Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

SKKN VANG 2016

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (123.52 KB, 8 trang )

MỘT SỐ KINH NGHIỆM GIÚP HỌC SINH LỚP 4 HỌC TẬP TÍCH CỰC
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
“Trẻ em hơm nay, thế giới ngày mai”. Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia
đình, là tương lai của đất nước, là lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc. Gia đình và Xã hội cần dành cho trẻ những điều kiện sống tốt nhất cho sự
phát triển về thể chất, tinh thần, trí tuệ, tình cảm và đạo đức của trẻ.
Bác Hồ kính u có câu nói: "Trẻ em như búp trên cành. Biết ăn, biết ngủ,
biết học hành là ngoan". Trẻ em rất ngây thơ, là những tờ giấy trắng phau, chỉ biết
ăn, biết ngủ, biết học hành. Khi trẻ trở thành học sinh, học tập là bổn phận hàng
đầu của trẻ. Các em đã chuẩn bị tâm lí sẵn sàng đi học nhưng khơng đồng bộ, cân
đối trẻ chỉ sẵn sàng về mặt kĩ năng, kĩ xảo ( đọc, viết, tính tốn...) nhưng khơng
phát triển về tư duy, chú ý chủ định, phẩm chất ý chí.
Trong thực tế giảng dạy tơi nhận thấy, lứa tuổi học sinh tiểu học, chú ý có chủ
định của các em càng yếu, khả năng điều chỉnh chú ý một cách có ý chí chưa cao,
các em chưa có ý thức học tập còn ham chơi. Mặt khác, trẻ đang quen với việc học
tập ở lớp 1, 2, 3 kiến thức nhẹ nhàng. Đến lớp 4, bước sang giai đoạn mới, kiến
thức khá nhiều, thêm các môn Khoa học, Lịch sử và Điạ lí đánh giá bằng điểm số,
đây là giai đoạn đòi hỏi trẻ phải tư duy nhiều hơn, các em gặp khơng ít khó khăn
trong học tập. Ngồi ra, ở địa bàn tôi giảng dạy đa số phụ huynh làm nghề nơng
điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, phụ huynh ít quan tâm đến việc học tập của
học sinh mà giao phó mặc cho giáo viên nên việc học tập của học sinh có phần hạn
chế. Làm thế nào để giúp các em học tập tích cực để đạt được kết quả cao? Đó
chính là lí do tôi chọn đề tài "Một số kinh nghiệm giúp học sinh lớp 4 học tập tích
cực"
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lý luận.
Sự nghiệp giáo dục đào tạo có vị trí quan trọng trong chiến lược xây dựng con
người, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã nhấn mạnh
nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện
đại hố là: “Tiếp tục nâng cao giáo dục chất lượng toàn diện, đổi mới nội dung,


phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục”.
Muốn tạo chuyển biến cơ bản về chất lượng giáo dục trước hết là phải lấy học sinh
làm trung tâm, rèn cho các em ý thức tích cực học tập, tự tìm tịi chiếm lĩnh tri
thức. Bởi vì, các em học sinh là nhân tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục.
Luật giáo dục ghi rõ: "Giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành
những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể
chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên bậc Trung học cơ
sở. "Giúp" chứ không phải là "cung cấp" hay "trang bị". Giúp học sinh nghĩa là
thầy cô giáo, các bậc cha mẹ không áp đặt, phải coi học sinh là chủ thể của quá
trình tiếp thu kinh nghiệm sống, tiếp nhận tích cực những kiến thức và rèn luyện kĩ
năng để phát triển nhân cách dưới sự điều khiển của nhà sư phạm.. “ Phương pháp
giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo
của học sinh; phù hợp với đặc điểm từng lớp, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự


