Tải bản đầy đủ (.pdf) (126 trang)

Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh sóc trăng luận văn ths kinh tế 5 02 01 pdf

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.15 MB, 126 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TRỊNH THỊ NHÀN

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN
Ở TỈNH SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ

Người hướng dẫn: TS. Ngô Văn Lương

Hà nội - 2005


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 3
Chƣơng 1 KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH
PHẦN Ở NƢỚC TA HIỆN NAY................................................................... 8
1.1. Sự tồn tại khách quan của kinh tế tƣ nhân trong cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần ................................................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm kinh tế tư nhân ............................................................... 8
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của việc phát triển kinh tế tư nhân trong
nền kinh tế nước ta ................................................................................. 11
1.1.3. Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân ................... 18
1.1.4. Các loại hình kinh tế tư nhân........................................................ 21
1.2. Vai trò của kinh tế tƣ nhân đối với sự phát triển kinh tế - Xã hội trên địa
bàn tỉnh Sóc Trăng .................................................................................... 24
1.3. Kinh nghiệm thực tiễn phát triển khu vực kinh tế tƣ nhân trong nền
kinh tế thị trƣờng ....................................................................................... 29
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển khu vực kinh tế tư nhân trên thế giới ....... 29


1.3.2. Kinh nghiệm phát triển kinh tế tư nhân của một số tỉnh ở Việt Nam . 33
Chƣơng 2 ..................................................................................................... 37
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN Ở TỈNH SÓC TRĂNG
TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY .......................................................................... 37
2.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội và quá trình hình thành, phát triển
kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Sóc Trăng ............................................................... 37
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên ........................................................................ 37
2.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội .............................................................. 39
2.1.3. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh Sóc Trăng .. 41
2.2. Thực trạng phát triển kinh tế tƣ nhân ở tỉnh Sóc Trăng từ năm 1992 đến
nay ............................................................................................................ 44

1


2.2.1. Thành tựu và nguyên nhân ............................................................. 44
2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân .............................................................. 76
Chƣơng 3 PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ
NHÂN Ở TỈNH SÓC TRĂNG TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010 ......................... 85
3.1. Mục tiêu và phƣơng hƣớng ................................................................. 85
3.1.1. Về cơ cấu...................................................................................... 86
3.1.2. Về quy mô phát triển .................................................................... 89
3.1.3.Về tốc độ phát triển ....................................................................... 89
3.2. Một số giải pháp thúc đẩy kinh tế tƣ nhân ở sóc trăng ........................ 90
3.2.1. Nhóm giải pháp vĩ mô................................................................... 90
3.2.2. Nhóm giải pháp vi mô................................................................... 97
3.2.3. Các giải pháp khác ..................................................................... 109
KẾT LUẬN ................................................................................................ 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................... 121


2


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN là một chủ
trương có tính quy luật, lâu dài của Đảng và Nhà nước ta. Trong nền kinh tế
nhiều thành phần đó, kinh tế tư nhân (KTTN) là một bộ phận quan trọng cấu
thành mô hình ấy và có ý nghĩa to lớn trong việc phát triển nền kinh tế xã hội
ở nước ta hiện nay.
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định quá trình
từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình chuyển hoá nền kinh tế
còn nhiều tính chất tự cấp, tự túc thành nền kinh tế hàng hoá.
Do đó, chúng ta phải thay đổi cơ cấu kinh tế cũ, phát triển nền kinh tế
hàng hoá có cơ cấu nhiều thành phần, sử dụng đầy đủ các nguồn lực bên trong
kết hợp với các nguồn lực bên ngoài tạo nên sức mạnh tổng hợp, để nền kinh
tế nước ta phát triển nhanh và bền vững.
Kể từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng đến nay, khu vực KTTN
đã được phục hồi và phát triển nhanh chóng cả về số lượng lẫn chất lượng,
góp phần khai thác tiềm năng và đưa nền sản xuất phát triển, bộ mặt kinh tế
đất nước có nhiều biến đổi. KTTN không chỉ tạo ra khối lượng hàng hoá phục
vụ nhu cầu trong nước mà còn tạo ra những mặt hàng xuất khẩu trong điều
kiện nền kinh tế mở, giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động.
KTTN còn góp phần nâng cao thu nhập của dân cư, làm tăng nguồn thu ngân
sách cho nhà nước và huy động khá lớn nguồn vốn của hàng triệu hộ gia đình
để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Kinh tế tư nhân có vai trò to lớn đối với quá trình phát triển kinh tế của
quốc gia. Tuy nhiên, thành phần kinh tế này ở Sóc Trăng vẫn chưa được quan


1


tâm đúng mức, vẫn còn những tư tưởng định kiến với KTTN. Sóc Trăng là
một tỉnh nghèo với số đông đồng bào dân tộc Khơ - Me, nên rất cần những
giải pháp hữu hiệu để khu vực này phát huy tiềm năng của mình, nhằm góp
phần đưa nền kinh tế quốc gia ngày càng phát triển.
Với ý nghĩa trên, tác giả chọn đề tài “Phát triển kinh tế tư nhân ở tỉnh
Sóc Trăng” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề phát triển KTTN trong công cuộc đổi mới ở nước ta đã được
nhiều nhà khoa học nghiên cứu và đã có các bài viết được đăng trên một số
báo và tạp chí như:
Tiến sĩ Hà Huy Thành, “Thành phần kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản
tư nhân lý luận và chính sách”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
Trần Ngọc Bút, “Phát triển KTTN định hướng xã hội chủ nghĩa”, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
GS. TS. Nguyễn Thanh Tuyền, “Thành phần kinh tế tư bản tư nhân
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2002.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Kỷ yếu khoa học, đề tài cấp
bộ 2000 - 2001, “KTTN và quản lý Nhà nước đối với KTTN ở nước ta hiện
nay”.
Phan Sĩ Mậu, “Kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân trong công
nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nông thôn”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số
256 tháng 9/1999.
Tiến sĩ Nguyễn Huy Oánh, “Vai trò của KTTN trong nền kinh tế Việt
Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, tháng 12/2001.

