I. Đặt vấn đề
Đất nước ta đang trên đà phát triển để theo kịp và hòa nhập vào nền kinh tế
của các nước trong khu vực cũng như các nước trên thế giới. Muốn được như vậy
đòi hỏi xã hội cung cấp một lực lượng lao động giàu trí, thể, mĩ. Yêu cầu đặt ra
không chỉ cho ngành y mà cịn là vai trị vơ cùng to lớn của ngành Giáo dục và Đào
tạo. Do đó, Đảng và nhà nước ta coi Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu.
Chất lượng giáo dục có đạt được như mong muốn hay không lại phụ thuộc rất
nhiều vào các chỉ số sinh học khác của thanh niên, học sinh, sinh viên. Họ chính là
những người chủ tương lai của đất nước.
Việc nghiên cứu các chỉ số sinh học người bình thường là công tác nghiên
cứu cơ bản, nhằm cung cấp thông tin khoa học cần thiết không chỉ cho các nghiên
cứu y sinh học, phục vụ công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân mà cịn sử
dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phịng và đặc biệt là có thể
giúp cho ngành giáo dục có phương hướng tốt trong việc giáo dục, phù hợp với
từng đối tượng để đạt hiệu quả cao nhất.
Cho đến nay đã có khá nhiều cơng trình nghiên cứu về chỉ số sinh học người
Việt Nam [8], [10], [11], [12], [14],… nhưng các nghiên cứu riêng về chỉ số tuần
hoàn, đặc biệt là chỉ số tuần hoàn của học sinh trung học phổ thơng cịn khá ít. Mặt
khác chưa có cơng trình nghiên cứu nào về các chỉ số tuần hồn và hơ hấp ở Trường
THPT Số 2 Si Ma Cai. Vì vậy tơi chọn đề tài: “Nghiên cứu một số chỉ số tuần
hoàn trong các trạng thái khác nhau của cơ thể học sinh Trường THPT Số 2 Si
Ma Cai” làm đề tài sáng kiến kinh nghiệm.
II. Giải quyết vấn đề
1. Cơ sở lý luận
1.1. Một số vấn đề chung về tuần hoàn
Hệ tuần hoàn là hệ thống cơ quan phát triển mạnh nhất trong lứa tuổi 8 – 18
về cả cấu trúc lẫn chức năng [6]. Vì vậy việc nghiên cứu về các chức năng tuần
hoàn là rất cần thiết.
1
Tim có chức năng hút và đẩy máu, trong đó đẩy là động lực chính của hệ
tuần hồn, giúp dịch tuần hồn lưu thơng trong hệ mạch. Tim làm việc suốt ngày và
suốt cả đời người, theo một nhịp điệu nhất định gọi là một chu kỳ của tim. Khi tim
co gọi là tâm thu và khi tim giãn gọi là tâm trương. Công suất của tim phụ thuộc
vào tần số co bóp và thể tích co tim [12]. Bởi vậy, tầm số tim là một trong các chỉ
số dùng để đánh giá hoạt động của hệ tuần hoàn và tình trạng sức khỏe của con
người.
Tim co bóp tạo nên lực đẩy máu lưu thơng trong động mạch. Tuần hồn máu
có thể coi là kết quả của hai lực đối lập nhau: Lực đẩy máu của tim và lực cản của
động mạch. Trong đó lực đẩy máu của tim lớn hơn nên máu lưu thông trong động
mạch với một áp suất nhất định gọi là huyết áp.
Huyết áp khi tim co và tim giãn không giống nhau. Khi tâm thất co, áp suất
đẩy máu trong hệ mạch tăng cao vì vậy huyết áp có được khi tim co có trị số lớn
nhất nên gọi là huyết áp tối đa hay huyết áp tâm thu. Khi tim giãn, khơng có sức
đẩy của tim nhưng máu vẫn được đẩy đi do tính đàn hồi của thành động mạch. Vì
vậy, huyết áp có được ở giai đoạn này có trị số thấp nhất nên gọi là huyết áp tối
thiểu hay huyết áp tâm trương [12].
Mức độ chênh lệch huyết áp tối đa và huyết áp tối thiểu là huyết áp hiệu số.
Đó là điều kiện cần thiết cho sự tuần hoàn máu. Khi huyết áp hiệu số giảm xuống
thấp thì tuần hồn máu bị ứ trệ, huyết áp hiệu số lớn nhất ở các động mạch chủ và
các động mạch lớn [12].
1.2. Đặc điểm q trình cung cấp oxy cho mơ trong hoạt động thể thao
1.2.1. Biến đổi nhu cầu oxy trong hoạt động thể thao
Các dạng bài tập thể thao rất đa dạng và phong phú. Các dạng bài tập chủ
yếu có bài tập điền kinh, thể dục dụng cụ, bơi lội, các mơn bóng, võ, vật,… các bài
tập này có tác dụng tích cực nhất định đối với lứa tuổi thanh thiếu niên, người
trưởng thành và người lớn tuổi. Tùy theo các bài tập, có thể tăng cường thể chất,
xúc tiến quá trình dậy thì, tăng cường sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Như vậy, những
2
dạng bài tập cho các đối tượng thể thao không giống nhau. Vì lẽ đó muốn nâng cao
sức khỏe, thì cần tìm hiểu ảnh hưởng của hoạt động thể thao đến hình thái, chức
năng của con người. Nói các khác đẻ nâng cao cường độ vận động và công suất cơ
thể thì việc tìm hiểu đặc điểm sinh lý, các mức cường độ để việc hoạt động thể thao
hợp lý, khoa học hơn [9]. Trong các hoạt động có tính chất chu kỳ người ta dựa vào
cường độ hoạt động của cơ bắp để phân mức cường độ.
1.2.2. Các mức cường độ
- Mức cường độ tối đa thể hiện ở cự ly chạy 100 – 200m, tốc độ trung bình
từ 9,4 – 10.1m/s, thời gian hoạt động có thể duy trì tốc độ từ 10 – 30s.
- Mức cường độ gần tối đa thể hiện luôn ở cự ly chạy 400 – 1500m, tốc độ
trung bình 6,8 – 8,7m/s, tốc độ có thể duy trì trong thời gian 45 giây đến 3 phút
trong chu kỳ hoạt động.
- Mức cường độ lớn thể hiện ở cự ly chạy từ 300 – 10000m tốc độ trung
bình 5,8 – 6,3m/s, thời gian có thể duy trì tốc độ từ 7 – 50 phút trong hoạt động có
chu kỳ.
- Mức cường độ trung bình thể hiện ở cự ly chạy từ 10000m trở lên cho đến
chạy marathon tốc độ trung bình từ 3 – 5m/s, thời gian có thể duy trì khá năng chạy
từ 1 giờ trở lên.
Trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi, chỉ thực nghiệm ở đối tượng học
sinh với mức cường độ vận động gần tối đa, cự ly chạy 1000m.
1.2.3. Đặc điểm sinh lý của mức cường độ gần tối đa
- Chức năng hệ cơ bắp hoạt động mãnh liệt.
