ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI NGƯỜI CHẾT CỦA
NGƯỜI JARAI Ở GIA LAI
TIỂU LUẬN VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
GIẢNG VIÊN: GS TS MAI NGỌC CHỪ
HỌC VIÊN: NGUYỄN THỊ THU
LỚP: CAO HỌC VĂN HÓA K12
TP.HCM THÁNG 10 NĂM 2012
2
PHỤ LỤC
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia Lai nói riêng và Tây Nguyên nói chung hiện nay là địa bàn của các tộc
người bản địa và cả người Kinh di cư từ các vùng miền sinh sống xen kẽ. Trong quá
trình tiếp xúc, giao lưu giữa các tộc người, sự khác biệt văn hóa có thể trở thành
rào cản và chi phối đến thái độ ứng xử giữa các tộc người dẫn đến tình trạng miệt
thị, khinh thường của người Kinh đối với người bản địa, nghiêm trọng hơn là một
loạt những xung đột nảy sinh trong vấn đề tôn giáo, chính trị, kinh tế… Để giải
quyết vấn đề này, việc đầu tiên là các tộc người phải hiểu văn hóa của nhau, từ đó
mới có thể tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt trong văn hóa của nhau.
Trong tổng số các tộc người ở Gia Lai (gồm 1274412 người), Jarai (với
372302 người) là tộc người đông thứ hai sau người Kinh (713403 người) 1. Chính
vì thế, nghiên cứu văn hóa của tỉnh Gia Lai, không thể bỏ qua văn hóa tộc người
này mà trong đó, văn hóa ứng xử với người chết là một khía cạnh chứa đựng nhiều
nét độc đáo của người Jarai (và nhiều tộc người khác ở Tây Nguyên).
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu văn hóa ứng xử với người chết cho thấy mối liên hệ và sự chi
phối của các hệ thống quan niệm, vũ trụ quan và nhân sinh quan đến cách ứng xử
của con người. Thông qua những nghi thức tang ma ta có thể nhận thức được
những đặc điểm về tư tưởng, tâm hồn và đời sống tâm linh xem họ nghĩ gì, tư duy
như thế nào. Chính cách tư duy khác nhau đó tạo nên những khác biệt và đặc sắc
trong cách họ ứng xử với người chết. Đây là nguồn tư liệu góp phần tìm hiểu sắc
thái văn hóa người Jarai trong lịch sử phát triển tộc người. Sự hiểu biết về người
Jarai sẽ phần nào giúp giảm đi sự kỳ thị, phân biệt tộc người ở người Kinh trong
quá trình giao lưu, tiếp xúc với các tộc người thiểu số.
Bên cạnh đó, việc làm rõ sắc thái văn hóa tộc người và đưa ra thực trạng
phát triển của văn hóa tộc người sẽ là cứ liệu giúp các nhà hoạch định vạch ra
phương hướng cho vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của tộc người.
1 Số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 của Tổng cục Thống kê.
4
3. Lịch sử vấn đề
Jarai là một tộc người được nhiều nhà nghiên cứu thuộc các lĩnh vực dân tộc
học, xã hội học cũng như văn hóa học quan tâm. Văn hóa ứng xử với người chết của
tộc người này cũng được các học giả nghiên cứu theo các hướng:
-
Trong hệ thống nghi lễ vòng đời người Jarai với các công trình tiêu biểu là Nghi lễ
đời người Jarai Tbuăn (2011) hay Nghi lễ và lễ hội của các tộc người thuộc nhóm
Malayo-Polynesian ở Việt Nam (2011). Chính vì đặt trong của hệ thống nghi lễ đời
người nên những ứng xử với người chết thế hiện qua các nghi lễ tang ma chưa
-
được nghiên cứu chuyên sâu.
Nghiên cứu riêng biệt, đặc biệt tập trung nhiều vào lễ bỏ mả mà tiêu biểu là các
công trình của Ngô Văn Doanh: Lễ bỏ mả Bắc Tây Nguyên (1995), Bơthi - Cái chết
được hồi sinh (Lễ bỏ mả và nhà mồ Bắc Tây Nguyên) (2007) hay Bơthi - Cái chết
được hồi sinh (2011). Lễ bỏ mả cũng là nội dung của đề tài luận văn thạc sĩ Khoa
học Văn hóa: Lễ bỏ mả của người Jarai M’Thur – một giá trị văn hóa (1997) của
Nay Kỳ Hiệp – Đại học Văn hóa Hà Nội. Đây là những công trình tập trung nghiên
cứu về lễ bỏ mả, nhà mồ và tượng nhà mồ của dân tộc Jarai nhưng lại tập trung
làm rõ các giá trị thuộc các khía cạnh văn hóa khác nhau (văn học dân gian, điêu
khắc, kiến trúc, âm nhạc, múa...)
Nhìn chung, mỗi công trình với phương pháp tiếp cận và mục đích nghiên cứu
khác nhau nên chưa đi sâu phân tích đặc điểm trong văn hóa ứng xử với người
chết. Vì thế, đây sẽ là vấn đề mà đề tài sẽ cố gắng tập trung làm rõ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: văn hóa ứng xử với người chết trong phạm vi như
sau:
-
Chủ thể của đối tượng nghiên cứu: tộc người Jarai.
-
Không gian nghiên cứu đối tượng: tỉnh Gia Lai
5
NỘI DUNG
1. Tổng quan về tỉnh Gia Lai và tộc người Jarai
1.1.