2



Các công trình trên, tập trung nghiên cứu những vấn đề chung của cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần hoặc đi vào nghiên cứu một vài lĩnh vực. Riêng
ở Tỉnh Sóc Trăng chưa có công trình nào trình bày hệ thống nội dung này. Kế
thừa những thành tựu đã được nghiên cứu của các tác giả trên, luận văn sẽ đi
sâu tìm hiểu những căn cứ lý luận và thực tiễn, khảo sát làm rõ thực trạng tình
hình KTTN ở Sóc Trăng. Từ đó, nêu ra các giải pháp nhằm thúc đẩy KTTN ở
Sóc Trăng phát triển.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích
Thông qua việc tìm hiểu căn cứ lý luận và thực tiễn về phát triển
KTTN, luận văn sẽ phân tích, đánh giá thực trạng phát triển KTTN ở Sóc
Trăng từ năm 1992 đến nay. Từ đó đề xuất một số phương hướng và giải pháp
phát triển khu vực kinh tế này ở Sóc Trăng từ nay đến năm 2010.
* Nhiệm vụ
- Làm rõ cơ sở lý luận, kinh nghiệm thực tiễn phát triển KTTN của một
số nước trên thế giới và ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng phát triển KTTN của Tỉnh Sóc Trăng từ năm
1992 đến nay.
- Đề xuất một số phương hướng và các giải pháp, nhằm phát huy vai trò
to lớn của KTTN ở tỉnh Sóc Trăng từ nay đến năm 2010.
4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sự phát triển của KTTN ở tỉnh Sóc Trăng từ khi tái lập tỉnh
(năm 1992) đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

3



Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa Mác Lênin: Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng
các phương pháp khác như: Khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp, so
sánh…

4


6. Đóng góp của luận văn
* Về lý luận
Góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn cho sự phát triển KTTN ở
Việt Nam nói chung và ở tỉnh Sóc Trăng nói riêng.
* Về thực tiễn
- Góp phần đề xuất các phương hướng, giải pháp cho sự phát triển
KTTN của tỉnh Sóc Trăng từ nay đến năm 2010.
- Bổ sung kiến thức cho giảng dạy kinh tế chính trị trong thời kỳ quá độ
lên CNXH ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luận
văn kết cấu gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Kinh tế tư nhân trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước
ta hiện nay.
Chƣơng 2: Thực trạng phát triển KTTN ở tỉnh Sóc Trăng từ năm 1992
đến nay.
Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp phát triển KTTN ở Sóc Trăng
từ nay đến năm 2010.

5


Chƣơng 1

KINH TẾ TƢ NHÂN TRONG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN
Ở NƢỚC TA HIỆN NAY
1.1. Sự tồn tại khách quan của kinh tế tƣ nhân trong cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần
1.1.1. Khái niệm kinh tế tư nhân
Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế tồn tại ở nước ta từ lâu. Nó gắn liền
với sự tồn tại của lực lượng sản xuất khi còn là thủ công, lạc hậu, phân tán.
Trải qua quá trình phát triển lâu dài, KTTN có những bước thăng trầm của
nó. Bước thăng trầm đó không phải do bản chất của KTTN mà do nhận thức
của con người về KTTN.
Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đến nay,
KTTN được sử dụng phổ biến ở nước ta. Trên thực tế, loại hình này hoạt
động khá mạnh mẽ. Nhưng đến nay, việc xác định nội hàm của KTTN chưa
được toàn diện và đầy đủ. Hiện nay, còn nhiều quan niệm khác nhau về vấn
đề này, sau đây là một vài quan niệm:
Quan niệm thứ nhất cho rằng: KTTN là hình thức kinh tế mà toàn bộ
hay đại bộ phận tư liệu sản xuất thuộc sở hữu tư nhân và có thuê mướn lao
động, chủ sở hữu tư liệu sản xuất chiếm đoạt giá trị thặng dư do cô ng nhân
lao động tạo ra [46]. Về hình thức tổ chức kinh doanh, KTTN bao gồm doanh
nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần (do công nhân
nắm tỷ lệ cổ phiếu khống chế). Quan niệm KTTN như vậy không bao gồm
các cơ sở kinh tế cá thể và đồng nhất KTTN với tư bản tư nhân.
Quan niệm thứ hai cho rằng: “KTTN bao gồm các đơn vị kinh tế mà
phần lớn vốn do một hoặc một số tư nhân góp lại, huy động cổ phần (do một
hoặc một nhóm tư nhân nắm cổ phần chi phối), thuê lao động sản xuất kinh
doanh” [46]. Quan niệm này không phân biệt kinh tế cá thể, tiểu chủ với kinh
tế tư bản tư nhân.

6



Quan niệm thứ ba cho rằng: KTTN bao gồm tất cả các cơ sở kinh
tế ngoài kinh tế nhà nước (kể cả hợp tác xã và kinh tế gia đình). Loại ý kiến
này thống nhất KTTN với khu vực kinh tế dân doanh [51].
Trên đây là những quan niệm khác nhau về KTTN. Chính vì còn nhiều
quan niệm khác nhau về KTTN như vậy, cho nên tôi tán đồng với quan niệm
có tính phổ biến của các nhà kinh tế hiện nay như sau:
Khái niệm: Kinh tế tư nhân là loại hình kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất và tương ứng với cách quản lý, phân phối phù hợp với hình
thức sở hữu đó.
- Xét về quan hệ sở hữu:
Sở hữu tư nhân là hình thức sở hữu của các nhà sản xuất, kinh doanh tư
nhân đối với tư liệu sản xuất, tiền vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Với
hai mức độ:
+ Sở hữu tư nhân nhỏ hay còn gọi là sở hữu tư nhân cá thể, là hình thức
sở hữu của những người sản xuất nhỏ, bao gồm cả những người sản xuất hàng
hoá nhỏ và những người sản xuất tự túc, tự cấp.
+ Sở hữu tư nhân lớn là hình thức sở hữu tư nhân làm cơ sở cho việc
hình thành các doanh nghiệp tư nhân, công ty tư nhân và các doanh nghiệp
đan xen các hình thức sở hữu hỗn hợp.
- Xét về quan hệ quản lý: Xuất phát từ quan hệ sở hữu của kinh tế tư
nhân, quan hệ quản lý của khu vực kinh tế này gồm các quan hệ quản lý dựa
trên sở hữu tư nhân nhỏ và quan hệ quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn. Quan
hệ sở hữu tư nhân nhỏ là quan hệ dựa trên sự tự tổ chức, điều hành, phân công
công việc nội bộ gia đình, giữa các thành viên gia đình với nhau. Quan hệ
quản lý dựa trên sở hữu tư nhân lớn là quan hệ quản lý giữa chủ thể quản lý
với đối tượng quản lý và khách thể quản lý, giữa người quản lý với người bị
quản lý.
- Xét về quan hệ phân phối: Trong KTTN, quan hệ phân phối dựa trên
cơ sở các loại hình sở hữu tư nhân khác nhau. Đối với các cơ sở sản xuất kinh


