BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM H NI
DAO HEUANG SOM BATH
PHáT TRIểN ĐộI NGũ HIệU TRƯởNG TRƯờNG TRUNG HọC PHổ
THÔNG
TỉNH BOLIKHAMXAY NƯớC CộNG HòA DÂN CHủ NHÂN DÂN LàO
TRONG BốI CảNH ĐổI MớI GIáO DụC
Chuyờn ngnh:Qun lý giáo dục
Mã số: 62.14.01.14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐÀO LAN HƯƠNG
HÀ NỘI - 2016
2
LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin can đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong
luận án là trung thực và chưa từng được cơng bố trong bất
kỳ cơng trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
DAO HEUANG SOM BATH
2
3
LỜI CẢM ƠN
Với tất cả tình cảm chân thành của mình tơi xin được bày tỏ lịng biết ơn sâu
sắc tới:
- Ban Giám Hiệu, Phòng Đào tạo Sau Đại học, Khoa Quản lý Giáo dục
trường Đại học Sư phạm Hà nội.
- Quý thầy giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tơi trong
suốt q trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận án.
- Đặc biệt xin chân thành cảm ơn TS. Đào Lan Hương, người hướng dẫn
khoa học đã tận tâm, tận lực truyền đạt những kiến thức về lý luận và kinh
nghiệm thực tiễn trong suốt q trình nghiên cứu và hồn thành luận án.
Cũng nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn:
- Ban lãnh đạo hai nước Lào – Việt Nam đã hỗ trợ, quan tâm tới đời sống,
tinh thần, động viên khuyến khích tơi trong suốt q trình tham gia học tập,
nghiên cứu tại Việt Nam.
- Xin cảm ơn các nhà lãnh đạo Sở Giáo dục & Thể thao tỉnh Bolikhamxay
đã nhiệt tình giúp đỡ tơi trong q trình tơi thực hiện điều tra khảo sát.
- Xin cảm ơn ban lãnh đạo, đội ngũ giáo viên và học sinh các trường THPT
tỉnh Bolikhamxay đã tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp các số liệu trong q trình
tơi thực hiện luận án, cũng như tạo điều kiện cho tôi tiến hành thử nghiệm kết
quả nghiên cứu của bản thân.
- Xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã quan tâm,
động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi trong suốt q trình học tập, nghiên
cứu và hồn thành luận án.
Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng luận án của tơi khơng tránh khỏi những thiếu
sót. Tơi kính mong sự giúp đỡ, chỉ dẫn của các thầy, cô giáo và các bạn đồng
nghiệp để luận án hoàn thiện hơn.
Hà nội, tháng......năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
DAO HEUANG SOM BATH
3
4
MỤC LỤC
4
5
DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
KÝ HIỆU
CBQL
CĐ- ĐH
CHDCND Lào
CNH-HĐH
CNXH
CSVC-KT
Đảng CSVN
ĐNDCM
ĐNHT
GD-ĐT
GD-TT
HT
KH-CN
KT-XH
NCKH
NQ
Nước CHXHCNVN
NXB
QLGD
TCN
THCS
THPT
UBND
UNESCO
5
TÊN ĐẦY ĐỦ
Cán bộ quản lý
Cao đẳng - Đại học
Cộng hịa dân chủ nhân dân Lào
Cơng nghiệp hóa – hiện đại hóa
Chủ nghĩa xã hội
Cơ sở vật chất kỹ thuật
Đảng Cộng sản Việt Nam
Đảng nhân dân cách mạng
Đội ngũ Hiệu trưởng
Giáo dục – Đào tạo
Giáo dục-Thể thao
Hiệu trưởng
Khoa học-Công nghệ
Kinh tế-Xã hội
Nghiên cứu khoa học
Nghị quyết
Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Nhà xuất bản
Quản lý giáo dục
Trước công nguyên
Trung học cơ sở
Trung học phổ thông
Ủy ban nhân dân
United Nations Educational Scientific and
Cultural Organization (tổ chức Giáo dục,
khoa học – Văn hóa của Liên Hợp Quốc)
6
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
6
7
DANH MỤC SƠ ĐỒ
7
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở bất kỳ lĩnh vực nào, chế độ nào nhân tố con người hết sức quan trọng, đóng vai trị
quyết định để đạt mục tiêu. Chủ tịch Cay Sỏn Phôm Vi Han cho rằng: “Cán bộ là vốn quý
báu nhất của Đảng, là người lãnh đạo nhân dân, phục vụ nhân dân, tạo ra mối quan hệ
giữa Đảng với quần chúng” [21;tr.68]. Đảng nhân dân cách mạng Lào (NDCM Lào) luôn
luôn nhấn mạnh rằng: “Cán bộ có vai trị quyết định thành cơng hay thất bại của việc
thực hiện đường lối của Đảng” [31;tr.5], cơng tác xây dựng đội ngũ cán bộ có vai trị, vị
trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp phát triển cách mạng của Đảng nhân dân cách
mạng Lào nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước là yêu cầu quan trọng của
công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân ở nước CHDCND Lào
hiện nay.
Đại hội toàn quốc Đảng nhân dân cách mạng Lào lần thứ VIII ngày 18-23/03/2006 đã
khẳng định “Nguồn nhân lực quan trọng nhất nhằm thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại
hóa nguồn nhân lực con người giáo dục phải có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng nhân lực
có đủ trình độ đáp ứng được sự phát triển với 0063ác nước trong khu vực và thế giới, ưu
tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đặc biệt chú trọng nhân lực khoa học, cơng
nghệ có trình độ cao, cán bộ quản lý, kinh doanh giỏi và cơng nhân kỹ thuật lành nghề trực
tiếp góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, tạo tiền đề vững chắc cho cơng
nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành công nước Cộng
Hịa Dân Chủ Nhân Dân Lào hịa bình, độc lập, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng…”
[20].
Nghị quyết số 84-NQTW ngày 01 tháng 04 năm 2006 hội nghị trung ương khóa IV
(khóa 4) nước CHDCND Lào nhần mạnh“Tập trung xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ
quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chuẩn về trình độ đào tạo; đặc biệt
coi trọng việc nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lương tâm, trách nhiệm
nghề nghiệp. Hoàn thiện cơ chế, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo điều
kiện cho nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục thường xuyên tự học tập để cập nhật kiến thức,
nâng cao trình độ, kỹ năng về chun mơn, nghiệp vụ, trong bối cảnh đổi mới giáo
dục”[24]
Đại hội lần thứ IX (thứ 9) của Đảng NDCM Lào ngày 18-21 tháng 03 năm 2011
và kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội 5 năm lần thứ 7 (2011-2015) trên tinh thần bốn
“đột phá”. Đột phá về mặt tư duy; đột phá mạnh mẽ về phát triển nguồn nhân lực; đột
phá về việc giải quyết hệ thống cơ chế, chế độ, cải cách thủ tục hành chính Nhà nước;
và đột phá trong việc giải quyết xóa nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết để làm
cho đời sống của nhân dân nước CHDCND Lào ngày càng tốt hơn, đưa đất nước thốt
khỏi tình trạng nước chậm phát triển vào năm 2020…” [31]
Báo cáo chính trị Đại hội IX (chín) của Đảng NDCM Lào cũng chỉ rõ, trong
những năm trước mắt sẽ “lấy phát triển hệ thống giáo dục quốc dân và đào tạo con
8
9
người làm trung tâm và là nhiệm vụ trọng tâm trong bước đột phá” [31].