học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực
tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập của học sinh”.
Trong vấn đề giáo dục nói chung và việc học nói riêng thì học tập tích cực
có vai trị hết sức quan trọng nó quyết định sự phát triển các phẩm chất nhân cách
của người học. Học tập tích cực giúp người học hiểu sâu, mở rộng, củng cố bài học
một cách vững chắc. Học tập tích cực giúp người học có khả năng vận dụng các tri
thức đã học vào việc giải quyết những nhiệm vụ học tập mới. Học tập tích cực cịn
giúp người học hình thành được tính tích cực, độc lập, tự giác trong học tập; giúp
người học hình thành nề nếp khoa học. Học tập tích cực giúp người học hình thành
và phát triển khả năng phân tích, tổng hợp tài liệu- một phẩm chất quan trọng của
tư duy. Học tập tích cực giúp học sinh vận dụng những điều đã học để giải quyết
nhiệm vụ học tập, trong cuộc sống; phát hiện những tình huống mới có liên quan
đến bài học hay cuốc sống và tìm cách giải quyết.
2. Cơ sở thực tiễn.
Hiện nay, đổi mới phương pháp giáo dục được thực hiện sâu rộng trong

trường học nhằm phát huy tinh sáng tạo, chủ động của học sinh, giúp học sinh phát
huy tính tự học của bản thân. Phát huy nội lực học tập tích cực của học sinh vừa là
mục tiêu, vừa là phương pháp giáo dục, vừa là con đường nâng cao chất lượng và
hiệu quả của nhà trường.
Trong thực tế giảng dạy tôi nhận thấy một số giáo viên lớn tuổi quen sử dụng
cách dạy học cũ. Hiện tượng "thầy giảng, trị nghe; thầy đọc, trị chép; thầy nói trị
nhắc lại, đọc theo, nói theo; thầy tích cực giảng mọi điều, trị chỉ ngoan ngỗn nghe
thầy giảng, xem thầy làm" diễn ra khá phổ biến. Cách dạy, cách học trên không thể
đào tạo được thế hệ trẻ thông minh, năng động, sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu
của cuộc sống trong xã hội hiện đại.
Địa bàn tôi giảng dạy đa số phụ huynh làm nơng, làm rẫy trình độ dân trí
thấp. Một số gia đình làm th, làm mướn chưa có điều kiện quan tâm đến việc
học của học sinh. Một số phụ huynh chưa nhận thức đúng về việc học của học sinh
cịn phó mặc cho giáo viên, nhà trường, thiếu quan tâm, chăm sóc, đơn đốc học
sinh học tập. Chính vì thế học sinh chưa được quan tâm đúng mức làm cho các em
chưa có nề nếp học tập, chưa có ý thức học tập tích cực.
Mặt khác, độ tuổi học sinh tiểu học chú ý có chủ định chưa cao, các em cịn
ham chơi chưa có ý thức học tập. Lên lớp 4, bước sang một giai đoạn mới kiến
thức khá nhiều các em rất khó khăn trong việc lĩnh hội kiến thức.
Kết quả điều tra, thăm dị ý kiến về tình hình học tập tích cực của học sinh lớp
4
4 năm học 2015-2016(thời điểm đầu năm) như sau: TSHS: 26/12
Nội dung khảo sát, thăm dò
Số lượng Tỉ lệ
1.Có thời gian biểu
0
0%
2.Có học bài và làm bài trước khi đến lớp
10
38%

3.Có chuẩn bị mới
5
19%
5.Học sinh có đọc sách báo, tìm hiểu thơng tin trên mạng Internet, tự
2
7%
tra từ điển
6.Học sinh tích cực tham gia thảo luận nhóm.
7
27%
7. Học sinh hay hỏi bạn và giáo viên về nội dung học
6
23
8.Phụ huynh học sinh có quan tâm đến việc học tập của học sinh
8
30%


