và các biện pháp tiên tiến) và có hiệu quả cao nhất (đáp ứng đồng bộ cả 3 lợi ích
kinh tế - xã hội -môi trường), thông qua việc phân bố quỹ đất đai (phân phối và tái phân phối quỹ đất

cả nước, khoanh định cho các mục đích và các ngành) và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất,
cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều
hiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường..
Theo Luật Đất đai 2013:
- Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho
các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi
khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng
vùng kinh tế - xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.
- Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện
trong kỳ quy hoạch sử dụng đất.
- Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn
vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận.
- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất tại một thời điểm xác
định, được lập theo từng đơn vị hành chính.
- Bản đồ quy hoạch sử dụng đất là bản đồ được lập tại thời điểm đầu kỳ quy hoạch, thể hiện sự
phân bổ các loại đất tại thời điểm cuối kỳ của quy hoạch đó.

Thực chất quy hoạch sử dụng đất đai là quá trình hình thành các quyết định nhằm tạo điều kiện
đưa đất đai vào sử dụng bền vững phát huy lợi thế của thổ nhưỡng và lãnh thổ để mang lại lợi ích
cao, thực hiện đồng thời 2 chức năng: Điều chỉnh các mối quan hệ đất đai và tổ chức sử dụng đất như
tư liệu sản xuất đặc biệt với mục đích nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội kết hợp bảo vệ đất và
môi trường. Căn cứ vào đặc điểm điều kiện tự nhiên, phương hướng nhiệm vụ và mục tiêu phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi vùng lãnh thổ, quy hoạch sử dụng đất đai được tiến hành nhằm định hướng
cho các cấp, các ngành trên địa bàn lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đai chi tiết của mình; xác
lập sự ổn định về mặt pháp lý cho công tác quản lý Nhà nước về đất đai; làm cơ sở để tiến hành giao
cấp đất và đầu tư để phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực, phục vụ các nhu cầu dân sinh,
văn hoá - xã hội với hiệu quả cao.
Mặt khác, quy hoạch sử dụng đất đai còn là biện pháp hữu hiệu của Nhà nước nhằm tổ chức lại
việc sử dụng đất đai phát huy lợi thế ngành và lãnh thổ, hạn chế sự chồng chéo gây lãng phí đất đai,
tránh tình trạng chuyển mục đích tuỳ tiện, làm giảm nghiêm trọng quĩ đất nông, lâm nghiệp (đặc biệt

là đất trồng lúa và đất lâm nghiệp có rừng); ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực, tranh chấp, lấn chiếm
huỷ hoại đất, phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm môi trường dẫn đến những tổn thất hoặc kìm
hãm sản xuất, phát triển kinh tế xã hội và các hậu quả khó lường về tình hình bất ổn định chính trị, an


ninh quốc phòng của từng địa phương, đặc biệt là trong thời kỳ phát triển nền kinh tế thị trường.
1.2.1.2. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tượng kinh tế, xã hội đặc thù có tính khống chế vĩ mô, tính
chỉ đạo, tính tổng hợp trung và dài hạn, là bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống kế hoạch phát
triển xã hội và kinh tế quốc dân. Các đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất được thể hiện cụ thể như
sau:
a) Tính lịch sử - xã hội: Lịch sử phát triển của xã hội chính là lịch sử của quy hoạch sử dụng
đất đai. Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một phương thức sản xuất của xã hội thể hiện theo hai
mặt: Lực lượng sản xuất (quan hệ giữa người với sức hoặc vật tự nhiên trong quá trình sản xuất) và
quan hệ sản xuất (quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất). Trong quy hoạch sử dụng
đất đai, luôn nảy sinh quan hệ giữa người với đất đai - là sức tự nhiên (như điều tra, đo đạc, khoanh
định, thiết kế...), cũng như quan hệ giữa người với người (xác nhận bâng văn bản về sở hữu và quyền
sử dụng đất giữa những người chủ đất - giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).
Quy hoạch sử dụng đất thể hiện đồng thời là yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa
là yếu tố thúc đẩy các mối quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất
của xã hội.
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai mang tính tự phát,
hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo
vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia, tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô...).
Ở nước ta hiện nay, quy hoạch sử dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền
lợi của toàn xã hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng, bảo vệ
đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường, quy hoạch sử dụng
đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nảy
sinh trong quá trình sử dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau.
b. Tính tổng hợp: Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất chủ yếu thể hiện ở hai mặt:

- Đối tượng nghiên cứu của quy hoạch sử dụng đất là khai thác, sử dụng, cải tạo và bảo vệ toàn
bộ tài nguyên đất đai cho nhu cầu của nền kinh tế quốc dân. Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến 2
nhóm đất chính là đất nông nghiệp và đất phi nông nghiệp.
- Quy hoạch sử dụng đất đề cập đến nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học xã hội,
kinh tế, dân số, sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, môi trường sinh thái…
Với đặc điểm này, quy hoạch sử dụng đất nhận trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu sử dụng
đất, điều hòa các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, các lĩnh vực. Xác định và điều phối phương
hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp với mục tiêu kinh tế - xã hội, đảm bảo cho nền
kinh tế quốc dân phát triển ổn định, bền vững và đạt tốc độ tăng trưởng cao.


c. Tính dài hạn.
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh tế, xã hội quan trọng
như: sự thay đổi về dân số, tiến bộ kỹ thuật, đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, từ
đó xây dựng các quy hoạch trung và dài hạn về sử dụng đất đai, đề ra các phương hướng, chính sách
và biện pháp có tính chiến lược, tạo căn cứ khoa học cho việc xây dựng kế hoạch sử dụng đất hàng
năm.
Quy hoạch dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về đất để phát triển kinh tế, xã hội lâu dài. Cơ cấu và
phương thức sử dụng đất được điều chỉnh từng bước trong thời gian dài cho đến khi đạt được mục
tiêu dự kiến. Thời hạn (phương hướng, chính sách và biện pháp sử dụng đất để phát triển kinh tế và
hoạt động xã hội) của quy hoạch sử dụng đất từ trên 10 năm đến 20 năm hoặc lâu hơn.
d. Tính chiến lược và chỉ đạo vĩ mô.
Với đặc tính trung và dài hạn, quy hoạch sử dụng đất chỉ dự báo trước được các xu thế thay đổi
phương hướng, mục tiêu, cơ cấu và phân bố sử dụng đất một cách đại thể chứ không thể dự kiến được
các hình thức và nội dung chi tiết, cụ thể của những thay đổi đó. Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất là quy
hoạch mang tính chiến lược, các chỉ tiêu của quy hoạch mang tính chỉ đạo vĩ mô, khái lược về sử
dụng đất của các ngành như:
- Phương hướng, mục tiêu và trọng điểm chiến lược của việc sử dụng đất trong vùng.
- Cân đối tổng quát nhu cầu sử dụng đất của các ngành.
- Điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và phân bố đất đai trong vùng.

- Phân định ranh giới và các hình thức quản lý việc sử dụng đất trong vùng.
- Đề xuất các chính sách, các biện pháp lớn để đạt được mục tiêu của phương hướng sử dụng
đất.
Do khoảng thời gian dự bảo tương đối dài, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế, xã hội khó
xác định, nên ở tầm vĩ mô, chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược hóa thì quy hoạch càng ổn định.
e. Tính chính sách: Quy hoạch sử dụng đất thể hiện rất rõ tính chính trị và chính sách xã hội.
Khi xây dựng phương án quy hoạch phải quán triệt các chính sách và các quy định có liên quan đến
đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển
nền kinh tế quốc dân, phát triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội, tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu
khống chế về dân số, đất đai và môi trường.
f. Tính khả biến: Do sự tác động của nhiều yếu tố khó dự đoán trước theo nhiều phương diện
khác nhau, quy hoạch sử dụng đất chỉ là một trong những giải pháp nhằm biến đổi hiện trạng sử dụng
đất sang trạng thái mới thích hợp hơn cho việc phát triển kinh tế trong một giai đoạn nhất định. Khi
xã hội phát triển, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi, các
dự kiến của quy hoạch sử dụng đất sẽ trở nên không còn phù hợp nữa. Việc chỉnh sửa, bổ sung, hoàn


thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần thiết. Điều đó thể hiện tính khả biến của quy
hoạch - quy hoạch sử dụng đất luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp đi lặp lại theo chu kỳ: “Quy
hoạch – Thực hiện – Quy hoạch lại hoặc chỉnh lý – Tiếp tục thực hiện” với chất lượng, mức độ hoàn
thiện và tính thích hợp ngày càng cao.