7


doanh mà người sở hữu đồng thời là người trực tiếp lao động, không thuê
mướn nhân công, thì phân phối kết quả sản xuất là tự phân phối theo nội bộ
chủ thể kinh tế đó. Còn đối với các cơ sở kinh doanh lớn, chủ sở hữu tư liệu
sản xuất (hay vốn) sử dụng lao động làm thuê thì phân phối kết quả sản xuất
căn cứ vào sở hữu giá trị, tức là giá trị sức lao động của lao động làm thuê và
sở hữu tư bản. Tất nhiên, trong các chế độ chính trị - xã hội khác nhau thì
quan hệ phân phối cũng có sự khác biệt nhất định [28, tr.7 - 8].
Những vấn đề vừa nêu là những quan niệm khác nhau về KTTN. Mặc
dù việc nhìn nhận KTTN còn nhiều điểm chưa đồng nhất, nhưng nhìn chung
tất cả đều thừa nhận KTTN dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, với
động lực chủ yếu là lợi ích cá nhân và mục đích cuối cùng là lợi nhuận. Cho
nên, trong bản thân nó đã hàm chứa những ưu thế và khuyết tật nhất định.
Vấn đề đặt ra là cần phải hiểu rõ mặt tích cực và mặt tiêu cực của nó để có
biện pháp, chính sách và tạo môi trường phù hợp nhằm phát huy những ưu thế
và khắc phục những khuyết tật, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
* Ưu thế của KTTN:
Mục tiêu hoạt động thường rõ ràng, đơn giản, gắn với đáp ứng nhu cầu
sản xuất, nhu cầu tiêu dùng, khác với doanh nghiệp nhà nước thường chịu sự
chi phối của một hệ thống mục tiêu không rõ ràng, có khi các mục tiêu mâu
thuẫn với nhau.
Nguồn gốc vốn đầu tư sản xuất kinh doanh từ tiền túi của họ nên phải
tính đến hiệu quả trong kinh doanh và khả năng bảo toàn vốn.
Quy mô, hình thức và loại hình sản xuất kinh doanh rất đa dạng, đáp
ứng nhu cầu thị trường. Có thể nói thị trường cần gì, thì KTTN có thể đáp ứng
kịp thời, cả về thời gian và chất lượng.
Tổ chức bộ máy quản lý cũng như bộ máy sản xuất kinh doanh gọn nhẹ,

linh hoạt. Hình thức kinh doanh và khả năng thu hút vốn, tuyển dụng lao động
đa dạng, phong phú.
* Hạn chế của KTTN:

8


Kinh tế tư nhân gắn với lợi ích và động lực cá nhân, nếu Nhà nước
quản lý không tốt dễ chạy theo lợi ích trước mắt, lợi ích cá nhân mà quên đi
lợi ích lâu dài và lợi ích cộng đồng.
Vì mục tiêu lợi nhuận cao, nên KTTN dễ dàng bỏ qua những lĩnh vực
không có lợi ích trước mắt cho họ nhưng rất cần cho xã hội. Đồng thời trong
cạnh tranh, KTTN mang nặng tính triệt tiêu lẫn nhau.
Quy mô hoạt động của KTTN thường nhỏ, phân tán nên khả năng
cạnh tranh, đặc biệt cạnh tranh trên trường quốc tế còn nhiều hạn chế.
Từ những vấn đề phân tích ta thấy việc phân định từng thành phần kinh
tế trong thời kỳ quá độ là rất cần thiết, nhằm tạo điều kiện cho Nhà nước thực
hiện sự quản lý chỗt chẽ đối với từng thành phần kinh tế khác nhau trong nền
kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan của việc phát triển kinh tế tư nhân
trong nền kinh tế nước ta
Bất kỳ một sự vật hay hiện tượng nào ra đời, vận động và phát triển
cũng đều dựa trên cơ sở nhất định. KTTN ở nước ta tồn tại và phát triển từ
lâu, nó gắn liền với sự tồn tại và phát triển của lực lượng sản xuất. Sau khi đất
nước hoàn toàn thống nhất, khu vực KTTN hoạt động nhỏ lẻ, rời rạc do chính
sách cải tạo XHCN của ta. Trong cải tạo XHCN, cách nhìn nhận đối xử của
Nhà nước đối với khu vực kinh tế này phần nào thể hiện sự thiếu bình đẳng,
thậm chí có khoảng thời gian muốn xoá bỏ, triệt tiêu loại kinh tế dựa trên sở
hữu tư nhân và chỉ duy trì trong nền kinh tế quốc dân chỉ có hai thành phần:
kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.

Suốt thời gian dài, KTTN tồn tại trong tình trạng chịu những phân biệt
đối xử theo hướng triệt tiêu. Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, với quan
điểm đổi mới, Đảng đã thừa nhận nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở
nước ta. Từ đây, đưa nền kinh tế bước vào giai đoạn mới, giai đoạn thừa nhận
khu vực KTTN là khu vực kinh tế hợp pháp. Như vậy, KTTN được chính
thức tham gia vào sự nghiệp phát triển KT - XH của đất nước.