Trong hệ thống giáo dục Quốc dân nước CHDCND Lào, giáo dục THPT là cấp học
nằm trong bậc trung học, nối tiếp giáo dục THCS. Điều 18 Luật Giáo dục nước
CHDCND Lào ghi rõ “Giáo dục phổ thông là hoạt động giáo dục thường xuyên học và
dạy từ giáo dục trung học có yêu cầu thời gian học 3 năm, có nhiệm vụ nâng cấp và mở
rộng nội dung đã học từ trường cấp hai. Ngoài ra còn phải đi sâu vào một số bài học để
phát triển kiến thức, công suất và tài năng của người học” [87]. Giáo dục THPT có vị
trí, vai trị hết sức quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Mục tiêu giáo dục
THPT được quy định tại Điều 18 chương III của Luật Giáo dục CHDCND Lào “Giáo
dục THPT phải củng cố, phát triển những nội dung đã học ở bậc tiểu học và trung học
cơ sở, bảo đảm cho học sinh có những hiểu biết chung về văn hóa, tốn, lịch sử, kiến
thứ về khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, pháp luật và hướng nghiệp…”[87].
Trong bối cảnh đổi mới, giáo dục THPT phải có trách nhiệm cùng với nền giáo
dục quốc dân đổi mới toàn diện nền giáo dục Lào, đưa nước CHDCND Lào hội nhập
cùng thế giới và các nước lân cận. Để thực hiện được những nhiệm vụ giáo dục quan
trọng đó, bên cạnh yêu cầu về xây dựng, kiện toàn cơ sở vật chất, sử dụng đội ngũ giáo
viên có đầy đủ phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, công tác quản lý trường học
cũng phải được đặc biệt coi trọng. Một trong những nhân tố quyết định đến hiệu quả
của cơng tác quản lý trường học chính là chất lượng của đội ngũ cán bộ quản lý nói
chung và CBQL trường THPT nói chung, trong đó có Hiệu trưởng nhà trường. Đội
ngũ Hiệu trưởng vừa là nhà lãnh đạo, nhà quản lý, nhà giáo…nên đòi hỏi họ phải đạt
những yêu cầu cao về phẩm chất, năng lực để quản lý nhà trường, hồn thành xuất sắc
nhiệm vụ được giao phó.
Đội ngũ CBQL giáo dục, trong đó đội ngũ Hiệu trưởng với tư cách là người đứng
đầu nhà trường, được xem là lực lượng tiên phong dẫn dắt sự nghiệp Giáo dục – Đào
tạo, là nhân tố quyết định sự phát triển Giáo dục- Đào tạo, biến chủ trương và mục tiêu
phát triển giáo dục của Đảng, Nhà nước thành hiện thực. Hiệu trưởng có vai trị hết sức
quan trọng trong nhà trường, hoạt động của Hiệu trưởng có vai trị trực tiếp quyết định
đến sự thành công của Nhà trường. Trong điều kiện hiện nay, Hiệu trưởng không chỉ
thực hiện nhiệm vụ quản lý vi mô với tư cách là chủ thể quản lý một đơn vị sự nghiệp,
một tập thể sư phạm, nguồn lực kinh tế - xã hội cụ thể mà còn thực hiện nhiệm vụ quản
lý vĩ mơ như các nhà quản lý thực hiện chương trình giáo dục, quản lý phát triển đội ngũ
giáo viên theo chuẩn áp dụng chung trong cả nước. Xây dựng đội ngũ nhà giáo và
CBQL giáo dục ở các trường phổ thơng nói riêng ở CHDCND Lào được xác định là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công cuộc đổi mới giáo dục giai đoạn hiện
nay.
Do vậy muốn phát triển Giáo dục- Đào tạo, điều quan trọng đầu tiên cần phải làm
là chăm lo xây dựng và phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trong các cơ sở giáo dục. Đối
với nhà trường THPT, việc phát triển đội ngũ Hiệu trưởng và CBQL đáp ứng yêu cầu
9
10
quản lý nhà trường trong giai đoạn CNH-HĐH đất nước và hội nhập quốc tế được coi
là nhiệm vụ vừa có tính cấp bách, vừa có tính chiến lược lâu dài.
Tỉnh Bolikhamxay là một tỉnh có nhiều tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên như
đất, nước, rừng, khoáng sản và sự đa dạng về sinh thái. Tuy nhiên, nền kinh tế của tỉnh
phụ thuộc chủ yếu vào nông nghiệp, dân trí chưa cao, cơ sở vật chất cho giáo dục cịn
nghèo nàn, lạc hậu. Tính đến năm 2013, tỉnh Bolikhamxay có 20 trường trung học phổ
thơng với 30.000 học sinh và 687 cán bộ giáo viên. Trong những năm vừa qua, việc
xây dựng phát triển đội ngũ hiệu trưởng nói chung và đội ngũ hiệu trưởng trường trung
học phổ thông nói riêng của tỉnh Bolikhamxay đã có những chuyển biến và đạt được
được những kết quả nhất định. Tuy nhiên trước bối cảnh đổi mới giáo dục, đặt ra cho
đội ngũ hiệu trưởng những cơ hội và thách thức mới. Chất lượng đội ngũ HT trường
THPT tỉnh Bolikhamxay hiện nay không đồng đều, năng lực quản lý nhà trường của
một số HT chưa ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn hiện nay. Đa
số HT các trường THPT ít được cập nhật nghiệp vụ QLGD hiện đại, chủ yếu quản lý
dựa vào kinh nghiệm, thiếu các kiến thức về pháp luật, quản trị nhân lực, tài chính, hạn
chế về trình độ ngoại ngữ, tin học…nên chất lượng, hiệu quả công tác chưa cao. Một
số HT chưa được đào tạo bồi dưỡng về lý luận và năng lực quản lý nhà trường nên
kiến thức quản lý còn kém vì vậy, lung túng, thiếu linh hoạt, sang tạo, ngại đổi mới
trong quản lý, điều hành các hoạt động của nhà trường.
Do đó,việc nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm xây dựng, phát triển đội ngũ Hiệu
trưởng trường THPT đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo chất lượng, có khả
năng hồn thành tốt nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước giao phó và đáp ứng yêu cầu trong
bối cảnh đổi mới giáo dục là một yêu cầu tất yếu và cấp thiết.
Xuất phát từ những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng về cơng tác giáo
dục, trong đó đề cập đến vai trị, vị trí của đội ngũ Hiệu trưởng; xác định tầm quan
trọng của cơng tác phát triển đội ngũ Hiệu trưởng nói chung, Hiệu trưởng trường
THPT nói riêng.
Xuất phát từ thực trạng cơng tác quản lý phát triển đội ngũ Hiệu trưởng của các
trường THPT trên địa bàn tỉnh Bolikhamxay còn những bất cập, đội ngũ Hiệu trưởng
các trường THPT chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.
Việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý phát triển đội ngũ Hiệu trưởng các
trường THPT tỉnh Bolikhamxay chưa được tác giả nào đề cập nghiên cứu cụ thể
Từ những lý do trên, việc lựa chọn và triển khai đề tài“Phát triển đội ngũ Hiệu
trưởng trường THPT tỉnh Bolikhamxay nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào
trong bối cảnh đổi mới giáo dục” do tác giả lựa chọn nghiên cứu có tính thời sự, cấp
thiết với mong muốn đề xuất những quan điểm và giải pháp hữu hiệu nhằm phát triển
đội ngũ Hiệu trưởng đủ năng lực, phẩm chất, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện
đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước NDCM Lào hiện nay nói chung và đối với
tỉnh Bolikhamxay nói riêng.
