BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
======***=====
ĐỖ THỊ NGỌC QUYÊN
CHẤT TỰ SỰ TRONG THƠ TRÀO PHÚNG
TRẦN TẾ XƯƠNG
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam trung đại
Mã số:
60.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. VŨ THANH
HÀ NỘI – 2016
2
Lời cảm ơn
Em xin chõn thnh by t lũng bit ơn sâu sắc đến PGS.TS Vũ Thanh, người đã
tận tình hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn
thành luận văn này.
Em xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong tổ văn học Việt Nam cùng tập
thể các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã
nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ em trong quá trình học tập.
Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành của mình đến gia đình,
bạn bè đã ln động viên tơi trong suốt q trình học tập và thực hiện luận văn.
Hà Nội, tháng 6 năm 2016
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Ngọc Quyên
MỤC LỤC
ĐỖ THỊ NGỌC QUYÊN.......................................................................1
MỞ ĐẦU................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.......................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề...........................................................................................1
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu............................................................8
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu.....................................................9
5. Phạm vi nghiên cứu.................................................................................10
6. Đóng góp của luận văn............................................................................10
7. Cấu trúc của luận văn..............................................................................10
CHƯƠNG 1:.........................................................................................11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
.........................................................................................................................11
1.1. Khái niệm tự sự và tự sự trong thơ.......................................................11
1.1.1. Khái niệm tự sự.....................................................................................11
1.1.2. Hiện tượng giao thoa giữa trữ tình và tự sự trong thơ..........................13
1.2. Khái niệm thơ trào phúng và kiểu tư duy trào phúng...........................20
1.2.1. Khái niệm thơ trào phúng.....................................................................20
1.2.2. Kiểu tư duy trào phúng và việc tăng cường chất tự sự trong thơ.........22
1.4. Giai đoạn giao thời lịch sử và nhà thơ của buổi giao thời....................29
1.4.1. Bối cảnh lịch sử, văn hóa, văn học thời Trần Tế Xương .....................29
CHƯƠNG 2:.........................................................................................39
NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA CHẤT TỰ SỰ TRONG THƠ TRÀO
PHÚNG TRẦN TẾ XƯƠNG.........................................................................39
2.1. Những bài thơ là nhữngcâu chuyện kể ................................................39
2.2. Con người, không gian, thời gian, sự kiện mang tính lịch sử - cụ thể,
chân thực và sinh động................................................................................44
2.2.1. Những tên người cụ thể........................................................................46
2.2.2. Thời gian và không gian cụ thể.............................................................48
2.2.3. Sự kiện cụ thể .......................................................................................53
2.3.2. Nhân vật là tác giả.................................................................................63
2.4. Ngôn ngữ đời thường đa thanh, đa diện...............................................69
2.5. Điểm nhìn trần thuật mang tính khách quan........................................74
3.1. Tạo sự đổi mới từ quan niệm văn học, đề tài, chủ đề đến hình tượng nhân
vật 79
3.1.1. Đổi mới quan niệm văn học, đề tài, chủ đề...........................................79
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Thơ trào phúng Việt Nam có một q trình phát triển khá lâu dài và tồn tại
như một quá độ nghệ thuật trong xã hội khi cái mới và cái cũ còn đang giao tranh và
trở thành đối tượng của tiếng cười. Vào khoảng thế kỉ XVIII, XIX, dòng thơ này
cũng đạt được những thành tựu đáng kể gắn với những tên tuổi tiêu biểu như Hồ
Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương.
Riêng với Trần Tế Xương, cuộc đời và sự nghiệp văn chương của ông từ lâu
đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu bởi ơng chính là người đã cắm
một dấu mốc quan trọng cho sự phát triển của dòng thơ trào phúng Việt Nam. Với
những nỗ lực thốt khỏi sự ràng buộc của tính quy phạm trong văn học trung đại,
Tú Xương đã mang đến khá nhiều sự đổi mới và cách tân trên các phương diện nội
dung và nghệ thuật cho thơ trào phúng Việt Nam. Tuy nhiên, việc nghiên cứu sự
xâm nhập của yếu tố văn xuôi trong thơ trào phúng của ông cho đến nay vẫn cịn là
một góc nhìn khá mới mẻ. Vì vậy, nghiên cứu Chất tự sự trong thơ trào phúng
Trần Tế Xương, chúng tôi mong muốn đem đến một cái nhìn tồn diện hơn về
những đóng góp của Tú Xương đối với sự phát triển của văn học Việt Nam trung
đại.
1.2. Trần Tế Xương là một tác giả quan trọng đối với chương trình học tập và
giảng dạy ở nhà trường các cấp. Trong chương trình Ngữ văn ở phổ thông, hai bài
thơ Thương vợ và Vịnh khoa thi hương được đưa vào giảng dạy cho học sinh từ rất
lâu. Do vậy, nghiên cứu đề tài Chất tự sự trong thơ trào phúng Trần Tế Xương
chúng tôi hi vọng sẽ trang bị cho người giáo viên những hiểu biết sâu sắc hơn về tác
giả này giúp họ thuận tiện hơn khi giảng dạy về Tú Xương ở trường phổ thông và
nhà trường các cấp.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu về thơ trào phúng Trần Tế Xương
Cho đến nay có khoảng 70 tác giả tham gia nghiên cứu với khoảng trên 100
1
cơng trình về Tú Xương. Chúng tơi xin được điểm qua các cơng trình nghiên cứu có
tính tiêu biểu.
Năm 1945 cơng trình Trơng dịng sơng Vị của Trần Thanh Mại có thể coi là
cơng trình nghiên cứu đầy đủ và công phu đầu tiên về nhà thơ của non Côi sông Vị.
Trong bài viết này, tác giả đã tái hiện lại toàn bộ cuộc đời cũng như sự nghiệp của
Trần Tế Xương và khẳng định tài năng của nhà thơ trào phúng bậc thầy này đã góp
phần thay đổi diện mạo thơ ca dân tộc trong một thời kỳ lịch sử nhất định: “Bây
giờ, ta khơng cịn lạ gì mà thấy tài ông Tú Xương không được mấy ai thưởng thức.
Những năm năm mươi trở về trước, chúng ta đã có một nhà thi sĩ thâm thúy như Tú
Xương thật là một việc vinh dự và hạnh phúc cho quốc gia (…) Cái di sản văn
chương của ông để lại cho chúng ta, cho nước Việt Nam là một di sản q báu vơ
ngần” [59; 43]. Cơng trình của Trần Thanh Mại đã bước đầu khai thác những giá trị
và những đặc điểm riêng biệt tạo nên nét đặc sắc trong thơ của Trần Tế Xương.
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, nhà thơ đất thành Nam càng được
các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn nữa. Năm 1951, trong bài viết mang tên
Tú Xương – ông tổ thơ trào phúng Việt Nam tác giả Vũ Đăng Văn đã khẳng
định: “Trong cả văn học sử nước ta, về phúng thế, từ trước đến Tú Xương lại
chưa có người nào dám “liều mạng” làm những vần thơ cách mệnh như thế bao
giờ, thành ra Tú Xương là một cái mốc đặc biệt trong làng văn học Việt Nam”
[59; 224]. Tiếp sau ông, tác giả Nguyễn Duy Diễn trong Luận đề về Trần Tế
Xương cũng đã bước đầu giới thiệu những nét cơ bản về cuộc đời, các tác phẩm
và vị trí của nhà thơ này dưới dạng những bài giảng phục vụ cho mục đích giảng
dạy và học tập trong nhà trường.