- Chức năng hệ hô hấp tăng cao tối đa sau 3 – 4 phút.
- Chức năng hệ tuần hoàn: mạch đập 180 – 200 lần/phút. Huyết áp tâm thu từ
180 – 200mmHg. Huyết áp tâm trương tăng khoảng 50mmHg.
1.2.4. Biến đổi chức năng của hệ thống tuần hoàn
Ở người trưởng thành, tim nặng 230 – 300g, chiếm khoảng 0,5% trọng lượng
cơ thể. Lưu lượng máu nuôi tim qua hệ mạch vành trong trạng thái yên tĩnh là
3
khoảng 225 – 250ml/phút hay 60 – 80ml/phút/100g thể trọng. Lượng oxy mà cơ
tim tiêu thụ là 10 – 20ml/100 ml máu. Tim có khả năng thích nghi rất cao với các
trạng thái hoạt động của cơ thể vì tim được điều hòa bởi nhiều yếu tố.
Các chỉ số đánh giá chức năng hệ tim mạch là huyết áp, gồm huyết áp tâm
thu, huyết áp tâm trương, huyết áp hiệu số và huyết áp trung bình. Huyết áp tâm thu
là trị số huyết áp cao nhất trong chu kì hoạt động của tim, ứng với cuối kì tâm thất
thu. Thơng số này phản ánh lực co của tâm thất là chính. Trị số bình thường là 110
mmHg, giới hạn là 90 – 140 mmHg. Huyết áp tâm trương là trị số huyết áp thấp
nhất trong chu kỳ hoạt động của tim, ứng với giai đoạn tâm trương. Thông số này
phản ánh trương lực thành mạch. Trị số bình thường là 70 mmHg, giới hạn là 50 –
90 mmHg. Huyết áp hiệu số là hiệu số giữa huyết áp tối đa và tối thiểu, bình
thường huyết áp hiệu số khoảng 40 mmHg. Khi huyết áp hiệu số giảm gọi là kẹp
huyết áp và dẫn tới sự giảm lưu thông của máu. Huyết áp trung bình là trị số huyết
áp khơng đổi được tạo ra trong suốt một chu kỳ tim. Huyết áp trung bình được tính
theo cơng thức:
Huyết áp trung bình = Huyết áp tối thiểu + 1/3 Huyết áp hiệu số [2].
Lưu lượng tim (lít/phút) = Thể tích tâm thu (lít) × tần số tim (ck/phút) [7].
Bình thường thể tích tâm thu khoảng 0,06 lít, tần số tim 70 ck/phút, có thể tính ra
lưu lượng tim là 4,2 lít/phút [15], [16]. Trong điều kiện lao động, thể thao lưu
lượng tim tăng lên đáng kể. Đặc biệt trong gắng sức tối đa thì có thể tính được dự
trữ chức năng tim của cơ thể theo công thức:
Dự trữ chức năng tim = (Lưu lượng tim tối đa – lưu lượng tim bình thường) ×
100%/ Lưu lượng tim bình thường.
Dự trữ chức năng tim có thể dùng làm tiêu chuẩn thăm dị, tuyển chọn các
đối tượng lao động đặc biệt và các vận động viên thể thao.
4
1.3. Lược sử nghiên cứu về hệ tuần hoàn
1.3.1. Các nghiên cứu về hệ tuần hoàn trên thế giới
Các chỉ số chức năng hệ tuần hoàn được nghiên cứu thường tập trung vào
nhịp tim và huyết áp.
Tần số tim thay đổi theo từng lứa tuổi, từng trạng thái cơ thể [3]. Vì vậy, việc
nghiên cứu tần số tim đã được nhiều tác giả thực hiện. Theo Tur A.P. , Arshavski
I.A. và Biriulovik A.A (theo [3]), tần số tim trung bình của trẻ sơ sinh trong những
ngày đầu tiên là 120 – 140 lần/phút. Nhiều cơng trình nghiên cứu chứng minh rằng,
ở trẻ em lứa tuổi đang bú mẹ tần số tim trung bình là 110 – 160 lần/phút, trước tuổi
đến trường là 85 - 100 lần/phút và ở tuổi học đường là 75 – 82 lần/phút (theo [3]).
Kubatu K. (theo [3]) nghiên cứu ở trẻ em Nga 7 – 15 tuổi và nhận thấy tần số
tim giảm dần theo tuổi. Waldo E.N. [14] khi nghiên cứu ở các trẻ em Anh và
Edmun H.S. [15] nghiên cứu ở trẻ em Mỹ cũng cho kết quả tương tự. Nghiên cứu
trên trẻ em trước tuổi đến trường và trẻ em tuổi học đường, nhiều tác giả nhận thấy
huyết áp động mạch của học sinh tăng dần theo tuổi. Huyết áp tối đa/tối thiểu của
trẻ 15 tuổi là 115/72 mmHg [14].
Một số tác giả cho rằng có sự thay đổi huyết áp theo giới tính. Theo Frokis
V.V. (theo [3]), dưới 5 tuổi huyết áp của nam và nữ hầu như giống nhau nhưng từ 5
– 9 tuổi huyết áp của nam cao hơn nữ. Kết quả nghiên cứu của Fedorova E.P. và
Kaluifnaia R.A. (theo [3]) cũng cho thấy ở lứa tuổi 8 – 12, cả huyết áp tối đa và
huyết áp tối thiểu của nam đều cao hơn nữ. Theo Frolkis V.V. (theo [3]), có sự
khác nhau về biến đổi huyết áp động mạch của trẻ em ở các nước khác nhau và ở
các vùng dân cư khác nhau.
1.3.2. Các nghiên cứu về hệ tuần hoàn ở Việt Nam
Theo “Hằng số sinh học người Việt Nam” [1] huyết áp động mạch thay đổi
theo lứa tuổi, trong đó ở nhóm trẻ lớn hơn 15 tuổi huyết áp tâm thu là 110 mmHg
và huyết áp tâm trương là 70 mmHg; huyết áp tâm thu của người trưởng thành dao
động từ 90 – 140 mmHg, và huyết áp tâm trương từ 50 – 90 mmHg. Tác giả nhận
5
thấy một số yếu tố làm thay đổi huyết áp như vị trí đo, tư thế đo, thời điểm đo và
giới tính. Các tác giả cũng tiến hành đếm mạch cổ tay, ở cổ hoặc nghe tim trong 1
phút và tính trung bình trong cả cộng đồng các đối tượng nghiên cứu và cho thấy
tần số tim ở nam trưởng thành là 70 – 80 lần/phút và ở nữ trưởng thành là 75 – 85
lần/phút.
Năm 1993, Đoàn Yên và cs [13] dựa vào kết quả nghiên cứu tần số tim và
huyết áp của người Việt Nam cho rằng, sau khi sinh tần số tim và huyết áp động
mạch biến đổi có tính chất chu kỳ, huyết áp động mạch tăng đến tuổi 18, sau đó ổn
định đến tuổi 49 rồi lại tăng lên. Tần số tim giảm đến tuổi 25, ổn định đến tuổi 69.