Xuất phát từ cơ sở lí luận và trước thực tế trên của lớp mình năm học 20142015 với yêu cầu chuẩn kiến thức kỹ năng mà học sinh phải đạt được, tơi có suy
nghĩ phải làm gì và làm như thế nào để các em nắm được kiến thức mơn học đồng
thời hình thành ý thức học tập tích cực, tự tìm tịi kiến thức. Chính vì thế tơi mạnh
dạn đưa ra“ Một số kinh nghiệm giúp các em học sinh lớp 4 học tập tích cực”.
Đây là một giải pháp thay thế một phần giải pháp đã có được thực hiện tại lớp tơi
có hiệu quả.
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ CÁC GIAI PHÁP.
1. Xác định những việc cần làm để phát triển kỹ năng học tập tích cực
cho học sinh.
a) Tạo được hứng thú cho học sinh khi học.
Hứng thú khơng bỗng dưng mà có, nó được hình thành trong hoạt động. Hứng
thú học tập đóng vài trị quan trọng việc nâng cao chất lượng học tập. Nếu học sinh

có hứng thú trong học tập thì học sinh sẽ ham học, tích cực học tập tốt hơn.
* Biện pháp thực hiện:
- Tôi giúp cho các em hiểu rõ mục đích học tập thơng qua các bài học, các
buổi sinh hoạt tập thể làm cho các em hiểu rõ sự cần thiết phải đến lớp, đến trường.
Nếu học sinh khơng chịu khó học tập sẽ ảnh hưởng đến tương tai sau này.
- Tôi thường xuyên thay đổi phương pháp, hình thức tổ chức giúp các em cảm
thấy hứng thú học tập, phấn chấn khi nhận kết quả tốt đẹp và thực sự thấy học tập
là dạng học động đầy tính sáng tạo. Để làm được điều này tơi luôn là người bạn
hiền với học sinh, tạo ra mơi trường học thân thiện, gần gũi; tôi giúp cho các em
nhận thấy “mỗi ngày đến lớp là một niềm vui”. Tơi thường xun khen ngợi, động
viên khuyến khích học sinh dù chỉ là một tiến bộ nhỏ.
b) Kết hợp với gia đình:
* Biện pháp thực hiện.
Gia đình là một tế bào xã hội, nơi sinh ra và lớn lên, nơi thế hệ trẻ được chăm
lo cả về thể chất, trí tuệ, đạo đức. Gia đình có vị trí quan trọng đối với sự hình
thành và phát triển nhân cách của trẻ. Chính vì thế thơng qua các buổi họp Phụ
huynh học sinh, tơi trao đổi phụ huynh bố trí giờ tự học cho học sinh Tiểu học ở
nhà. (VD: sau khi đi học buổi chiều về, học sinh vui chơi, vệ sinh thân thể dùng
cơm tối xong từ 19 giờ đến 20 giờ 30 phút là thời gian thích hợp nhất cho trẻ học
bài). Phụ huynh phải bố trí góc học tập của trẻ cần cách biệt với không gian sinh
hoạt ồn ào của gia đình. Các ngày nghỉ như chủ nhật, ngày lễ không buộc trẻ phải
tự học, cần kết hợp cho trẻ vui chơi với học.(VD: vào các ngày lễ hoặc thứ bảy,
chủ nhật trẻ có thể dành thời gian khoảng 1 đến 2 giờ / ngày cho việc học. Thời
gian cịn lại trẻ có thể vui chơi, thể dục thể thao, dã ngoại, ...). Sau khi trao đổi
xong, tơi kết hợp với gia đình kiểm tra học sinh có góc học tập khơng... từ đó có
biện pháp giúp đỡ học sinh.
Cũng trong các buổi họp phụ huynh học sinh tôi trao đổi phụ huynh cần quan
tâm đến việc học của con em mình. Hằng ngày, phụ huynh nên xem vở học sinh để
biết thực trạng học sinh học như thế nào từ đó có biện pháp hỗ trợ cùng với giáo
viên để kết quả học tập của học sinh ngày một tiến bộ. Ngay từ đầu năm học, tôi

cũng triển khai sâu rộng trong phụ huynh học sinh kết quả giáo dục không chỉ giáo
viên đánh giá mà còn do học sinh và phụ huynh học sinh tham gia đánh giá. Cha
mẹ học sinh được khuyến khích phối hợp với giáo viên và nhà trường động viên,


giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện; trao đổi với giáo viên các nhận xét, đánh giá
học sinh bằng hình thức phù hợp, thuận tiện nhất như gọi điện, trao đổi trực tiếp,
viết thư...Tôi thường xuyên liên lạc với phụ huynh qua số điện thoại nếu học sinh
có biểu hiện học sa sút, khơng tiến bộ để có biện pháp kịp thời giúp đỡ học sinh
tiến bộ.
2. Rèn kỹ năng học tập tích cực cho học sinh.
2.1 Hướng dẫn học sinh học tập tích ở lớp:
* Biện pháp thực hiện:
- Tôi tổ chức 15 phút truy bài đầu giờ, các em tự kiểm tra kiến thức mà tôi đã
giao cho nhau. Khi bắt đầu vào giờ học tôi nhận thấy học sinh có học bài, làm bài
đầy đủ.
- Ngay từ đầu năm học tôi thành lập “Đôi bạn cùng tiến”. Học sinh tự chọn
đôi bạn với nhau sau cho một học sinh giỏi và một học sinh trung bình là một đôi
bạn. Hằng ngày, tôi giao nhiệm vụ cho các đôi bạn. Các em tự giác học tập giúp đỡ
lẫn nhau. Đơi bạn nào có sự tiến bộ tơi tuyên dương bằng một phần quà nho
nhỏ(cây bút, quyển vở...). Như vậy, tôi nhận thấy học sinh tôi bước đầu biết tự giác
học tập, biết chia sẻ kết quả học tập với bạn, một số học sinh trung bình, yếu có sự
tiến bộ rõ rệt.
- Trong q trình dạy học tơi thường vận dụng phương pháp dạy học tích cực
như : phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, phương pháp thảo luận nhóm, phương
pháp đóng vai, phương pháp trị chơi..., các kĩ thuật dạy học tích cực: kĩ thuật khăn
trải bàn, kĩ thuật trình bày một phút...để giúp các em học tập tích cực tự tìm tịi
khám phá tri thức. Tôi chỉ là người hướng dẫn, tổ chức, học sinh tự tìm ra nguồn
kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
VD: Khi dạy bài Sầu riêng- sách Tiếng Việt 4 tập 2 trang 34, tôi sử dụng

phương pháp thảo luận nhóm, học sinh thảo luận tìm hiểu nội dung bài bằng hệ
thống câu hỏi:
1. Sầu riêng là đặc sản của vùng nào?
2. Dựa vào bài văn hãy miêu tả nét đặc sắc của:
a)Hoa sầu riêng
b)Qủa sầu riêng
c)Dáng cây sầu riêng
3. Tìm những câu văn thể hiện tình cảm của tác giả đối với cây sầu riêng?
Khi học sinh thảo luận tơi u cầu nhóm trưởng nêu câu hỏi, từng thành viên
của tổ suy nghĩ trả lời, các thành viên trong nhóm tham gia nhận xét câu trả lời của
bạn sau đó thống nhất câu trả lời của nhóm, một số thành viên khác nhắc lại câu trả
lời. Trong q trình học sinh thảo luận, tơi ln di chuyển trong lớp, quan sát và hỗ
trợ học sinh khi cần thiết. Làm như thế tôi nhận thấy mọi thành viên điều tham gia
làm việc trong nhóm, khơng có tình trạng học sinh khá giỏi hoạt động còn học sinh
yếu ngồi chơi. Học sinh được giao tiếp với bạn, với thầy cô giáo. Như vậy học sinh
đã học tập và lĩnh hội được kiến thức, các em nhút nhát nay đã mạnh dạn và tự tin
hơn, các em biết chia sẻ kết quả học tập với cả nhóm.
- Tơi tạo điều kiện, tập cho học sinh phát hiện thắc mắc qua các bài học, tự
tìm tịi, tự giải đáp, chỗ nào cảm thấy chưa chắc chắn thì trao đổi ở nhóm hoặc hỏi
lại thầy cô giáo, trả lời theo nhiều phương án khác nhau. Tôi chỉ là người hướng
dẫn, người trọng tài, người đạo diễn giúp các em tìm ra kiến thức.