Tuy nhiên, kể từ sau năm 1954, việc nghiên cứu thơ Trần Tế Xương mới thực
sự được chú trọng. Tác giả Trần Thanh Mại có bài Đấu tranh chống hai quan niệm
sai lầm về Tú Xương. Tiếp đó các tác giả Hoàng Ngọc Phác, Lê Thước, Đỗ Đức
Hiểu đã giới thiệu cuốn Văn thơ Trần Tế Xương góp phần giúp bạn đọc hiểu rõ hơn
giá trị thơ ca của nhà thơ non Côi sông Vị. Năm 1957, tác giả Nguyễn Sĩ Tế trong
bài Hệ thống trào phúng của Trần Tế Xương đã có một bài phân tích khá kĩ lưỡng
2
những yếu tố khách quan cũng như chủ quan chi phối đến những đặc điểm nội dung
và nghệ thuật của nhà thơ. Trong bài viết này, Nguyễn Sĩ Tế cũng đánh giá rất cao
những đóng góp của tác giả tiêu biểu cho dòng thơ trào phúng này đối với nền văn
học nước nhà: “Có thể nói rằng nhà thơ non Côi sông Vị đã ghi công đầu trong nền
thi ca trào phúng của nước nhà. Cho cả đến ngày nay, hệ thống trào phúng của ơng
hầu như chưa có ai vượt trội được. Nếu như Nguyễn Du xứng danh một thi bá trong
ngành thơ tình cảm, thì Trần Tế Xương đáng kể là một thi hào trong ngành thơ trào
phúng Việt Nam” [59; 226]. Bài viết của Nguyễn Sĩ Tế đã chỉ rõ những nét khác
biệt trong giọng điệu trào phúng của ơng Tú với những nhà thơ trước đó như Hồ
Xuân Hương, Nguyễn Khuyến.
Năm 1958, Văn Tân viết bài Tính chất và giá trị thơ trào phúng của Tú Xương
khái quát những vấn đề về nội dung cũng như nghệ thuật thơ của nhà trào phúng đại
tài này. Tác giả chú ý đặc biệt vào thái độ của ông với quan lại và thực dân, với cái
nghèo, cái túng, với cái tết. Đặc biệt, Văn Tân chỉ ra những thủ pháp trào phúng nhà
thơ thường sử dụng như: tạo ra hiện tượng khơng có để trào lộng, vạch ra mâu
thuẫn của sự vật để giễu cợt, dùng ngôn ngữ Pháp để mỉa mai, dùng những tiếng
không tục để diễn tả ý tục… Nhận xét về tiếng cười trào phúng trong thơ Trần Tễ
Xương, Văn Tân cho rằng: “Thái độ trào phúng của Tú Xương là thái độ trào
phúng của một tầng lớp đang tan rã, tuyệt vọng, bất mãn với hiện thực, nhưng hoàn
toàn bất lực trước hiện thực. Để cho hả bớt sự hằn học, căm phẫn của mình, tầng
lớp ấy chỉ cịn cách chửi vung lên, chửi một cách sỗ sàng, trắng trợn” [59; 272].
Từ năm 1960 trở đi, việc nghiên cứu thơ của nhà thơ non Cơi sơng Vị đã có
những thành tựu rất khởi sắc. Trần Thanh Mại và Trần Tuấn Lộ trong cơng trình
mang tên Tú Xương – con người và thơ văn đã khái quát khá đầy đủ các đặc trưng
cơ bản của thơ ông từ nội dung đến nghệ thuật. Không những vậy, các nhà nghiên
cứu bắt đầu chú trọng đến những khía cạnh đổi mới cách tân trong thơ trào phúng
của Tú Xương góp phần phục vụ cho cơng cuộc đấu ranh chung của toàn dân tộc
với kẻ thù xâm lược: “Tú xương là nhà thơ lớn đã tiếp thu được truyền thống tốt
đẹp của nền thi ca hiện thực trào phúng của dân tộc. Ơng đã góp phần nâng cao nó
3
lên nữa để sử dụng nó trong việc phục vụ cuộc đấu trannh chống phong kiến thối
nát, chống sự kết cấu giữa phong kiến với chủ nghĩa tư bản thực dân” [59; 85]. Các
nhà nghiên cứu thời kì này cịn đặt ra vấn đề cần phải sàng lọc những bài thơ khơng
phải của ơng Tú để các cơng trình nghiên cứu về ơng có sự chuẩn mực và tính khoa
học cao hơn. Trong bài Loại bớt một số bài thơ không phải của Tú Xương, tác giả
Trần Nghĩa cũng đề cập đến vấn đề này.
Các nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Tn, Nguyễn Cơng Hoan, Xn Diệu thời
kì này cũng tham gia vào việc nghiên cứu Tú Xương. Nguyễn Công Hoan có bài Về
việc nghiên cứu thơ Tú Xương in trên Tạp chí văn học số 3 năm 1970 đã góp phần
bàn về văn bản, nêu những nghi vấn về sự nhầm lẫn chữ trong các bài thơ, những
sai sót trong việc chú thích và cách hiểu thơ của nhà trào phúng tiêu biểu thế kỉ
XIX. Xuân Diệu có bài Thơ Tú Xương nghiên cứu rất công phu và tỉ mỉ về thơ ca
của nhà thơ đất thành Nam. Ông cũng khẳng định tấm lòng của tác giả này với đời,
với nước, với thơ văn: “Có một điều sau một trăm năm đã khẳng định, là trên xứ sở
của mực đen giấy trắng nổi lên tác phẩm của nhà thơ lớn Trần Tế Xương. Một
giọng nói trên đường đời, rất mực tâm huyết, tôi thấy thơ Tú Xương như là trong
tiếng con chim quốc (đỗ quyên) có máu; thơ ái quốc của Phan Bội Châu là tâm
huyết trực tiếp của một nhà cách mạng, thơ tâm hồn của Trần Tế Xương tâm huyết
một cách khác, đó là lịng u đời bị cản trở, đó là nỗi hồi bão bị chặt phá, đó là
một người làm thơ, đã nói thì muốn khạc cả tim phổi của mình vào văn” [59; 188].