Theo Nguyễn Quang Mai [4] huyết áp trung bình là trị số của một huyết áp
khơng dao động. Huyết áp trung bình thể hiện lực của tâm thu thực sự. Trị số huyết
áp trung bình gần huyết áp tối thiểu hơn huyết áp tối đa. Ở người huyết áp động
mạch chủ khoảng 120 – 140 mmHg, tại các động mạch lớn khoảng 110 – 125
mmHg, các động mạch nhỏ là 70 – 90 mmHg. Huyết áp ở nam giới cao hơn nữ giới.
Huyết áp thay đổi tùy thời điểm trong một ngày, khi lao động cơ bắp nặng nhọc hay
có cảm xúc mạnh thì huyết áp tăng lên...
Theo Phạm Thị Minh Đức [2], huyết áp tối đa bình thường có trị số là 90 –
110 mmHg, nếu trên 140 mmHg thì được coi là tăng huyết áp và dưới 90 mmHg là
hạ huyết áp. Huyết áp tối thiểu bình thường có trị số là 50 – 70 mmHg, nếu vượt
qua 90 mmHg được coi là tăng huyết áp.
Nghiên cứu của Trần Thị Loan [3] cho thấy, ở lớp tuổi học sinh phổ thông
tần số tim giảm dần theo lớp tuổi, sự biến đổi tần số tim của nam và nữ khác nhau.
Năm 2002, Nguyễn Văn Mùi và cs [6] đã ghiên cứu tần số tim và huyết áp
động mạch trên 182 vận động viên một số mơn thể thao ở Hải Phịng. Kết quả cho
thấy, huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương của họ đều thấp hơn so với người
bình thường cùng lứa tuổi. Trong số này, nhóm vận động viên bơi lội có huyết áp
thấp hơn cả. Tần số tim của các vận động viên đều thấp hơn so với thanh niên cùng
6
lứa tuổi. Điều này cho thấy việc rèn luyện thể chất có ý nghĩa rất lớn với chức năng
của hệ tuần hoàn.
Năm 2006, Trần Trọng Thủy và cs [10] đã tiến hành nghiên cứu huyết áp tối
đa và huyết áp tối thiểu của học sinh phổ thông từ 8 – 20 tuổi. Các tác giả nhận
thấy đối với học sinh nhóm tuổi từ 16 – 18 huyết áp tối đa của học sinh nam tăng từ
117,78 mmHg lên 120,32 mmHg, ở học sinh nữ tăng từ 113,51 mmHg lên 113,79
mmHg; huyết áp tối thiểu của học sinh năm tăng từ 74,78 mmHg lên 76,31 mmHg,
ở nữ từ 73,46 mmHg lên 73,63 mmHg.
2. Thực trạng của vấn đề
Qua nghiên cứu khảo sát 70 học sinh nam và 70 học sinh nữ ban đầu có các
chỉ số tuần hồn như sau: Huyết áp tâm thu của học sinh nam là 115,47 mmHg, của
học sinh nữ là 111,34 mmHg; Huyết áp tâm trương của học sinh nam là 74,23
mmHg, của học sinh nữ là 77,32 mmHg; Tần số tim của học sinh nam là 77,50
nhịp/phút, của học sinh nữ là 80,52 nhịp/phút.
Từ kết quả trên cho thấy đa số học sinh của chúng tơi có các chỉ số huyết áp,
nhịp tim cao hơn so với các nhóm đối tượng cùng lứa tuổi có lẽ là do đối tượng
nghiên cứu của chúng tôi trong các năm học trước thường ít tập thể dục, thể thao để
tăng cường sức khỏe dẫn đến các chức năng hệ tuần hoàn thực hiện khá kém ở cả
nam và nữ.
Từ thực trạng trên cho thấy chức năng tuần hoàn của nhóm học sinh nghiên
cứu có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của học sinh, từ đó có thể ảnh hưởng đến khả
năng trí tuệ của học sinh. Cần có biện pháp thử nghiệm để tăng cường phát triển hệ
tim mạch của học sinh, từ đó tăng cường sức khỏe, thể chất cho học sinh.
3. Các biện pháp giải quyết vấn đề
3.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các em học sinh khối 10 của trường THPT Minh
Phú phân bố theo bảng sau:
7
Bảng 1. Phân bố đối tượng theo nhóm và theo giới tính
Nhóm thực nghiệm
Nhóm đối chứng
Tổng
Nam
35
35
70
Nữ
35
35
70
Tổng
70
70
140
Phạm vi nghiên cứu là học sinh có thể trạng sức khỏe bình thường khơng bị
dị tật bẩm sinh, khơng bị các bệnh mạn tính.
Nghiên cứu các chức năng tuần hoàn bao gồm: huyết áp động mạch, tần số
tim của học sinh lứa tuổi 16 trước khi chạy bộ; sau một tháng chạy bộ mỗi ngày
1000m (tương đương 4 vòng sân của trường) vào buổi chiều (khoảng 16h45p) sau đó
ngưng chạy bộ một tháng; tiếp tục cho học sinh chạy bộ một tháng lần 2 và cuối cùng
ngưng chạy bộ một tháng lần 2.
3.2.2. Phương pháp nghiên cứu
3.2.2.1. Các chỉ số được nghiên cứu
- Các chỉ số về huyết áp bao gồm huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương và
huyết áp hiệu số.
- Tần số tim
3.2.2.2. Phương pháp nghiên cứu các chỉ số
Các chỉ số tuần hoàn được đo theo điều kiện tiêu chuẩn tại phòng y tế của
trường bằng máy đo chức năng: đo huyết áp bằng huyết áp kế đồng hồ, đo tần số co
bóp tim bằng ống nghe tim phổi và đồng hồ điện tử để tính giờ.
* Phương pháp đo huyết áp
Huyết áp được đo bằng phương pháp Korotkov, dụng cụ đo là huyết áp kế
đồng hồ.
- Người đo ngồi ở tư thế thoải mái, duỗi thẳng cánh tay lên bàn và kéo tay áo
lên gần nách, cánh tay để ngửa. Quấn bao cao su bọc vải của huyết áp kế quanh
cánh tay phía trên khuỷu tay.
8
- Vặn chặt núm xoay ở quả bóng bơm theo chiều kim đồng hồ và bơm khí
vào bao cao su của huyết áp kế cho đến khi kim đồng hồ chỉ ở 160 – 180 mmHg thì
dừng lại.
- Vặn mở từ từ núm xoay ngược chiều kim đồng hồ để xả khí, đồng thời
dùng ống nghe tim phổi để nghe tiếng đập ở động mạch cánh tay. Khi bắt đầu nghe
thấy tiếng đập đầu tiên thì đọc trên đồng hồ và ghi lại giá trị huyết áp. Đó chính là
huyết áp tối đa. Tiếp tục xả khí và nghe tiếng đập đều đều và khi bắt đầu không
nghe thấy tiếng đập nữa thì đọc trên đồng hồ và ghi lại giá trị huyết áp. Đó chính là
huyết áp tối thiểu.