9


Từ khi được thừa nhận đến nay, khu vực KTTN có mặt ở khắp các
vùng, địa phương và phát triển với tốc độ nhanh chóng, góp phần khẳng định
đường lối phát triển kinh tế nước ta theo kinh tế thị trường định hướng XHCN
là đúng đắn, không chỉ thế mà KTTN còn góp phần chứng minh sức sống của
kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.
Sự tồn tại, vận động và phát triển của KTTN ở nước ta vừa qua đã xác
định tính tất yếu tồn tại của khu vực này. Tính tất yếu tồn tại đó dựa trên
những cơ sở sau:
- Do yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho CNXH là phải phát
triển lực lượng sản xuất. Do vậy, khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động
giành được chính quyền và bước vào xây dựng xã hội mới thì một đòi hỏi cấp
bách và khách quan là từng bước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chế độ
mới, chế độ sở hữu XHCN về tư liệu sản xuất, với hai hình thức sở hữu nhà
nước XHCN và sở hữu tập thể, tương ứng có các thành phần kinh tế: Kinh tế
quốc doanh và kinh tế tập thể. Để thực hiện điều đó không chỉ có thành phần
kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể mà phải huy động tiềm lực trong xã hội.
Do vậy, cần phải có sự tham gia của thành phần KTTN.
- Xã hội cũ để lại một số thành phần kinh tế chưa thể cải tạo ngay được,
do qui luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát
triển của lực lượng sản xuất qui định.

Từ phương thức sản xuất này sang phương thức sản xuất khác luôn có
sự đan xen các quan hệ sản xuất khác nhau. Theo Lênin, khoảng giao thoa
giữa cái mới và cái cũ gọi là thời kỳ quá độ. Trong tác phẩm “Bàn về thuế
lương thực”, Lênin viết: “Danh từ quá độ có nghĩa là gì ? Vận dụng vào kinh
tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những
bộ phận, những mảnh của CNTB và CNXH không ? Bất cứ ai cũng đều thừa
nhận là có” [31, tr.248].
Xét riêng trong lĩnh vực kinh tế, Lênin nói: Như vậy trong thời kỳ quá
độ, phương thức sản xuất mới không chỉ có “những mảnh”, “những bộ phận
mới” mà vẫn còn tồn tại “những mảnh”, “những bộ phận cũ” trong một phương

10


thức sản xuất. Đặc trưng cơ bản nhất trong thời kỳ quá độ là còn tồn tại những
thành phần kinh tế có cả thành phần kinh tế của CNXH lẫn những thành phần
kinh tế của phương thức sản xuất cũ để lại. Lênin đã chỉ ra tất cả các nước đi
lên CNXH đều có 3 thành phần kinh tế cơ bản là:
Kinh tế XHCN
Kinh tế TBCN
Kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ.
Vận dụng vào những điều kiện cụ thể, các thành phần kinh tế này ít
nhiều có sự thay đổi ở các quốc gia khác nhau.Ví dụ ở Nga trong thời kỳ quá
độ lên CNXH gồm các thành phần kinh tế sau:
1/ kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là phần lớn có tính tự nhiên.
2/ Sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại đa số nông dân bán lúa mì)
3/ Chủ nghĩa tư bản tư nhân.
4/ Chủ nghĩa tư bản nhà nước.
5/ Chủ nghĩa xã hội.
Các thành phần kinh tế khác nhau của kết cấu kinh tế nói trên xen kẽ

với nhau [31, tr.248], như vậy nếu không kể về số lượng từng thành phần kinh
tế thì trong kết cấu kinh tế đó tồn tại hai mảnh kinh tế:
Một là: Của CNXH vừa mới xây dựng (Dựa trên sở hữu toàn dân về tư
liệu sản xuất).
Hai là: Của phương thức cũ còn tồn tại (Dựa trên sở hữu tư nhân về tư
liệu sản xuất).
Các Ông thừa nhận còn sở hữu tư nhân trong nền kinh tế, điều đó tất
yếu thừa nhận thành phần KTTN trong thời kỳ quá độ lên CNXH.
Về lâu dài, để xây dựng CNXH, nhiệm vụ của mỗi chúng ta là từng
bước xoá bỏ thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, vì
đây là nguyên nhân là tiền đề hình thành mối quan hệ người bóc lột người, là
nguyên nhân dẫn đến sự bất công, kẻ giàu người nghèo trong xã hội.

11


Nhưng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xoá bỏ thành phần kinh tế
dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chúng ta phải thấy rằng: Bất kỳ
thành phần kinh tế nào cũng dựa trên một chế độ sở hữu nhất định, sở hữu tư
liệu sản xuất và thành phần kinh tế có mối quan hệ biện chứng với nhau, sở
hữu tư liệu sản xuất vừa là kết quả, vừa là điều kiện cho sự phát triển lực
lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất có tác động
thúc đẩy hoặc kìm hãm lực lượng sản xuất. Mỗi loại hình sở hữu chưa thể mất
đi khi chúng còn phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất, chúng ta cũng không thể tuỳ tiện dựng lên một quan hệ sản xuất mới
khi lực lượng sản xuất không yêu cầu.
Đặc trưng của CNCS là xoá bỏ chế độ sở hữu tư bản, chứ không xoá bỏ
chế độ sở hữu nói chung, xoá bỏ “tính chất bi thảm của cái phương thức
chiếm hữu nó khiến cho người công nhân chỉ sống để làm tăng thêm tư bản,
và chỉ sống trong chừng mực mà lợi ích của giai cấp thống trị đòi hỏi”,

“CNCS không tước bỏ của ai cái khả năng chiếm hữu những sản phẩm của xã
hội cả. CNCS chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu ấy để nô dịch lao động
của người khác” [34, tr.617-618] có nghĩa chỉ xoá bỏ thành phần kinh tế tồn
tại dựa vào sự bóc lột, chứ không xoá bỏ thành phần KTTN nói chung.
Những bộ phận trong kết cấu kinh tế của xã hội cũ còn tồn tại trong
thời kỳ quá độ lên CNXH là tiền đề để phát triển lượng sản xuất, cũng là điều
kiện để từ đó cải biến chế độ tư hữu. Các Mác và Ăng Ghen đã nói “vì không
có nó tất cả chỉ là một sự nghèo nàn đã trở thành phổ biến, mà thiếu thốn thì
cũng bắt đầu trở lại một cuộc đấu tranh để giành những cái cần thiết, thế là
người ta lại không tránh khỏi rơi vào sự ti tiện trước đây” [35, tr.58] vì vậy
không thể thủ tiêu ngay lập tức chế độ tư hữu, hay nói khác là không thể xoá
bỏ ngay thành phần KTTN và làm cho lực lượng sản xuất hiện có tăng lên
ngay lập tức, đủ để xây dựng nền kinh tế dựa trên hai thành phần kinh tế quốc
doanh và tập thể được, mà phải từng bước cải tạo dần KTTN, sử dụng KTTN
sẽ tạo điều kiện vật chất cần thiết cho việc xoá bỏ hoàn toàn nguồn gốc sinh
ra chế độ người bóc lột người.