10
11
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng phát triển đội ngũ Hiệu trưởng các
trường THPT tỉnh Bolikhamxay nước CHDCND Lào, phát hiện những điểm mạnh,
điểm yếu, đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT nhằm
làm cho đội ngũ này phát triển vững mạnh đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục góp
phần nâng cao chất lượng giáo dục THPT.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Vấn đề phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THPT
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Giải pháp phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THPT tỉnh Bolikhamxay, Lào
trong bối cảnh đổi mới giáo dục
4. Giả thuyết khoa học
Trong những năm gần đây, công tác phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THPT của
tỉnh Bolikhamxay đã được sở Giáo dục và thể thao đặc biệt chú trọng và đạt được những
thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, đối chiếu với những yêu cầu của đổi mới giáo dục thì đội
ngũ hiệu trưởng và cơng tác phát triển đội ngũ này cịn nhiều bất cập. Nếu nghiên cứu đề
xuất được các giải pháp phát triển đội ngũ hiệu trưởng trên cơ sở khoa học về phát triển
nguồn nhân lực và phù hợp với yêu cầu của đổi mới giáo dục THPT của nước CHDCND
Lào thì sẽ phát triển được đội ngũ hiệu trưởng THPT của Tỉnh đủ về số lượng, đồng bộ về
cơ cấu và đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đóng góp tốt cho sự
nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Bolikhamxay nước CHDCND Lào.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu lý luận về phát triển đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và phát triển
đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT nói riêng trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT và việc phát
triển đội ngũ Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh Bolikhamxay Nước Cộng hoà dân
chủ nhân dân Lào trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
5.3. Đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT Nước
Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
5.4. Khảo nghiệm và thử nghiệm một số giải pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng
trường THPT được đề xuất trong luận án.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
- Vấn đề phát triển đội ngũ có thể được xem xét dưới nhiều góc độ, luận án này
nghiên cứu phát triển đội ngũ hiệu trưởng dưới góc độ phát triển nguồn nhân lực.
- Có nhiều cơ quan quản lý cùng tham gia phát triển đội ngũ hiệu trưởng, luận án
này nghiên cứu công tác phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường trung học phổ thông
của Sở Giáo dục và thể thao.
11
12
6.2. Giới hạn về địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu 20 trường THPT trên địa bàn tỉnh Bolikhamxay.
6.3. Giới hạn về đối tượng khảo sát
- Khảo sát trên 700 Cán bộ quản lý và 20 HT trường THPT tỉnh Bolikhamxay
- Khảo sát trên 34 cán bộ quản lý của sở Giáo dục và thể thao tỉnh Bolikhamxay
6.3. Giới hạn về thời gian khảo sát
Các số liệu được rút ra từ kết quả khảo sát trong 2008-2013
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận nghiên cứu
7.1.1. Tiếp cận quản lý nguồn nhân lực
Quá trình nghiên cứu phát triển đội ngũ Hiệu trưởng các trường THPT trong bối cảnh
đổi mới giáo dục và hội nhập, luận án dựa vào nhiều lý thuyết khác nhau của khoa học
quản lý nói chung và khoa học QLGD nói riêng. Đặc biệt là tiếp cận lý thuyết quản lý
nguồn nhân lực dựa vào chiến lược phát triển của tổ chức, trong đó có sự kết hợp giữa lý
thuyết quản lý kinh điển với những vấn đề mới trong lý thuyết quản lý hiện đại, làm cơ sở
khoa học cho việc đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng các trường THPT
nhằm thực hiện thành công mục tiêu chiến lược của nhà trường.
Tác giả chọn cách tiếp cận này làm chủ đạo thơng suốt q trình làm luận án
của bản thân.
7.1.2. Tiếp cập theo chuẩn
Việc tiếp cận theo chuẩn để thấy được phẩm chất năng lực của đội ngũ Hiệu trưởng
các trường THPT đã đạt được ở mức độ nào so với chuẩn Hiệu trưởng, từ đó có các đề
xuất bổ sung Chuẩn cho phù hợp với đặc điểm vùng miền và đáp ứng các bối cảnh đổi
mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay, đồng thời tìm các giải pháp cho việc nâng cao
phẩm chất, năng lực của đội ngũ Hiệu trưởng các trường THPT theo chuẩn.
7.1.3. Tiếp cận đổi mới giáo dục
Tiếp cận đổi mới giáo dục cũng chính là cách tiếp cận năng lực và hội nhập. Theo
hướng tiếp cận năng lực đội ngũ hiệu trưởng được xem là chìa khóa để đổi mới giáo dục.
Tiếp cận theo hướng năng lực thực chất là tiếp cận đầu ra, có điều đầu ra là các năng
lực chung, tiếp cận về mặt kiến thức hay về mặt năng lực. Theo cách tiếp cận này, tác
giả cần phải hình dung ra người hiệu trưởng trường THPT phải có những năng lực
chung và năng lực riêng nào để người hiệu trưởng có thể ứng phó được trước những bối
cảnh đổi mới giáo dục, đồng thời phù hợp với bối cảnh, điều kiện của địa phương.
Xu thế tồn cầu hóa u cầu những nhà lãnh đạo phải có kế hoạch xây dựng, lựa
chọn các chương trình đào tạo, bồi dưỡng năng lực phù hợp.
7.2. Phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Thực hiện hồi cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái qt hóa trong q
trình nghiên cứu các nguồn tài liệu khoa học và các văn bản có tính pháp lý về phát
12
13
triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT, bao gồm:
- Các tài liệu, văn kiện của Đảng (Bộ chính trị, ban bí thư, Ban chấp hành Trung
ương) và Nhà nước (Quốc hội, chính phủ, các Bộ - Ngành) về phát triển giáo dục, xây
dựng đội ngũ CBQL giáo dục các cấp.
- Các kết quả nghiên cứu, tài liệu trong nước và ngoài nước (nước ngoài, các tổ
chức quốc tế, Việt Nam) về phát triển giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ Hiệu
trưởng trường và CBQL giáo dục.
13
14
7.2.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn, quan sát
Xây dựng các bảng điều tra phù hợp với nội dung đề tài luận án, phân tích, thống
kê các dữ liệu để có những nhận xét, đánh giá chính xác về đội ngũ Hiệu trưởng
trường THPT tỉnh Bolikhamxaynhững năm vừa qua.
- Phương pháp chuyên gia:
Thông qua hội thảo khoa học, thông qua hỏi ý kiến CBQL giáo dục các cấp có
nhiều kinh nghiệm (bằng văn bản và phỏng vấn) để khảo sát tình hình đội ngũ Hiệu
trưởng các trường THPT tỉnh Bolikhamxay
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:
Xuất phát từ thực tiễn sinh động của giáo dục THPT, từ người thật, việc thật của
các Hiệu trưởng trường THPT để lấy ý kiến đóng góp bổ ích phát triển đội ngũ Hiệu
trưởng các trường THPT ở các tỉnhBolikhamxay.
- Phương pháp khảo nghiệm, thử nhiệm
Xin ý kiến đánh giá của chuyên gia thông qua phiếu hỏi, phỏng vấn về các kết quả
nghiên cứu, các giải pháp đã được luận án đề xuất.
Áp dụng thử vào thực tiễn một số giải pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường
THPT đã được đề xuất trong luận án để đánh giá tính cần thiết, khả thi các giải pháp
trên thực tế.
7.2.3. Nhóm các phương pháp xử lý thơng tin
Sử dụng thống kê toán học để xử lý các kết quả nghiên cứu; sử dụng các cơng thức
tốn, phần mềm tin học và sử dụng các bảng biểu, mơ hình, sơ đồ và đồ thị để phục vụ
nghiên cứu và biểu đạt các kết quả nghiên cứu.
8. Những luận điểm bảo vệ
8.1. Đội ngũ hiệu trưởng các trường THPT có vai trò quan trọng đối với phát triển
giáo dục THPT. Thực hiện lập kế hoạch phát triển đội ngũ; tuyển chọn, bổ nhiệm, luân
chuyển, miễn nhiệm đội ngũ; kiểm tra, đánh giá hoạt động của đội ngũ; đào tạo, bồi
dưỡng ĐNHT; tạo động lực và môi trường làm việc thuận lợi phát triển đội ngũ theo định
hướng đổi mới giáo dục là con đường đúng đắn để phát triển đội ngũ hiệu trưởng THPT
đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục.