Tỉnh Gia Lai
Gia Lai là một tỉnh thuộc vùng bắc Tây Nguyên nằm trong đới khí hậu gió
mùa á xích đạo và thuộc á đới, có hai mùa: mưa mưa và mùa khô. Đất đai không chỉ
phì nhiêu và đa dạng.Đây cũng là nơi có địa hình núi và cao nguyên, có diện tích
rừng lớn cùng nhiều lâm sản.
Với những điều kiện địa lý, thiên nhiên ưu đãi như vậy đã là 1 khu vực lý
tưởng cho con người sinh sống. Tuy nhiên, địa hình và vị trí địa lý gần như đã tách
những con người ở đây ra khỏi thế giới bên ngoài. Vì thế, tộc người Jarai ở Gia Lai
đến nay vẫn sống ở 1 xã hội mang tính thị tộc và phân thành các nhóm địa phương
hoặc làm cho người của dân tộc này hòa nhập vào khối cộng đồng của dân tộc
khác.
1.2.
Về tộc người Jarai
Jarai là tên chính thức của dân tộc. Đó là tên tự gọi 1 tiếng đồng âm và cũng
có thể đồng nghĩa với từ Giơ rai (thác nước), có thể xuất phát từ nơi sinh tụ xưa kia
của tổ tiên ở nơi có nhiều thác ghềnh của 1 con sông nào đó: Ia Yun, Ia Pa, Ia Ly 2.
Kinh tế: sống chủ yếu dựa vào nương rẫy, khai thác các sản phẩm của núi
rừng bằng săn bắn, hái lượm. Có thể nói, rừng là phần hữu cơ quan trọng của văn
hóa c các tộc người ở Gia Lai nói chung và tộc người Jarai nói riêng. Chăn nuôi giới
hạn trong phạm vi gia đình, thả rông, chủ yếu dùng để cúng lễ.
Đơn vị cư trú, cũng là đơn vị xã hội cơ bản của là buôn. Xã hội mới chỉ phân
hóa giàu nghèo, chưa phân hóa giai cấp 3.
Thiên nhiên đối với người Jarai thật ưu đãi và cũng gây không ít bất lợi.
Trong 1 môi trường như vậy, trải qua hàng nghìn năm, họ tìm ra cho mình cách
2 Đặng Nghiêm Vạn (cb) 1981 – Các dân tộc tỉnh Gia Lai – Công Tum – Hà Nội: NXB Khoa học Xã
hội, tr.53.
3 Bùi Xuân Đính 2012 – Các tộc người ở Việt Nam – TP HCM: NXB Thời đại, tr.219.
6
sống hòa hợp với núi rừng. Nguyễn Từ Chi đã khái quát những đặc trưng của nếp
sống người Tây Nguyên vào 1 khái niệm: “ chủ nghĩa nhân văn” Thượng. Sống
trong điều kiện đó, luôn phải cầu các thần linh giúp đỡ trong mọi công việc. Trong
một chừng mực nào đó, có thể nói người Thượng là những người vật linh giáo: thờ
phụng mọi vật, coi mọi vật đều có sinh linh như con người. Ý niệm về thần (Yang) ít
nhiều còn thô phác . Ngay cả linh hồn người chết cũng được người Tây Nguyên coi
là thần – thần ma (Yang Atâu). Trong những dịp lễ, đặc biệt là bỏ mả, người ta
cũng cầu nguyện các thần ma như cầu nguyện các thần linh khác 4.
2. Nghi lễ và lễ hội liên quan đến tang lễ của người Jarai
2.1.
Quan niệm về ma chay, cái chết và phân loại cái chết
Người Jarai quan niệm, khi sống, mỗi người đều có hồn (m’ngắt) và khi chết,
hồn người chết lập tức biến thành ma (atâu). Người ta tiến hành làm ma chay (nga
bơ sát) để linh hồn đã thành ma (atâu) không trở lại quấy rầy người còn sống.
Trước đây, người Jarai có tục chôn tất cả những người chết thuộc dòng họ mẹ chết
vào chung 1 huyệt. Sau này tục chôn vợ chồng chung cùng huyệt vợ lại trở nên phổ
biến hơn. “Các quan tài được xếp kề sát bên nhau theo chiều ngang rồi chồng lên
theo chiều dọc. Khi đầy huyệt, người ta tiếp tục lấy ván kè 4 bên để tạo huyệt nối
tiếp chôn thêm vài ba hôm nữa. Đến khi đắp mộ thật cao thành mô đất lớn mới làm
lễ bỏ mả” 5. Hiện nay, tục chôn chung đã không còn được đồng bào duy trì nữa.
Về thế giới bên kia mà đồng bào gọi là buôn atâu (làng ma) là một nơi tối
tăm ở phía tây. Ở đó, các linh hồn cũng có cuộc sống như người sống: cũng sống,
làm ăn và cũng phải chết. Khi chết, hồn ma biến thành con nhện và lên mặt đất. Khi
chết, nhện biến thành giọt sương (la ngom) rồi hòa tan vào đất. Sau đó, để hồn tổ
tiên lúc này đã thành giọt sương hòa vào đất có thế được thành người, phải làm lễ
nhập hồn và đặt tên cho đứa trẻ mới sinh. Hồn tổ tiên sẽ nhập vào đứa bé và cháu
bé luôn mang cái tên của vị tổ tiên ấy. Truyền thuyết kể rằng bà Tung (vua cai quản
thế giới người chết và tạo ra những sinh linh mới) “ngồi bên khung dệt để dệt tấm
4 Ngô Văn Doanh - Gia Lai – đất nước, con người và lịch sử văn hóa , tr.25.
5 Đặng Nghiêm Vạn (cb) 1981 – Các dân tộc tỉnh Gia Lai – Công Tum – Hà Nội: NXB Khoa học Xã
hội, tr.93.