Ví dụ: Khi dạy bài “Ánh sáng” Tìm hiểu nội dung “Mắt nhìn thấy vật khi
nào?”. Đầu tiên , tơi đặt vấn đề: Mắt nhìn thấy vật khi nào? Học sinh có thể đưa ra
các ý kiến khác nhau (có ánh sáng, mắt không bị chắn...)Tôi yêu cầu học sinh dựa
vào kinh nghiệm hiểu biết sẵn có để đưa ra các dự đốn; sau đó tiến hành thí
nghiệm để so sánh kết quả với dự đoán và rút ra kết luận: Mắt nhìn thấy vật khi có
ánh sáng.
Qua hoạt động trên tơi nhận thấy học sinh tơi bắt đầu có sự tị mị khoa học,

có thói quen đặt câu hỏi và tìm cách giải thích và giúp học sinh biết vận dụng
những điều đã học vào thực tế cuộc sống.
- Tơi thường giáo dục cho học sinh học tập tích cực theo phong cách: học mọi
nơi, học mọi lúc, học mọi người, học bằng mọi cách và học qua mọi nội dung.
Học mọi nơi: Lê- nin đã từng nói: “Học, học, học nữa, học mãi”; học là học
kiến thức, học cách suy nghĩ tìm ra kiến thức, học ở nhà, ở lớp, ở câu lạc bộ, ở thư
viện, ở nơi nghỉ hè…
Học mọi lúc: Nếu học sinh đã biết học “mọi nơi” thì các em cũng sẽ biết học
mọi lúc, tận dụng lúc rảnh rỗi: học vào lúc đi du lịch, học trên đường đi chơi, học
khi đang nghỉ mát… Lúc ăn xong một viên kẹo sữa, các em cũng có thể ơn lại từ
vựng “milk candy” được viết bằng tiếng Anh trên tờ giấy ghi viên kẹo…..
Học mọi người: Học người thật, việc thật, người tốt, việc tốt, người xưa trong
lịch sử, nhân vật trong truyện… Khi học bài “Người tìm đường lên các vì sao”
( Tiếng Việt lớp 4 lớp tập 1), các em yêu thích và khâm phục nhà khoa học vĩ đại
Xi-ôn-cốp-xki, học sinh học được ở ông tinh thần say mê học tập, làm việc; ý chí
quyết tâm cao.
Học bằng mọi cách: Giáo viên cần giúp cho học sinh thoát khỏi lối học thụ
động, đơn giản là đến lớp nghe giảng, về nhà làm bài, học thuộc bài…Kiên trì giúp
học sinh có thói quen tự đọc sách báo. GV thành lập tủ sách thư viện của lớp, hàng
tuần đội Cờ đỏ lớp theo dõi lượt đọc của các bạn học sinh. Cuối tuần tổng kết,
tuyên dương những học sinh có lượt đọc nhiều nhất. Thơng qua các tiết dạy, tơi
giúp học sinh có hứng thú tra từ điển, qua các trang web, qua các câu hỏi thơng
minh….. Phải bằng mọi cách tự mình tìm ra kiến thức, khám phá cái mới, cái chưa
biết bằng hành động và suy nghĩ của chính mình.
- Trong các tiết học tùy theo từng tình huống học cụ thể của trẻ mà tơi có
nhiều cách định hướng cho trẻ tự tìm ra kiến thức:
Định hướng cho học sinh đi từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp. Ở lứa
tuổi học sinh Tiểu học, tư duy của các em là kiểu tư duy trực quan, vốn sống của
các em cịn hạn chế, chính vì thế giáo viên cần định hướng cho học sinh từ cái đã
biết đến cái chưa biết.