12


Tất cả những điều đó, nói lên trong thời kỳ quá độ tất yếu còn tồn tại
loại hình KTTN và là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế quá độ, là nền
kinh tế không thuần nhất chỉ có hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể
mà là nền kinh tế nhiều thành phần hình thành trên cơ sở chế độ đa sở hữu.
Vận dụng tư tưởng của các nhà kinh điển vào điều kiện cụ thể của Việt
Nam, Hồ Chí Minh và Đảng ta phân tích chính xác điều kiện cụ thể của đất
nước. Người đã nhiều lần nhấn mạnh việc áp dụng kinh nghiệm của nước
ngoài là rất cần thiết “nhưng chúng ta cũng không thể áp dụng những kinh
nghiệm ấy một cách máy móc, bởi vì nước ta có đặc điểm riêng” [39, tr.499].
Người chỉ ra đặc điểm cụ thể của nước ta “Đặc điểm to nhất của ta trong thời

kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội
không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” [42, tr.13].
Trên nguyên lý chung về các thành phần kinh tế, Người cho rằng trong
thời kỳ quá độ lên CNXH, nước ta có các hình thức sở hữu chính về tư liệu
sản xuất như:
+ Sở hữu nhà nước (của toàn dân) nếu nhà nước là người sở hữu ruộng
đất thì ruộng đất không có sở hữu tư nhân, nhưng tư nhân có quyền chiếm
hữu thực tế về ruộng đất đó (quyền sử dụng).
+ Sở hữu tập thể.
+ Sở hữu của những người lao động riêng lẻ.
+ Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu nhà tư sản [41, tr.588].
Như vậy, ngoài sở hữu nhà nước ra, Hồ Chí Minh còn đề cập đến các
loại hình sở hữu khác. Đây thực chất là hình thức sử dụng sức mạnh tổng hợp
trong kinh tế của Người.
Khi đề cập đến các thành phần kinh tế, Người cho rằng trong thời kỳ
quá độ lên CNXH ở nước ta có năm thành phần kinh tế:
Kinh tế quốc doanh (thuộc CNXH nó là của chung của nhân dân).
Kinh tế HTX (nó là 1/2 CNXH và sẽ tiến tới CNXH).

13


Kinh tế cá nhân của nông dân (có thể tiến dần lên CNXH).
Kinh tế tư nhân.
Kinh tế tư bản nhà nước.
Trong các loại ấy, kinh tế quốc doanh đóng vai trò chủ đạo và phát
triển mau hơn cả. Vì vậy kinh tế của ta phát triển theo hướng XHCN chứ
không theo TBCN [39, tr. 247-248].
Vấn đề cải tạo XHCN đối với quan hệ sản xuất đã được Hồ Chí Minh
vận dụng sát với điều kiện nước ta từ sản xuất nhỏ đi lên. Người quán triệt

quan điểm “dần dần”, “vững chắc”, “đúng qui luật”. Theo Người, cách mạng
XHCN là cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. “Chúng ta phải thay
đổi quan hệ sản xuất cũ, xoá bỏ giai cấp bóc lột, xây dựng quan hệ sản xuất
mới không có áp bức, bóc lột. Muốn thế phải dần dần biến nước ta từ một
nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp. Chúng ta phải dần
dần tập thể hoá nông nghiệp, chúng ta phải tiến hành cải tạo XHCN đối với
công thương nghiệp tư bản tư nhân” [40, tr.493- 494].
Vận dụng tư tưởng của Lênin; Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của nước
ta trong giai đoạn hịên nay, Đảng ta khẳng định: sự tồn tại nhiều thành phần kinh
tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta là một tất yếu.
- Vì Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ từ một nước thuộc địa, nửa
phong kiến, sản xuất nông nghiệp lạc hậu, phân tán, nhỏ bé, song hành với
đặc điểm đó thì không thể có sự phát triển đồng đều của lực lượng sản xuất
giữa các vùng, các ngành và trong nội bộ từng vùng. Nhưng nhiệm vụ đặt ra
là phải xây dựng một xã hội mới dựa trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển.
Đặc điểm và nhiệm vụ cơ bản trên quy định tất yếu nước ta phải tồn tại các
thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ, trong đó có KTTN, kinh tế cá thể tiểu
chủ của nông dân, thợ thủ công, của những người làm dịch vụ, buôn bán nhỏ
và kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp của một bộ phận dân cư ở vùng núi cao.
- Mặt khác, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiềm lực và khả
năng của các thành phần kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể chưa đủ mạnh để

14


có thể bảo đảm được việc đáp ứng nhu cầu của xã hội. Trong khi đó các
thành phần KTTN, cá thể, tiểu chủ vẫn còn có vai trò, khả năng phát triển. Sự
có mặt của chúng là cần thiết góp phần giải quyết công ăn việc làm, huy động,
khai thác các tiềm lực dồi dào về vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý... thúc
đẩy kinh tế tăng trưởng và phát triển.