* Phương pháp đo tần số tim
Tần số tim được xác định bằng ống nghe tim phổi và đồng hồ điện tử để tính
giờ. Đối tượng thực nghiệm ngồi thoải mái, hai tay để lên đùi. Dùng ống nghe đặt
nhẹ lên trước ngực ở vị trí gian sườn thứ tư, thứ năm chỗ mỏm tim. Sau đó lắng
nghe và đếm nhịp đập của tim trong vòng một phút. Đo ba lần và lấy giá trị trung
bình.
3.2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu
Các phiếu điều tra đạt yêu cầu được nhập kết quả vào máy vi tính bằng
chương trình Microsof Excell. Trong q trình nhập, số liệu ln được kiểm tra để
đảm bảo chính xác.
Các số liệu nhập đầy đủ hết, được máy tính xử lí theo các chỉ số: số lượng, tỉ
lệ %, các giá trị trung bình ( X ), độ lệch chuẩn (SD) và hệ số tương quan (r) của
các dữ liệu đã chọn [5].
Tính giá trị trung bình ( X ):
n
X=
∑ Xi
i =1
n
X : Là giá trị trung bình
Xi: Là giá trị thứ i của đại lượng X
9
n: Là số cá thể ở mẫu nghiên cứu
3.2. Kết quả nghiên cứu
3.2.1. Huyết áp tâm thu của học sinh
3.2.1.1. Huyết áp tâm thu của học sinh theo giới tính
Kết quả nghiên cứu về huyết áp tâm thu trung bình của học sinh theo giới
tính qua các q trình vận động được thể hiện trong bảng 2.
Bảng 2. Huyết áp tâm thu của học sinh theo giới tính
Loại hình vận động
Huyết áp tâm thu (mmHg)
Nam TN (1)
Nữ TN (2)
n
X 1 ± SD
X 2 ± SD
Tăng
Tăng
X1 − X 2
p(1-2)
Ban đầu
Sau 1 tháng chạy bộ
Nghỉ 1 tháng
n
35 115,47 ± 2,71
35 116,24 ± 2,84
35 115,70 ± 3,02
0,77
-0,54
35
35
35
111,34 ± 3,29
113,23 ± 3,26
112,21 ± 3,46
1,89
-1,02
4,13
3,01
3,49
<0,05
<0,05
<0,05
Sau 1 tháng chạy lần 2
Nghỉ 1 tháng lần 2
35 117,09 ± 3,07
35 116,16 ± 3,04
1,39
-0,93
35
35
114.19 ± 3,35
113,09 ± 3,27
1,98
-1,10
2,90
3,07
<0,05
<0,05
Ban đầu, huyết áp tâm thu của học sinh nam là 115,47 ± 2,71 mmHg và học
sinh nữ là 111,34 ± 3,29 mmHg, chênh lệch là 4,13 mmHg. Sau một tháng chạy bộ
lần 1, huyết áp tâm thu của học sinh nam tăng thêm 0,77 mmHg trong khi huyết áp
tâm thu của học sinh nữ tăng thêm 1,89 mmHg. Như vậy, huyết áp tâm thu của học
sinh nam mặc dù cao vẫn cao hơn học sinh nữ nhưng sự chênh lệch lúc này chỉ là
3,01 mmHg. Khi tiếp tục chạy bộ 1 tháng lần 2, huyết áp tâm thu của học sinh nam
tăng lên đến 117,09 mmHg nhưng tốc độ tăng vẫn chậm hơn so với học sinh nữ,
nên thời điểm này huyết áp tâm thu của học sinh nam chỉ cao hơn học sinh nữ là
2,90 mmHg. Do đó, có thể kết luận, huyết áp tâm thu của học sinh nam cùng lứa
tuổi luôn cao hơn so với học sinh nữ. Nếu tích cực luyện tập thể thao hằng ngày thì
huyết áp tâm thu của học sinh tăng lên và tốc độ tăng của học sinh nữ cao hơn so
với học sinh nam. Điều này có thể lý giải là mơi trường học tập chủ yếu học sinh là
ngồi học trên lớp, học các mơn học trên giấy mà rất ít khi tham gia luyện tập thể
thao đặc biệt là nhóm học sinh nữ, do đó trong q trình luyện tập thể thao sẽ làm
cho tim và hệ mạch hoạt động tốt hơn nhờ đó huyết áp tâm thu tăng lên. Ở nhóm
10
học sinh nữ, sự vận động chạy 1000m mỗi ngày là một hoạt động thể thao vừa sức
và phát huy rất tốt hoạt động vốn có của hệ tuần hồn do đó tốc độ tăng huyết áp
tâm thu nhanh hơn so với học sinh nam.
3.2.1.2. Huyết áp tâm thu của học sinh nam
Kết quả nghiên cứu về huyết áp tâm thu của học sinh nam qua các quá trình
vận động được thể hiện trong bảng 3.
Bảng 3. Huyết áp tâm thu của học sinh nam theo nhóm nghiên cứu
Ban đầu
Sau 1 tháng chạy bộ
Nghỉ 1 tháng
Huyết áp tâm thu (mmHg)
TN (1)
ĐC (2)
n
X 1 ± SD
n
Tăng
X 2 ± SD
Tăng
35 115,47 ± 2,71 35 115,44 ± 2,67 35 116,24 ± 2,84 0,77 35 115,45 ± 2,51 0,04
35 115,70 ± 3,02 -0,54 35 115,48 ± 2,72 0,03
0,06
0,79
0,22
>0,05
<0,05
>0,05
Sau 1 tháng chạy lần 2
Nghỉ 1 tháng lần 2
35 117,09 ± 3,07
35 116,16 ± 3,04
1,50
0,88
<0,05
>0,05
Loại hình vận động
1,39
-0,93
35
35
115,59 ± 3,01
115,62 ± 3,05
0,11
0,03
X1 − X 2
p(1-2)
Bảng 3 cho thấy, huyết áp tâm thu của học sinh nam có sự thay đổi ở nhóm
thực nghiệm và nhóm đối chứng. Cụ thể, huyết áp tâm thu ban đầu của hai nhóm
học sinh đối chứng và thực nghiệm là 115,47 mmHg và 115,44 mmHg, sau đó
huyết áp tâm thu của học sinh nhóm đối chứng hầu như khơng đổi nhiều trong 4
tháng thực nghiệm. Còn huyết áp tâm thu của nhóm nam học sinh thực nghiệm tăng
dần theo các tháng và đặc biệt tăng vọt ở các tháng có vận động chạy và tháng vận
động chạy lần hai tăng nhiều hơn so với lần một (lần 1 – 116,24 mmHg, lần 2 –
117,09 mmHg). Nếu so sánh hai nhóm học sinh ở cùng một thời điểm thì sự chênh
lệch có ý nghĩa thống kê xuất hiện ở thời gian sau một tháng chạy bộ liên tục lần 1
chênh lệch là 0,79 mmHg, sau một tháng chạy bộ lần hai chênh lệch là 1,50 mmHg
và sau một tháng nghỉ sau khi chạy bộ lần hai chênh lệch là 0,88 mmHg. Từ đây có
thể kết luận, nếu tích cực vận động liên tục trong nhiều tháng huyết áp tâm thu của
học sinh nam sẽ tăng lên. Càng vận động thời gian dài thì huyết áp tâm thu tăng lên
càng nhiều, sự tăng lên này là có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
11
3.2.1.3. Huyết áp tâm thu của học sinh nữ
Kết quả nghiên cứu về huyết áp tâm thu của học sinh nữ qua các quá trình
vận động được thể hiện trong bảng 4.