8.2. Cũng như thực trạng chung của một số tỉnh khác trên đất nước CHDCND
Lào, công tác quản lý giáo dục của tỉnh Bolikhamxay còn yếu kém; đội ngũ Hiệu
trưởng trường THPT của tỉnh này còn nhiều yếu kém về số lượng, cơ cấu và chất
lượng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình
trạng đó. Ngun nhân trực tiếp quan trọng nhất là công tác phát triển ĐNHT chưa
thực hiện tốt cả về nội dung lẫn giải pháp quản lý.
8.3. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao nhận thức, kế hoạch hóa, tuyển
chọn, bổ nhiệm, kiểm tra, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng và tạo động lực làm việc thuận
lợi cho đội ngũ Hiệu trưởng theo chuẩn Hiệu trưởng là con đường phát triển đội ngũ
Hiệu trưởng trường THPT đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo chất lượng
14
15
trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
9. Đóng góp mới của luận án
9.1. Đã hệ thống hóa lý luận, từ đó xây dựng được cơ sở lý luận cho nghiên cứu phát
triển đội ngũ hiệu trưởng trường THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
9.2. Đã phát hiện được thực trạng đội ngũ hiệu trưởng và phát triển đội ngũ hiệu
trưởng và phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THPT tỉnh Bolikhamxay nước
CHDCND Lào.
9.3. Đã đề xuất được 7 giải pháp phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THPT tỉnh
Bolikhamxay. Trong đó giải pháp “Tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho hiệu
trưởng trường THPT đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” đã được thử nghiệm và khẳng
định về tính khả thi và tính hiệu quả.
10. Cấu trúc của luận án
Luận án có cấu trúc các phần và các chương như sau:
Phần mở đầu
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT trong
bối cảnh đổi mới giáo dục
Chương 2:Thực trạng phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT tỉnh
Bolikhamxay nước CHDCND Lào
Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng các trường THPT tỉnh
Bolikhamxay nước CHDCND Lào trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
Kết luận và kiến nghị
Danh mục các tài liệu tham khảo, Phụ lục
15
16
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những cơng trình nghiên cứu về phát triển nhân lực và nhân lực giáo dục
1.1.1.1. Những cơng trình nghiên cứu ở nước ngồi
* Nhóm nghiên cứu vai trị của nguồn nhân lực với phát triển kinh tế - xã hội.
Ta có thể kể đến một số ấn phẩm đáng chú ý như “Meeting human resources
needs” (Đáp ứng các nhu cầu về nguồn lực) của Karen Lashman; “Human reources
for health policies: a critical component in health policies” (2003) , Apr 14 [123] ,
(Nguồn nhân lực cho chính sách về sức khỏe: một nhân tố thiết yếu trong các chính
sách về sức khỏe) của Gilles Dusault và Carl – Ardy Dubois; “Managing human
resources in a decentralized context” (2010) [116], (Quản lý nguồn nhân lực trong bối
cảnh phi tập trung hóa) của tác giả Amanda E. Green; và ngay cả tờ tạp chí của tổ
chức này The World Bank Economic Review, (2005) [118], cũng là một ấn phẩm có
đăng tải rất nhiều bài viết về vấn đề nguồn nhân lực. Các tác phẩm này đều phân tích
vai trị của nguồn nhân lực với phát triển kinh tế - xã hội theo các khía cạnh khác nhau.
Dưới góc nhìn của nhà quản lý vấn đề nguồn nhân lực cũng nhận được sự quan
tâm. “Strategic human resources management” [129] (chiến lược quản lý nguồn nhân
lực); “Managing human resources” [117] (quản lý nguồn nhân lực) – Arthur
Sherman, George Bohlander và Scott Swell (1997).
Nhà xã hội học người Mỹ Leonard Nadler đã nghiên cứu về quản lý nguồn nhân
lực cho phát triển KT-XH đã chỉ ra 3 nhiệm vụ chính là: phát triển nguồn lực; sử dụng
nguồn nhân lực; tạo môi trường phát triển nguồn nhân lực [48].
* Nhóm nghiên cứu về tầm quan trọng của yếu tố nguồn nhân lực, phát triển
nguồn nhân lực. Tiêu biểu có các tác phẩm như sau:
Tác phẩm “The East Asian Miracle: economic growth and public policy” (Thần kỳ
Đông Á: Phát triển kinh tế và chính sách cơng) của World Bank (1993) [143], hay bài
viết “Inequality and growth reconsidered: lesson from East Asia” (xem xét lại sự bất
bình đẳng và tăng trưởng: những bài học từ Đông Á) của 3 tác giả Nancy Birdsal,
David Ross và Richarch Sabot (1995; 1996) [118], đều đi đến một kết luận rằng, một
trong những nguyên nhân quan trọng tạo nên thần kỳ Đông Á, khiến cho các nước này
có giai đoan phát triển kinh tế với tốc độ thần kỳ Đông Á, khiến cho các nước này có
giai đoạn phát triển kinh tế với tốc độ gấp hai, gấp ba lần các nước phát triển ở ÂuMỹ chính là chính sách phát triển nguồn nhân lực.
Bài viết “Asia ia four little dragons: a comparison of the role of education in their
development” [140] ( Bốn con rồng nhỏ Châu Á: một sự so sánh về vai trò của giáo dục
trong phát triển) của Paul Moris (1996;2000) và “another look at East Asia Miracle”
16
17
(Một cái nhìn khác về thần kỳ Đơng Á) của Ranis G (1996) [141], đều đề cập đến Đông
Á dưới góc độ giáo dục và nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục trong đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng phục vụ quá trình xây dựng và phát triển đất nước.
Ở Việt nam, vai trò quyết định của nguồn lực cũng đã được khẳng định trong sự
nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Nó được thể hiện trong Văn kiện đại hội Đảng
Lần IX (chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001-2010, Đảng CSVN đã nêu rõ: giáo
dục, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực được coi là một trong những bước
đột phá quan trọng.
+ Một số tác phẩm, cơng trình tiêu biểu của Việt nam nhấn mạnh vai trò của nguồn
nhân lực, phát triển nguồn nhân lực như “Phát triển nguồn nhân lực- kinh nghiện thế giới
và thực tiễn Việt Nam” [102] – Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (1996); “Quản lý và phát triển
nguồn nhân lực xã hội” [92] – GS, TS Bùi Văn Nhơn (2006); “Phát huy nhân tố con
người trong phát triển lực lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay” [91]- Phạm Công Nhất
(2007); “Nguồn lực con người trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt
Nam” [81] – Đoàn Văn Khái (2005); “Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ
phát triển kinh tế- xã hội” [67] – Tác giả Phạm Minh Hạc (1996); “Phát triển nguồn nhân
lực giáo dục đại học Việt Nam”, của Đỗ Minh Cương - Nguyễn Thị Doando NXB Chính
trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2001 [78]; “Quản lý nguồn nhân lực xã hội”, của
Học viện Hành chính Quốc gia, do NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2003
[76]; “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ cơng nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước”của
Nguyễn Thanh, do NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2005 [98]; “Đào tạo
và sử dụng nhân lực trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” của Phan Văn Kha, do
NXB Giáo dục, Hà Nội phát hành năm 2007 [80]...