Kinh tế tư nhân phát huy ngày càng tốt hơn các nguồn lực và tiềm năng
trong nhân dân, nhất là sau khi có Luật Doanh nghiệp năm 2000. Sau gần năm
năm, cả nước có gần 108.300 doanh nghiệp mới đăng ký, đưa tổng số doanh
nghiệp đăng ký lên 150.000, tăng gấp hai lần so với 9 năm trước đây (1991 1999); tổng số vốn đăng ký đạt 302.250 tỷ đồng (tương đương 18 tỷ USD),
cao hơn số vốn đầu tư nước ngoài đăng ký trong cùng thời kỳ.
Đóng góp lớn nhất và quan trọng nhất của KTTN là tạo việc làm và
góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội. Năm 2004, số lao động làm
việc trực tiếp trong các doanh nghiệp tư nhân đã gần bằng tổng số lao động
trong các doanh nghiệp nhà nước, giải quyết khoảng 1,6 đến 2 triệu việc làm.
Riêng số doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm 96% tổng số doanh nghiệp ngoài nhà
nước) đã thu hút 49% việc làm phi nông nghiệp ở nông thôn, khoảng 25 - 26%
lực lượng lao động cả nước. Các doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể phi nông
nghiệp đã sử dụng 16% lực lượng lao động xã hội (khoảng 6 triệu người). Năm
2005, khu vực KTTN đóng góp 37,7% GDP cả nước [2, tr.70 -71].
Ngoài ra nước ta còn huy động khá lớn nguồn FDI và ODA từ nước
ngoài, năm 2004 vốn FDI đạt 4,2 tỷ USD tăng 35% so với năm 2003, cam kết
ODA đạt 3,4 tỷ USD, lượng kiều hối đổ về gần 4 tỷ USD. Tính đến hết tháng
2/2005 cả nước có 5.100 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký trên
46,8 tỷ USD, đã thực hiện được khoảng 26,26 tỷ USD.
Đối với nguồn vốn ODA: từ năm 1993 đến năm 2004, tổng số vốn các
nước và tổ chức tài chính quốc tế cam kết dành cho nước ta lên gần 29 tỷ
USD, trong số này có khoảng 20 tỷ USD được hợp thức hoá, chính thức hoá
bằng các hiệp định quốc tế, đã giải ngân 14 tỷ USD. Số đã giải ngân góp phần
vào việc xây dựng kết cấu hạ tầng - kỹ thuật và xã hội

15


Đối với nguồn ngoại tệ của kiều bào: năm 1991 lượng kiều hối đạt 31
triệu USD, năm 1995 đạt 284,96 triệu USD, năm 1999 đạt 1.200 triệu USD,

năm 2000 đạt 1.757 triệu USD, năm 2003 đạt 2.580 triệu USD, năm 2004 đạt
3 tỷ USD. (Ngoại tệ năm 2004 gấp 5 lần tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong
năm năm 2001 - 2005 của tỉnh Sóc Trăng. Tổng đầu tư giai đoạn 2001 - 2005
đạt trên 9.000 tỷ đồng), dự báo năm 2010 đạt 5 tỷ USD.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn đóng góp cao vào GDP
hàng năm, năm 2001 đạt 13,11%, năm 2002 đạt 14%. Kinh tế có vốn đầu tư
nước ngoài hàng năm đóng góp cho ngân sách khá lớn. Trong năm năm 1995
- 2000 đóng góp 1,45 tỷ USD chiếm tỷ lệ 6 đến 7% nguồn thu ngân sách nhà
nước, năm 2002 đạt 420 triệu USD, tăng 28,2% so với năm 2001 (chưa kể
nguồn thu từ dầu khí) [4, tr.56-57].
1.1.3. Quan điểm của Đảng ta về phát triển kinh tế tư nhân
Trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế hoạt động kém hiệu
quả. Từ đó, đời sống vật chất và tinh thần nhân dân ngày càng khó khăn, sản
xuất không đủ tiêu dùng, nền kinh tế mất cân đối, thu không đủ chi, hoạt động
sản xuất kinh doanh ở các xí nghiệp thua lỗ kéo dài, hàng hoá khan hiếm kể
cả những mặt hàng thiết yếu như lương thực thực phẩm, cũng phải nhập khẩu
từ bên ngoài.
Đứng trước thực tế đó đã đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta hai con đường:
Một là: Tăng cường hơn nữa vai trò điều tiết từ một trung tâm bằng
mệnh lệnh hành chính tác động vào hoạt động sản xuất nhằm vực dậy nền
kinh tế.
Hai là: Thừa nhận quan hệ hàng hoá tiền tệ, thừa nhận thị trường,
thông qua hoạt động của thị trường kết hợp vai trò, chức năng nhà nước để
điều tiết nền kinh tế.
Qua đó Đảng ta nhận thức, xem xét và đi đến phải thay đổi cơ chế quản
lý kinh tế. Chúng ta không thể cùng một lúc thay đổi tất cả mọi thứ để có
CNXH mà phải thực hiện từng bước. Khởi điểm đổi mới bắt đầu trong lĩnh

16



vực kinh tế. Nghị quyết Trung ương 6 khoá IV đã đưa ra những quyết định
quan trọng tạo sự chuyển hướng chiến lược, thực sự mở màn thực hiện cuộc
cách mạng trong quan hệ sản xuất. Nghị quyết thừa nhận miền Bắc còn 3
thành phần kinh tế, miền Nam có 5 thành phần kinh tế, trong đó có các thành
phần kinh tế thuộc sở hữu tư nhân, nhưng chỉ cho thành phần kinh tế tư bản
thuê từ 5 đến 10 công nhân. Mặc dù còn những giới hạn, nhưng từ đây đã
đánh dấu bước ngoặt chuyển sang cơ chế mới. Cuộc cách mạng quan hệ sản
xuất này đã ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình phát triển của nền kinh tế quốc
dân, tiếp sau đó hàng loạt những thay đổi diễn ra:
+ Trong lĩnh vực nông nghiệp, có chỉ thị 100 của Ban Bí thư về khoán
sản phẩm trong nông nghiệp.
+ Trong lĩnh vực công nghiệp có Nghị quyết 25 của Chính phủ cho phép xí
nghiệp làm kế hoạch 3 phần. Nghị quyết 306 về bảo đảm quyền tự chủ sản xuất
kinh doanh.
Kể từ sau Nghị quyết Trung ương 6 khoá IV, nước ta tồn tại hai cơ chế
song trùng. Một mặt cơ chế tập trung bao cấp vẫn còn tồn tại. Mặt khác, quan
hệ hàng hoá tiền tệ hoạt động đã tác động đến lợi ích cá nhân, lợi ích của
người lao động. Trong thời khắc giao thoa này không tránh khỏi sự hoà
quyện, đan xen giữa cái cũ và cái mới, cái tiên tiến và cái lạc hậu. Con đường
mới vừa hé mở có nhiều tác động tích cực trên mọi lĩnh vực. Tuy nhiên cũng
không ít quan niệm còn hoài nghi, lo lắng về con đường đi lên CNXH. Bản
chất của CNXH là không còn người bóc lột người, xây dựng chế độ công hữu
về tư liệu sản xuất. Nhưng với cơ chế mới chấp nhận KTTN, có nghĩa chấp
nhận bóc lột. Như vậy nước ta có tiến lên CNXH được không?
Tất cả những vấn đề đặt ra đòi hỏi chúng ta nhìn nhận, đánh giá vấn đề
một cách toàn diện hơn, phải đặt sự vật, hiện tượng trong từng mối quan hệ để
xét bản chất của nó, không nên lấy hiện tượng ở mối quan hệ này suy ra bản
chất của hiện tượng trong mối quan hệ khác, hay nói khác quan hệ hàng hoá