Câu 4: Định hướng sử dụng đất của nước ta đến năm 2030
Đến năm 2030, dân số cả nước khoảng 110 - 115 triệu người (55% dân số sống ở khu vực đô
thị), khi đó nước ta đã hoàn thành mục tiêu quốc gia về công nghiệp hoá, hiện đại hoá và trở thành
một nước công nghiệp hiện đại, với một nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
đứng vào hàng các nước phát triển và trở thành một nền kinh tế cầu nối trong khu vực. Nguồn lực con
người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng an ninh được
tăng cường, vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao. Một xã hội vững chắc bằng nguồn
lực phát triển nội sinh, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; liên kết hội nhập

sâu về kinh tế và công nghệ; giao lưu rộng về văn hoá, thông tin với các nước trong khu vực và thế
giới.
Để đạt được mục tiêu trên thì bức tranh toàn cảnh về sử dụng đất đến năm 2030 sẽ có khoảng
95% diện tích đất tự nhiên được đưa vào khai thác sử dụng cho các mục đích. Định hướng sử dụng
một số loại đất chính như sau:
- Đất trồng lúa: Hiện nay diện tích đất trồng lúa cả nước có khoảng 4,1 triệu ha. Trong vòng 20
năm tới, nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng,
đất trồng lúa sẽ tiếp tục phải chuyển sang mục đích phi nông nghiệp ước khoảng 450 - 500 nghìn ha
(nhất là ở vùng đồng bằng). Bên cạnh đó, để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trước mắt cũng
như lâu dài, nước ta cần phải duy trì ổn định quỹ đất trồng lúa khoảng 3,8 triệu ha. Vì vậy, trong giai
đoạn tới cần phải có các giải pháp đầu tư về thủy lợi để có thể khai thác bổ sung 250 - 300 nghìn ha
đất trồng cây hàng năm khác, đất chưa sử dụng cho mục đích trồng lúa để bổ sung diện tích đất lúa
chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp; đồng thời đẩy mạnh đầu tư thâm canh chuyển đổi cơ cấu
giống lúa để nâng cao hệ số sử dụng đất trồng lúa từ 1,82 lên 1,95 lần và đưa năng suất lúa bình quân
đạt 62 tạ/ha. Đến năm 2030 sản lượng lương thực của nước ta có thể đạt 46 - 49 triệu tấn, trong đó có
43 - 44 triệu tấn lúa, bảo đảm đủ lương thực cho 110 -115 triệu dân với mức bình quân trên 350
kg/người/năm.
- Đất lâm nghiệp: Đẩy nhanh việc trồng và khoanh nuôi rừng, phủ xanh và sử dụng đất trống đồi
núi trọc gắn liền với định canh định cư, ổn định đời sống của các dân tộc. Toàn bộ diện tích đất rừng
đều có chủ, kể cả rừng kinh tế, rừng phòng hộ và các khu bảo tồn thiên nhiên. Ổn định 3 loại rừng
trên cơ sở định rõ mục đích sử dụng với biện pháp đầu tư và khai thác có hiệu quả. Theo điều kiện về
đất đai, diện tích đất để phát triển rừng ở nước ta khoảng trên 17 triệu ha và để tạo môi trường, hệ
sinh thái bền vững, phấn đấu đến năm 2030 khoanh nuôi, tái sinh phục hồi và trồng mới khoảng 2 2,5 triệu ha. Nếu thực hiện được mục tiêu này thì độ che phủ rừng khoảng trên 51%.


- Đất khu, cụm công nghiệp: Để đảm bảo mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một nước công
nghiệp phát triển trên thế giới, diện tích đất khu, cụm công nghiệp sẽ cơ bản ổn định ở mức khoảng
350 - 400 nghìn ha vào năm 2030. Ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghệ sạch,
hạn chế các ngành công nghiệp sử dụng nhiều đất và có ảnh hưởng xấu tới môi trường.
- Đất ở tại đô thị: Để đảm bảo 55% dân số sống trong đô thị thì cả nước đến năm 2030 cần

khoảng 230 nghìn ha đất ở tại đô thị trong tổng số đất đô thị khoảng 2 triệu ha.
- Đất phát triển hạ tầng: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi một quỹ đất
khoảng 1,8 - 2,0 triệu ha để xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện năng; các công trình
văn hoá, y tế, thể dục - thể thao, giáo dục - đào tạo...
- Đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng: Trong giai đoạn 20 năm tới sẽ cơ bản khai thác tối đa diện
tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp.

Câu 5: Trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt qhsdd cấp huyện
a) Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi hồ sơ quy hoạch sử dụng đất đến Sở Tài nguyên và Môi
trường để tổ chức thẩm định;
b) Trong thời hạn không quá 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tài nguyên và Môi
trường có trách nhiệm gửi hồ sơ quy hoạch sử dụng đất đến các thành viên của Hội đồng thẩm định
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để lấy ý kiến;
c) Trường hợp cần thiết, trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Hội
đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tổ chức kiểm tra, khảo sát thực địa các khu vực dự
kiến chuyển mục đích sử dụng đất, đặc biệt là khu vực chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất
rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng;
d) Trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, các thành viên Hội
đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gửi ý kiến góp ý bằng văn bản đến Sở Tài nguyên
và Môi trường;
đ) Trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn lấy ý kiến góp ý, Sở Tài
nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng để thẩm định quy hoạch sử dụng đất và
gửi Thông báo kết quả thẩm định quy hoạch sử dụng đất đến Ủy ban nhân dân cấp huyện;
e) Ủy ban nhân dân cấp huyện hoàn chỉnh hồ sơ quy hoạch sử dụng đất; trình Hội đồng nhân
dân cấp huyện thông qua; gửi hồ sơ quy hoạch sử dụng đất đến Sở Tài nguyên và Môi trường để trình
phê duyệt;
g) Trong thời hạn không quá 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Sở Tài nguyên và Môi
trường trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp huyện.

Câu 6: Trình tự, thủ tục thẩm định, phê duyệt kế hoạch sdd hang năm cấp huyện



a) Quý III hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp huyện gửi hồ sơ kế hoạch sử dụng đất hàng năm của
năm sau đến Sở Tài nguyên và Môi trường để tổ chức thẩm định;
b) Trong thời hạn không quá 05 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tài nguyên và Môi
trường có trách nhiệm gửi hồ sơ kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đến các thành viên của
Hội đồng thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để lấy ý kiến;
c) Trong thời hạn không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, các thành viên Hội
đồng thẩm định gửi ý kiến góp ý bằng văn bản đến Sở Tài nguyên và Môi trường;
d) Trong thời hạn không quá 05 ngày kể từ ngày kết thúc thời gian lấy ý kiến, Sở Tài nguyên và
Môi trường có trách nhiệm tổ chức họp Hội đồng để thẩm định kế hoạch sử dụng đất; gửi thông báo
kết quả thẩm định kế hoạch sử dụng đất đến Ủy ban nhân dân cấp huyện để hoàn chỉnh hồ sơ;
đ) Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổng hợp danh mục dự án cần thu hồi đất quy
định tại Khoản 3 Điều 62 của Luật Đất đai để báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh thông qua đồng thời với quyết định mức vốn ngân sách nhà nước cấp cho việc bồi
thường, giải phóng mặt bằng tại kỳ họp cuối năm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh;
e) Căn cứ vào hồ sơ kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đã được hoàn thiện và nghị
quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
để phê duyệt xong trước ngày 31 tháng 12.