Bảng 4. Huyết áp tâm thu của học sinh nữ theo nhóm nghiên cứu
Loại hình vận động
Huyết áp tâm thu (mmHg)
TN (1)
ĐC (2)
X 1 ± SD
X 2 ± SD
Tăng n
Ban đầu
Sau 1 tháng chạy bộ
Nghỉ 1 tháng
n
35 111,34 ± 3,29 35 113,23 ± 3,26 1,89
35 112,21 ± 3,46 -1,02
Sau 1 tháng chạy lần 2
Nghỉ 1 tháng lần 2
35 114.19 ± 3,35 1,98
35 113,09 ± 3,27 -1,10
X1 − X 2
p(1-2)
35 111,32 ± 3,20
35 111,50 ± 3,35
35 111,44 ± 3,26
Tăng
0,02
0,18 1,73
-0,06 0,77
>0,05
<0,05
>0,05
35 111,54 ± 3,42
35 111,62 ± 3,38
0,10
0,08
<0,05
<0,05
2,65
1,47
Số liệu bảng 4 cho thấy, ở nhóm đối chứng, huyết áp tâm thu của học sinh nữ
thay đổi không đáng kể theo thời gian. Nếu so sánh giữa nhóm thực nghiệm và đối
chứng thì có sự chênh lệch giữa học sinh nữ nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
ở các thời điểm sau khi chạy bộ một tháng liên tục lần 1 (thực nghiệm – 113,23
mmHg, đối chứng – 111,50 mmHg), sau khi chạy bộ một tháng lần hai (thực
nghiệm – 114,19 mmHg, đối chứng – 111,54 mmHg) và sau một tháng nghỉ sau
khi chạy bộ lần hai (thực nghiệm – 113,29 mmHg, đối chứng – 111,52mmHg).
Nếu so sánh huyết áp tâm thu của học sinh theo chiều dọc, thời gian học
sinh nhóm thực nghiệm có luyện tập thể thao thường xuyên và học sinh nhóm đối
chứng khơng luyện tập thể thao thì huyết áp tâm thu của học sinh nhóm thực
nghiệm trong nghiên cứu của chúng tôi ở cả nam và nữ có xu hướng tăng lên khi
luyện tập thể thao tuy nhiên mức tăng không quá nhanh. Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Văn Mùi [6], huyết áp tâm thu có
tăng lên ở thời điểm sau khi luyện tập thể thao ở nhóm vận động viên điền kinh.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nếu có sự luyện tập thể thao thường xun thì
sẽ có sự thay đổi huyết áp tâm thu so với những người ít luyện tập thể thao. Kết
luận này của chúng tôi phù hợp với các nghiên cứu của tác giả khác như Nguyễn
12
Quang Mai [4], khẳng định huyết áp tâm thu phụ thuộc vào khí hậu, thời tiết, trạng
thái hoạt động và khả năng lao động của cơ thể.
3.2.2. Huyết áp tâm trương của học sinh
3.2.2.1. Huyết áp tâm trương của học sinh theo giới tính
Kết quả nghiên cứu về huyết áp tâm trương trung bình của học sinh qua các
quá trình vận động được thể hiện trong bảng 5.
Bảng 5. Huyết áp tâm trương của học sinh theo giới tính
Loại hình vận động
Ban đầu
Sau 1 tháng chạy bộ
Nghỉ 1 tháng
n
35
35
35
Sau 1 tháng chạy lần 2
Nghỉ 1 tháng lần 2
35
35
Huyết áp tâm trương (mmHg)
Nam TN (1)
Nữ TN (2)
n
X 1 ± SD
X 2 ± SD
Tăng
Tăng
74,23 ± 3,04
73,18 ± 3,21
73,62 ± 3,41
72,03 ± 3,12
72,70 ± 3,22
-1,05
0.44
-1,59
0,67
35
35
35
35
35
77,32 ± 3,14
76,25 ± 3,06
77,15 ± 3,33
75,35 ± 3,40
75,87 ± 3,38
-1,07
0,90
-1,80
0,52
X1 − X 2
3,09
3,07
3,53
3,32
3,17
p(1-2)
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
<0,05
Số liệu bảng 5 cho thấy, huyết áp tâm trương của học sinh có sự khác biệt
giữa học sinh nam và nữ ở tất cả các giai đoạn. Sau các giai đoạn luyện tập thể thao
thì huyết áp tâm trương của học sinh đều giảm nhưng ở nhóm nữ tốc độ giảm chậm
hơn và cũng biến đổi ít đồng đều hơn vì vậy sự chênh lệch giữa nam và nữ
ngàycàng lớn ở những giai đoạn ngưng hoạt động thể thao. Cụ thể là: Trước khi
chạy bộ lần một, huyết áp tâm trương của học sinh nam thấp hơn so với học sinh nữ
sự chênh lệch là 3,09 mmHg. Sau khi cho học sinh chạy bộ một tháng mỗi ngày
1000m thì huyết áp tâm trương của học sinh nam giảm đi 1,05 mmHg và ở nữ giảm
đi 1,07 mmHg, sự chênh lệch lúc này là 3,07 mmHg (p<0,05). Tuy nhiên, khi học
sinh nghỉ 1 tháng không chạy bộ nữa thì sự chênh lệch về huyết áp tâm trương của
học sinh nam và nữ đã tăng lên mạnh do ở nam huyết áp tâm trương tăng chậm hơn
so với ở nữ. Sau đó học sinh tiếp tục thực hiện chạy bộ một tháng lần hai thì huyết áp
tâm trương của hai nhóm tiếp tục giảm xuống và nữ lại giảm sâu hơn nam nên độ
chênh lệch là 3,32 mmHg và ngay cả khi sau đó học sinh khơng chạy bộ một tháng
lần hai thì sự chênh lệch huyết áp tâm trương nam, nữ vẫn có ý nghĩa thống kê. Qua
13
đây có thể khẳng định giá trị huyết áp tâm trương của học sinh ngược lại so với
huyết áp tâm thu và giá trị này ở nam thấp hơn ở nữ. Điều này có thể được giải thích
là do đặc điểm giới tính và thói quen vận động của từng giới. Vì vậy nên huyết áp
tâm trương khi vận động ở nữ cũng giảm nhanh hơn ở nam.
3.2.2.2. Huyết áp tâm trương của học sinh nam
Kết quả nghiên cứu về huyết áp tâm trương của học sinh nam qua các quá
trình vận động được thể hiện trong bảng 6.