17


tiền tệ trong thời kỳ quá độ lên CNXH chịu sự quản lý của nhà nước XHCN.
Quan hệ hàng hoá tiền tệ dưới CNTB chịu sự tác động của nhà nước tư sản.
Đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12- 1986) với cơ sở lý
luận và thực tiễn đã chín muồi, Đại hội khẳng định sự tồn tại lâu dài của các
thành phần kinh tế, nhưng chỉ trong lĩnh vực sản xuất, còn trong lĩnh vực lưu
thông vẫn chủ trương xoá bỏ thương nghiệp tư bản tư nhân [15, tr.60-61].
Nghị quyết Trung ương 6 khoá VI tiếp tục khẳng định đường lối đổi
mới của Đại hội toàn quốc lần thứ VI và bổ sung cụ thể hoá một bước quan
trọng:
+ Khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến
lược lâu dài, có tính qui luật từ sản xuất nhỏ lên CNXH và thể hiện dân chủ
hoá về kinh tế, bảo đảm cho mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật.
+ Những ngành nghề, loại nào mà hợp tác xã, kinh tế gia đình, KTTN có
thể làm tốt, có lợi cho nền kinh tế thì tạo điều kiện cho loại kinh tế ấy phát triển.
Đại hội Đảng toàn quốc khoá VII tiếp tục khẳng định: “Đổi mới toàn
diện, đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bước đi vững chắc,
lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm” đồng thời còn nhấn mạnh “Thực hiện nhất
quán chính sách kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt đối xử, không tước
đoạt tài sản hợp pháp, không gò ép tập thể hoá, không áp đặt hình thức kinh
tế, khuyến khích các hoạt động có lợi cho quốc kế dân sinh” [17, tr.18].
Đường lối của Đại hội toàn quốc lần thứ VII một mặt tạo điều kiện cho
các thành phần kinh tế phát triển và bảo vệ lợi ích chính đáng của họ. Mặt
khác, Đại hội cũng đặt ra nhiệm vụ quản lý của nhà nước với nền kinh tế
nhiều thành phần.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định “Tiếp tục thực hiện
nhất quán, lâu dài chính sách kinh tế nhiều thành phần, khuyến khích mọi cá
nhân trong và ngoài nước khai thác tiềm năng, ra sức đầu tư phát triển, yên

tâm làm ăn lâu dài, hợp pháp, có lợi cho quốc kế dân sinh, đối xử bình đẳng
với mọi thành phần kinh tế trước pháp luật không phân biệt sở hữu và hình

18


thức tổ chức kinh doanh”, Đại hội còn đề cập "phát triển rộng rãi các hình
thức kinh tế tư bản nhà nước” “giúp đỡ kinh tế cá thể tiểu chủ và giải quyết
các khó khăn về vốn, về khoa học công nghệ, về thị trường tiêu thụ” “Khuyến
khích tư bản tư nhân đầu tư vào sản xuất, yên tâm làm ăn lâu dài, bảo hộ quyền
sở hữu và lợi ích hợp pháp, tạo điều kiện thuận lợi đi đôi với tăng cường quản
lý, hướng dẫn làm ăn đúng pháp luật, có lợi cho quốc kế dân sinh” [18, tr.2526].
Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX: có sự điều chỉnh so với Đại
hội VIII, Đại hội xác định nước ta hiện có 6 thành phần kinh tế và xem các
thành phần kinh tế “đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN”, xem kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư
nhân có vị trí quan trọng lâu dài, Nhà nước tạo mọi điều kiện cho các thành
phần kinh tế này phát triển. Đặc biệt Đại hội IX còn quan tâm tạo điều kiện
cho “kinh tế tư bản tư nhân phát triển trên những định hướng ưu tiên của Nhà
nước, kể cả đầu tư ra nước ngoài” [19, tr.98-99].
Có thể nói quá trình đổi mới cũng là quá trình nhận thức đầy đủ hơn về
KTTN trong nền kinh tế nhiều thành phần, là quá trình Đảng và Nhà nước
ngày càng hoàn thiện hơn tư duy về KTTN. Những quan điểm không chỉ thể
hiện trong đường lối, chủ trương chung mà còn được thể chế thành các luật
như: Luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty (1990), luật doanh nghiệp
(2000) và một số các luật khác nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
các chủ thể tham gia kinh tế như: Luật chống độc quyền, luật cạnh tranh, luật
sở hữu trí tuệ v.v... Ngoài ra còn ban hành một số văn bản dưới luật như NĐ
66/HĐBT (1992) điều chỉnh đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ
không phải đăng ký kinh doanh dưới dạng doanh nghiệp.