Câu 7: Trình tự lập quy hoạch sdd và kế hoạch sdd kỳ đầu
- Điều tra, thu thập thông tin, tài liệu
- Phân tích, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường tác động đến việc sử
dụng đất
- Phân tích, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất, kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất kỳ trước và tiềm năng đất đai
- Xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất
- Lập kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu
- Xây dựng báo cáo thuyết minh tổng hợp và các tài liệu có liên quan
- Thẩm định, phê duyệt và công bố công khai


Câu 8: vị trí, vai trò, sự cần thiết của quy hoạch sdd cấp huyện, tỉnh
3.1.1. Vị trí, vai trò của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện
Trong điều 36 Luật Đất đai 2013 quy định tiến hành quy hoạch sử dụng đất theo 3 cấp hành
chính: cả nước, tỉnh, huyện. Lập quy hoạch tiến hành theo trình tự từ trên xuống và sau đó lại được
bổ sung hoàn chỉnh từ dưới lên.


- i vi quy hoch s dng t cp tnh:
Quy hoch s dng t cp tnh cú v trớ, vai trũ c bit quan trng v cn thit trong h thng
quy hoch s dng t, nhm a cụng tỏc qun lý t ai cú n np, mang li hiu qu trờn nhiu
mt cho t nc v xó hi.
Quy hoch s dng t cp tnh do UBND tnh trc tip ch o cụng tỏc xõy dng v c
Chớnh ph trc tip phờ duyt. Trong h thng 4 cp lp quy hoch s dng t, thỡ cp tnh cú v trớ
trung tõm v l khung sn trung gian gia v mụ v vi mụ, gia tng th v c th, gia Trung ng
v a phng.
Quy hoch s dng t ai cp tnh tỏc ng trc tip n vic s dng t ca cỏc B, Ngnh,
cỏc vựng trng im, cỏc huyn v mt s d ỏn quy hoch s dng t cp xó mang tớnh c thự,
va c th hoỏ thờm, va b sung hon thin quy hoch s dng t c nc tng thờm s n nh
ca h thng quy hoch s dng t.
Quy hoch s dng t cp tnh cũn l mt cụng c quan trng Nh nc qun lý thng nht
ton b t ai ca tnh, thụng qua t chc phỏp quyn cp tnh. Mt khỏc, quy hoch s dng t cp
tnh s to ra nhng c s cú tm quan trng c bit trong vic tip nhn nhng c hi ca cỏc i
tng t bờn ngoi u t vo phỏt trin kinh t xó hi trờn a bn tnh. V trớ, vai trũ ca quy hoch
s dng t cp tnh cú th a ra s biu din quan h trong h thng quy hoch s dng t hin
nay.
S . Quan h h thng quy hoch s dng t
QHSDĐ cả nớc và QHSDĐ vùng kinh tế
QHSDĐ cấp tỉnh


QHSDĐ cấp huyện

QHSDĐ cấp xã

Quy
hoch s dng
t cp tnh l
ti liu mang tớnh cht khoa hc, va mang tớnh phỏp lý, nú l h thng cỏc bin phỏp phõn tớch tng
hp hỡnh thnh cỏc phng ỏn v thụng qua vic so sỏnh, la chn thc thi theo phỏp lut v
phỏp lnh ca Nh nc.
Quy hoch s dng t cp tnh c coi l h thng cỏc gii phỏp phc v cho phỏt trin kinh
t - xó hi ca tnh, c th l ỏp ng nhu cu s dng t hin ti v trong tng lai ca cỏc ngnh
trờn a bn tnh, cng nh nhu cu sinh hot ca cỏc i tng s dng t trong xó hi mt cỏch tit
kim, khoa hc, hp lý v cú hiu qu.
Quy hoch s dng t cp tnh phi to ra c nhng cn c mang tớnh khoa hc v phỏp lý
nht nh cỏc ngnh, cỏc huyn trong tnh trin khai quy hoch s dng t ca tng ngnh, tng
huyn.
Quy hoch s dng t cp tnh phi thc s lm c s ca k hoch s dng t 5 nm v hng
nm ca tnh, hoc l trc tip, hoc giỏn tip (thụng qua k hoch s dng t) quy hoch s dng


đất cấp tỉnh là căn cứ để UBND tỉnh thực hiện thẩm quyền cụ thể của mình về giao đất và thu hồi đất,
hoặc chuyển mục đích sử dụng của các loại đất.
Đối tượng của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh là các loại đất trong 3 nhóm đất theo Luật đất đai
năm 2003 đã quy định. Đó là, nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử
dụng.
Tuỳ theo đặc thù của từng tỉnh, mỗi loại đất này chiếm tỷ lệ khác nhau trong tổng diện tích tự
nhiên của tỉnh và được chia nhỏ ra thành các nhóm đất khác nhau. Trong khi tiến hành quy hoạch sử
dụng đất, cần cụ thể hoá và chi tiết hoá cho phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn và tính phân định
các vùng trong tỉnh.

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh được nghiên cứu xây dựng theo các thời kỳ phù hợp với yêu
cầu và nhiệm vụ phát triển của đất nước, mà cụ thể là của vùng lãnh thổ rộng lớn hơn. Theo đó, tự nó
có tính chất riêng như là một biện pháp để không ngừng phát triển sử dụng quỹ đất đai theo nghĩa tạo
ra giá trị sử dụng mới ngày càng cao của đất.
Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh còn có vai trò định hướng sử dụng đất cho cấp huyện và cấp xã.
Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh trong một chừng mực nào đó mang tính chất tổng thể vĩ mô, do đó
căn cứ vào quy hoạch sẽ cụ thể hoá một bước nữa trên địa bàn. Quy hoạch tổng thể sử dụng đất cả
nước căn cứ vào nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, kế hoạch dài hạn phát triển xã hội mà xác định
mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng sử dụng đất cả nước, điều hoà quan hệ sử dụng đất giữa các
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; đề xuất các chính sách, biện pháp, bước đi để khai thác, sử
dụng bảo vệ và nâng cao tỷ lệ sử dụng đất, điều chỉnh cơ cấu sử dụng đất và thực hiện quy hoạch.
Quy hoạch tổng thể sử dụng đất cấp tỉnh coi quy hoạch sử dụng đất của toàn quốc, của vùng
làm căn cứ. Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh là sự cụ thể hoá quy hoạch toàn quốc trong phạm vi của
tỉnh mình. Các vấn đề cần giải quyết gồm:
+ Xác định phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu sử dụng đất cho toàn tỉnh;
+ Điều hoà nhu cầu sử dụng đất của các ngành, xử lý mối quan hệ giữa khai thác, sử dụng cải
tạo và bảo vệ;
+ Đề xuất cơ cấu, bố cục, phương thức sử dụng đất của tỉnh và các chỉ tiêu sử dụng đất và các
biện pháp để thực hiện quy hoạch.
- Đối với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện :
Như ta đã biết, quy hoạch sử dụng đất là hệ thống quy hoạch nhiều cấp. Do sự phát triển của các
vùng kinh tế không đồng đều, hiện nay hệ thống thông tin sử dụng đất chưa hoàn thiện, Nhà nước
không thể có sự sắp xếp cụ thể cho từng vùng. Cùng với lợi ích chung của cả nước, mỗi vùng, mỗi
địa phương còn có những lợi ích, cần phải do địa phương tự quyết định. Do vậy, xây dựng và triển
khai quy hoạch sử dụng đất cần phải phù hợp với các thể chế hành chính hiện hành của Nhà nước.