Sau Xuân Diệu, Nguyễn Tuân có bài Thời và thơ Tú Xương rất sâu sắc và độc đáo
và có ảnh hưởng sâu rộng trong văn giới với những nhận xét khá tinh tế và chính
xác:“Thơ Tú Xương đi bằng cả hai chân hiện thực và trữ tình, mà cái chân hiện
thực ở Tú Xương chỉ làm một cẳng chân trái tả thực. Chủ đạo cho đà thơ là ở chân
phải và Tú Xương đã băng được mình tới chúng ta bằng những bước lãng mạn trữ
tình” [51; 72]. Tác giả Đỗ Đức Hiểu trong tác phẩm Thơ văn Tú Xương cũng đánh
giá: “Tú Xương là nhà thơ trào phúng có biệt tài” “Sau Hồ Xuân Hương, trong
thời kỳ văn học cận đại, Tú Xương là nhà thơ kế nghiệp xứng đáng nhất của văn
thơ trào phúng nhân dân, cả về phương diện tư tưởng và nghệ thuật [59; 123]
4
Sau khi tác phẩm của nhà thơ đất thành Nam được đưa vào giảng dạy rộng rãi
ở các cấp học, nhà nghiên cứu Nguyễn Lộc đã viết cuốn giáo trình Văn học Việt
Nam vào nửa cuối thế kỉ XIX và có nhấn mạnh: chúng ta cần quan tâm đúng mức
đến các vấn đề như: “Cái tôi trong thơ Tú Xương - một điển hình nghệ thuật” hay
“Kết cấu trữ tình và trào phúng trong thơ Tú Xương”. Nhuyễn Lộc cũng đưa ra
những nhận xét khá chính xác về những điểm cách tân và đổi mới trong thơ của
Trần Tế Xương: “Tú Xương đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật kết cấu trong thơ trào
phúng” và “ngự trị trong thơ ông là cái ngôn ngữ hoạt bát mà sắc cạnh, uyển
chuyển mà chính xác, đa dạng trong cách nói, phong phú trong cách thể hiện, một
ngơn ngữ hàng ngày nhiều ví von, nhiều tục ngữ, thành ngữ, một ngôn ngữ đầy sức
sống của dân tộc, của thời đại” [34; 765 - 798]
Từ năm 1975 đến nay, các cơng trình nghiên cứu về nhà thơ non Cơi sơng Vị đã
có những hướng tiếp cận mang tính đổi mới rõ rệt. Nguyễn Tuân sau thành công của
bài viết Thời và thơ Tú Xương đã có thêm hai bài mới là Giọng cười trong tiếng nói Tú
Xương và bài Hiện thực và trữ tình trong thơ Tú Xương. Những bài viết của Nguyễn
Tuân đã giúp cho các nhà nghiên cứu sau này có điều kiện thuận lợi hơn trong việc
hiệu đính, bổ sung để bạn đọc có được cái nhìn bao qt hơn về tác giả này.
Những năm cuối cùng của thế kỉ XX, một số nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý
đến sắc thái tiếng cười, tính thời sự và những cách tân nghệ thuật trong thơ Trần Tế
Xương như Trần Đình Sử, Trần Lê Văn, Lã Nhâm Thìn, Trần Thị Trâm, Đồn
Hồng Nguyên… Trần Đình Sử đặc biệt chú ý đến Nụ cười giải thoát cá nhân và tự
khẳng định trong thơ Tú Xương. Ông chỉ ra đặc điểm tiếng cười trong thơ tác giả
này là: 1) Khơng mang tính chất thuần túy đạo đức, ý thức hệ mà mang tính chất hài
hước, sinh hoạt, cười vui; 2) Có tính chất khá phổ biến: vừa cười người, vừa cười
mình, khơng tự đặt mình ra ngồi đối tượng của tiếng cười; 3) Có tính chất lưỡng
tính: vừa phủ định, vừa khẳng định. Cịn sự giải thốt khẳng định mình của nhà thơ
thể hiện ở chỗ: “Tú Xương có một giọng ngơng, dám nói toạc những điều mà người
đời khơng dám nói” [59; 353].
Nhà nghiên cứu Đoàn Hồng Nguyên (2000) trong bài Thơ Tú Xương với kiểu
5
tự trào thị dân đăng trên Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh số
24 lại chú ý đặc biệt đến kiểu cười tự trào thị dân trong thơ của tác giả này. Ông cho
rằng bằng kiểu cười tự trào phủ định, Tú Xương đã chế giễu, đã phê phán tính chất
hủ lậu của kẻ sĩ phong kiến và phủ nhận cả những khuôn phép lỗi thời của xã hội
phong kiến.
Luận án Tiến sĩ của tác giả Trần Thị Hoa Lê (2007) đã góp phần làm rõ những
đặc điểm và diện mạo của Thơ trào phúng Việt Nam nửa sau thế kỉ XIX và nửa đầu thế
kỉ XX [29]. Trong luận án này, tác giả cũng chỉ rõ những nét đổi mới trên phương diện
nội dung và nghệ thuật trong thơ của nhà thơ đất thành Nam so với các nhà thơ trào
phúng cùng thời. Từ những nghiên cứu của tác giả, chúng tơi đã có những dữ liệu đầu
tiên cho việc nghiên cứu đề tài về chất tự sự trong thơ trào phúng Trần Tế Xương.
Như vậy, thơ Tú Xương, đặc biệt là thơ trào phúng của ông, đã được các nhà
nghiên cứu quan tâm và khai thác theo rất nhiều hướng khác nhau. Trên cơ sở tiếp
thu những nghiên cứu của các tác giả đi trước chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài
Chất tự sự trong thơ trào phúng Trần Tế Xương để góp phần giúp bạn đọc hiểu rõ
hơn về những đóng góp của nhà thơ non Côi sông Vị với mảng thơ trào phúng Việt
Nam nói riêng và thơ ca trung đại nói chung.
2.2. Lịch sử nghiên cứu chất tự sự trong thơ trào phúng Trần Tế Xương
Cho đến nay, việc nghiên cứu chất tự sự trong thơ Tú Xương là một vấn đề
mới. Sau đây là một vài cơng trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Năm 1957 trong bài viết mang tên Tú Xương – ông tổ thơ trào phúng Việt
Nam, tác giả Vũ Đăng Văn đã chỉ ra những biểu hiện của sự xâm nhập những yếu tố
hiện thực trong thơ Tú Xương khiến thơ ơng thốt hẳn khỏi những biểu hiện của
tính khn mẫu trong thơ trung đại qua những đặc điểm cơ bản sau:
1. Thơ của ông đều dựa vào thời sự mà viết, thành ra đánh dấu được một thời
đại, lại dễ được người đọc nhớ và truyền tụng.
2. Thơ của ông là một thứ thơ bình dân, rất ít dùng chữ cầu kì, khó hiểu; đọc
lên như văn xi, thành ra ai cũng có thể nhớ được, thuộc được và dễ truyền đi.
3. Thơ của ơng khơng có những tư tưởng sáo cũ hay cố chấp. Phần nhiều cái
gì sáo cũ, lắp đi lắp lại thì là giả dối và xem dễ nản; người đọc bao giờ cũng thích
6
những ý mới, lạ và thành thật, dù cái thành thật đó có đơi khi ngang chướng.
Những đặc điểm trên trong thơ trào phúng Trần Tế Xương là điều rất dễ thấy
nhưng phải đến năm 1996, trong bài viết Tú Xương - bậc thần thơ thánh chữ, in trong
cuốn Tú Xương thơ và đời [48], Nguyễn Đình Chú mới đề cập trở lại vấn đề này. Ông
cho rằng: tác giả của những vần thơ trào phúng nổi tiếng của thế kỉ XIX này đã có
những đổi mới về khơng gian nghệ thuật mang đậm tính chất phóng sự. Song vấn đề
này lại không phải vấn đề trọng tâm mà tác giả muốn đề cập đến trong bài viết của
mình. Cho nên, nhận định của ơng mới chỉ mang tính khái quát bước đầu.
Năm 1998, trong bài Tú Xương với những phóng sự bằng thơ trên Tạp chí
Báo chí và Tun truyền số 1, tác giả Trần Thị Trâm đã đề cập đến vấn đề này một
cách thực sự sâu sắc và nghiêm túc. Trần Thị Trâm cho rằng: “Tú Xương được
mệnh danh là “người thư kí giỏi của thời đại” bởi thơ ông đã bám sát từng sự kiện
của đời sống, là tấm gương phản ánh chân thật diện mạo của một thời kì lịch sử
đau thương với những biến động dữ dội…” [59; 364].“Là người trong cuộc, một
nhà thơ nhạy cảm, một nhà nho sớm có tư chất nhà báo, Tú xương đã dồn sức viết
lên được những phóng sự bằng thơ rất đặc sắc. Những phóng sự ấy chính là cái
gạch nối giữa vè - một kiểu báo truyền miệng dân gian và những phóng sự nổi tiếng
của Tam Lang, Trọng Lang, Vũ Trọng Phụng … trên báo chí sau này” [59; 364].