Bảng 6. Huyết áp tâm trương của học sinh nam theo nhóm nghiên cứu
Loại hình vận động
Ban đầu
Sau 1 tháng chạy bộ
Nghỉ 1 tháng
n
35
35
35
Sau 1 tháng chạy lần 2
Nghỉ 1 tháng lần 2
35
35
Huyết áp tâm trương (mmHg)
TN (1)
ĐC (2)
X 1 ± SD
X 2 ± SD
Tăng
n
74,23 ± 3,04
35 74,24 ± 3,09
73,18 ± 3,21 -1,05 35 74,28 ± 3,15
73,62 ± 3,41 0.44 35 74,36 ± 3,17
72,03 ± 3,12 -1,59 35 74,53 ± 3,12
72,70 ± 3,22 0,67 35 74,57 ± 3,13
Tăng
0,04
0,08
0,17
0,04
X1 − X 2
0,01
1,1
0,74
2,5
1,87
p(1-2)
>0,05
<0,05
>0,05
<0,05
<0,05
Số liệu bảng 6 cho thấy, nếu xét về khả năng thay đổi sau vận động thì chúng
tơi có kết luận : Sau khi chạy bộ một tháng liên tục lần 1 thì huyết áp tâm trương
của học sinh nam nhóm thực nghiệm giảm xuống và thấp hơn so với nhóm đối
chứng (thực nghiệm – 73,18 mmHg, đối chứng – 74,28 mmHg). Tiếp sau đó huyết
áp tâm trương giảm nhiều hơn sau khi học sinh nhóm thực nghiệm tiếp tục chạy bộ
một tháng lần 2 (thực nghiệm – 72,03 mmHg, đối chứng – 74,33mmHg) và nếu
tiếp tục ngưng chạy bộ lần 2 thì huyết áp tâm trương của học sinh nhóm thực
nghiệm vẫn thấp hơn so với nhóm đối chứng (thực nghiệm – 72,70 mmHg, đối
chứng – 74,35 mmHg). Như vậy có thể kết luận nếu hoạt động thể thao liên tục thì
huyết áp tâm trương của học sinh nam sẽ giảm dần xuống và thời gian luyện tập thể
thao liên tục nhiều thì dù có nghỉ thể thao 1 tháng thì huyết áp tâm trương của học
sinh vẫn thấp hơn so với nhóm khơng hoạt động thể thao.
14
3.2.2.3. Huyết áp tâm trương của học sinh nữ
Kết quả nghiên cứu về huyết áp tâm trương của học sinh nữ qua các quá
trình vận động được thể hiện trong bảng 7.
Bảng 7. Huyết áp tâm trương của học sinh nữ theo nhóm nghiên cứu
Loại hình vận động
Ban đầu
Sau 1 tháng chạy bộ
Nghỉ 1 tháng
n
35
35
35
Sau 1 tháng chạy lần 2
Nghỉ 1 tháng lần 2
35
35
Huyết áp tâm trương (mmHg)
TN (1)
ĐC (2)
X 1 ± SD
X 2 ± SD
Tăng n
77,32 ± 3,14
76,25 ± 3,06
77,15 ± 3,33
75,35 ± 3,40
75,87 ± 3,38
-1,07
0,90
-1,80
0,52
35
35
35
35
35
77,35 ± 3,36
77,38 ± 3,34
77,43 ± 3,31
77,46 ± 3,51
77,51 ± 3,30
Tăng
0,03
0,05
0,03
0,05
X1 − X 2
0,03
1,13
0,28
2,11
1,64
p(1-2)
>0,05
<0,05
>0,05
<0,05
<0,05
Qua bảng số liệu 7 cho thấy, huyết áp tâm trương của học sinh nữ giảm liên
tục khi chạy bộ. Sự chênh lệch này thể hiện rõ ở nhóm đối chứng và nhóm thực
nghiệm ở các thời điểm sau một tháng chạy bộ liên tục lần 1, sau một tháng chạy
bộ liên tục lần 2 và sau một tháng nghỉ chạy bộ lần 2. Cụ thể : Trước khi chạy bộ
lần 1, huyết áp tâm trương của học sinh nữ ở hai nhóm thực nghiệm và đối chứng là
tương đối bằng nhau (77,32 mmHg và 77,35 mmHg). Sau 1 tháng chạy bộ lần 1
của nhóm thực nghiệm, huyết áp tâm trương của học sinh nhóm này đã giảm đi
1,07 mmHg và thấp hơn so với học sinh nhóm đối chứng tới 1,13 mmHg. Sau 1
tháng chạy bộ lần 2, huyết áp tâm trương của học sinh nhóm thực nghiệm tiếp tục
giảm mạnh chỉ còn 75,35 mmHg và thấp hơn đến 2,11 mmHg so với học sinh
nhóm đối chứng ở cùng thời điểm. Sau khi ngưng chạy bộ lần 2 thì huyết áp tâm
trương của học sinh nhóm thực nghiệm có tăng lên nhưng vẫn có huyết áp tâm
trương thấp hơn so với nhóm đối chứng (thực nghiệm – 75,87 mmHg, đối chứng –
77,51mmHg).
3.2.3. Tần số tim của học sinh
3.2.3.1. Tần số tim của học sinh theo giới tính
Bảng 8. Tần số tim của học sinh theo giới tính
Tần số tim (lần/ phút)
15
Ban đầu
Sau 1 tháng chạy bộ
Nghỉ 1 tháng
Nam TN (1)
X 1 ± SD
n
35 77,50 ± 4,67
35 76,01 ± 4,70
35 76,68 ± 4,74
Tăng
-1,49
0,67
Nữ TN (2)
Sau 1 tháng chạy lần 2
Nghỉ 1 tháng lần 2
35 75,54 ± 4,87
35 75,82 ± 5,06
n
X 2 ± SD
35
35
35
-1,14 35
0,28 35
80,52 ± 4,67
78,91 ± 4,70
79,18 ± 4,74
Tăng
3,02
-1,61 2,90
0,27 2,50
<0,05
<0,05
<0,05
78,21 ± 5,07
78,61 ± 5,06
-0,97 2,67
0,40 2,79
<0,05
<0,05
Số liệu bảng 8 cho thấy, tần số tim của học sinh nữ cao hơn so với học sinh
nam ở mọi thời điểm. Cụ thể: Ban đầu tần số tim của học sinh nam và nữ lần lượt là
77,50 lần/phút và 80,52 lần/ phút, tần số tim của nữ cao hơn nam là 3,02 lần/phút.