Quy hoạch của cấp trên là cơ sở, là chỗ dựa cho quy hoạch sử dụng đất cấp dưới, quy hoạch cấp
dưới là sự kế tiếp và cụ thể hoá quy hoạch cấp trên.
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện làm cơ sở để quyết định lựa chọn cho việc đầu tư. Như vậy,

đất đai thực sự sẽ được khai thác sử dụng vào mục đích cụ thể theo hướng ổn định, vững chắc của
quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện dưới sự chỉ đạo của UBND huyện căn cứ vào đặc tính của
nguồn tài nguyên đất và mục tiêu dài hạn phát triển kinh tế xã hội để giải quyết các vấn đề như:
+ Xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp cơ bản sử dụng đất của huyện;
+ Xác định quy mô, cơ cấu và phân bố sử dụng đất của các ngành;
+ Xác định cơ cấu, phạm vi và phân bố đất cho các công trình hạ tầng chủ yếu, đất dùng cho
nông - lâm nghiệp, thủy lợi, giao thông, đô thị, khu dân cư nông thôn, xí nghiệp công nghiệp, du lịch
và nhu cầu đất đai cho các nhiệm vụ đặc biệt như khu bảo vệ - bảo tồn, khu vực an ninh, quốc phòng.
Đề xuất chỉ tiêu có tính khống chế sử dụng các loại đất theo từng khu vực cho các xã trong huyện.
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là nền tảng, thông qua việc khoanh định cụ thể các khu vực
sử dụng với những chức năng khác nhau, trực tiếp khống chế và thực hiện nhu cầu sử dụng đất của
các dự án cụ thể, cũng là điểm mấu chốt thực hiện quy hoạch của cấp tỉnh và cả nước.
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện ở nước ta là một cấp cơ bản trong hệ thống quy hoạch sử
dụng đất, là cơ sở để cụ thể hoá quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cả nước, có tác dụng trực tiếp chỉ
đạo và khống chế quy hoạch sử dụng đất của nội bộ các ngành, các xí nghiệp, kế thừa quy hoạch cấp
trên và gợi ý cho quy hoạch cấp dưới. Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện là căn cứ, là định hướng cho
việc xây dựng quy hoạch sử dụng đất cấp xã. Do đó, phải được tổ chức dưới sự l•nh đạo chủ chốt của
cấp huyện, có sự tham gia của nhiều ngành, nhiều nhà khoa học, thực hiện một cách thiết thực, làm
cho quy hoạch có tính khoa học, tính tiên tiến, tính thực tế, tính khả thi cao.

Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện là quy hoạch có tính dài hạn, có tính khống chế vĩ
mô đối với đất đai trong một vùng hoặc một địa phương. Nghĩa là dựa vào đặc tính tự nhiên của đất,
dự báo dài hạn về yêu cầu của kinh tế xã hội với đất đai nhằm xác định tư tưởng chiến lược, mục tiêu,
phương hướng sử dụng đất, phân bố và xác định cơ cấu sử dụng đất, đề xuất các chỉ tiêu khống chế
quy mô sử dụng đất cho các yêu cầu sử dụng đất của các ngành và phân rõ ranh giới, khu vực sử
dụng đất, xác định phương châm, chính sách và biện pháp thực thi quy hoạch. Do đó, nó có tính tổng
hợp rất mạnh, đề cập đến nhiều ngành, phạm vi khá rộng, tính chính sách cao.
Xây dựng phương án quy hoạch cần có lượng tư liệu, thông tin rất lớn. Để có phương án quy
hoạch phù hợp với thực tế, phù hợp với sự phát triển ngày càng mạnh của xã hội và có tính khả thi

cao, việc thu thập tư liệu, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, phân tích tính thích nghi của đất, đánh giá
tiềm năng đất, đề xuất tư tưởng chiến lược sử dụng đất, dự báo các yêu cầu sử dụng đất, phân khu sử


dụng đất, thiết kế và tổng hợp phương án quy hoạch ... phải luôn chú ý bảo đảm tính tổng hợp, so
sánh. Phải dưới sự lãnh đạo của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, có sự tham gia của các
ngành, các cán bộ chuyên môn, kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp truyền thống với kỹ thuật hiện
đại, phương pháp định tính với định lượng và đưa cơ chế phản hồi vào công tác quy hoạch làm cho
quy hoạch có tính khoa học, thực tế và tính quần chúng.
3.1.2. Sự cần thiết phải lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và cấp huyện
3.1.2.1. Sự cần thiết lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh
Trong hệ thống chính quyền, cấp tỉnh có đầy đủ quyền lực huy động vốn đầu tư, lao động và đất
đai để xây dựng kinh tế xã hội trên địa bàn tỉnh một cách mạnh mẽ, vững chắc và ổn định lâu dài.
Nếu có quy hoạch sử dụg đất đầy đủ và khoa học sẽ tạo ra bước đi phát triển đúng hướng và đạt được
kết quả tốt.
Chính quyền cấp tỉnh có đầy đủ thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong
địa bàn tỉnh và là cấp trực tiếp được Chính phủ giao quyền quản lý đất đai trên lãnh thổ tỉnh.
Luật đất đai và các văn bản sau luật đều quy định cụ thể quyền hạn quản lý, sử dụng đất đai của
chính quyền cấp tỉnh, đó là:
- Chính quyền cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo lập quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh và trình Chính phủ
phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.
- Chính quyền cấp tỉnh trực tiếp chỉ đạo lập và phê duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp huyện và
một số dự án quy hoạch sử dụng đất cấp xã, quy hoạch sử dụng đất của vùng trọng điểm.
- Chính quyền cấp tỉnh là cấp hành chính được quyền cho chuyển mục đích sử dụng các loại đất
theo phân cấp và đồng thời là cấp trình Chính phủ phê duyệt cho phép chuyển mục đích sử dụng các
loại đất.
- Cấp tỉnh là cấp điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện.
Để thực hiện các quyền lực như trên về quản lý sử dụng và thống nhất quản lý đất đai theo quy
định nhất thiết phải tiến hành quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.
Quy hoạch sử dụng đất đai cấp tỉnh là sự định hướng sử dụng đất cho toàn bộ lãnh thổ do tỉnh

quản lý, là cầu nối liên kết giữa các ngành sử dụng đất trên địa bàn tỉnh, đồng thời là bước định
hướng quan trọng tới các quy hoạch cụ thể trên địa bàn huyện, các vùng trọng điểm để xây dựng kế
hoạch giao cấp đất, tiếp nhận đầu tư lao động. Thiếu quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh sẽ vừa không
phát huy được vai trò quan trọng của chính quyền trong hệ thống quản lý, quy hoạch sử dụng đất, vừa
có thể gây ra những quyết định sai lầm về sử dụng đất của các ngành và gây thiệt hại cho lợi ích toàn
xã hội.
Căn cứ vào quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh mang tính khoa học và tính pháp lý, các ngành, các
huyện trong tỉnh triển khai quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho ngành mình, huyện mình.


3.1.2.2. Sự cần thiết quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
Huyện là đơn vị hành chính được chia thành xã, thị trấn. Ngoài ra, cấp huyện bao gồm: quận
thuộc thành phố trực thuộc trung ương, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Trong công tác quản lý đất
đai theo các điều khoản Luật đất đai năm 2003, nhiệm vụ của cấp huyện thể hiện, đó là:
- UBND cấp huyện tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn quản lý.
- Xét duyệt quy hoạch sử dụng đất cấp dưới trực tiếp.
- Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân,
giao đất đối với cộng đồng dân cư.
- Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người
Việt định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.
Để thực hiện các nhiệm vụ theo hiến pháp và pháp luật, cần phải xây dựng các phương án quy
hoạch sử dụng đất với cơ cấu đất hợp lý, khoa học và đạt hiệu quả cao.
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện làm cơ sở cho việc quyết định đầu tư, như vậy, đất đai sẽ thực
sự được khai thác sử dụng vào những mục đích cụ thể theo hướng ổn định lâu bền. Do đó quy hoạch
sử dụng đất cấp huyện sẽ làm tăng tính ổn định, vững chắc của quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh.
Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện xác định các đặc điểm lãnh thổ của các tiểu vùng trong
huyện, từ đó định hướng sử dụng đất cụ thể theo hướng chuyên môn hoá đi đôi với phát triển tổng
hợp trong việc phát triển kinh tế - xã hội của các xã trong tiểu vùng, đảm bảo mối quan hệ chỉ đạo của
quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đối với quy hoạch sử dụng đất cấp xã.