Ví dụ khi học sinh gặp bài tốn “Tìm số có hai chữ số biết tích của chúng là
24 và tổng của chúng là 10”. Chắc chắn rằng học sinh sẽ phải kêu lên “ Bài tốn
khó q!” Để có thể định hướng giúp học sinh giải quyết bài toán này, tôi cần tách
một vấn đề lớn ( học sinh chưa giải quyết được) thành một hệ vấn đề nhỏ mà học
sinh có thể giải quyết nhờ vào những điều học sinh đã biết. Cụ thể giáo viên yêu
cầu học sinh tìm xem hai số nào nhân nhau thì bằng 24 (3 x 8; 4 x 6; 2 x 12); học
sinh sẽ tự phát hiện không chọn cặp 12x 2 vì 12 là số có hai chữ số. Khi vừa tìm ra
hai cặp số 3x8 và 4x6 có tích bằng 24, học sinh sẽ vui thích reo lên: “ Em biết kết
quả! Em trả lời!” Giáo viên vui vẻ mời học sinh nêu đáp số. Học sinh vội vã trả lời


ngay: “Thưa cô 4 x 6=24; 4 + 6=10, số cần tìm là 46”. Giáo viên mời học sinh khác
nhận xét, bổ sung để tìm thêm đáp số 64 nữa!
Như vậy từ sự định hướng khéo léo của giáo viên mà học sinh đi từ cái đơn
giản là tìm những cặp số có tích là 24 đến việc phức tạp là giải một bài toán. Hoặc
khi giúp học sinh làm một bài tập làm văn giáo viên cũng phải đi từ gợi ý nho nhỏ
này đến gợi ý nho nhỏ khác kết hợp hữu cơ thành bài có hệ thống mạch lạc.
Định hướng học sinh quan sát:Quan sát là một công cụ nhận thức. Trong lịch
sử khoa học thế giới, có những quan sát đơn giản đã tạo ra bước ngoặc cho tư duy
loài người như việc quan sát quả táo rơi từ trên cây xuống đã giúp Newton tìm ra
lực hút của trái đất! Nuôi dưỡng và phát huy thói quen quan sát, nhận xét, hỏi và so
sánh chính là phát triển trí thơng minh, phong cách học- hỏi của học sinh. Khi giáo
viên giúp học sinh làm tập làm văn tả đồ vật hay con vật, để học sinh có thể viết
tốt, giáo viên giúp học sinh quan sát tỉ mĩ, so sánh, nhân hóa…từ đó học sinh mới
có những lời hay ý đẹp, học sinh tạo ra sự sáng tạo, độc đáo cho bài tập làm văn.
Để giúp học sinh tăng cường khả năng quan sát, tôi yêu cầu học sinh so sánh
ba tổng sau:
27 + 36 + 53 + 75 + 80
57 + 76 + 20 + 85 + 33
87 + 35 + 26 + 53 + 70

Nhiều học sinh lớp bốn khi gặp bài toán này là nhanh nhảu tính ngay để đi
đến kết quả là cả ba tổng đều bằng nhau. Tôi gợi ý để các em so sánh các chữ số ở
hàng đơn vị và các chữ số ở hàng chục của ba tổng. Sau khi được gợi ý, học sinh
thấy ngay các chữ số hàng đơn vị ở ba tổng là như nhau, chỉ sắp xếp thứ tự khác
nhau. Các chữ số hàng chục cũng vậy. Theo cách cộng các chữ số hàng đơn vị với
nhau, các chữ số hàng chục với nhau và nhờ tính chất giao hốn của phép cộng. Ta
có thể kết luận ba tổng đó bằng nhau mà khơng cần mất thời gian tính tốn từng
tổng một!
2.2 Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà: Là một giáo viên chủ nhiệm tôi luôn
theo sát bài học ở lớp của các em để hướng dẫn học sinh tự học ở nhà. Việc chuẩn
bị tốt bài ở nhà sẽ làm cho trẻ hứng thú, năng động, tự tin và tích cực trong các tiết
học ở lớp.
* Biện pháp thực hiện
- Ngay từ đầu năm học tôi yêu cầu học sinh phải xây dựng được thời gian
biểu học tập. (Ví dụ: Sau khi đi học về: 17giờ đến 18 giờ tập thể dục thể thao, 18
giờ đến 19 giờ vệ sinh các nhân, dùng cơm tối. 19 giờ đến 20 giờ học bài và làm
bài cũ, 20 giờ đến 20 giờ 30 phút chuẩn bị bài mới. 20 giờ đến 21 giờ rèn chữ viết
và giải toán trên mạng...)Hằng ngày, học sinh thực hiện theo thời gian biểu. Tôi
thường xuyên kiểm tra việc thực hiện thời gian biểu của học sinh.Có như vậy các
em học sinh sẽ tự học tốt hơn.
- Đối với các môn học thuộc bài, để học sinh học tốt ở nhà, trên lớp tôi
thường chỉ rõ cho học sinh kiến thức cơ bản thông qua các hoạt động giảng dạy:
thảo luận nhóm rút ra nội dung cần nhớ, trao đổi ý kiến với mọi người về một vấn
đề đang thắc mắc để các em dễ dàng ghi nhớ có suy nghĩ, tránh học vẹt, học mà
chẳng hiểu gì.