1.1.1.2. Những nghiên cứu ở Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội nhận được rất nhiều sự
quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nước CHDCND Lào. Tiêu biểu một số tác
phẩm sau: “Phát huy nhân tố con người trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội ở Thành
Phố Viêng Chăn hiện nay” [97] – Sỉ Sổm Phon Vông Pha Chăn (2009); “Phát huy nguồn
nhân lực trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Thủ đô Viêng Chăn hiện nay”
[113] – Đa Von Bút Tha Nu Vông (2011); “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
công tác phát triển nguồn nhân lực ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong giai đoạn
mới” [110] – Vi La Phăn Sỉ Li Thăm (2011).....
“Vai trị của chính sách xã hội đối với việc phát huy nhân tố con người ở Lào hiện nay”
[114] – Xỉ Tha Lườn Khăm Phu Vông (2005) trên cơ sở phân tích khái quát một số khía
cộng lý luận về nhân tố con người và phát huy nhân tố con người, đồng thời, đồng thời làm
rõ tầm quan trọng của chính sách xã hội trong việc phát huy nhân tố con người, cơng trình
đã phân tích rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong chính sách xã hội của Lào nhằm
phát huy nhân tố con người, từ đó, nêu phương hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm đổi
mới chính sách xã hội để phát huy hiệu quả nhân tố con người trong những năm tiếp theo.
17
18
“Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đến năm 2020” [1] ban tổ chức Trung
ương Đảng nhân dân cách mạng Lào (2002). Nội dung chính trong cơng trình này đề
cập một cách khá toàn diện, hệ thống về thực trạng nguồn nhân lực ở nước CHDCND
Lào, đặc biệt cơng trình đã chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, kinh nghiệm trong công tác
đào tạo phát triển nguồn nhân lực ở nước Lào trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước.
“Công tác phát triển nguồn nhân lực đối với tám tỉnh miền Bắc và chín tỉnh miền
Trung, Nam nước CHDCND Lào” [2] Ban tổ chức Trung ương Đảng nhân dân cách
mạng Lào (2007). Đề tài thuộc chương trình Khoa học cấp Nhà nước giai đoạn 20052008. Đề tài nhấn mạnh và làm rõ công tác phát triển nguồn nhân lực của CHDCND
Lào trong thời gian qua.
1.1.2. Những cơng trình nghiên cứu về phát triển đội ngũ cán bộ QLGD, phát
triển đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT
Nói đến hoạt động này, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của C.Mac:
“Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, cịn một dàn nhạc thì cần
phải có nhạc trưởng” [37].
1.1.2.1. Những cơng trình nghiên cứu ở nước ngồi
Trên thế giới có rất nhiều cơng trình nghiên cứu về quản lý, quản lý nguồn nhân lực,
quản lý nguồn nhân lực giáo dục. Cụ thể theo các hướng nghiên cứu như sau:
* Nhóm nghiên cứu về nâng cao chất lượng những người làm công tác quản lý.
- Trong lịch sử Trung hoa cổ đại (những năm 500 đến 300 TCN), đã xuất các tư
tưởng quản lý của Khổng Tử nhằm mục đích đào tạo lớp người cai trị xã hội được xây
dựng trên cái cốt triết lý là đạo nhân. Trên cơ sở đạo nhân, Khổng Tử và các học trị
của Ơng đã tiếp cận các yếu tố nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng, tín, lợi và thành vào việc
truyền đạo để có được tầng lớp những người quản lý xã hội chuyên nghiệp như “quân
tử” và “kẻ sĩ”. [79]. Tư tưởng đó của Khổng Tử tuy chưa thực sự chuyên sâu phát
triển đội ngũ CBQL giáo dục, nhưng đã đặt nền móng cho việc hình thành tư tưởng về
nâng cao chất lượng những người làm công tác QL trong xã hội lúc bấy giờ.
Cũng vào thế kỷ 18, Frederick Winslow Taylor (1856-1915) với cơng trình tiêu biểu
là cuốn sách “The Principles of Scientific Management” (Những nguyên tắc quản lý khoa
học) được xuất bản năm 1911 [112] trong cơng trình này, F.W. Taylor đã đưa ra bốn
nguyên tắc QL khoa học đề cập đến việc tuyển chọn, huấn luyện công nhân, sự hợp tác
cần thiết của người QL với người bị quản lý nhằm nâng cao chất lượng của người QL.
Tiếp đó, Henri Faylor (1841-1925), một kỹ nghệ gia người Pháp có cơng trình “tổng
quát về quản lý – hay thuyết quản trị” (Adiministration Industriellet Generale) xuất bản
năm 1916 mà cống hiến lớn nhất của ông là đưa ra 5 chức năng cơ bản QL, 16 quy tắc về
chức trách QL và 14 nguyên tắc QL hành chính. Theo ơng, nếu người QL có đủ phẩm
chất, năng lực, kết hợp nhuần nhuyễn các chức năng, quy tắc và nguyên tắc QL thì chất
lượng và hiệu quả công việc, năng suất lao động được nâng cao.
18
19
Ở Việt Nam, Tư tưởng Hồ Chí Minh (1890-1969) về công tác quản lý, nhiều quan
điểm chỉ đạo của Người đều nhắc đến tầm quan trọng của người Quản lý. Người
khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “Muốn việc thành công hay thất
bại đều do cán bộ tốt hay kém” [103].
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất và năng lực của cán bộ được hình thành
trên cơ sở mối quan hệ biện chứng của các thành tố mục đích, chương trình và nội
dung, phương pháp và hình thức, phương tiện và điều kiện, lực lượng giáo dục. Trong
lời nói và bút tích của Người đã chỉ giáo khi huấn luyện (đào tạo, bồi dưỡng) phải xác
định đúng các yếu tố như: “huấn luyện nhằm đạt được những gì” (mục tiêu đào tạo,
bồi dưỡng); “huấn luyện gì” (nội dung và chương trình đào tạo, bồi dưỡng); “ai huấn
luyện” (lực lượng người dạy); “huấn luyện ai” (người học); “huấn luyện như thế nào”
(phương pháp và hình thức đào tạo, bồi dưỡng); “huấn luyện với và trong điều kiện
nào” (phương tiện và điều kiện đào tạo, bồi dưỡng),kiểm tra và đánh giá kết quả huấn
luyện thông qua đánh giá học viên. [78].
+ Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (năm 1991) Đảng
CHXHCN Việt Nam đã chỉ rõ “Đổi mới công tác đào tạo cán bộ. Phát triển nhiều
hình thức đào tạo lại, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trong bộ máy quản lý Nhà nước và
các nhà kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế theo kịp yêu cầu của cơ chế quản lý
mới và nắm bắt được kiến thức quản lý hiện đại”[49].
+ Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng CHXHCN
Việt Nam (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong
thời kỳ cơng nghiệp hố, hiện đại hố và nhiệm vụ đến năm 2000, đã chỉ rõ: “Đổi mới
công tác quản lý giáo dục” và “Đổi mới cơ chế quản lý, bồi dưỡng cán bộ sắp xếp,
chấn chỉnh và nâng cao nǎng lực của bộ máy quản lý giáo dục - đào tạo” [50].
+ Tại Kết luận số 14-KL/TW, ngày 26/7/2002 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp
hành Trung ương khoá IX về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII,
phương hướng phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học và công nghệ đã nhấn mạnh: “Đổi
mới mạnh mẽ quản lý Nhà nước về giáo dục” và “Xây dựng và triển khai chương trình
xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện”[51].
+ Chiến lược phát triển KT-XH 2011 - 2020 đã được Đại hội đại biểu tồn quốc lần
thứ XI của Đảng CHXHCN Việt Nam thơng qua, có chỉ rõ “Phát triển giáo dục là quốc
sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá,
hiện đại hoá, xã hội hố, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản
lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”[52].
+ Đặc biệt, gần đây Đảng Cộng sản Việt Nam đã có Nghị quyết số 29/NQ-TW,
ngày 04/11/2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản và toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Nghị quyết này đã chỉ rõ các quan
điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới giáo dục và đào tạo, trong đó
19
20
có giáo dục phổ thơng. Một trong các giải pháp có trong Nghi quyết này là “Phát triển
đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong bối cảnh đổi mới giáo dục”[53].