Đây là một bài viết có tính chất gợi mở và giúp ích cho chúng tơi rất nhiều trong
quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình.
Năm 1999, trong bài viết Tú Xương – nhà báo, in trong cuốn Cánh bướm và
đóa hướng dương (Nxb Hải Phịng), tác giả Vương Trí Nhàn cho rằng: “Nếu căn cứ
nội dung các bài thơ mà Tú Xương để lại, người ta lại khơng khỏi có ý nghĩ rằng
ơng nhà nho này sinh ra là để làm báo. Ở ơng ln ln có tư duy của một kí giả,
chẳng qua sinh bất phùng thời, không gặp cơ may để thi thố cho ngịi bút đúng lúc
thơi, chứ thật ra ông phải là người của trường văn trận bút hiện đại mới phải” [59;
362]. Vương Trí Nhàn đã chỉ ra những đặc điểm của chất báo chí trong thơ Trần Tế
Xương như sau: 1) Trong khi phần lớn thơ ca nho sĩ là thơ ca hướng nội thì thơ Tú
7
Xương hướng ngoại (…) Ơng ln dỏng tai để nghe các chuyện thời cuộc và tìm
cách ghi lại nó trên mặt giấy (…) Ông thạo tin vỉa hè, biết đủ chuyện đầu đường xó
chợ và sẵn sàng làm những việc mà một phóng viên tập sự phải làm. 2) Gần với báo
chí là tư duy bám sát hiện tượng và sự vật của nhà thơ. 3) Những sáng tác của tác
giả này hình như được viết nhanh. Sự việc vừa xảy ra là ơng có thơ liền. 4) Tú
Xương sẽ là một nhà báo viết được nhiều thể tài khác nhau. Tuy nhiên, trong bài
viết của mình, tác giả Vương Trí Nhàn cũng mới chỉ đưa ra những nhận định có
tính khái qt và chưa có sự phân tích cụ thể đối với vấn đề mà ơng đề cập.
Nhìn chung, một số nhà nghiên cứu đã thấy được sự xâm nhập của yếu tố
phóng sự, kí sự trong thơ Trần Tế Xương góp phần tạo nên những đổi mới căn bản
cho thơ ca của ông so với thơ của những nhà nho thời trước. Tuy nhiên, việc nghiên
cứu Chất tự sự trong thơ trào phúng Trần Tế Xương vẫn còn là một vấn đề mới.
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu của những người đi trước, chúng tôi nghiên cứu
đề tài này để góp phần làm rõ những thành tựu về nội dung cũng như nghệ thuật của
thơ trào phúng Trần Tế Xương. Từ đó, giúp bạn đọc đánh giá được chính xác vai
trị của Tú Xương đối với nền văn học nước nhà.
3. Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi tập trung nghiên cứu các tác phẩm thơ trào phúng của Trần Tế
Xương, khảo sát những biểu hiện của yếu tố tự sự trên các phương diện nội dung và
nghệ thuật của các tác phẩm. Đồng thời, chúng tơi tìm hiểu vai trị của yếu tố tự sự
trong việc tạo nên những nét đổi mới, cách tân của nội dung, nghệ thuật thơ trào
phúng Trần Tế Xương so với thơ ca truyền thống.
3.2. Mục tiêu nghiên cứu
Việc tìm hiểu Chất tự sự trong thơ trào phúng của Trần Tế Xương nhằm
khẳng định những đóng góp nghệ thuật của Trần Tế Xương cho sự phát triển của
thơ ca dân tộc ở giai đoạn hậu kỳ trung đại trong thời kỳ quá độ từ văn học trung
đại sang văn học hiện đại. Qua đó, góp phần làm rõ hơn nét riêng độc đáo trong
8
phong cách thơ Trần Tế Xương, cũng như đặc điểm văn học giai đoạn giao thời.
4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Tìm hiểu yếu tố tự sự trong thơ trào phúng Trần Tế Xương trên hai phương
diện: nội dung và nghệ thuật.
- Xác định vai trò của yếu tố tự sự trong thành tựu của thơ Trần Tế Xương.
Qua đó thấy được vai trị của tác giả đối với sự phát triển thơ ca dân tộc giai đoạn
nửa cuối thế kỷ XIX.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Đây là phương pháp giúp chúng tơi tìm và phân tích cụ thể những bài thơ, câu
thơ để tìm ra những biểu hiện của yếu tố tự sự trong thơ trào phúng Trần Tế Xương.
Từ đó, chúng tơi hi vọng sẽ giúp bạn đọc thấy rõ vai trò của những yếu tố tự sự
trong việc tạo nên những đổi mới, cách tân của thơ Tú Xương so với thơ của các
nhà thơ trung đại trước ông.
4.2.2. Phương pháp so sánh văn học
Đây là phương pháp quan trọng giúp chúng tôi đối chiếu, so sánh những nét
cách tân và đổi mới của thơ Tú Xương so với thơ của các nhà thơ trước ông. Từ đó,
giúp bạn đọc thấy được rõ hơn những nỗ lực bứt phá của nhà thơ khỏi những ràng
buộc của tính quy phạm trong thơ ca trung đại và vai trị tiên phong của ơng trong
việc đổi mới thơ ca theo hướng hiện đại hóa.
4.2.3. Phương pháp văn học sử
Đây là phương pháp bổ trợ quan trọng góp phần xác định mối liên hệ giữa
hoàn cảnh lịch sử, xã hội cùng những đặc điểm tính cách cá nhân nhà thơ trong việc
hình thành nên những quan niệm văn học mới hay hình thành nên những để tài, chủ
đề, và sự bứt phá trong bút pháp nghệ thuật của Tú Xương so với những nhà thơ
trước đó.
Ngồi ra, chúng tơi cũng sử dụng kết hợp với các thao tác: khảo sát, thống kê,
9
phân loại.
5. Phạm vi nghiên cứu
5.1. Phạm vi nội dung: Những biểu hiện của yếu tố tự sự trong thơ trào phúng
Trần Tế Xương xét hai bình diện nội dung và nghệ thuật. Vai trò của yếu tố tự sự
trong việc tạo nên những cách tân và đổi mới cho thơ Tú Xương.
5.2. Phạm vi tư liệu: Tư liệu chúng tơi sử dụng để nghiên cứu là Tú Xương
tồn tập, Nxb Văn học, 2010 của Trung tâm Nghiên cứu Quốc học.
6. Đóng góp của luận văn
6.1. Về mặt lý thuyết
- Kế thừa những thành tựu của người đi trước, luận văn góp phần đánh giá
những đóng góp, những tiến bộ của thơ trào phúng Trần Tế Xương trong tiến trình
hiện đại hóa thơ ca dân tộc.
- Trình bày một bức tranh tổng thể, hệ thống và khoa học về những biểu hiện
của yếu tố tự sự trong thơ trào phúng Trần Tế Xương. Xác định yếu tố tự sự như
một thành phần và như một đặc điểm của thơ trào phúng Trần Tế Xương.
- Làm rõ những bình diện sáng tạo cơ bản trong thế giới nội dung, nghệ thuật
của thơ Trần Tế Xương soi chiếu từ một góc độ mới.
6.2. Về mặt thực tiễn
- Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy các tác
phẩm văn học Việt Nam thời trung đại trong chương trình ngữ văn phổ thơng.