- Đối với việc chuẩn bị bài mới: Hằng ngày, sau mỗi tiết học tôi điều giao
nhiệm vụ chuẩn bị bài tiết sau. Tôi đặt các câu hỏi gợi ý cho học sinh suy nghĩ.
Đây là điều kiện rất quan trọng giúp các em tiếp thu tốt bài mới, các em dễ dàng

hơn trong việc nắm bắt kiến thức, giờ học cũng sẽ nhẹ nhàng mà hiệu quả lại cao.
Ví dụ:Khi chuẩn bị dạy bài “Tóm tắt tin tức” (Tập làm văn- tuần 24- lớp 4),
tôi yêu cầu học sinh chuẩn bị trước các câu hỏi:
- Tóm tắt tin tức nghĩa là gì?
- Cần thực hiện những việc gì khi tóm tắt tin tức?
- Đọc kĩ để nắm nội dung bản tin: “Vịnh Hạ Long được tái công nhận là di
sản thiên nhiên thế giới”
Với sự hợp tác của học sinh trong việc chuẩn bị bài, mặc dù tiết tập làm văn
chỉ có 35 phút tơi vẫn có thể truyền đạt tốt cho học sinh nắm mục tiêu bài học.
- Tôi thường giáo dục học sinh phải tự học, tự tìm ra kiến thức bằng các cơng
cụ như từ điển, sách báo, qua mạng Internet. Tơi thành lập góc thư viện của lớp,
kiểm tra việc thực hiện đọc sách của học sinh. Thời lượng của một tiết học không
nhiều, chỉ khoảng 35 phút. Vì thế song song với việc giúp học sinh sử dụng từ
điển, rèn luyện cho học sinh cách tra từ điển trong các tiết luyện từ và câu, trong
tiết dạy tôi lồng ghép kể một số câu chuyện giúp học sinh hứng thú làm việc với
từ điển, sách báo.
- Ngoài ra, vào các tiết sinh hoạt tập thể, tơi ln nhắc nhở học sinh cùng bạn
học nhóm tại nhà vào các ngày thứ bảy, chủ nhật. Mỗi nhóm tử 3-5em, các em là
những học sinh nhà gần nhau. Vì vậy, học sinh của tơi rất phấn khởi khi được học
cùng bạn.
* Qua một thời gian thực hiện, học sinh lớp tơi giảng dạy có nhiều thay đổi
đáng kể trong việc tự nỗ lực học tập của bản thân. Những ngày đầu năm học, các
em thường thụ động, lười động não trước một vấn đề mà giáo viên đặt ra. Nay, khi
được giao việc, các em chủ động, tích cực, hợp tác cùng nhau thực hiện tốt nhiệm
vụ. Các em biết tự thực hiện nhiêm vụ cá nhân trên lớp, nhóm. Các em chịu khó
tìm hiểu qua sách báo, thậm chí có vài em rất hứng thú với việc lên mạng tìm tài
liệu đọc… Học sinh ln hồn thành tốt bài giáo viên giao, các em có ý thức tốt
trong việc học tập.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI.
Sau khi vận dụng các giải pháp giúp học sinh học tập tích cực tơi nhận thấy