Với xu thế kế thừa, nhiều nhà khoa học Việt nam như: Phạm Minh Hạc, Thái Duy
Tuyên, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Vũ Bích Hiền, Nguyễn Xuân Thanh, Nguyễn Gia
Quý, Nguyễn Xuân Thức, Trần Kiểm, Trịnh Văn Minh, ...đã chắt lọc những vấn đề
tinh túy nhất của hầu hết các tác phẩm QL của nước ngoài để thể hiện trong các cơng
trình nghiên cứu của mình về sự phát triển của công tác QL.
+ Tác phẩm “Quản lý đội ngũ”của Nguyễn Quốc Chí , Nguyễn Thị Mỹ Lộc do Dự
án đào tạo giáo viên Trung học cơ sở - LOAN No. 1718 - VIE (SF), Hà Nội phát hành
năm 2003 [42] đã bàn nhiều đến kỹ năng thực hiện các hoạt động trong quản lý đội ngũ
trong cơng tác tổ chức;
Xét ở góc độ nghiên cứu lý luận QLGD, dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học nước ta tiếp cận QLGD và QL
trường học để đề cập tới việc phát triển công tác QL trường học, tiêu biểu nhất có:
“Phương pháp luận khoa học giáo dục” (Phạm Minh Hạc) [59]; “Khoa học quản lý
giáo dục – Một số vấn đề lý luận và thực tế” (Trần Kiểm) [103].
Ngồi ra cịn có các chương trình , đề tài Khoa học và công nghệ và một số bài báo
khoa học có nội dung đề cập đến vấn đề phát triển đội ngũ CBQL giáo dục: Cụ thể:
+ Đề tài KH&CN trọng điểm cấp Bộ của Bộ GD&ĐT “Các giải pháp triển khai
đào tạo cán bộ quản lý giáo dục theo nhu cầu xã hội”, mã số B2007. 29-27 TĐ, do
Nguyễn Phúc Châu làm chủ nhiệm đề tài đã xác định rõ lý luận về triển khai đào tạo
CBQL giáo dục theo nhu cầu xã hội, thực trạng và giải pháp triển khai đào tạo CBQL
giáo dục theo nhu cầu xã hội.
* Nhóm nghiên cứu về giá trị của chất lượng những người làm công tác quản lý.
Từ những năm 78-80 của thế kỷ XX, một trường phái tiếp cận về QL trên cơ sở
xem xét những yếu tố văn hóa giữa con người đã xuất hiện với cơng trình nghiên cứu
của William (Giáo sư trường Đại học Canifonia, Mỹ). Ông khẳng định, yếu tố quan
trọng của văn hóa trong QL và nêu ra 7 yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả QL được
mô tả trong sơ đồ 7S: Strategy (chiến lược), Skills (kỹ năng), Style ( cách thức),
System (hệ thống), Structure (cơ cấu), Shared value (các giá trị chung) và đặc biệt là
Staff (đội ngũ). Thông qua mơ hình và phân tích đặc điểm của 7 yếu tố trên, chúng ta
sẽ thấy giá trị của chất lượng đội ngũ người QL [66, tr228]
Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich với tác phẩm nổi tiếng: “Những vấn
đề cốt yếu của quản lý” [65], các cơng trình này đề cập nhiều hơn về yêu cầu chất
lượng của người QL.
Ở Trung Quốc đã xuất hiện cơng trình nghiên cứu “ Khoa học lãnh đạo hiện đại”
[94]. Trong cơng trình này, các tác giả đã chú ý nêu vấn đề chất lượng của cán bộ lãnh
đạo và QL.
* Nhóm cơng trình nghiên cứu – xét ở góc độ lý luận giáo dục học đề cập tới lực
20
21
lượng GD; trong đó nêu rõ vai trị, vị trí, chức năng của CBQL trường học, tiêu biểu
có các cơng trình của các nhà khoa học nổi tiếng như sau:
Ilina T.A với tác phẩm “Giáo dục học” (tại tập 3: Những cơ sở của công tác giáo dục).
Cuốn sách “Quản lý hành chính và sư phạm trong các nhà trường tiểu học” (La
Gestion administrative et Pédgogique des écoles) của Jean Valérien do UNESCO xuất
bản năm 1991 [127] đã phân tích về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của người Hiệu
trưởng trường tiểu học; tác giả đã có những gợi ý về quan điểm, phẩm chất và năng
lực của người Hiệu trưởng tiểu học và phương thức phát triển đội ngũ đó.
* Nhóm nghiên cứu về cách thức tuyển chọn, bổ nhiệm, xây dựng, phát triển, đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ Hiệu trưởng...
+ Phương pháp và cách thức tuyển chọn, bổ nhiệm Hiệu trưởng có chất lượng tốt cho
các nhà trường bằng việc nghiên cứu, công bố và áp dụng chuẩn lãnh đạo cho từng vùng.
+ Xây dựng và phát triển các Chuẩn Hiệu trưởng để triển khai đào tạo, bồi dưỡng
những Hiệu trưởng với tư cách là nhà quản lý và nhà lãnh đạo trường học đáp ứng
được yêu cầu phát triển nhà trường, đảm bảo cho nhà trường thành công; hoặc nghiên
cứu về xây dựng và phát triển các tiêu chuẩn với các yêu cầu mà Hiệu trưởng phải đạt
được để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà trường trong điều kiện hiện nay [128].
+ Chuẩn về các kỹ năng, phong cách lãnh đạo hoặc những năng lực cần có để đảm bảo
thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của người đứng đầu nhà trường [128], [134] và [139].
+ Chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL giáo dục (cụ thể là Hiệu trưởng
trường học) phải được phát triển và cập nhật như thế nào để đáp ứng với sự phát triển của
khoa học - công nghệ trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa trên cơ sở so sánh các
chương trình bồi dưỡng Hiệu trưởng của nhiều quốc gia [126]. Tại Đại học Nam Florida đã
quy định Chuẩn chương trình đào tạo Hiệu trưởng, cho nhà quản lý trường học là chương
trình tích hợp gồm mười một vùng kiến thức kỹ năng theo bốn lĩnh vực lớn: Lãnh đạo chiến
lược; Lãnh đạo tổ chức; Lãnh đạo giáo dục; Lãnh đạo chính trị và cộng đồng [124]. Có
nghiên cứu về một số chương trình đào tạo nhà lãnh đạo trường học theo các nhóm năng
lực: năng lực sư phạm, giáo dục và thiết lập hoạt động; năng lực kiểm soát; năng lực lãnh
đạo; năng lực tổ chức; năng lực tư vấn [121] và [129]. Cũng là nghiên cứu về chương trình
đào tạo nhà lãnh đạo trường học, đã có một số cơng trình khoa học chỉ ra các yêu cầu người
học phải đạt được về các năng lực như: năng lực lãnh đạo, năng lực xã hội, năng lực cá
nhân, năng lực giáo dục, năng lực phát triển trường học, năng lực tổ chức quản lý [126].
Một số cơng trình nghiên cứu về chuẩn chương trình đào tạo cán bộ lãnh đạo trường học đã
cung cấp cho những người chuẩn bị làm lãnh đạo trường học các năng lực lãnh đạo [129].
+ Quản lý giáo dục, quản lý nhà trường có đề cập đến vai trò, trách nhiệm và hoạt
động của Hiệu trưởng; tìm ra cách nâng cao chất lượng quản lý trường học của Hiệu
trưởng [132], [134] và [137].