7
vải của thế giới con người, mỗi sợi là một số phận khác nhau của từng con người
do bà tạo ra. Khi ai đó chết, sợi chỉ số phận của người đó đứt, và bà Tung gỡ sợi chỉ
đó ra khỏi tấm vải. Khi một sinh linh mới chào đời, bà lại đan tiếp một sợi chỉ vào
tấm vải” 6.
Qua đó có thể thấy quan niệm về cái chết: chết không phải là hết mà chỉ là sự
chuyển đổi trạng thái sống từ vật chất sang siêu hình, trừu tượng, để rồi sau 1 thời
gian lại chuyển về với trạng thái vật chất. Nói cách khác là sự tái sinh để sống ở 1
thế giới khác – thế giới của tổ tiên để rồi sẽ trở về làm người. Có thể tóm tắt sự
chuyển biến này theo chu trình: “Đất – người – ma – đất, Người – ma – người” 7.
Chu trình này lấy đất làm khâu chuyển tiếp để thể hiện ý niệm về sự tuần hoàn liên
tục của một con người: họ đi rồi về từ thế giới người sang thế giới ma và ngược lại.
Khâu chuyển tiếp làm cho người chết sinh thành sang thế giới bên kia là lễ hội bỏ
mả. Chính vì thế mà người Jarai cũng như các tộc người thiểu số ở Tây Nguyên nói
chung đều không sợ những người chết lành và có tục làm lễ bỏ mả cho người chết.
Chỉ khi cảm thấy đỡ nhớ thương, nhất là mọi điều kiện vật chất đã được chuẩn bị
đầy đủ thì gia đình và làng xóm mới làm lễ bỏ mả.
Dựa trên sự phân biệt giữa cái chết bình thường (hợp quy luật: già yếu, ốm
đau, bệnh tật…) và không bình thường (chết dữ, chết bất đắc kỳ tử, không thuận với
tự nhiên, do tai nạn), nghi lễ tang ma cũng được phân loại thành đám tang của
người chết bình thường và người chết không bình thường 8:
-
Đám tang người chết không bình thường: thường bị quan niệm là điềm gở, do bị
thần trừng phạt nên có thể mang lại tai họa cho cả làng. Người Jarai rất sợ dạng
chết này và không cho đem xác người chết vào làng mà phải đặt ngoài rừng, chôn ở
nghĩa địa khác làng. Thành phần tham dự đám tang cũng như thời gian diễn ra,
các nghi thức tang ma cũng hạn chế chứ không đầy đủ như người chết bình
6 Lê Như Hoa (cb) 2002 – Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam –Hà Nội: NXB Thông tin, tr.301-
303.
7 Bùi Xuân Đính 2012 – Các tộc người ở Việt Nam – TP HCM: NXB Thời đại, tr.222.
8 Nguyễn Xuân Phước 2011: Nghi lễ đời người Jarai Tbuăn – Hà Nội: NXB Văn hóa Dân tộc, tr.106,
107, 116.
8
thường. Đồng thời, không dựng nhà mồ và lễ bỏ mả cũng được tiến hành ngay một
-
tháng sau lễ tang.
Đám tang của người chết bình thường: được tổ chức rất long trọng, chu đáo, đầy
đủ theo phong tục truyền thống bởi đó là cái chết thuận với tự nhiên, con người
được siêu thoát và trở về với ông bà tổ tiên.
2.2.
Các nghi thức trước lễ hội bỏ mả
Đồng bào cho rằng, khi còn sống con người gắn bó với gia đình và cộng đồng.
Khi chết, người sống phải bày tỏ nỗi tiếc thương và cố gắng tạo mọi điều kiện để
linh hồn của người chết về với thế giới của họ. Sự tiếc thương đối với người chết
không chỉ biểu lộ qua sự đau đớn mà còn qua các nghi thức tang ma. Trong vòng
một tháng sau khi chôn, người thân còn có các tục kiêng tắm, ít tiếp xúc với bên
ngoài, không được phép vi phạm những tập tục đã quy định.
Tuy vậy, chết chưa phải là hết, linh hồn người chết cũng chưa biến thành ma
vĩnh viễn, chưa thực sự về được thế giới tổ tiên mà tạm thời vẫn ở khu nghĩa địa
nên đồng bào Jarai còn có tục nuôi ma. Theo đó, người thân trong gia đình phải
đem đồ ăn ra nhà mả cho tới khi làm lễ bỏ mả, bỏ vào ống nối với huyệt cho người
chết ăn, nếu không ma bị đói sẽ về quấy rối người sống. Ngoài ra, sau khi chôn một
năm, người nhà còn phải dọn dẹp, sửa sang nhà mả vào mỗi mùa hoa pơlang. Khi
đó, nhà mồ đóng vai trò như nơi trú ngụ và nuôi dưỡng linh hồn con người sau khi
chết.