học sinh có khả năng tự thực hiện nhiệm vụ học tập trên lớp, làm việc trong nhóm,
lớp; học sinh tơi có khả năng tự học có sự giúp đỡ của thầy cơ, bạn bè, cha mẹ...;
học sinh tự thực hiện đúng nhiệm vụ học tập. Các em biết vận dụng những điều đã
học để giải quyết những nhiệm vụ trong học tập, trong cuộc sống; phát hiện những
tình huống mới liên quan đến bài học hoặc cuốc sống và tìm cách giải quyết. Học
sinh rất có hứng thú trong học tập, phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo.
Kết quả điều tra, về tình hình tích cực học tập của học sinh lớp 4 4 năm học
2015-2016 (thời điểm cuối HKI) như sau: TSHS: 26/12nữ
Nội dung khảo sát, thăm dò
Số lượng Tỉ lệ
1.Có thời gian biểu
26
100%
2.Có học bài và làm bài trước khi đến lớp
24
92%
3.Có chuẩn bị mới
26
100%


5.Học sinh có đọc sách báo, tìm hiểu thơng tin trên mạng Internet, tự
23
84%
tra từ điển
6.Học sinh tích cực tham gia thảo luận nhóm.
26
100%
7. Học sinh hay hỏi bạn và giáo viên về nội dung học
24

92%
8.Phụ huynh học sinh có quan tâm đến việc học tập của học sinh
26
100%
Chất lượng cuối HKI cụ thể:
Kết quả năm học 2015-2016(cuối HKI) như sau: Về chất lượng giáo dục:TSHS:
(26/12nữ). Học sinh hoàn thành chương trình 26/12nữ (100%). Trong đó HSXS:
7/5 tỉ lệ 27%, HSNB :6/3 tỉ lệ 23%. Trong hội thi “Vở sạch chữ đẹp cấp huyện: 4
học sinh đạt giải vở sạch chữ đẹp, lớp tơi đạt lớp có nề nếp"Vở sạch chữ đẹp" cấp
huyện. Trong hội thi giải toán trên mạng Internet cấp huyện: 1 học sinh đạt giải
Internet cấp huyện.
Tóm lại: Học sinh cần rèn luyện cho bản thân tinh thần tích cực học tập. Các
em khơng chỉ thực hiện việc tích cực học ở cấp Tiểu học hay Trung học mà việc
tích cực học cần phải được rèn luyện suốt đời, rèn luyện đến mức nhuần nhuyễn thì
mới có thể cập nhật được tri thức và “nên người” ở thời đại bùng nổ thông tin như
hiện nay.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG.
- Đối với giáo viện: Dạy học sinh tự học cần tôn trọng quyền cơ bản tự phát
triển, tự thể hiện, tự khẳng định mình của trẻ, giáo viên hồn tồn khơng thể hiện
thái độ quyền uy, mệnh lệnh, cưỡng ép, áp đặt, kìm hãm sáng kiến của học sinh…
Về bản thân người giáo viên phải thực sự có lịng u nghề và tình thương đối với
học sinh. Chính tình u thương của mình sẽ giúp cho người giáo viên suy nghĩ
tìm tịi lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp, lựa chọn những cách thức phù
hợp với từng đối tượng học sinh trong việc giúp các em tích cực học tập, tự tìm ra
kiến thức….
- Một số kinh nghiệm giúp cho học sinh lớp 4 học tập tích cực mà tơi đã nêu
trên áp dụng có hiệu quả trong lớp tơi đang giảng dạy. Đề tài này có thể áp dụng
rộng rãi trong học sinh khối lớp 4 của trường.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật giáo dục 1998- Bộ Giáo dục và đào tạo.

2. Tâm lý học tiểu học, tác giả Bùi Văn Huệ - Bộ giáo dục và đào tạo Đại học
Huế.
3. Sách Tiếng Việt 4, Đạo đức 4, Toán 4 Nhà xuất bản Giao dục - Bộ giáo dục
và đào tạo.
4. Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 8 năm 2014 về Quy định
đánh giá học sinh Tiểu học..
5. Modun TH 15, Modun TH 16
VII. PHỤ LỤC: ( Đính kèm phiếu thăm dị, lấy kiến về tình hình học tập tích
cực của học sinh)
Người thực hiện



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×