Câu 9: Trình bày nội dung công tác điều tra cơ bản trong qhsdd
a. Công tác nội nghiệp
Mục đích của công tác này là thu thập các tài liệu và số liệu cần thiết phục vụ công tác quy
hoạch sử dụng đất đai. Các tư liệu này phải thể hiện được đặc điểm của đối tượng quy hoạch cũng
như tình hình hiện tại và tương lai phát triển của nó.
Số lượng và loại tài liệu thu thập phụ thuộc vào mức độ, yêu cầu của quy hoạch và các điều kiện
tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình sử dụng đất từng địa phương cụ thể.
Chuẩn bị hệ thống các biểu mẫu điều tra; thiết kế các biểu mẫu thích hợp, thuận tiện để nhập và
xử lý các thông tin, số liệu phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai trong quá trình điều tra.
Tùy tình hình và điều kiện cụ thể của từng địa phương sẽ điều tra, thu thập các tài liệu, số liệu
liên quan đến các điều kiện tự nhiên, tài nguyên, KTXH, hiện trạng sử dụng đất đai... (có tại xã,
huyện, tỉnh và khi cần thiết ở cả các Bộ, Ngành TW) phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai như:
- Các số liệu về đặc điểm điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên, cảnh quan, môi trường sinh
thái trên địa bàn quy hoạch.


- Tài liệu về tình hình phát triển KT-XH trong những năm qua.
- Các nghị quyết (của cơ quan Đảng, UBND, HĐND các cấp) liên quan đến các chỉ tiêu kế
hoạch phát triển KTXH trong những năm sắp tới.
- Số liệu về sử dụng đất đai (theo các mẫu thống kê do TCĐC quy định) trong 5-15 năm qua.
- Định mức sử dụng và giá đất hiện hành của địa phương.
- Các tài liệu số liệu về chất lượng đất đai: đặc tính đất đai, đánh giá phân hạng đất, mức độ rửa
trôi, xoái mòn dất, độ nhiễm mặn, nhiễm phèn, úng ngập, hạn hán...
- Các tài liệu số liệu có liên quan tới quy hoạch.
- Các tài liệu bản đồ hiện có phục vụ quy hoạch sử dụng đất đai như: bản đồ nền địa hình, bản
đồ đất, bản đồ độ dốc, bản đồ tài nguyên nước, bản đồ hiện trạng sử dụng đất đai, các loại bản đồ quy
hoạch đã làm trước đây và các tài liệu bản đồ khác có liên quan...
- Các thông tin tư liệu được phân loại và đánh giá; xác định rỏ nguồn gốc đơn vị, phương pháp
năm xây dựng tài liệu, chất lượng tài liêu, nội dung và độ tin cậy của thông tin tài liệu...Trên cơ sở kết
quả nội nghiệp sẽ xây dựng kế hoạch công tác ngoại nghiệp (xác định cụ thể các vấn đề, địa điểm và

kế hoạch kiểm tra, khảo sát tại thực địa để chỉnh lý bổ sung).
b. Công tác ngoại nghiệp
- Khảo sát và thực hiện chỉnh lý bổ sung tài liệu ngoài thực địa (khoanh ước lượng, phương
pháp giao hội, hạ đường vuông góc, đo đường thẳng...)
- Chuẩn hoá các thông tin, số liệu và tài liệu bản đồ và viết báo cáo đánh giá về chất lượng, khả
năng khai thác sử dụng các tài liệu thu thập được để giải quyết cụ thể từng nội dung quy hoạch sử
dụng đất đai.
Nội dung và yêu cầu của công đoạn này phụ thuộc vào kết quả của công tác thu thập tài liệu, số
liệu ở bước trước. Công tác này do cán bộ chuyên môn thực hiện với sự tham gia của đại diện các bên
có liên quan và đại diện các ban ngành trong x•.
Nội dung điều tra bao gồm:
1. Kiểm tra mức độ phù hợp của các tài liệu pháp chế, thống kê đất, bản đồ so với thực địa. Khi
cần, có thể tổ chức đo vẽ bổ sung những thay đổi về vị trí, hình dạng, kích thước hoặc mục đích sử
dụng của các thửa đất.
2. Xác định diện tích những khu vực có tranh chấp đất, sử dụng đất không hợp pháp, bất hợp lý.
3. Bổ sung, chỉnh lý những thay đổi về đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình, thực vật, hiện trạng sử
dụng đất, các quá trình xói mòn, ô nhiễm, thoái hoá, khả năng xây dựng các công trình giao thông.
4. Dự kiến khu vực phát triển dân cư mới trong tương lai và bố trí công trình xây dựng cơ bản
mới.


5. Xác định những chi phí, thiệt hại sản xuất và chi phí đầu tư chưa sử dụng hết trên các khu vực
dự kiến sử dụng vào mục đích khác (cấp đất ở, xây dựng cơ bản, giao thông, thuỷ lợi...).

Câu 10: Đánh giá tiềm năng đất đai cho lĩnh vực nông nghiệp
- Xác định, lựa chọn chỉ tiêu đánh giá tiềm năng
- Xác định nội dung đánh giá tiềm năng: đánh giá tính thích nghi, sự phù hợp của hiện trạng sử
dụng đất so với tiềm năng đất đai; khả năng chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất phù hợp với mục tiêu phát
triển kinh tế nông nghiệp đã được xác định trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội
a. Mục tiêu của đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp

Hiện nay trên thế giới có nhiều trường phái đánh giá đất khác nhau nhưng có thể tóm tắt thành 3
phương pháp chính :
- Đánh giá đất theo định tính, chủ yếu dựa vào mô tả và xét đoán.
- Đánh giá đất theo phương pháp thông số.
- Đánh giá đất theo định lượng dựa trên mô hình mô phỏng định hướng.
Các phương pháp trên có nhiều điểm khác biệt nhau, dẫn đến kết quả đánh giá đất theo các
phương pháp khác nhau có nhiều điểm sai khác.
Để khắc phục tình trạng đó, tổ chức FAO đã cho ra đời một quy trình đánh giá đất mới có thể áp
dụng được cho các nước trên thế giới. Quy trình này đã được áp dụng ở nhiều nước và được thừa
nhận là phương tiện tốt nhất để đánh giá đất. ở Việt nam, phương pháp đánh giá đất theo FAO cũng
đang được nghiên cứu ứng dụng và bước đầu đã mang lại những kết quả tốt đẹp.
Theo kết quả đánh giá đất, toàn bộ quỹ đất được xếp hạng căn cứ vào mức độ thích hợp đối với
các mục đích sử dụng khác nhau (chia làm 4 mức : thích hợp cao, thích hợp trung bình, thích hợp
thấp và không thích hợp). Mức độ thích hợp được xác định dựa vào đặc tính vốn có của đất và các
yêu cầu sử dụng đất vào các mục đích khác nhau.
* Mục tiêu của việc đánh giá này là để trả lời các vấn đề sau:
- Mảnh đất này được sử dụng vào mục đích gì là tốt nhất?
- Mảnh đất này sử dụng vào mục đích nào thì sẽ cho hiệu quả tổng hợp cao nhất?
- Đối với mọi mục đích sử dụng được lựa chọn thì mức độ thích hợp và hiệu quả như thế nào?
- Có những chỉ tiêu, yếu tố hạn chế gì đối với mục đích sử dụng được lựa chọn?
Đánh giá thích hợp đất đai được thực hiện theo trình tự và nội dung sau:
- Xây dựng được các tài liệu bản đồ đơn tính, đặc điểm tính chất các loại đất (thổ nhưỡng), điều
kiện khí hậu, thuỷ văn, địa hình, các loại hình sử dụng đất ( kiểu và dạng) sẽ được áp dụng trong
tương lai.