2.3.
Lễ hội bỏ mả
Lễ bỏ mả là một đặc trưng văn hóa của các tộc người ở Tây Nguyên nhưng
người Jarai là một trong hai tộc người có lễ bỏ mả “lớn nhất, dài ngày nhất và cũng
mang tính nghệ thuật nhất” 9, thường tiến hành sau ba năm, sớm nhất là sau một
năm kể từ lúc chôn, là lễ cuối cùng trong tang lễ. Lễ được tổ chức nhằm vào thời
điểm nông nhàn, được xem là đỉnh điểm của mùa lễ hội. Vì thế, người Giarai có câu
“Bơlan ning nông thông atâu” (tháng nghỉ đi chơi lễ bỏ mả).
9 Lê Như Hoa (cb) 2002 – Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam – Hà Nội: NXB Thông tin, tr.318.
9
Với quan niệm khi chết đi, linh hồn người chết sẽ sang sống ở thế giới bên kia
của tổ tiên nên người Jarai còn làm lễ bỏ ma (hay bỏ mả) để tiễn đưa linh hồn
người chết ra đi về thế giới của họ hay để chuyển sang trạng thái sống cho người
chết. Từ đây, linh hồn người chết được hồi sinh để về với ông bà tổ tiên, tồn tại
trong một không gian mới, đồng thời người sống cũng được giải phóng khỏi những
ràng buộc với người chết, hai bên không còn liên hệ gì với nhau nữa. Người sống
cũng vĩnh viễn bỏ luôn nhà mả, không còn đến thăm. Bởi thế mà ở cộng đồng tộc
người này không làm đền miếu, lăng tẩm hay bàn thờ cúng sau khi đã làm lễ bỏ mả.
Bên cạnh đó, đây cũng là lễ hội thể hiện nhiều nghệ thuật truyền thống độc đáo. Để
người chết ra đi thanh thản, người thân cũng như cả cộng đồng thường làm lễ bỏ
mả với tất cả khả năng vật chất và tinh thần của mình. Các công đoạn từ tang lễ
cho đến lúc làm lễ bỏ mả bao giờ cũng là công việc chung của cả làng, không thành
viên nào được lơ là.
Trước đây, lễ bỏ mả được tổ chức với quy mô lớn hơn, kéo dài từ bảy đến
mười ngày. Nhưng hiện nay, do chịu nhiều tác động của hoàn cảnh khách quan mà
chủ yếu là do điều kiện kinh tế nên chỉ kéo dài khoảng ba ngày, nhiều nhất khoảng
bảy ngày. Tuy vậy, ba bước của lễ hội bỏ mả luôn phải được thực hiện đầy đủ và
tuần tự, bao gồm: dựng nhà mả, làm lễ bỏ mả và lễ giải phóng cho người sống.
Trong đó, bước thứ hai – làm lễ bỏ mả là quan trọng nhất. Vì thế mới gọi là lễ ăn bỏ
ma hay lễ ăn bỏ mả.
Đầu tiên là chuẩn bị và dựng nhà mả.
Việc chuẩn bị cho công đoạn này được thực hiện trước lễ bỏ mả từ nửa
tháng đến 1 tháng. Cả làng cùng chuẩn bị rượu, thức ăn, gỗ, tre… để làm nhà mồ.
Khi các nguyên liệu đã được đem về đầy đủ tại nghĩa địa, già làng phân chia công
việc theo từng nhóm: đẽo cột, tượng, làm khung nhà và phục vụ ăn uống cho từng
nhóm: nhóm đẽo cột, đẽo tượng, làm khung nhà và phục vụ ăn uống. Trong đó, làm
nhà mả là việc của đàn ông, còn phụ nữ chỉ tham gia phục vụ cơm nước.
Quy định về quy mô nhà mả, có tượng trang trí hay không phụ thuộc vào quy
mô của lễ bỏ mả. Nếu lễ có ăn trâu thì nhà mả sẽ có nhiều cột trang trí và tượng
10
(thường có cột kút (bơxát kút) hoặc nhà mả đực (bơxát tơlo) hay nhà mả 2 tầng
mái (bơxát giép)), còn nếu ăn bò thì số cột trang trí và tượng sẽ ít hơn
10
. Hình
dáng, kiểu cách và các hình trang trí nhà mả đều do những người làm quyết định
và được luật tục quy định. Gia chủ chỉ phải đóng góp một phần để nuôi thợ và
những người làm nhà mả chứ không trực tiếp tham gia vào công đoạn này.
Nhà mả được dựng sau khi đã chuẩn bị xong các bộ phận của nhà mả. Đây
cũng là ngày bắt đầu của lễ bỏ mả. Toàn cộng đồng sẽ tập trung ở khu nghĩa địa để
phá bỏ nhà mả cũ, dựng nhà mả mới. Đây cũng là ngày chuẩn bị mọi thứ cho ngày
hội chính hôm sau như củi, đuốc, nước để uống rượu cần, dắt những con vật ngày
hôm sau sẽ thịt ăn ra buộc vào những cột phía sau nhà mả, của cải để chia cho
người chết… Tất cả đều có nghi lễ kèm theo: lễ dựng nhà mả mới (được tổ chức
giống như lễ dựng nhà ở mới), lễ chuyển giao những con vật cho người chết, lễ chia
của cho người chết… Bên cạnh đó còn phải chuẩn bị cả bộ cồng chiêng, các con rối,
mặt nạ để sử dụng trong buổi lễ bỏ mả ngày hôm sau.