- Đề tài sẽ đóng góp thêm một hướng tìm tịi về thơ Trần Tế Xương nói riêng,
thơ ca trung đại Việt Nam nói chung phục vụ cho việc học và dạy được tốt hơn.
7. Cấu trúc của luận văn
Luận văn được cấu trúc làm 3 phần chính: Phần mở đầu, Phần nội dung và Kết luận.
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lí luận và những vấn đề liên quan đến đề tài
Chương 2. Những biểu hiện của yếu tố tự sự trong thơ trào phúng của Trần
Tế Xương
Chương 3. Vai trò của yếu tố tự sự trong thơ trào phúng Trần Tế Xương
10
Ngồi ra, luận văn cịn có phần Tài liệu tham khảo
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Khái niệm tự sự và tự sự trong thơ
1.1.1. Khái niệm tự sự
Nhà triết học Arixtot là người đầu tiên nhắc đến khái niệm tự sự để phân biệt
nó với hai loại hình cịn lại là trữ tình và kịch. Ơng cho rằng, văn học có ba phương
thức mô phỏng hiện thực: Cách thứ nhất là kể về sự kiện như một cái gì tách biệt
với mình. Cách thứ hai, người mơ phỏng tự nói về mình nhưng khơng thay đổi ngơi
xưng và cách thứ ba là trình bày tất cả những nhân vật được mơ tả trong hành động.
Arixtot gọi ba cách thức mô phỏng này lần lượt là tự sự, trữ tình, và kịch. Như vậy,
ở dạng ban đầu, tự sự được coi là một cách thức để mô phỏng hiện thực.
Theo cách phân chia của Arixtot, nhà phê bình văn học người Nga Biêlinxki
cũng chỉ ra những đặc trưng căn bản của tự sự: Theo ông, khái niệm tự sự được
dùng để chỉ tồn bộ những tác phẩm biểu hiện đời sống thơng qua miêu tả sự kiện.
Tính khách quan là yếu tố căn bản nhất để phân biệt tự sự với trữ tình và kịch bởi
lẽ: nếu tác phẩm trữ tình ưa nói đến chủ quan, tác phẩm kịch là sự dung hợp của các
yếu tố đối lập như tính khách quan của tự sự và tính chủ quan của trữ tình thì đối
tượng mà tự sự hướng đến là thế giới khách quan. Từ điển thuật ngữ Văn học do Lê
Bá Hán chủ biên chú giải cặn kẽ hơn: “Nếu tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực
trong cảm nhận chủ quan thì tác phẩm tự sự lại tái hiện đời sống trong tồn bộ tính
khách quan của nó. Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của
đời sống trong không gian, thời gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc
đời con người. Trong tác phẩm tự sự nhà văn cũng thể hiện tư tưởng tình cảm của
mình. Nhưng ở đây, tư tưởng và tình cảm của nhân vật thâm nhập sâu vào sự kiện
và hành động của con người bên ngoài tới mức giữa chúng dường như khơng có sự
phân biệt nào cả” [17; 385]. Như vậy có thể thấy, tính khách quan là yếu tố đặc
trưng đầu tiên của văn bản tự sự mà chúng ta cần chú ý đến.
Tuy nhiên, một nhân tố quan trọng không kém để làm nên tác phẩm tự sự là
11
yếu tố sự kiện. G. Genette cho rằng: “Tự sự là trình bày một sự kiện hay một chuỗi
sự kiện có thực hay hư cấu, bằng phương tiện ngơn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ tự sự.
[53; 41]. Theo ý kiến của G.Genette, Trần Đình Sử cho rằng: văn bản tự sự có ba
đặc điểm. Một là có người kể, hai là có hành động tự sự và ba là có sự kiện được kể
ra. Sự kiện là một nền tảng của tự sự, nó tạo nên chuyện, câu chuyện, cốt chuyện
(truyện); khơng có sự kiện thì khơng có tự sự. Quan điểm này của ông phù hợp với
khái niệm tự sự được Hoàng Phê ghi trong sách Từ điển Tiếng Việt: “Tự sự là thể
loại văn học trong đó nhà văn phản ánh thế giới bên ngoài bằng cách kể lại sự
việc, miêu tả tính cách, thơng qua một cốt truyện tương đối hồn chỉnh” [50; 1040].
Như vậy có thể thấy, khi nhà văn tái hiện lại đời sống khách quan, anh ta phải tập
trung phản ánh đời sống con người qua các sự kiện của nó. Giáo sư Phương Lựu
cho biết: “Sự kiện là những hành động, việc làm, ý nghĩ, đổi thay bộc lộ bản chất,
tính cách hay các mối quan hệ giữa người và người” [36; 376]. Khi tiếp cận một
tác phẩm tự sự chúng ta không thể bỏ qua yếu tố sự kiện.
Theo tác giả Lại Nguyên Ân chúng ta còn phải chú ý đến yếu tố trần thuật
trong tác phẩm tự sự nữa, bởi vì : “Nét đặc thù của tự sự là vai trị tổ chức của trần
thuật: nó thơng báo về các biến cố, các tình tiết như thơng báo về một cái gì đó đã
xảy ra và được nhớ lại, đồng thời mơ tả hồn cảnh, hành động và dáng nét các
nhân vật, nhiều khi còn thêm cả những lời bàn luận” [2; 371]. Yếu tố trần thuật
đóng một vai trị rất quan trọng trong việc hình thành nên cốt truyện và quyết định
hình thức ngơn ngữ trong tác phẩm, đồng thời quyết định tính khách quan của nhân
vật người kể chuyện. “Thành phần ngôn từ trần thuật của tác phẩm tự sự tương tác
một cách tự nhiên với các đối thoại và độc thoại (kể cả độc thoại nội tâm của các
nhân vật). Ngơn từ ở đây có chức năng thơng báo về cái đã xảy ra từ trước. Giữa
dịng ngôn từ đang tuôn chảy và các hành động mà nó miêu tả có một khoảng cách
về thời gian: tác giả kể về các biến cố như về một cái gì đó cách biệt với mình” [2;
371]. Trần thuật tự sự thường được dẫn dắt bởi một người trần thuật. Trong tác
phẩm, nhân vật này thường giữ ngôi thứ ba và vơ hình, phi nhân cách hóa hoặc có
thể là một nhân vật cụ thể. Vì vậy, giọng điệu trần thuật trong tác phẩm sẽ hé lộ cho
chúng ta biết về hình tượng này. Đến với tác phẩm tự sự, người đọc thường hay chú
12
ý đến yếu tố biểu cảm trần thuật tức là chú ý đến chủ thể trần thuật.
Nói về yếu tố thời gian và không gian trong tác phẩm tự sự Phương Lựu (trong
Lí luận văn học, Nxb Giáo dục,1999) và Lại Nguyên Ân (trong 150 Thuật ngữ văn
học, Nxb ĐHQG Hà Nôi, 1999) đều cho rằng: Tự sự rất tự do trong việc chiếm lĩnh
không gian và thời gian. Người viết có thể kể về một khoảnh khắc, cũng lại có thể
kể về những sự kiện dài bằng cả đời người, trải qua hàng nhiều thế hệ. Chỉ có điện
ảnh và truyền hình mới có thể sánh được với tự sự về khả năng tái hiện kỹ lưỡng
những quá trình diễn ra trong một không gian rộng, trong những đoạn thời gian dài.
Chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm tự sự vì thế cũng rất phong phú và đa dạng.