- Phân cấp hệ thống đánh giá : loại thích hợp, cấp thích hợp, yếu tố hạn chế...
- Xác định đơn vị đất đai: các khoanh đất cùng một đơn vị đất thì có hướng sử dụng và các biện
pháp cải tạo cũng giống nhau, khi trồng cùng loại cây trồng sẽ cho sản lượng tương đối bằng nhau.
Muốn xác định được đơn vị đất trước hết phải xác định được các chỉ tiêu phân cấp như : loại đất, độ

phì, địa hình, chế độ nước, thành phần cơ giơí, độ dày tầng đất ...
- Xác định các yêu cầu sử dụng đất : những yêu cầu về đất, sinh thái của các loại hình sử dụng
đất được đưa vào đánh giá.
- So sánh giữa yêu cầu sử dụng và đặc tính đơn vị đất để tìm ra mức độ thích hợp nhất hoặc các
các yếu tố hạn chế cần thay đổi của các mảnh đất đối với loại hình sử dụng đất lựa chọn.
Đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp là căn cứ quan trọng để lập kế hoạch phân bổ sử dụng đất
đai. Nội dung của nó bao gồm:
- Xác định khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp.
- Xác định khả năng thâm canh tăng vụ trên đất nông nghiệp hiện có.
- Xác định cơ cấu sử dụng đất tối ưu trong sản xuất nông nghiệp.
- Xây dựng các biện pháp cải tạo, chuyển loại sử dụng và bảo vệ đất.
b. Xác định khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp
Khả năng mở rộng diện tích đất nông nghiệp phụ thuộc vào diện tích đất chưa sử dụng, nhưng
có khả năng áp dụng các biện pháp cải tạo, thuần hoá thích hợp để đưa vào mục đích sử dụng nông
nghiệp.
Tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của từng vùng, để mở rộng diện tích đất nông nghiệp có thể sử dụng
các nguồn đất sau:
+ Những diện tích đất từ trước đến nay vẫn còn là đất hoang (chưa được sử dụng do một số
nguyên nhân nào đó như chưa có nhu cầu, khả năng có hạn về vốn, vật tư, lao động...).
+ Đất nông nghiệp cũ bị bỏ hoang do quá thiếu hoặc quá thừa nước.
+ Đất nông nghiệp xấu, sản xuất không ổn định và không có hiệu quả (do ảnh hưởng của điều
kiện tự nhiên).
+ Đất rừng không còn ý nghĩa kinh doanh và bảo vệ thiên nhiên có thể chuyển sang sản xuất cây
hàng năm, cây lâu năm.
+ Đất canh tác nằm xen kẽ trong khu dân cư.
+ Đất ở, đất giao thông, đất xây dựng cơ bản đã hết ý nghĩa sử dụng.
+ Đất rừng thưa, cây bụi, lầy thụt, bãi bồi, thùng vũng sau khi sử dụng vào mục đích phát triển
hạ tầng (khai thác cao lanh, cát, than bùn...)



+ Đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định vào mục đích sử dụng nào.
Để xác định khả năng mở rộng diện tích, ta cần đánh giá đất các loại đất trên theo các chỉ tiêu
sau:
- Đặc tính tự nhiên của đất ( đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình, độ dày tầng canh tác, độ dốc, các
loại độc tố...).
- Đặc điểm khí hậu, chế độ nước, mối quan hệ sinh thái giữa đất và các yếu tố môi trường khác.
- Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng vào mục đích nông nghiệp và các biện pháp áp dụng.
Từng khoanh đất sẽ được đánh giá và xếp hạng theo 4 mức thích hợp đối với từng mục đích và
loại hình sử dụng cụ thể :
- Đất trồng lúa
- Đất trồng màu và cây công nghiệp ngắn ngày
- Đất trồng cây lâu năm
- Đồng cỏ
- Đất mặt nước nuôi trồng thuỷ sản
- Đất làm muối
- Đất trồng rừng
Căn cứ vào kết quả đánh giá đất đai sẽ đề xuất hướng sử dụng hợp lý cho từng khoanh đất. Dựa
vào các tài liệu và kết quả đánh giá đất, vào mức độ phức tạp của các biện pháp cần áp dụng, vào nhu
cầu vốn đầu tư, ta sẽ phân loại các diện tích đất trên theo khả năng sử dụng vào mục đích nông
nghiệp theo mức độ thích hợp :
+ Đất chỉ thích hợp cho mục đích sử dụng nông nghiệp (đất ngập nước thường xuyên, hoặc
ngập nước thời gian dài trong năm) để nuôi trồng thuỷ sản.
+ Đất thích hợp cho cả nông nghiệp và lâm nghiệp (sản xuất cây hàng năm, cây lâu năm, rừng
sản xuất, nuôi trồng thuỷ sản v.v...)
+ Đất chỉ thích hợp cho lâm nghiệp (trồng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng có tính đến yêu cầu
bảo vệ đất và môi sinh).
Hướng sử dụng từng khu vực cụ thể được xác định dựa vào sự kết hợp các yếu tố: chất lượng
đất, địa hình, chế độ nước và các tính chất không gian như diện tích, hình dạng, vị trí phân bố...
Ví dụ: Có những khoảnh đất tuy chất lượng khá nhưng diện tích nhỏ, vị trí không thuận lợi, hình
dạng phức tạp, đôi khi sử dụng vào nông nghiệp trồng cây hàng năm, cây lâu năm lại kém hiệu quả

hơn là trồng rừng sản xuất do phải đầu tư chi phí quá nhiều cho khâu tổ chức, quản lý và bảo vệ.
Như vậy, với những khoảnh đất có khả năng nông nghiệp và lâm nghiệp, việc xác định mục đích


sử dụng của chúng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng quan trọng hơn cả là hiệu quả kinh tế của việc
sử dụng và lượng vốn đầu tư để cải tạo và thuần hoá đất. Cần lưu ý các trường hợp sau:
+ Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm bỏ hoang do hạn hoặc úng quá mức, nếu đưa vào sử
dụng phải đề ra các biện pháp thuỷ lợi thích hợp.
+ Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, cây lâu năm chất lượng xấu, sử dụng kém hiệu quả, nếu
có thể được nên đưa sang trồng rừng.
+ Đất hiện đang có rừng, về nguyên tắc không được chuyển sang mục đích sử dụng khác, song
trong một số trường hợp, để giải quyết những bất hợp lý trong quá trình sử dụng đất, có thể xem xét
chuyển thành đất nông nghiệp với yêu cầu phải đảm bảo điều kiện cân bằng sinh thái.
+ Những diện tích đất hoang hoá khác (thùng đào, đất khai thác khoáng sản, đất phát triển hạ
tầng đã hết ý nghĩa sử dụng, rừng thưa, cây bụi, đất lầy thụt...), tuỳ thuộc vào biện pháp khai hoang,
phục hoá có thể áp dụng mà xem xét đưa vào sử dụng theo mục đích nào cho phù hợp và đem lại hiệu
quả cao.
c. Khả năng thâm canh, tăng vụ trên đất nông nghiệp
Tăng vụ trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tức là tăng số vụ sản xuất cây trồng trong một
năm, được áp dụng trên đất canh tác cây hàng năm, nhằm tăng diện tích gieo trồng. Thâm canh tức là
tăng đầu tư vật chất, sức lao động trên đơn vị diện tích canh tác nhằm tăng sức sản xuất của đất.
Thâm canh tăng vụ hết sức có ý nghĩa ở những nơi đất chật người đông, không còn khả năng khai
hoang mở rộng diện tích đất cho sản xuất nông nghiệp. Khả năng tăng vụ được xác định dựa vào các
yếu tố sau:
- Tính chất tự nhiên của đất trồng cây hàng năm và khả năng đầu tư vốn để áp dụng các biện
pháp cải tạo, nâng cao sức sản xuất của đất (thay đổi chế độ nước, không khí, phân bón, làm đất, cải
tạo đất, chống xói mòn...)
- Khả năng sử dụng của con người : phụ thuộc vào trình độ canh tác, trang bị công cụ sản xuất,
tập quán sản xuất...
- Khả năng thích hợp của cây trồng theo thời vụ, áp dụng chế độ luân phiên hợp lý và hiệu quả