Tuy chưa vào ngày lễ chính thức nhưng suốt cả ngày và đêm hôm đó, cả dân
làng đều ra khu nghĩa địa phụ giúp và vui chơi ăn uống rất nhộn nhịp. Sau khi dựng
xong nhà và tượng, mọi người ăn uống, đánh cồng chiêng và nhảy múa thâu đêm,
suốt sáng chờ đến lễ bỏ.
Khác với các lễ hội khác chỉ diễn ra trong phạm vi từng gia đình hay trong
khuôn khổ một làng thì lễ bỏ mả là hội lễ mang tính liên làng, cả những buôn gần
lẫn buôn ở xa 11.
Thứ hai là làm lễ bỏ mả.
Thường bắt đầu vào buổi tối của những đêm trăng hoặc là ngày không mưa,
trời đầy sao. Bao gồm các lễ thức:
Lễ thức cúng tiễn biệt người chết: các nghi lễ cúng khóc vĩnh biệt người chết
khá đơn giản, không cầu kỳ nhưng chứa đựng tình cảm của người sống dành cho
10 Lê Như Hoa (cb) 2002 – Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam – Hà Nội: NXB Thông tin,tr.319.
11 Ngô Văn Doanh 2010 – Bơ thi cái chết được hồi sinh – Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam – Hà
Nội: NXB Thời đại, tr.39.
11
người đã khuất. Trước thời gian làm nghi thức giải phóng, trong khi mọi người vui
chơi, ăn uống ở bên ngoài thì người thân thường xuyên thay nhau khóc cúng người
chết trong nhà mả.
Lễ thức tiễn đưa linh hồn người chết về hẳn với thế giới tổ tiên: thường được
tổ chức vào ngày thứ 2 của lễ (ngày vỡ - rơi pơchă). Lúc này, dân làng, họ hàng
cũng như khách các nơi đã đông đủ. Người thân vào nhà mả khóc cúng lần cuối
cùng với người chết. Sau đó, cồng chiêng bắt đầu nổi lên, mọi người nhập vào cuộc
tiễn đưa. Lúc này, lễ tiễn đưa như một cuộc trình diễn nghệ thuật tổng hợp và tập
thể độc đáo, phong phú. Đó là sự tổng hợp của diễn viên là tất cả mọi người tham
dự cũng như sự kết hợp của các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống với:
âm nhạc cồng chiêng, múa, trình diễn rối và cả biểu diễn mặt nạ. Điều làm nên đặc
trưng cho cuộc trình diễn trong lễ bỏ mả này trước hết là tính chuyên biệt của bài
chiêng atâu, điệu múa atâu… Nó mang bài bản riêng, nội dung thể hiện riêng và chỉ
được sử dụng trong nghi lễ tang ma, đặc biệt là ở lễ bỏ mả. Sự kết hợp giữa thanh
sắc âm nhạc và điệu múa tạo nên sắc thái nặng nề, ảm đạm, buồn bã, chậm rãi như
biểu hiện nỗi lòng thương tiếc của gia đình làng xóm khi phải xa lìa người thân của
mình. Bên cạnh đó, đây là hội lễ duy nhất của người Jarai (và cả các tộc người Tây
Nguyên) có rối và mặt nạ.
Trong ngày này, người sống còn thực hiện việc chia của cho người chết mà
chủ yếu là các vật dụng khi người chết còn sống và các công cụ sinh hoạt và lao
động sản xuất vì linh hồn người chết ở thế giới bên kia vẫn sinh sống và làm việc
như thế giới của người đang sống.
Thứ ba là lễ giải phóng cho người sống.
Tuy không sợ người chết, cũng không thờ phụng tổ tiên đã khuất nhưng sau
khi làm lễ bỏ mả đều có những nghi thức giải phóng người sống khỏi những ràng
buộc với người bằng nghi lễ tẩy rửa. Ngay khi lễ tiễn đưa người chết kết thúc, nhạc
cồng chiêng chuyển sang những bài nhạc với tiết tấu vui nhộn, thân nhân của
người chết cũng được đưa ra sông hoặc suối tắm rửa, gội đầu và mặc quần áo mới.
Ở nơi xa nguồn nước thì làm lễ tượng trưng là té nước vào những người thân của
12
người chết. Sau lễ này, thời kỳ để tang đã hết, những người góa hoàn toàn được tự
do, có thể lấy vợ, lấy chồng lại và lại có thể tham dự mọi cuộc vui của cộng đồng.
3. Những giá trị trong văn hóa ứng xử với người chết của người
Jarai
Có thể thấy các nghi thức tang ma, đặc biệt là lễ hội bỏ mả những giá trị rất
độc đáo về nghệ thuật thanh sắc (âm nhạc, múa) và hình khối (kiến trúc và điêu
khắc) cũng như văn hóa ẩm thực và văn học dân gian lễ bỏ mả, thể hiện tính cộng
đồng cao . Quan trọng hơn, thông qua những nghi thức đó, ứng xử của người sống
với người chết được thiêng hóa, khiến việc chôn cất mang dấu ấn tâm linh con
người – một trong những khía cạnh của văn hóa. Tất cả mang đậm tính nhân văn,
thể hiện qua các khía cạnh như:
3.1.