Như vậy, nói một cách đơn giản, tự sự là kể chuyện. Phải có chuyện thì mới kể
được. Và nó là một loại hình văn học về đặc trưng thể loại đối lập với loại hình trữ
tình. Trong cuốn Văn học trung đại Việt Nam, tập 2 (Nxb Đại học Sư Phạm),
Nguyễn Đăng Na chỉ rõ: Về hình thức, có hai cách kể chuyện, một là dùng văn
xuôi, hai là dùng văn vần. Dùng văn xuôi kể chuyện là cách làm thông thường trong
các tác phẩm tiểu thuyết chương hồi, truyện hoặc kí. Cịn dùng văn vần để kể
chuyện là cách chúng ta thường thấy trong các truyện thơ Nôm như: Đoạn trường
tân thanh của Nguyễn Du, Lục Vân tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Lưu bình –
Dương Lễ (khuyết danh), Phạm Tải - Ngọc Hoa ( khuyết danh)... Như vậy, khái
niệm tự sự có nghĩa rất rộng và được dùng cho cả văn học dân gian và văn học viết,
cho cả văn học cổ trung đại và văn học hiện đại, văn học viết bằng thơ và văn xuôi,
văn học trong nước và văn học nước ngoài.
Những khái quát căn bản về thể tự sự trên đây sẽ tạo tiền để giúp chúng tơi tìm
hiểu những biểu hiện của sự giao thoa giữa chất tự sự và trữ tình trong thơ trào
phúng của Trần Tế Xương.
1.1.2. Hiện tượng giao thoa giữa trữ tình và tự sự trong thơ
Là một loại hình nghệ thuật cổ xưa bậc nhất của loài người, loại hình trữ tình
thể hiện sự quyến rũ của thể loại mình trong khả năng đi sâu khám phá thế giới nội
tâm của con người. Vì vậy, đặc trưng cơ bản nhất của nó là khơng có cốt truyện
hoặc cốt truyện rất đơn giản. Thay vào đó, cái Tơi trữ tình của tác giả đóng một vai
13
trò cực kỳ quan trọng và thường giữ thế đối lập với thực tại khách quan. Đó là cái
Tơi tự nhận thức, cái Tôi tự bộc lộ, cái Tôi tự do bày tỏ cảm xúc buồn, vui hay hân
hoan hồi hộp và rõ ràng là qua đó, người đọc dễ dàng nhận thấy một cá tính riêng
biệt mà nhân vật thể hiện.
Do đề lên hàng đầu sự biểu lộ cảm xúc hay điểm nhìn của nhân vật cho nên
việc miêu tả thế giới bên ngoài (như phong cảnh thiên nhiên, các sự vật, sự kiện...)
trong các tác phẩm trữ tình cũng nhằm mục đích để nhân vật tự thể hiện. Trong
Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” chính là
đã nêu lên một đặc trưng cơ bản của thể loại này: bút pháp tả cảnh để ngụ tình. Hơn
nữa, cảm xúc của nhân vật trong các tác phẩm trữ tình thường “ở thì hiện tại” (Jean
Paul) nên nó thường chứa đựng những vấn đề có ý nghĩa tồn nhân loại. Người đọc
dù ở bất kỳ lứa tuổi nào cũng cảm nhận thấy những vấn đề của mình được nhà văn
đặt ra trong tác phẩm: khát vọng hạnh phúc, tình yêu, sự sống, cái chết...
Tuy nhiên, trải qua quá trình phát triển lâu dài đồng thời với hành trình kiếm
tìm sự hồn thiện về thi pháp, một điều dễ nhận thấy là thể loại trữ tình khơng chỉ
đóng khung trong những đặc trưng thể loại mà thường vay mượn những phẩm tính
của “anh láng giềng” văn xuôi để tạo nên những cách tân mới mẻ trong sáng tác.
Lằn ranh giới giữa trữ tình và văn xi khơng phải là cái ngưỡng khó vượt như
trước đây người ta vẫn hiểu. Tự sự hồn tồn có thể xâm nhập vào thơ ca và xóa đi
khoảng cách giữa hai thể loại. Cơ sở để lí giải sự hịa phối giữa chúng xuất phát từ
chỗ: Thơ văn trung đại vốn được dùng để “tỏ chí”, “tải đạo” nên mục đích hướng
đến của nó là tường thuật, kể lại, tả lại nỗi lịng hay chí hướng của người viết. Các
bài thơ có tên như Thuật hồi, Ngơn chí, Tự tình... tự nó đã nói lên đặc điểm này
của thi pháp trung đại. Và trong những bài thơ này, yếu tố đầu tiên đáng chú ý của
nó là cách thức trữ tình gồm: thuật (kể ra), ngơn (nói ra), trần (bày tỏ ra)... Yếu tố
thứ hai đáng chú ý là nội dung trữ tình (tình, hồi, chí...). Và như thế, con người khi
muốn nói những tình cảm, cảm xúc của mình thì cần phải kể ra, thuật lại những sự
việc, câu chuyện, tình huống, sự kiện, liên quan đến tình cảm, thái độ, cảm xúc ấy.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã rất có lý khi đưa ra nhận định: “Nhân vật trữ tình
14
chủ yếu chỉ cho người khác thấy trạng thái tình cảm của mình, lối trữ tình nghiêng
về kể, thuật, tự những kết quả bề ngoài của đời sống nội tâm chứ không phải là bản
thân nội tâm” [58]. Yếu tố “sự” và “việc” đã trở thành ngọn nguồn để nảy sinh cái
“tình”, để diễn đạt cái “tình”. Đây là cơ sở đầu tiên để chúng ta thừa nhận sự tồn tại
của yếu tố tự sự trong trữ tình đúng như Lê Q Đơn nhận xét: “Thơ ca ra đời
cũng chính từ sự rung động của tình trước cảnh và sự”. Vì lẽ đó, khi nói về thơ ca
trung đại, Đặng Thai Mai đã sử dụng thuật ngữ: “văn chương tự tình” như là một
cách để đối lập lại với khái niệm “văn chương trữ tình” (có sự thể nghiệm trực tiếp
của cảm xúc và nói lên cá tính sáng tạo của tác giả) và văn tự sự ( Theo Đặng Thai
Mai, Giảng văn Chinh phụ ngâm, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, 1992). Phải chăng
chính ơng đã mặc nhiên thừa nhận sự tồn tại của yếu tố tự sự trong các tác phẩm trữ
tình của văn học giai đoạn này?