* Nhóm nghiên cứu về phương thức xây dựng, phát triển, tiêu chuẩn Hiệu trưởng
của một số quốc gia
21
22
+ Tại Châu Á nói chung,nhất là các nước Asian, đã có các nghiên cứu về Chuẩn Hiệu
trưởng trường phổ thông để làm nền tảng cho hoạt động phát triển đội ngũ Hiệu trưởng. Ví
dụ cuốn sách “School principals: Core actors in educational improvement, An analysis of
seven Asian countries” (Hiệu trưởng nhà trường: diễn viêncốt lõitrong việc cải thiệngiáo
dục,Một phân tíchcủabảy quốc giachâu Á, của các tác giả Maheswari Kandasamy và Lia
Blaton [133] đã phân tích kinh nghiệm về xây dựng và phát triển đội ngũ Hiệu trưởng
trường của 7 nước châu Á, chỉ ra chuẩn tối thiểu của Hiệu trưởng trường phổ thông.
- Ở Việt Nam, Bộ GD&ĐT đã nghiên cứu và ban hành "Chuẩn Hiệu trưởng
trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thơng có nhiều cấp
học. Trong chuẩn này đã chỉ rõ các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị và đạo đức nghề
nghiệp, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và năng lực quản lí nhà trường của
Hiệu trưởng các trường này [35]
+ Bài báo “Bài toán Hiệu trưởng trong bối cảnh quản lý trường phổ thông”, của
Phạm Đỗ Nhật Tiến, đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục, số 36, tháng 9 - 2008 [99] đã
đặt ra bài toán giải quyết về các yêu cầu mới đối với người lãnh đạo tgrường học (Hiệu
trưởng) và các định hướng để giải quyết bài toàn này trong bối cảnh KT-XH hiện nay.
+ Bài báo “Năng lực quản lý chuyên môn của Hiệu trưởng trong đổi mới nhà
trường” của tác giả Trần Văn Dũng, đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục, số 63, tháng
12-2010 [60] đã chỉ ra tầm quan trong của các năng lực chuyên môn vàg giải pháp nâng
cao năng lực chuyên môn cho Hiệu trưởng nhà trường.
+ Bài báo “Giải pháp phát triển đội ngũ Hiệu trưởng trường phổ thông ở Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Hồng Hải, đăng trên Tạp chí Khoa học giáo dục, số 57, tháng 6 - 2010
[70] chỉ ra các thực trạng và giải pháp về các lĩnh vực liên quan đến quản lý nhằm phát triển
đội ngũ Hiệu trưởng trường phổ thông trong giai đoạn hiên nay.
+ Bài báo “Sử dụng mô hình năng lực trong bồi dưỡng Hiệu trưởng trường trung học
phổ thông”, của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, đăng trên Tạp chí giáo dục, số 240, kỳ 2,
tháng 6 - 2010 [72] đã bàn đến mơ hình năng lực Hiệu trưởng trường THPT và phương
thức bồi dưỡng đội ngũ Hiệu trưởng trường THPT để được mơ hình năng lực đó.
+ Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Liên Châu (2000), với đề tài “Một số đặc
điểm giao tiếp của Hiệu trưởng trường tiểu học” [39] đã phân tích đặc điểm gián tiếp
của Hiệu trưởng trên các mặt: nhu cầu, mục đích và nhận thức trong giao tiếp; đồng
thời chỉ ra phương thức phát huy thế mạnh của người Hiệu trưởng trong giáo tiếp..
+ Luận án tiến sĩ của Nguyễn Huy Hoàng (2011) với đề tài “Phát triển đội ngũ Hiệu
trưởng trường THPT các tỉnh vùng Tây Bắc theo hướng chuẩn hóa” [75] đã bàn về vấn đề
chuẩn hố đội ngũ Hiệu trưởng các trường THPT và chỉ ra các giải pháp phát triển đội ngũ
này theo hướng chuẩn hóa trên cơ sở điều kiện kinh tế xã hội của các tỉnh Tây Bắc.
1.1.2.2. Những nghiên cứu ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Ngay từ năm 2006, Nghị quyết Đại hội đảng Nhân dân cách Mạng Lào lần thứ VIII
đã khẳng định “Nguồn nhân lực quan trọng nhất nhằm thực hiện cơng nghiệp hố, hiện
22
23
đại hoá là nguồn nhân lực con người. Giáo dục phải có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng
nguồn nhân lực có đủ trình độ đáp ứng được sự phát triển của nước nhà so với các nước
trong khu vực và trên Thế giới” [20]. Đào tạo nguồn nhân lực công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước được coi là mục tiêu ưu tiên của phát triển nguồn nhân lực, mà trong đó
trách nhiệm cao cả thuộc về giáo dục. Với chủ trương coi giáo dục là điểm mấu chốt trong
việc xây dựng xã hội Lào văn minh hiện đại và để giáo dục Lào đảm đương được nhiệm
vụ đó, trước hết giáo dục phải tập trung phát triển nguồn nhân lực của giáo dục, trong đó
có đội ngũ CBQL giáo dục nói chung và cán bộ quản lý các trường học nói riêng.
- Đối với Bộ Giáo dục Lào (nay là Bộ Giáo dục và Thể thao Lào) đã có nhiều sách và
văn bản quản lý đề cập đến quản lý phát triển đội ngũ CBQL giáo dục. Tiêu biểu:
+ Năm 2002 Sở giáo dục - Thể thao đã cho xuất bản cuốn “Quản lý giáo dục của
người quản lý cấp Sở giáo dục” [6] đã nêu lên nhưng lý luận về công tác quản lý giáo
dục đối với người quản lý giáo dục cấp Sở giáo dục; trong đó có đề cập đến lý luận và
thực tiễn về cơng tác quản lý đội ngũ CBQL các trường học do Sở giáo dục quản lý.
+ Năm 2005, Bộ Giáo dục Lào cho xuất bản cuốn “Quản lý giáo dục của cán bộ
quản lý giáo dục - Cuốn sách thứ VI”[7].
+ Đến năm 2007, Bộ Giáo dục Lào cho xuất bản cuốn “Quản lý giáo dục của cán
bộ quản lý giáo dục - Cuốn sách thứ VII”[8]. Các cuốn sách này có nội dung đề cập tới
lý luận, thực tiễn, các quy định của Nhà nước Lào, của Bộ Giáo dục Lào về cơng tác
quản lý giáo dục. Ngồi việc đề cập tới lý luận và thực tiễn về quản lý các hoạt động
giáo dục và dạy học, quản lý hoạt động cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; các cuốn sách
này có đề cập tới quản lý đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục, trong đó có lý thuyết về
phát triển đội ngũ Cán bộ quản lý.
+ Năm 2006, Bộ Giáo dục Lào đã ban hành "Kế hoạch chiến lược phát triển giáo
dục 2006 - 2015" [9]. Kế hoạch chiến lược này đã chỉ ra các quan điểm, mục tiêu, nhiệm
vụ và giải pháp phát triển giáo dục trong giai đoạn 2006 - 2015; trong đó có quan điểm
phát triển giáo viên và CBQL giáo dục, có giải pháp cơ bản là đổi mới quản lý giáo dục
và phát triển đội ngũ CBQL giáo dục.
- Gần đây, đã có một số cơng trình khoa học (đề án, đề tài KH&CN và luận án tiến
sĩ) đã nghiên cứu về quản lý và phát triển nhân lực giáo dục có thể vận dụng vào phát
triển đội ngũ CBQL, đội ngũ Hiệu trưởng trường như:
+ Cuốn sách “Chính sách giáo dục quốc gia của Đảng và Nhà nước” của tác giả
Khun Mee (Lào) do NXB Quốc gia Lào xuất bản năm 2005 [23] đã bàn đến các chính
sách đối với đội ngũ giáo viên và CBQL giáo dục.