Thể hiện sự công bằng đối với người chết
Thể hiện trên ở:
-
Công bằng giữa tất cả những người chết: dù lúc sống, bản tính con người có thiệc
hay ác hay lúc chết là chết lành hay chết dữ thì người chết đều được làm lễ bỏ mả
không có sự phân biệt (chỉ khác về quy mô và thời lượng dành cho lễ bỏ mả đối với
người chết dữ). Nó chứng tỏ những người sống luôn mong muốn người đã khuất
-
được hồi sinh để sống một cuộc sống tốt đẹp.
Công bằng giữa người sống với người chết:
Thể hiện ở việc nuôi ma trong thời gian làm lễ bỏ mả. Đó là thời gian linh
hồn người chết ở lại nghĩa địa chứ chưa về với tổ tiên nên người thân thường
mang đồ ăn, thức uống cũng như dọn dẹp mồ mả cho ma như đối với người sống.
Tiếp đó là quan niệm về cuộc sống của con người ở thế giới bên kia và tục
chia của cải cho người chết. Tức là con người dù tồn tại ở thế giới của người sống
hay người chết cũng có cuộc sống như nhau: đều sống, làm việc và chết. Tục chia
của không chỉ là sự chuẩn bị hành trang để người chết sống ở thế giới bên kia mà
còn thể hiện tính công bằng đối với người chết, những gì thuộc về người chết khi họ
từng ở thế giới bên này sẽ không mất đi mà vẫn thuộc về họ khi họ về với thế giới
bên kia.
13
Ngoài ra, trong bữa ăn của lễ bỏ mả, cả người sống lẫn người đã khuất đều
được ăn, uống, chia thức ăn như nhau, không có sự phân biệt. Thoạt nhìn, nhiều
người có thể cho rằng bữa ăn bỏ mả hoàn toàn của người sống và do người sống
làm cho người chết mà chưa thấy vai trò của người chết. Nhưng khi xem xét trên cả
một quá trình tiến hành lễ bỏ mả sẽ thấy vị trí quan trọng của người chết và sự
cộng cảm rất bình đẳng giữa người sống và người chết đối với bữa ăn bởi hầu hết
các món ăn đều được chế biến từ phần đóng góp của người chết và những con vật
mà người sống mang đi chia cho người chết 12. Đến cả lúc ăn, người thân và họ
hàng cũng đem phần cơm của mình vào ăn trong nhà mả để ăn cùng người chết
chứ không chỉ ăn chung với những người còn sống.
3.2.
Xoa dịu linh hồn người chết
Để người chết ra đi thanh thản, không luyến tiếc với thế giới cũ, người sống
đã tạo dựng cơ sở tâm linh thể hiện chủ yếu ở quan niệm về cái chết: cái chết không
phải là sự kết thúc hoàn toàn một cuộc đời mà chỉ là quá trình chuyển hóa sự tồn
tại của con người từ trạng thái này qua trạng thái khác, từ làng của của người
sống sang làng của người chết. Sau 1 thời gian nhất định, qua những giai đoạn
chuyển hóa, con người đó sẽ lại được tái sinh tại thế giới người sống nhưng ở trong
một thể xác khác. Quan niệm gần với quan niệm “luân hồi” của Phật giáo, cũng như
triết lý phương Đông nói chung, thể hiện sự sống là bất tử, còn đời người là vòng
luân hồi. Sự kết thúc cuộc sống ở trần gian là sự bắt đầu cuộc sống ở thế giới bên
kia. Tuy nhiên, quan niệm này ở mức độ “đơn giản hơn, hồn nhiên hơn” 13. Chính vì
thế mà trong lễ hội bỏ mả, các yếu tố về vật chất và tinh thần đều xoay quanh hai
việc chính:
- Tái hiện cuộc sống tốt đẹp ở thế giới ông bà tổ tiên:
12 Ngô Văn Doanh 2010 – Bơ thi cái chết được hồi sinh – Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam – Hà
Nội: NXB Thời đại, tr.126.
13 Tô Đông Hải 2002 – Nghi lễ và âm nhạc trong nghi lễ của người Jarai – Hà Nội: NXB Khoa học,
tr.98.
14
Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà các sản phẩm kiến trúc và điêu khắc,
những hình thức trình diễn và nhiều hoạt động khác tái hiện lại những hình ảnh
thuộc về quá trình hình thành một sinh linh mới 14.
Việc dựng nhà mồ không thể thiếu tượng nhà mồ. Tượng nhà mồ khá phong
phú về nội dung, chủng loại, phản ánh cuộc sống đầy đủ và chân thực cuộc sống
đương đại và cả dấu hiệu của sự phồn thực... Người Jarai quan niệm tượng này là
để phục vụ cho người chết ở thế giới bên kia. Có giả thuyết cho rằng, thoạt đầu, có
việc chôn nô lệ để hầu người chết, sau đó, những nô lệ thật được thay thế bằng
tượng mồ. Dần dần, ý niệm về sự cần thiết phải có người hầu hạ đi theo người chết
trở thành ý nghĩa và chức năng của tượng mồ 15. Giờ đây, người Tây Nguyên tạc lên
tượng nhà mồ những con người hay những con vật với ước muốn những con người
và vật đó sẽ theo hầu hạ người chết ở thế giới bên kia. Đó là sự gửi gắm của người
sống với người chết cuộc sống của thế giới bên kia – 1 cuộc sống như hiện tại cũng
như thể hiện cả ước vọng về cuộc sống sung túc, phú quí để hồn ma không phải lo
buồn. Những người mang mặt nạ cũng tượng trưng cho ông bà tổ tiên, với sắc thái
vui mừng, phấn khởi vì được đón thêm con cháu của mình.