Sau 1 tháng chạy bộ lần 1, tần số tim của hai nhóm nam và nữ đều giảm xuống
nhưng nữ giảm nhiều hơn nam nên sự chênh lệch tần số tim ở giai đoạn này chỉ còn
2,90 lần/ phút. Nếu ngưng chạy bộ thì tần số tim lại có xu hướng tăng lên nhưng
vẫn tồn tại sự chênh lệch giữa tần số tim nhóm học sinh nam và nữ. Sau đó tiếp tục
chạy bộ lần 2 và ngưng chạy bộ lần 2 thì tần số tim giảm sâu hơn và độ chênh lệch
về tần số tim của 2 nhóm học sinh nam và nữ vẫn lớn (2,67 lần/phút và 2,79
lần/phút) và sự chênh lệch này là có ý nghĩa thống kê. Từ đây có thể kết luận tần số
tim của học sinh nữ cao hơn của học sinh nam và khi cho học sinh thực hiện hoạt
động thể thao mỗi ngày 1000m chạy bộ thì tần số tim của học sinh sẽ giảm dần
xuống. Điều này có thể giải thích là do đặc điểm sự phát triển giới tính nên có sự
chênh lệch về tần số tim giữa nam và nữ. Tim có chức năng bơm máu đi ni toàn
bộ cơ thể và tim sẽ đập nhanh hơn trong quá trình hoạt động thể thao và nếu liên
tục luyện tập thể thao thì tim co bóp nhanh và mạnh nhiều sẽ dãn dần ra, một thời
gian dài tim sẽ dần thích nghi và số lần co bóp/phút giảm dần nhưng vẫn đảm bảo
đưa máu đi ni tồn bộ cơ thể.
3.2.3.2. Tần số tim của học sinh nam
Bảng 9. Tần số tim của học sinh nam theo nhóm nghiên cứu
Loại hình vận động
Ban đầu
n
35
Huyết áp tâm thu (mmHg)
TN (1)
ĐC (2)
n
X 1 ± SD
X 2 ± SD
Tăng
77,50 ± 4,67
35 77,50 ± 4,63
16
Tăng
-
X1 − X 2
0,00
p(1-2)
>0,05
Sau 1 tháng chạy bộ
Nghỉ 1 tháng
35
35
Sau 1 tháng chạy lần 2
Nghỉ 1 tháng lần 2
35
35
76,01 ± 4,60
76,68 ± 4,74
75,54 ± 4,87
75,82 ± 5,06
-1,49
0,67
-1,14
0,28
35
35
35
35
77,48 ± 4,67
77,49 ± 4,83
77,48 ± 5,07
77,48 ± 5,08
-0,02
0,01
-0,01
0
1,47
0,81
1,94
1,66
<0,05
>0,05
<0,05
<0,05
Số liệu bảng 9 cho thấy, tần số tim của học sinh nam nhóm thực nghiệm
giảm dần theo từng giai đoạn luyện tập thể thao. Cụ thể: ban đầu khơng có sự
chênh lệch về tần số tim của hai nhóm học sinh thực nghiệm và đối chứng (chênh
lệch là 0,00 lần/phút). Sau một tháng chạy bộ lần 1 của nhóm thực nghiệm, tần số
tim của nhóm này đã giảm xuống 1,49 lần/phút và trở thành thấp hơn so với nhóm
đối chứng tới 1,47 lần/phút. Khi nhóm thực nghiệm ngưng chạy bộ thì độ chênh
lệch tần số tim giảm xuống, tần số tim nhóm thực nghiệm vẫn thấp hơn so với
nhóm đối chứng nhưng sự chênh lệch này là khơng có ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Tần số tim có sự chênh lệch nhiều ở 2 nhóm học sinh khi cho các học sinh thực
nghiệm chạy bộ 1 tháng lần 2 (1,94 lần/phút) và sau khi nghỉ chạy bộ 1 tháng lần 2
(1,66 lần/phút) sự thay đổi này là có ý nghĩa thống kê (p< 0,05).
3.2.3.3. Tần số tim của học sinh nữ
Kết quả nghiên cứu tần số tim của học sinh nữ qua các giai đoạn vận động
khác nhau của cơ thể được biểu diễn ở bảng 10. Qua bảng số liệu 10 cho thấy, tần
số tim của học sinh nữ nhóm thực nghiệm giảm dần theo thời gian khi vận động và
thấp hơn ngày càng lớn so với học sinh nữ nhóm đối chứng. Cụ thể, trước khi chạy
bộ lần 1, tần số tim của học sinh nhóm thực nghiệm là 80,52 ± 4,67 lần/phút còn
tần số tim của nhóm đối chứng là 80,53 ± 4,63 lần/phút. Sau một tháng chạy bộ lần
1, tần số tim của học sinh nhóm thực nghiệm chỉ cịn 78,91 ± 4,70 lần/phút và thấp
hơn 1,61 lần/phút so với nhóm đối chứng (80,52 lần/phút). Sau khi nghỉ chạy bộ 1
tháng thì tần số tim của nhóm thực nghiệm có tăng lên 0,27 lần/phút nhưng vẫn
thấp hơn 1,33 lần/phút so với nhóm đối chứng, sau chạy bộ lần 2 tần số tim của
nhóm thực nghiệm giảm sâu hơn chỉ còn 78,21 ± 5,07 lần/phút và thấp hơn so với
17
nhóm đối chứng 2,25 lần/phút và sự chênh lệch này là có ý nghĩa thống kê
(p<0,05).
Bảng 10. Tần số tim của học sinh nữ theo nhóm nghiên cứu
Tần số tim (lần/ phút)
Loại hình vận động
TN (1)
Ban đầu
Sau 1 tháng chạy bộ
Nghỉ 1 tháng
n
35
35
35
Sau 1 tháng chạy lần 2
Nghỉ 1 tháng lần 2
35
35
X 1 ± SD
80,52 ± 4,67
78,91 ± 4,70
79,18 ± 4,74
78,21 ± 5,07
78,61 ± 5,06
ĐC (2)
Tăng
-1,61
0,27
-0,97
0,40
n
X 2 ± SD
35
35
35
80,52 ± 4,63
80,52 ± 4,65
80,51 ± 4,83
80,50 ± 4,67
80,52 ± 4,58
35
35
Tăng
0
-0,01
-0,01
0,02
X1 − X 2
0,00
1,61
1,33
2,29
1,91
p(1-2)
>0,05
<0,05
>0,05
<0,05
<0,05
Nếu xét mức độ ảnh hưởng của luyện tập thể thao chúng tơi nhận thấy ở
nhóm thực nghiệm, q trình luyện tập thể thao đã làm cho tần số tim của học sinh
cả nam và nữ đều giảm xuống.. Tần số tim của nhóm thực nghiệm giảm xuống khi
luyện tập thể thao chứng tỏ chức năng tim của con người đạt hiệu quả cao hơn, chỉ
cần tần số thấp đã đủ đảm bảo lưu lượng máu cung cấp cho cơ thể.
Qua nghiên cứu hoạt động của hệ tuần hoàn cho thấy ở nam giới chức năng
của hệ tuần hoàn được thực hiện tốt hơn, có lẽ là do đặc điểm cấu tạo cơ thể, đặc
điểm giới tính dẫn đến sự khác nhau này. Nếu xét về sự thay đổi các chỉ số tuần
hồn trong q trình luyện tập thể thao của học sinh chúng tôi thấy ở cả nam và nữ,
huyết áp hiệu số tăng lên và tần số tim giảm xuống. Điều này thể hiện chức năng
tim và khả năng thích nghi của nhóm thực nghiệm tốt hơn rất nhiều so với nhóm
đối chứng. Chức năng tim tốt hơn của nhóm thực nghiệm là do q trình gắng sức
làm cho cơ thể cần phải đáp ứng tăng lưu lượng tim lên và sự tăng lưu lượng tim
này thông qua tăng tần số tim và tăng huyết áp hiệu số. Lâu dần sẽ làm tăng sự
mềm mại của thành mạch khi luyện tập thể thao, làm cho khả năng nhường O 2 của
máu cho mô tốt hơn và tần số tim để đưa lượng máu đủ nuôi cơ thể giảm xuống. Có
lẽ vì lý do đó nên việc nghiên cứu chỉ số mạch, huyết áp là các chỉ số giúp theo dõi,
đánh giá khả năng thích nghi của cơ thể với luyện tập thể thao và sức khỏe của cơ
thể.