Đi tìm một cơ sở cho khả năng hịa hợp giữa yếu tố tự sự với trữ tình chúng tơi
nhận thấy rằng: Khi xây dựng một nhân vật cụ thể, các tác giả không thể không
miêu tả hành động bên ngoài (như cách cư xử, thái độ) cũng như những suy nghĩ
nội tâm (như tình cảm, cảm xúc) để khắc họa cá tính nhân vật. Những suy nghĩ nội
tâm của nhân vật rất gần với trạng thái biểu hiện của cái Tơi tự thể hiện trong trữ
tình. Khơng chỉ vậy, khi tái hiện cảnh sắc thiên nhiên nơi nhân vật đi qua, hay tạo
sắc thái lãng mạn cho câu chuyện để tăng tính hấp dẫn, các tác giả cũng nhấn mạnh
yếu tố trữ tình trong miêu tả, kể chuyện. Vì lẽ đó, tự sự và trữ tình thường dễ thâm
nhập và hòa hợp với nhau trong cùng một thể loại. Nói khác đi, khi tác phẩm tự sự
muốn đạt đến khả năng phản ánh hiện thực một cách toàn vẹn và chân thật, không
thể không sử dụng yếu tố trữ tình. Và ngược lại, ở tác phẩm trữ tình, trong một hồn
cảnh lịch sử cụ thể nào đó của xã hội, khi những thông tin đời sống trở nên bề bộn,
thì sự tương tác giữa nó với thể loại tự sự sẽ giúp người viết chuyển tải vào tác
phẩm được nhiều vấn đề có ý nghĩa của đời sống hơn. Theo tác giả Đàm Thị Thu
Hương (Đại học Sư phạm Tp. Hồ Chí Minh) trong bài Chinh phụ ngâm và sự phá
vỡ lằn ranh giới giữa tự sự và trữ tình thì: việc đưa yếu tố tự sự vào thơ cũng là gợi
ý để sáng tạo nên những thể loại mới, khi tự sự và trữ tình có chức năng ngang
15
quyền nhau thì thể loại trường ca ra đời, khi tự sự đóng vai trị trung tâm và trữ tình
chỉ là yếu tố phụ được điểm qua thì truyện thơ xuất hiện. Sự gia giảm của yếu tố tự sự
trong tác phẩm sẽ góp phần tạo nên những thể loại khác nhau như truyện thơ, ngâm
khúc hay trường ca… Đó là nói đến khả năng dung chứa chất tự sự trong trữ tình.
Qua khảo sát, chúng ta thấy ngay từ thời kỳ đầu, các tác phẩm trữ tình dân
gian đã bao hàm trong đó yếu tố tự sự dân gian. Quả thật như vậy, nếu chúng ta lấy
tiêu chí tác phẩm tự sự bao giờ cũng phải có yếu tố cốt truyện và nhân vật được
khắc họa đầy đủ, nhiều mặt hơn hẳn tác phẩm trữ tình để soi chiếu vào các tác phẩm
ca dao, ta sẽ nhận thấy khá nhiều điều lý thú. Trong ca dao Việt Nam có rất nhiều
bài bắt đầu từ một sự việc, một duyên cớ và được thuật kể đầy đủ, tái hiện cho
người đọc chân dung tinh thần của nhân vật trữ tình. :
Đêm qua tát nước đầu đình
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin
Hay là em để làm tin trong nhà
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu...
(SGK Ngữ văn 10, tập 1, Nxb Giáo dục, 2014)
Ngay từ đầu bài ca dao, nhân vật trữ tình đã muốn thuật, kể lại một sự việc bắt
đầu từ “Đêm qua”. Những câu thơ tiếp theo thì rõ ràng là lời giãi bày cảnh ngộ: về
hoàn cảnh đơn chiếc, về mẹ già, về dự định trả công cô gái thật hậu hĩnh ... Và đến
khi bài ca dao kết thúc thì cũng là lúc câu chuyện được kể xong. Dụng ý của nhân
vật cũng bộc lộ rõ ràng là lời tỏ tình một cách tinh tế chứ không đơn thuần chỉ là
miêu tả tâm trạng nhân vật một cách thuần túy. Chúng ta biết nhiều về cuộc đời nhân
vật và một câu chuyện tình yêu thầm kín được giấu dưới lớp vỏ việc trả công may áo
thông thường. Nhiều bài ca dao khác cũng có nội dung tương tự và thường bắt đầu
bằng mốc thời gian sự kiện: “Sáng ngày tôi đi hái rau”; “Đêm trăng thanh anh mới
hỏi nàng”;“ Trèo lên cây bưởi hái hoa”... Đó là bằng chứng cho sự thâm nhập của
yếu tố tự sự dân gian vào thơ ca dân gian. Không những vậy, đôi khi yếu tố tự sự còn
16
giữ vai trò rất quan trọng trong tác phẩm trữ tình, góp phần để yếu tố trữ tình có một
chỗ dựa chắc chắn, thêm nghĩa lý. Tiến sĩ Nguyễn Bích Hà (Trung tâm nghiên cứu về
phụ nữ, Đại học Quốc gia Hà Nội) trong bài Tự sự trong loại hình trữ tình dân gian
đã hài hước ví von rằng: “Tự sự như cái mắc để treo tranh, như đôi bờ đất để dịng
sơng chảy mãi mà nếu như khơng có cái mắc đó thì bức tranh khơng thể treo được
lên, khơng có bờ đất thì nước chẳng theo một dịng nhất định” [16].
Trở lên, chúng tơi đã nói về sự tồn tại tất yếu của yếu tố tự sự trong thơ tỏ chí
của văn học viết. Khi tìm hiểu các tác phẩm thơ ca đời Lý - Trần và cả thơ ca đời
Hồng Đức, chúng tôi cũng thấy các nhà thơ bao giờ cũng bắt đầu việc miêu tả cảm
xúc của mình bằng việc thuật, kể, tả một sự việc. Một ví dụ về bài Xuân hiểu của
vua Trần Nhân Tông.
Ngủ dậy ngỏ song mây
Xuân về vẫn chửa hay
Song song đôi bướm trắng
Phấp phới cánh hoa bay
(Thụy khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp,
Phách phách sấn hoa phi).
(Xuân hiểu, Thơ văn Lý Trần, Nxb KHXH, 1977)
Bài thơ nhỏ xinh chỉ vẻn vẹn bốn câu, nhưng chất chứa biết bao điều. Câu thơ
mở đầu thốt ra như một lời tự bạch, một câu tự sự về việc nhà vua ra song cửa ngó
nhìn cảnh vật bên ngoài, để rồi bất chợt cảm nhận được về mùa xuân một cách tinh
tế: “Ngủ dậy ngỏ song mây”. Chi tiết đơn giản ấy gợi về một tâm hồn cao quý và
một cuộc sống ung dung, tự tại, nhàn tản, khơng vướng bận những tính tốn việc
đời và gợi ra biết bao điều thú vị. Hình ảnh miêu tả đơi bướm trắng bay phấp phới
trên cánh hoa cho thấy con mắt quan sát tinh tế của thi nhân (chứ không phải một
ông vua) trước thiên nhiên. Đây là một chi tiết được thuật lại tiếp diễn sau hành
động ngỏ song mây. Nó là chi tiết được lấy từ hiện thực bên ngồi chứ khơng phải
17
là diễn biến trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. Bài thơ, nếu khơng sử dụng yếu
tố thuật, kể, tả thì liệu tình yêu đời và khát vọng về hạnh phúc đời thường dung dị
của đấng quân vương có lay động trái tim người đọc đến thế không?
Và sự thực là bất cứ nhà thơ nào, dù muốn bày tỏ suy nghĩ, thái độ, sự chiêm
nghiệm với việc đời thì vẫn phải sử dụng trong thơ yếu tố tự sự như một nền tảng cơ
bản để yếu tố trữ tình thăng hoa cảm xúc. Ngay cả những vần thơ nặng trĩu nỗi thương
đời, đau đời của Ức Trai trong Mạn thuật, bài 4, chúng ta cũng vẫn tìm ra điều đó:
Đủng đỉnh chiều hơm dắt tay
Trơng thế giới phút chim bay
Non cao, non thấp mây thuộc
Cây cứng, cây mềm gió hay
Nước mấy trăm thu cịn vậy
Nguyệt bao nhiêu kiếp nhẫn này
Ngồi chưng mọi chốn đều thơng hết
Bui một lịng người cực hiểm thay
(Nguyễn Trãi, Quốc âm thi tập, Nxb Giáo dục,2012)
Những câu thơ đầu khắc họa rõ nét phong thái ung dung, tĩnh tại như muốn rũ
sạch bụi trần để về chốn trời mây, non nước của thi nhân. Bối cảnh không gian, thời
gian được tạo dựng thi vị đến nỗi ngỡ người đi dạo ấy như chuẩn bị hóa hương hóa
gió mà tan vào chốn nào theo mây khói xa xơi. Nhưng việc đời, bước vào thì khơng
khó nhớ, mà bước ra đâu có dễ quên. Biện pháp liệt kê giúp tác giả diễn tả rõ hơn
những mâu thuẫn của đời sống. Giữa việc con người có thể dễ dàng thông thuộc
việc đời nhưng không thể thông thuộc được lịng người như thế. Sơng sâu dễ dị, mà
lịng người khó đốn. Vậy nên, ta cứ ngỡ đã nắm rõ quy luật đất trời mà với lòng
người quanh co hiểm độc, sao vẫn thấy ghê sợ thay. Nếu không bắt đầu bằng lối
viết tự sự, thì khơng biết Ức Trai tiên sinh sẽ làm thế nào để giãi bày được lịng
mình rõ thế với hậu thế hơm nay?