Ở những buổi lễ lớn thường có hóa trang thành thú, làm kiệu có con rối… và
dựng những hoạt cảnh thể hiện sự hòa quyện giữa đời sống thực và đời sống ma
hòa quyện với hàm ý nhắn nhủ: cái chết không phải là hết mà còn tiếp nối, gắn bó
với sự sống, vì thế khi đón nhận phải biết thanh thản và mừng vui 16.
- Thể hiện ước vọng về sự hồi sinh thông qua các hình tượng mang tính
phồn thực, tái hiện lại quá trình sinh thành thông qua những cặp rối thể hiện sự
giao phối nam nữ. Ý niệm về sự tái sinh còn thể hiện qua 1 số cây trồng, hạt giống
14 Lê Như Hoa (cb) 2002 – Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam – Hà Nội: NXB Thông tin, tr.299,
300.
15 Ngô Văn Doanh 2010 – Bơ thi cái chết được hồi sinh – Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam – NXB
Thời đại HN, tr.150.
16 Nguyễn Xuân Phước 2011: Nghi lễ đời người Jarai Tbuăn – Hà Nội: NXB Văn hóa Dân tộc, tr.125
– 126.
15
(chuối, mía) hay con vật (gà con) được đem đến trồng hoặc bỏ cho nhà mả 17. Xưa
kia, vào những ngày lễ bỏ mả, người Jarai còn phá mọi kiêng cữ để trai gái tự do
vui chơi giao duyên.
3.3. Thể hiện tình cảm của người sống giành cho người chết:
Một mặt, người sống xót thương, lưu luyến vì phải xa cách người chết:
Đồng bào thể hiện sự buồn đau qua các cử chỉ, thái độ và tập tục như: kiêng
cữ của người thân sau khi làm tang lễ (kiêng tắm, hạn chế giao lưu với bên ngoài).
Tục nuôi ma: không cho người chết đi ngay về với tổ tiên mà giữ họ ở lại với mình
một thời gian cho đỡ nhớ, đỡ thương. Thời kỳ giữ người chết ở lại là những tháng
người sống có thể “tâm tình” với người chết 18.
Trong những ngày vào lễ hội
bỏ mả, người thân thường vào nhà mả khóc than và cúng cho người chết cho đến
khi làm xong lễ tẩy rửa sau lễ bỏ mả.
Vì xót thương nên họ hết lòng thể hiện tình thương của mình với người đã
khuất. Nó biểu hiện ở cả quy mô lẫn tính chất. Đó là sự hết lòng của cả cộng đồng
rộng lớn, không chỉ giới hạn trong nội bộ gia đình, họ hàng hay buôn làng mà nó
còn phạm vi này mở rộng ra cả những buôn làng của người Jarai gần xa. Đó còn là
sự hết lòng ở từng khía cạnh. Nếu bữa ăn thường ngày của người Jarai đơn giản
chỉ gồm cơm và rau với kỹ thuật nấu nướng đơn giản thì bữa ăn cuối cùng với
người chết trong lễ bỏ mả là bữa ăn đặc biệt đa dạng, thịnh soạn, được chế biến và
nấu nướng công phu hơn nhiều. Không lễ hội nào có nhiều món đặc biệt được chế
biến từ thịt như lễ bỏ mả bởi đó là bữa ăn tiễn đưa người chết về với thế giới bên
kia.
Ngay đến nghi thức bỏ mả, cắt đứt quan hệ giữa người sống và người chết
không phải là hành động vô tình vô nghĩa mà cũng mang đầy tính nhân văn, xuất
phát từ mong muốn người chết không lưu luyến gì với cuộc sống ở thế giới cũ, sớm
17 Ngô Văn Doanh 2010 – Bơ thi cái chết được hồi sinh – Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam – NXB
Thời đại HN, tr.65.
18 Ngô Văn Doanh 2010 –
Bơ thi cái chết được hồi sinh – Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam – NXB
Thời đại HN 2010, tr.42.
16
đến được với thế giới của mình để bắt đầu cuộc sống mới. Người Tây Nguyên quan
niệm, khi bắt đầu cuộc sống mới ở thế giới bên kia, người chết sẽ không thể sống
thanh thản và đầy đủ nến thiếu lễ bỏ mả nên họ rất xem trọng lễ bỏ mả .
Mọi lời cúng không chỉ bộc lộ cảm xúc, tình cảm của người sống đối với
người chết mà nó còn có ý nghĩa ma thuật, giúp linh hồn người chết ra đi 1 cách dễ
dàng về thế giới bên kia. Những yếu tố vật chất mà người sống dành cho người chết
như các công trình điêu khắc hay của cải chia phần cho người chết đều thể hiện
tình yêu và tấm lòng của những sống ở cõi nhân gian dành cho người chết. Nó
không chỉ dừng lại ở trách nhiệm đối với đồng loại hay người thân mà còn là mong
muốn tạo dựng một cuộc sống tốt đẹp, đầy đủ, chu toàn cho người đã khuất ở thế
giới khác.