18
3.3. Hiệu quả của SKKN
Qua kết quả nghiên cứu cho thấy, ở cả học sinh nam và học sinh nữ trong
nhóm nghiên cứu khi luyện tập thể dục thể thao đều đặn sẽ tốt cho hệ tuần hoàn và
hoạt động sức khỏe của học sinh. Sau khi nghiên cứu xong đề tài, tôi đã phát động
phong trào thể dục, thể thao của trường THPT Số 2 Si Ma Cai, trong học kỳ II năm
học 2015 – 2016, học sinh trường THPT Số 2 Si Ma Cai đã tích cực tập thể dục thể
thao hơn các năm học trước. Đội tuyển việt dã của nhà trường tham gia giải việt dã
cấp huyện Si Ma Cai đã đạt giải nhất toàn đoàn.
Là cơng trình đầu tiên nghiên cứu theo chiều dọc về ảnh hưởng của thể thao
lên hoạt động và sự phát triển của hệ tuần hoàn ở học sinh trường THPT Số 2 Si
Ma Cai.
Các kết quả trong đề tài có thể được sử dụng làm căn cứ để lựa chọn
phương pháp tổ chức giảng dạy môn thể dục phù hợp nhằm nâng cao chất lượng,
hiệu quả của công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Ngồi ra giúp một số
ngành chức năng có liên quan như y tế, thể dục thể thao trên địa bàn huyện có cơ
sở ban đầu phục vụ chiến lược nâng cao tầm vóc và thể lực con người, đặc biệt
trong giai đoạn học sinh đang tập trung học tập lứa tuổi 15-18.
III. Kết luận và kiến nghị
1. Kết luận
- Huyết áp tâm thu của học sinh nam cao hơn học sinh nữ. Huyết áp tâm
trương, tần số tim của học sinh nam thấp hơn so với học sinh nữ. Do đó có kết luận
huyết áp hiệu số của học sinh nam cao hơn học sinh nữ.
- Cho học sinh chạy bộ mỗi ngày 1000m thì tần số tim, huyết áp tâm trương
giảm xuống cịn huyết áp tâm thu tăng lên. Khi đó huyết áp hiệu số sẽ tăng dần lên.
Như vậy chức năng tuần hoàn của học sinh sẽ tốt dần lên khi tích cực luyện tập thể
thao trong thời gian dài và liên tục.
2. Kiến nghị
19
Chỉ số tuần hoàn của học sinh thay đổi theo hướng tăng cường chức năng khi
luyện tập thể thao. Vì vậy giáo viên cần đưa ra các lời khuyên cho học sinh thường
xuyên luyện tập thể thao nhằm tăng cường sức khỏe để có thể học tập tốt hơn.
Chỉ số tuần hoàn thay đổi khi hoạt động thể thao lâu dài. Vì vậy trong giáo
dục cần phải có hệ thống các bài học thể dục sao cho việc tăng cường các chức
năng sinh lý của cơ thể song song với các bài học lý thuyết trên lớp. Có như thế học
sinh mới có sức khỏe và tinh thần tốt cho các hoạt động trong khi học và sau khi
học xong ra ngoài xã hội.
Tài liệu tham khảo
A. Tài liệu tiếng việt
[1]. Bộ Y tế (1975), Hằng số sinh học người Việt Nam, Nxb y học.
[2]. Phạm Thị Minh Đức (1996), Huyết áp động mạch, Chuyên đề sinh lý học, Tập
1, NXB Y học, Hà Nội, tr. 145-152
[3]. Trần Thị Loan (2002), Nghiên cứu một số chỉ số thể lực và trí tuệ của học sinh
từ 6 – 17 tuổi tại quận Cầu Giấy – Hà Nội, Luận án tiến sĩ Sinh học, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội.
[4]. Nguyễn Quang Mai (Chủ biên), Trần Thị Loan, Mai Văn Hưng (2004), Sinh lý
học động vật và người, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
[5]. Chu Văn Mẫn, Đào Hữu Hồ (2001), Giáo trình thống kê sinh học, Nxb Khoa
học và Kỹ thuật.
20
[6]. Nguyễn Văn Mùi, (2002), Nghiên cứu hình thái – thể lực và chức năng một số
cơ quan ở vận động viên thành tích cao tại Hải Phịng, Luận án tiến sĩ Y học,
Học viện Quân Y, Hà Nội.
[7]. Đỗ Thị Na (1996), Khảo sát sự biến đổi của huyết áp trong tiến trình làm
nghiệm pháp gắng sức ở nam giới tăng huyết áp có đối chứng với người bình
thường, Luận án phó tiến sĩ y học, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội
[8]. Nguyễn Quang Quyền, Trịnh Bỉnh Dy, Đỗ Đình Hồ, Phạm Kh (1982), Về
những thơng số sinh học người Việt Nam, Nxb Khoa học và kĩ thuật, Hà Nội.
[9]. Trịnh Hùng Thanh, Lê Nguyệt Nga (1993), Cơ sở sinh học và phát triển tài
năng thể thao, Nxb Thể dục – Thể thao, Hà Nội
[10]. Trần Trọng Thủy ( 2006), Các chỉ số cơ bản về sinh lý và tâm lý học sinh
trung học phổ thông hiện nay, Nxb Giáo dục.
[11]. Lê Nam Trà và cộng sự (1996), Kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu
sinh học người Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội.
[12]. Trần Đỗ Trinh (1996), Trị số huyết áp động mạch người Việt Nam, Kết quả
bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học người Việt Nam, Nxb Y học, tr.
146 – 150.
[13]. Đoàn Yên, Trịnh Bỉnh Dy (1993), Biến động một số thơng số hình thái và
sinh lý trong quá trình phát triển cá thể, Kỷ yếu về lão hóa khoa, Viện bảo vệ
sức khỏe Người cao tuổi, Hà Nội, tr. 491 – 518.
[14]. Waldo E.N. (1982), Khái niệm về nhi khoa, (3), Nxb Y học, Hà Nội, tr. 77 –
82.
B. Tài liệu tiếng Anh
[15]. Edmun H.S. (1979), Normal and Altered Cardiovascular Function,
Cardiology, Year book medical publishers, USA, pp. 25 – 57.
[16]. Harry A. Fozzard, Edgar Haber (1991), Principles in Cardiovascular research,
The Heart and Cardiovascular system, Raven Press, New York, pp. 3 – 99.
21