đem lại của chúng.
Để xác định khả năng tăng vụ cần dựa vào kết quả điều tra đánh giá đất đai, tiềm năng lao động,
vốn đầu tư và mức trang bị kỹ thuật mà địa phương có thể có.
d. Các biện pháp cải tạo, chuyển loại và bảo vệ đất
* Biện pháp chuyển loại đất
Đây là biện pháp chuyển đất từ loại sử dụng này sang loại sử dụng khác với mục đích tạo ra cơ
cấu hợp lý để nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai. Khi thực hiện công tác này phải tuân theo nguyên
tắc cơ bản là chỉ được phép chuyển từ loại sử dụng có hiệu quả kinh tế thấp sang loại sử dụng có hiệu


quả kimh tế cao.
Như vậy, các hướng chính của chuyển loại đất là:
- Khai hoang đất mới đưa vào các mục đích sử dụng khác nhau.
- Mở rộng diện tích đất nông nghiệp có giá trị kinh tế cao (đặc biệt là đất 3 vụ và đất trồng cây
lâu năm ).
- Tăng vụ trên diện tích đất canh tác hiện có (đất ruộng 1 vụ, 2 vụ, đất chuyên màu).
- Cải tạo hình dạng và vị trí phân bố của các khoanh đất (do các yếu tố địa hình, thuỷ văn, vị trí
điểm dân cư gây nên, hoặc giải quyết hiện tượng đất nằm phân tán, xen kẽ...) để có thể chuyển sang
mục đích sử dụng mới.
* Các biện pháp cải tạo đất
Mỗi loại đất đều có những ưu điểm và cũng có những hạn chế nhất định. Ví dụ, đất đồi núi có
hạn chế cơ bản là do độ dốc cao cộng với lượng mưa lớn tập trung làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi;
đất bạc màu thì nghèo dinh dưỡng và không có kết cấu; đất ven biển bị nhiễm phèn và mặn; có rất
nhiều diện tích đất bị hoá chua v.v...Những hạn chế đó gây nhiều trở ngại đối với việc tổ chức sử
dụng đất có hiệu quả.
Mục đích của việc cải tạo đất là thực hiện những biện pháp tác động thích hợp làm thay đổi một
số tính chất vốn có của đất theo hướng có lợi cho việc sử dụng. Các biện pháp cải tạo đất rất đa dạng,
áp dụng cho các loại đất khác nhau để cải tạo những tính chất đất.
Các biện pháp cải tạo đất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi đưa những diện tích đất chưa sử
dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, nhất là đất canh tác. Cải tạo đất còn là công cụ đắc lực

phục vụ cho thâm canh tăng năng suất cây trồng và tăng vụ gieo trồng.
Có thể phân loại thành các nhóm biện pháp cải tạo đất sau:
- Biện pháp thuần hoá đất : Đây là biện pháp ban đầu để đưa đất chưa sử dụng vào sản xuất
nông nghiệp như chặt cây, dọn gốc, dọn đá, dọn vệ sinh bề mặt, san ủi gò đống, lấp ao hồ, thùng
vũng, phay đất, phá bờ ruộng, đường đi, kênh mương không cần thiết....
- Biện pháp thuỷ nông cải tạo : Đây là biện pháp áp dụng cho nhiều loại đất nhằm nâng cao rõ
rệt hiệu quả sử dụng đất thông qua việc cải tạo chế độ nước của đất, giải quyết vấn đề tưới tiêu hợp
lý, thau chua, rửa mặn, rửa phèn.
- Biện pháp kỹ thuật canh tác : Đây là biện pháp cải tạo một số tính chất lý hoá của đất thông
qua quy trình làm đất khoa học (biện pháp tăng chiều sâu đường cày từ từ đối với đất bạc màu, không
làm ải đối với đất mặn và đất phèn), bón phân hợp lý, thực hiện chế độ luân phiên cây trồng, tăng tỷ
lệ cây họ đậu trong cơ cấu diện tích gieo trồng, trồng cây phân xanh cải tạo đất v.v...
- Biện pháp hoá học : Bằng cách sử dụng một số chất hoá học bón vào đất có thể làm thay đổi


tính chất đất như bón vôi để khử chua, bón thạch cao, cao lanh làm tăng kết cấu lớp đất mặt, bón các
loại phân vô cơ, phân vi lượng v.v...
* Các biện pháp bảo vệ đất và môi trường
Các yếu tố của môi trường tự nhiên luôn nằm trong một khối thống nhất, có liên hệ chặt chẽ với
nhau. Nhiệm vụ đặt ra là phải đảm bảo sự cân bằng của các yếu tố tự nhiên và chú ý đến khả năng
thay đổi, cải tạo điều kiện môi trường trong quá trình phân bố đất đai, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh
hưởng của những quá trình có thể làm huỷ hoại đất.
Như vậy, khi phân bổ đất đai, vấn đề đặc biệt quan trọng là:
- Tuân thủ chế độ sử dụng đất cần thiết trên khu vực bị xói mòn.
- Ngăn ngừa và đề phòng các quá trình gây tổn hại đến lớp đất mặt, nguồn nước, thảm thực vật,
giới động vật, bầu khí quyển.
ở nước ta, xói mòn là một tai hoạ gây hậu quả nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu là do lượng
mưa lớn, lại thường tập trung vào mùa mưa lũ. Đất đai có địa hình mấp mô, dốc, đất có kết cấu không
chặt, dễ bị rửa trôi. Bên cạnh đó, ý thức sử dụng đất của con người thiếu cân nhắc, bừa bãi, mà cụ thể
là: thực hiện chế độ khai thác và sử dụng đất dốc không hợp lý, chế độ canh tác (cây trồng) không

phù hợp, không áp dụng các biện pháp chống xói mòn v.v... Do đó, chống xói mòn là một nhu cầu
cấp thiết và là một biện pháp quan trọng hiện nay.
Căn cứ vào các điều kiện địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu và mức độ xói mòn có thể áp dụng các
biện pháp sau :
- Biện pháp tổ chức quản lý sản xuất
Thực chất của biện pháp này là đề ra chế độ cụ thể khi khai hoang và bố trí sử dụng đất:
+ Xác định phương hướng sản xuất phù hợp với yêu cầu bảo vệ đất chống xói mòn.
+ Không cày vỡ và phá lớp thực bì tự nhiên trên vùng đất có độ dốc cao, đặc biệt là vào mùa
mưa.
+ Chọn cây trồng và công thức luân canh có tác dụng bảo vệ đất chống xói mòn.
+ Đề ra chế độ sử dụng đặc biệt cho từng loại đất bị xói mòn.
- Biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp này có thể làm tăng năng suất cây trồng lên từ 20 - 40%, thông qua các tác động sau:
+ Thực hiện quy trình kỹ thuật canh tác đặc biệt : làm đất theo hướng vuông góc với hướng
sườn dốc, làm đất đúng thời điểm, bố trí thửa có chiều dài song song với đường đồng mức.
+ Điều tiết dòng chảy trên sườn dốc và các đường phân thuỷ.
+ Tăng tỷ lệ cây trồng có khả năng giữ đất trong cơ cấu diện tích gieo trồng, trồng xen canh gối