Cho nên, chúng ta coi sự hòa phối giữa yếu tố trữ tình với tự sự là một quy
luật tất yếu trong q trình phát triển hồn thiện những đặc trưng cơ bản của hai thể
18
loại. Sự thẩm thấu này qua giai đoạn bề nổi của câu, của chữ, của chi tiết, sự kiện
trong bài thơ sẽ đi đến những tầng sâu làm sản sinh ra một thể loại văn học mới của
văn học trung đại: thể ngâm khúc. Đọc các tác phẩm như Cung ốn ngâm hay
Chinh phụ ngâm khơng q khó để tìm ra yếu tố tự sự trong các tác phẩm đó. Đối
với Chinh phụ ngâm chẳng hạn, ta thấy toàn bộ khúc ngâm là một câu chuyện kể về
cuộc đời của một người thiếu phụ có chồng ra trận trong lúc cả hai người đang sống
những ngày tháng hạnh phúc của tuổi trẻ chưa lâu. Sự kiện quan trọng nhất được
nói đến trong bài chính là ngày chồng nàng phải lên đường đi chinh chiến nơi
phương xa. Nhân vật trở thành người trần thuật lại một chuỗi những sự việc nàng
làm hàng ngày khi chờ chồng trở về mòn mỏi: gieo quẻ bói, gượng soi gương,
gượng đốt hương... Trong Chinh phụ ngâm, yếu tố thời gian và khơng gian cũng
khơng hồn tồn bị giới hạn hay bị đóng khung thu hẹp như trong tác phẩm trữ tình.
Và khơng chỉ bó hẹp trong khung thời gian hiện tại mà người viết còn mở rộng đến
thời gian tương lai khi người thiếu phụ tưởng tượng ngày chồng nàng trở về “Nền
huân tước đai cân rạng vẻ/ Chữ đồng hưu bia để nghìn đơng”. Khơng gian trong
tác phẩm cũng khơng phải tồn cố định mà có sự mở rộng và dịch chuyển liên tục.
Từ không gian của buổi đưa tiễn: “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy/ Thấy xanh
xanh những mấy ngàn dâu” đến không gian chiến trường “Non Kỳ quạnh quẽ trăng
treo/ Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gị”, từ khơng gian hiện thực đến không gian của
những giấc mộng: “Khi mơ những tiếc khi tàn/ Tình trong giấc mộng mn vàn
cũng khơng”. Nhân vật trữ tình trong khúc ngâm cũng được miêu tả cụ thể qua rất
nhiều những chi tiết bên ngồi như ngoại hình (trang phục, vật dụng đi kèm), dáng
vẻ, cử chỉ, điệu bộ và việc làm, các mối quan hệ của nhân vật… Tất cả những điều
đó đã giúp cho tác giả bao quát được một bức tranh hiện thực khá rộng lớn tạo nên
giá trị nhiều mặt cho Chinh phụ ngâm cho đến ngày hôm nay.
Chúng tôi khơng có tham vọng phân tích kĩ lưỡng những biểu hiện của yếu tố
tự sự trong bất kỳ tác phẩm trữ tình nào mà chỉ muốn khái quát về sự giao thoa giữa
hai yếu tố này trong một vài tác phẩm tiêu biểu để bạn đọc thấy rằng: trên thực tế,
sự gắn kết của yếu tố tự sự và trữ tình trong một tác phẩm đã có từ rất lâu . Tuy
19
nhiên, phải đến giai đoạn cuối thế kỉ XIX - đầu thế kỉ XX, khuynh hướng đưa tự sự
vào trữ tình mới thực sự trở thành một trào lưu mạnh mẽ. Lại Nguyên Ân nhận xét:
“Bước sang thế kỉ XIX – XX, trữ tình khơng cịn đồng nhất với thơ như trước nữa;
các tố chất của tự sự (ví dụ: tính sự kiện) thâm nhập vào tác phẩm thơ, đồng thời
các tố chất của trữ tình thâm nhập vào văn xuôi, tạo nên những thể tài lai ghép như
thơ tự sự - trữ tình, văn xi trữ tình ” [2; 365]. Khuynh hướng này còn tiếp tục
phát triển về sau và thể hiện rõ nhất ở phong trào thơ Mới giai đoạn 1930 - 1945.
Như thế để thấy, đây là một vấn đề có tính xun suốt q trình phát triển của văn
học. Vấn đề đặt ra là: Vậy khi tự sự lấn sân sang trữ tình và để lại dấu ấn bề bộn
trong các tác phẩm từ cốt truyện, kết cấu, ngơn ngữ, giọng điệu thì nó có phá vỡ
những đặc trưng vốn có của thể loại này hay khơng? Câu trả lời có lẽ là khơng.“Kì
thực, một khi các tác giả có cách ứng xử phù hợp với chất văn xi trong thơ thì
ngay lập tức văn xi có cơ hội thể hiện năng lực của mình trong cấu trúc trữ tình.
Tính năng động của văn xi đã làm nên sự tương tác có lợi cho thơ. Sau mỗi quá
trình tương giao thể loại, thơ vừa giữ được ưu thế bẩm sinh, vừa có thêm những lợi
thế mới” [60; 85 - 95].
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sự giao thoa
của hai yếu tố tự sự và trữ tình trong thơ trào phúng.
1.2. Khái niệm thơ trào phúng và kiểu tư duy trào phúng
1.2.1. Khái niệm thơ trào phúng
Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu (NXB Văn hóa Thơng tin, 1999) định nghĩa
Trào ( 嘲 ) là cười nhạo, giễu. Hán Việt từ điển trích dẫn của Đặng Thế Kiệt
(www.hanviet.org) cũng định nghĩa Trào ( 嘲 ) là chế nhạo, cười nhạo. Chẳng hạn
như: trào lộng (嘲嘲 đùa cợt; trào tiếu 嘲嘲 cười nhạo; trào phúng 嘲嘲 cười cợt chế nhạo.
Còn Phúng (嘲), theo Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu có nghĩa là nói mát, nói thác
một chuyện khác mà khiến cho người tỉnh biết đổi lỗi đi (như trào phúng 嘲嘲 giễu
cượt). Từ điển Hán Việt của Trần Văn Chánh (Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 1999) cắt
nghĩa Phúng (嘲) là ám chỉ, hoặc khuyên can bằng lời lẽ hàm súc, nói khéo để can
gián, (chẳng hạn 嘲嘲嘲嘲嘲嘲 : thường dùng lời cười đùa để can khéo, Sử kí). Hán Việt tân
20