+ Đề tài “Nghiên cứu phẩm chất, nhân cách người Hiệu trưởng trường tiểu học”,
luận án tiến sĩ của tác giả Khăm Keo Vơng Phila với [82] đã nghiên cứu 3 nhóm phẩm
chất của Hiệu trưởng trường tiểu học gồm phẩm chất đạo đức, phẩm chất tư tưởng,
phẩm chất công việc; đồng thời chỉ ra cách thức để hình thành và phát triển các phẩm
chất đó. Có thể vận dụng cách tiếp cận và các kết quả nghiên cứu vào nghiên cứu đặc
23
24
điểm của Hiệu trưởng trường THPT.
* Đánh giá chung về những thành cơng của các cơng trình khoa học đã nghiên cứu
- Những luận điểm tác giả tiếp thu
Các nhóm cơng trình trên đã nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về nguồn nhân
lực, phát triển nguồn nhân lực nói chung, phát triển đội ngũ QLGD và phát triển đội ngũ
Hiệu trưởng trường THPT nói riêng. Trong đó, có một số cơng trình đã phân tích cơ cở lý
luận của nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, phát triển ĐN QLGD như khái niệm
phát triển, phát triển nguồn nhân lực, QLGD, các nhân tố, các điều kiện ảnh hưởng đến
chất lượng, số lượng đội ngũ QLGD; một số cơng trình phân tích, đánh giá thực trạng, vai
trị của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở các quốc gia trên thế
giới, nhất là các nước đang phát triển ở Châu Á. Có những đề tài đã nghiên cứu về nâng
cao chất lượng, chất lượng, giá trị của chất lượng những người làm cơng tác quản lý. Có
những cơng trình đã nghiên cứu rõ về vai trò, chức năng của người hiệu trưởng trường
học. Đây là những nguồn tài liệu có giá trị cho hướng nghiên cứu của đề tài.
- Những vấn đề còn chưa được đề cập nghiên cứu
Tuy nhiên còn rất thiếu các cơng trình nghiên cứu phát triển đội ngũ hiệu trưởng
nói chung và đội ngũ trường THPT nói riêng. Đặc biệt chưa có cơng trình nào nghiên
cứu phát triển đội ngũ hiệu trưởng của Lào trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Mảng
trống này cần được tiếp tục nghiên cứu.
+ Những vấn đề luận án cần tập trung nghiên cứu giải quyết
Tập trung nghiên cứu sâu các lý luận khoa học liên quan đến HT, ĐNHT; mối tác
động qua lại giữa KT-XH dẫn đến đòi hỏi đổi mới giáo dục; thực trạng đội ngũ HT,
công tác phát triển ĐNHT tìm lý do ĐNHT chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới; đề xuất các
giải pháp giúp ĐNHT phát triển đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chất lượng đáp
ứng yêu cầu đổi mới.
1.2. Đổi mới giáo dục và những yêu cầu đặt ra đối với phát triển đội ngũ hiệu trưởng
1.2.1. Những thay đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội dẫn đến địi hỏi phải đổi mới
giáo dục
Từ khi Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (NDCM) lãnh đạo nhân dân Lào tiến hành
thành công cuộc đấu tranh anh dũng, kiên cường và đầy gian nan, thử thách, lật đổ ách
thống trị thực dân, phong kiến, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nước
CHDCND Lào (tháng 12-1975). Nước CHDCND Lào đã có những bước thay đổi cơ
bản về kinh tế, văn hóa, xã hội nhất định cụ thể như sau:
Sau khi giải phóng hồn toàn đất nước, một trong những nhiệm vụ cốt yếu hàng
đầu của Nhà nước Lào là tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế xã hội, đưa đất nước sớm thốt khỏi tình trạng kém phát triển, cải thiện đời sống nhân
dân. Nhận thức rõ vị trí, vai trị của mình đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc,
Đảng NDCM Lào sớm đề ra nhiều chủ trương, giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội.
Đi đôi với phát triển kinh tế, Lào đã đẩy mạnh phát triển các hoạt động xã hội, tạo ra sự
24
25
hài hòa trong phát triển. Với chủ trương coi giáo dục là điểm mấu chốt trong việc xây dựng
xã hội Lào văn minh hiện đại, ngành giáo dục Lào đã có bước tiến dài. Hệ thống giáo dục
quốc dân đã được phát triển cả về quy mô và chất lượng. Về số lượng trường lớp, năm
2008-2009 cả nước Lào có 1.123 cơ sở mẫu giáo và nhà trẻ; 8,871 trường Tiểu học; có
1.125 trường trung học. Chủ trương của nước CHDCND Lào là trong những năm tới tập
trung phát triển quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo cho tất cả các cấp học. Tuy nhiên
do điều kiện còn khó khăn, việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho trường còn nhiều
hạn chế. Giáo dục Đại học nước CHDCND Lào có 152 trường cao đẳng, đại học, học viên
(bao gồm cả trường công lập và tư thực) với 2,844 giảng viên, 663 cán bộ công chức, 316
người đang được cử đi tu nghiệp nước ngoài và 226 can bộ hợp đồng. Số cán bộ, giảng viên
có trình độ tiến sĩ 59 người, thạc sĩ 450 người, đại học 1,337 người, cao đẳng 566 người,
trung cấp 11 người, sơ cấp 290 người. Tổng số sinh viên có 100.056 người.
Phát triển sự nghiệp giáo dục trở thành trách nhiệm của toàn xã hội, giáo dịc được coi
là một phần quan trọng của chương trình quốc gia về xóa đói giảm nghèo. Chính phủ Lào
coi việc củng cố hệ thống giáo dục như một điểm nút của chiến lược phát triển nguồn
nhân lực quốc gia, tập trung vào việc giảm nghèo và tăng năng suất lao động, tập trung
đặc biệt cho những vùng dân tộc ít người và những nhóm người chịu thiệt thịi.
Từ những chuyển biến về kinh tế, xã hội, văn hóa thực tế như trên tác giả nhận
định được các lý do phải đổi mới nền giáo dục Lào như sau:
Thứ nhất, khi bối cảnh đất nước thay đổi lớn thì giáo dục cần phải tiến hành đổi
mới để đáp ứng những yêu cầu mới. Từ khi giành độc lập năm 1975 đến nay, nước
CHDCND Lào chưa có một cuộc tiến hành đổi mới giáo dục cơ bản nào. Chỉ cơ bản là
những cải cách nhỏ ở bậc học phổ thơng, cịn các bậc học khác ít đề cập đến và giải
quyết cũng chưa được đồng bộ, sâu sắc, cịn chắp vá, thiếu một tầm nhìn tổng thể,
thiếu giải pháp đồng bộ, chưa đem lại kết quả mong muốn nên cần phải có những
nghiên cứu đổi mới giáo dục và đào tạo trong thời gian tới.
Thư hai, với yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là
yêu cầu chuyển mơ hình phát triển nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu
quả, đủ sức cạnh tranh, từng bước đi vào nền kinh tế tri thức, vươn lên sánh vai cùng
các nước tiên tiến trên thế giới, nếu không có những chủ nhân xứng đáng, khơng có
nguồn nhân lực đơng đảo với chất lượng cao, sẽ khó thực hiện được mục tiêu đề ra.
Đảng NDCM Lào đã xác định: gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát
triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, giáo dục và đào tạo là một trong ba khâu đột
phá để đưa đất nước Lào thoát khỏi các nước nghèo đến năm 2020, tạo tiền đề vững
chắc cho phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.
Thứ ba, trong q trình tồn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thực
chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về chất lượng nguồn nhân lực.
Chính vì vậy, đổi mới giáo dục đang là một xu thế tất yếu mang tính tồn cầu. Nước
nào khơng đổi mới, hoặc cải cách giáo dục khơng thành cơng, nước đó sẽ mất khả
25