vụ, trồng theo băng vuông góc với hướng dòng chảy, trồng cây phân xanh, trồng cỏ lâu năm trên đất
bị xói mòn nặng.
+ áp dụng chế độ bón phân hợp lý : bón nhiều phân hữu cơ làm xốp đất để tăng tính thấm, bón
phân theo hốc, bón vôi...
+ Xây dựng các mô hình nông lâm kết hợp.
- Biện pháp trồng rừng cải tạo
+ Trồng đai rừng phòng hộ đồng ruộng, đai rừng ngăn nước, giữ nước, điều tiết nước, giữ ẩm
cho đất.
+ Trồng rừng trên đỉnh đồi cao, trên đường phân thuỷ, trồng cây phân tán để tiêu nước.
+ Trồng rừng trên đất cát, đất không có khả năng sản xuất nông nghiệp.
+ Trồng cây hai bên đường, mương, quanh ao hồ lớn, quanh điểm dân cư và các công trình xây

dựng ...
- Biện pháp thuỷ lợi công trình
Đây là biện pháp bảo vệ đất tốt nhất, nhưng đòi hỏi vốn đầu tư lớn, nên chỉ áp dụng khi các biện
pháp khác không có tác dụng. Có thể kể đến các biện pháp sau:
+ Làm ruộng bậc thang.
+ Xây dựng đê, kè ngăn phát sinh xói lở.
+ Xây dựng thác nước chuyển cấp bằng đá, bê tông, tạo mương dẫn nước tránh xói lở thành khe
sâu.
+ Xây dựng các công trình gia cố đáy và ta luy khe xói.
+ Đắp bờ ngăn nước hoặc đào hào thoát nước bề mặt trên sườn dốc.
- Biện pháp hoá học
Để bảo vệ đất, người ta có thể thực hiện một số biện pháp sau đây :
+ Sử dụng các chất hoá học làm tăng liên kết của đất như thạch cao, sợi thuỷ tinh (tạo thành
mạng lưới trên mặt đất).
+ Dùng màng mỏng bằng chất liệu đặc biệt phủ lên mặt đất (cho phép ánh sáng và không khí đi
qua).
Tuy nhiên, các biện pháp hoá học ít được áp dụng do chi phí quá tốn kém.
Bảo vệ đất chống lại các quá trình gây ô nhiễm cũng là một nội dung rất quan trọng. Đất có thể
bị ô nhiễm bởi các tác nhân như nước thải, rác thải công nghiệp hoặc sinh hoạt, do khói, bụi của các
nhà máy, do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không đúng quy định, do bón phân hoá học quá liều lượng


v.v…
Một khi đất đã bị ô nhiễm thì rất khó xử lý, do đó đề phòng, phát hiện sớm và ngăn ngừa nguy cơ gây
ô nhiễm đất là biện pháp rất hữu hiệu

Câu 11: cách phân bổ đất nông nghiệp trên lãnh thổ
1. Căn cứ phân bổ đất nông nghiệp
Đất trong phạm vi ranh giới x thường không đồng nhất về điều kiện địa hình, thổ nhưỡng, độ ẩm, ánh
sáng, chế độ thuỷ văn nguồn nước v.v... Trong khi đó, mỗi loại cây trồng lại có những đòi hỏi rất khác

nhau về đất. Vì vậy, căn cứ để bố trí đất nông nghiệp là :
- Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên của từng phần lnh thổ (đặc biệt yếu tố địa hình là yếu tố chi phối rất
mạnh các điều kiện khác) và khả năng thay đổi, cải tạo các yếu tố đó.
- Căn cứ vào quy hoạch phát triển nông nghiệp đ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt
(bao gồm cả các dự án bảo vệ môi trường).
- Căn cứ vào kết quả đánh giá tiềm năng đất nông nghiệp.
- Căn cứ vào yêu cầu của sản xuất và đặc điểm của từng loại cây.
Từ đó sẽ bố trí sử dụng đất với diện tích, vị trí phân bố và tính chất tự nhiên phù hợp với mục đích sử
dụng và loại cây trồng đó.
2. Những yêu cầu bố trí đất trên lãnh thổ
Khi xác định vị trí phân bổ đất đai cần đáp ứng các yêu cầu sau :
- Phân bố hợp lý, tập trung các ngành sản xuất trong x nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ giao nộp cho
nhà nước, đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội bộ, có sản phẩm hàng hoá và xuất khẩu cao.
- Sử dụng hợp lý và có hiệu quả cao toàn bộ diện tích đất phù hợp với tính chất tự nhiên của chúng.
- Cho phép tổ chức, sử dụng hợp lý lao động vào quá trình sản xuất.
- Giảm chi phí đầu tư cho khai hoang, xây dựng các công trình như đường giao thông, đai rừng,
nguồn nước và phải hoàn vốn nhanh.
- Giảm chi phí sản xuất hàng năm và tránh thất thu sản phẩm.
- Đáp ứng yêu cầu bảo vệ quỹ gien, phòng hộ, bảo vệ đất, môi trường sinh thái.
Các vùng đất hoang có khả năng nông nghiệp trước hết cần ưu tiên cho nông nghiệp. Sau khi đ xác
định được quy mô diện tích, địa điểm phân bố đất cho nông nghiệp và lâm nghiệp cần tiến hành
hoạch định ranh giới, trong đó giải quyết luôn cả những tồn tại về ranh giới sử dụng trước đây. Trên


các khu đất mới khai hoang cần lập quy hoạch mặt bằng, thể hiện chi tiết ranh giới sử dụng để làm
căn cứ giao đất, giao quyền sử dụng đất cho các nông, lâm trường, HTX và các hộ gia đình.

Câu 12: Nguyên tắc cơ bản và yêu cầu trong quy hoạch đất ở nông thôn
* Nguyên tắc
Đất ở nông thôn nằm trong phạm vi điểm dân cư nông thôn được nhà nước giao cho các hộ gia

đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Hạn mức giao đất ở tại nông thôn phù hợp với điều kiện, tập
quán tại địa phương. Khi tiến hành quy hoạch đất ở trong điểm dân cư cần tuân thủ các nguyên tắc
sau:
- Việc bố trí đất ở nông thôn phải phù hợp với các quy hoạch có liên quan:
+ Quy hoạch phân bố lao động, phân bố mạng lưới dân cư của khu vực (huyện, tỉnh);
+ Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện;
+ Các quy hoạch chuyên ngành;
+ Các quy hoạch khu dân cư của các xã bên cạnh;
- Việc phân bố đất ở tại nông thôn phải đồng bộ với quy hoạch các công trình công cộng, công
trình sự nghiệp, bảo đảm thuận tiện cho sản xuất, đời sống của nhân dân, đảm bảo vệ sinh môi trường
và theo hướng hiện đại hoá nông thôn.
- Cần nghiên cứu kỹ các đặc điểm lịch sử, xã hội, phong tục tập quán, tôn giáo của từng vùng,
từng dân tộc để phân bố đất ở cho thích hợp trên cơ sở bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá.
- Căn cứ vào điều kiện tự nhiên của từng địa phương (địa hình, đất đai, khí hậu, nguồn nước, tài
nguyên) để bố trí đất ở cho phù hợp, đảm bảo khai thác sử dụng hữu hiệu các nguồn tài nguyên.
- Sử dụng tiết kiệm đất đai: Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho những người sống ở nông
thôn có chỗ ở trên cơ sở sử dụng tiết kiệm đất đai, hạn chế việc mở rộng khu dân cư trên đất nông
nghiệp; nghiêm cấm việc xây dựng nhà ở ven các trục đường giao thông trái với quy hoạch khu dân
cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
- Đảm bảo các yêu cầu về an ninh quốc phòng, phòng chống thiên tai, bảo vệ môi trường và
cảnh quan thiên nhiên.
- Kết hợp chặt chẽ giữa cải tạo cũ và xây dựng mới, triệt để tận dụng những cơ sở cũ đã có, tính
toán đến triển vọng phát triển lâu dài và xây dựng kế hoạch phát triển theo từng giai đoạn 5-10-15
năm.

* Yêu cầu quy hoạch đất ở nông thôn
- Yêu cầu chung:



×