Mặt khác, người sống vui mừng vì người chết được tái sinh.
Trong khi người thân than khóc vĩnh biệt người chết thì dân làng thì vui
chơi, nhảy múa, ăn uống và các sinh hoạt hay những cảnh phồn thực của tượng
nhà mồ, trình diễn các con rối, hát đối đáp giao duyên. Đến lễ tiễn đưa hay lễ đi
quanh nhà mả bắt đầu thì cồng chiêng đánh bài nhạc tang ma và mọi người múa
bài múa tang ma trong khi những con rối to nhỏ cứ thỏa sức “làm tình với nhau”.
Sự đối lập này đều tập trung phản ánh hai mục đích chính là chia tay người chết và
tái sinh qua hình thức của những hoạt động và trình diễn mang tính phồn thực. Lễ
bỏ mả không mang ý nghĩa của một cuộc tiễn biệt người chết nhằm giải phóng
người sống và người chết được bắt đầu cuộc sống mới mà còn mang ý nghĩa đánh
dấu sự ra đời hay hiện diện của 1 “cá nhân” ở thế giới mới – thế giới bên kia.
Hiện nay, quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa giữa các tộc người diễn ra
khá mạnh mẽ đã tác động không nhỏ đến văn hóa của người Jarai. Điều này làm
biến đổi không ít các yếu tố văn hóa của tộc người này trong đó có những tập tục
ứng xử với người chết mà chủ yếu thể hiện trong các nghi lễ tang ma và bỏ mả. Các
nghi thức tiện lợi, dễ dàng, theo xu hướng hiện đại hơn dần thế chỗ cho những nghi
thức cổ truyền. Đây là một hiện tượng mang tính hai mặt. Một mặt, đồng bào đã
loại bỏ được nhiều hủ tục lạc hậu như tục chôn chung, sự tốn kém về kinh tế cho lễ
17
bỏ mả… Mặt khác, tính thiêng cũng dần dần mất đi trong cả khía cạnh văn hóa vật
chất cũng như tinh thần. Lễ hội lớn nhất, đậm chất Tây Nguyên nhất đang dần mai
một, biến đổi. Xu thế hiện đại hóa sẽ dẫn tới đơn giản hóa. Trong hoàn cảnh đó,
cồng chiêng cũng bị sử dụng tùy tiện, lệch đi bài bản cũng như sự phân loại chức
năng vốn có của nó. Hay bản thân những ngôi nhà mồ cũng bị thay đổi về nguyên
vật liệu (gạch, xi măng, tôn…) cũng như phong cách trang trí hiện đại (quét vôi,
sơn…), nghiêm trọng hơn là bản sắc kiến trúc dân gian của nhà mồ càng trở nên
nhạt hơn, co hẹp lại và có thể chuyển đổi hoàn toàn sang kiến trúc hiện đại do ảnh
hưởng của người Kinh… Số lượng cũng như chất lượng của các kiến trúc dân gian
đó ngày càng đi xuống và có nguy cơ biến mất vĩnh viễn bởi hoàn cảnh để những
sản phẩm đó ra đời đang dần bị mất đi.
18
KẾT LUẬN
Có thể thấy, những ứng xử đối với người đã khuất của người Jarai là tập hợp
những nghi thức, lễ hội không chỉ mang tính nghệ thuật cao mà còn đầy chất nhân
văn: tái sinh cho người chết và giải phóng cho người sống. Chất nhân văn này khá
linh động. Trong những trường hợp phải chờ nhiều năm mới làm lễ bỏ mả (do tục
chôn chung quy định), phong tục vẫn cho phép từng gia đình có thể làm lễ bỏ mả
riêng (lễ nhỏ) trước khi có thể làm lễ bỏ mả chung để người sống được giải phóng
khỏi mọi ràng buộc với người chết.
Những nguy cơ đặt ra báo động sự mai một của văn hóa tộc người đã và
đang đặt ra một vấn đề cấp thiết đòi hỏi sự tự ý thức lưu truyền, gìn giữ những giá
trị văn hóa truyền thống của đồng bào Jarai cũng như sự quan tâm của chính
quyền địa phương trong việc nhận thức những giá trị văn hóa tộc người thiểu số để
có kế hoạch, chính sách bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa địa phương
trong quá trình phát triển.
19
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Xuân Đính 2012 – Các tộc người ở Việt Nam – TP HCM: NXB Thời đại.
2. Đặng Nghiêm Vạn (cb) 1981 – Các dân tộc tỉnh Gia Lai – Công Tum – Hà Nội:
NXB Khoa học Xã hội.
3. Lê Như Hoa (cb) 2002 – Văn hóa ứng xử các dân tộc Việt Nam –Hà Nội: NXB
Thông tin.
4. Ngô Văn Doanh 2010 – Bơ thi cái chết được hồi sinh – Hội Văn nghệ Dân
gian Việt Nam – Hà Nội: NXB Thời đại.
5. Ngô Văn Doanh - Gia Lai – đất nước, con người và lịch sử văn hóa.
6. Nguyễn Xuân Phước 2011: Nghi lễ đời người Jarai Tbuăn – Hà Nội: NXB Văn
hóa Dân tộc.
7. Tô Đông Hải 2002 – Nghi lễ và âm nhạc trong nghi lễ của người Jarai – Hà
Nội: NXB Khoa học.
8. Tổng cục Thống kê - Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009.
20