1.1.4. Các loại hình kinh tế tư nhân
KTTN được hình thành trên cơ sở sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất.
Sở hữu tư nhân được biểu hiện dưới hình thức khác nhau, đan xen lẫn nhau
làm cơ sở cho việc hình thành nhiều loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh tư

19


nhân khác nhau. Căn cứ vào khái niệm KTTN ở tiết 1.1.1 đến nay ở nước ta
có các loại tổ chức kinh doanh tư nhân khác nhau như sau:
- Kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế hộ: Đây là những hộ kinh doanh nhỏ
bao gồm những cá nhân kinh doanh và nhóm kinh doanh thuộc phạm vi điều
chỉnh của Nghị định 66/HĐBT ra ngày 2/3/1992 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính Phủ), các hộ chuyên sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp có tính
chất tự sản tự tiêu, các hộ buôn bán nhỏ. Loại này chủ yếu sử dụng lao động
gia đình trong sản xuất kinh doanh, vì quy mô nhỏ không cần nhiều lao động,
vốn ít, không đòi hỏi công nghệ phức tạp.
Ngoài ra, một số hộ sản xuất kinh doanh ở quy mô lớn, như trang trại,
nuôi trồng thuỷ sản, chăn nuôi, có thể thuê mướn lao động nhưng chỉ tạm
thời, có tính thời vụ cũng thuộc kinh tế cá thể. Kinh tế cá thể là loại hình tổ
chức đơn giản nhất, đăng ký kinh doanh cũng đơn giản.
- Doanh nghiệp tư nhân: là đơn vị kinh doanh do một cá nhân làm chủ và
tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp, kể cả trường hợp thuê người khác quản lý điều hành doanh nghiệp.
Theo qui định của pháp luật hiện hành, người muốn thành lập doanh
nghiệp tư nhân phải có một số vốn nhất định, vốn này không được thấp hơn
vốn pháp định tức là số vốn tối thiểu phải có để thành lập một doanh nghiệp
mà pháp luật đã định cho từng ngành nghề kinh doanh.
- Đối với các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
cũng thuộc loại hình doanh nghiệp tư nhân. Do vậy bên cạnh đặc điểm của

một doanh nghiệp tư nhân thì còn có những đặc điểm riêng.
- Loại hình công ty tư nhân bao gồm:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn gồm có: công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên. Công ty
trách nhiệm hữu hạn là doanh nghiệp trong đó các thành viên là tư nhân cùng
góp vốn vào thành lập công ty để thực hiện việc kinh doanh, cùng chia lợi
nhuận, cùng chịu lỗ theo tỉ lệ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách

20


nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình
vào công ty.
+ Công ty cổ phần: là doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành các
phần bằng nhau, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các
nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn của mình góp
vào công ty.
+ Công ty hợp danh là loại doanh nghiệp có hai loại thành viên: thành
viên hợp danh và thành viên góp vốn. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách
nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty,
thành viên hợp danh phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về
các nghĩa vụ của công ty.
- Loại hình công ty hợp doanh giữa Nhà nước và tư nhân. Đối với hình
thức này, luật doanh nghiệp nhà nước được Quốc hội ban hành năm 1995 và
sửa đổi năm 2003 đã quy định rõ: Xí nghiệp hợp doanh chỉ được xếp vào khu
vực KTNN khi Nhà nước nắm tỷ trọng vốn góp lớn nhất và do đó giữ quyền
tổ chức chỉ đạo hoạt động kinh doanh của các công ty xí nghiệp đó. Nếu
không thì được xếp vào khu vực KTTN.
- Đối với loại hình công ty, xí nghiệp liên doanh với nước ngoài cũng là
một loại hình doanh nghiệp được hình thành bởi sự góp vốn của một bên là

các doanh nhân nước ngoài và một bên là các đối tác trong nước, loại hình
doanh nghiệp này cũng thuộc loại hình KTTN với tỷ trọng vốn góp của tư
nhân lớn hơn tỷ trọng vốn góp của Nhà nước.
Sơ đồ các hình thức tổ chức sản xuất - kinh doanh KTTN ở nước ta
Kinh tế cá
thể tiểu chủ

Công ty

Công ty TNHH

1 thành viên

Công ty hợp danh

Doanh nghiệp tư
nhân trong nước

Công ty cổ phần

2 thành viên

21
Một số công ty XN hợp danh
Nhà nước và tư nhân

Một số công ty XN liên
doanh với nước ngoài



1.2. Vai trò của kinh tế tƣ nhân đối với sự phát triển kinh tế - Xã
hội trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
Khi cả nước thực hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, tỉnh Sóc
Trăng cũng nằm trong quỹ đạo chuyển đổi ấy. Ngay từ những ngày đầu của
sự chuyển đổi, khu KTTN còn non trẻ, nhưng phát triển rộng khắp trên tất cả
các lĩnh vực: nông - công - thương mại, dịch vụ. Sau một thời gian phát triển
KTTN đã khẳng định được vai trò to lớn của mình trong nền kinh tế thể hiện
trên nhiều mặt:
Thứ nhất: khai thác và tận dụng có hiệu quả tiềm năng về vốn, các
nguồn nguyên liệu vật tư có sẵn tại địa phương, kể cả các loại phế liệu trong
sản xuất cũng như máy móc thiết bị. KTTN bao gồm các cơ sở sản xuất, kinh
doanh được hình thành và phát triển dựa trên vốn của các cá nhân. Các nhà
kinh doanh tự bỏ vốn đầu tư, tự mình xây dựng doanh nghiệp, tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình. Do vậy chủ các cơ sở sản
xuất kinh doanh tư nhân luôn có ý thức tích lũy và mở rộng sản xuất, làm cho
khu vực tư nhân càng phát triển, thu hút được các nguồn vốn trong xã hội và
sử dụng có hiệu quả nguyên liệu sẵn có, tận dụng được nguyên vật liệu phụ.
Kinh tế tư nhân với sự phát triển của hình thức kinh doanh một chủ
trong điều kiện cạnh tranh, có vai trò là cơ sở để hình thành các hình thức
kinh doanh chung như phát triển các hợp tác xã, hình thành các công ty trách
nhiệm hữu hạn... Đó là con đường hợp quy luật để phát triển các hình thức sở
hữu tập thể, sở hữu nhà nước. Khi các cơ sở sản xuất có được nguồn vốn là
điều kiện tốt nhất cho khai thác tiềm năng. Kinh nghiệm các nước cho thấy,
để phát triển kinh tế đất nước, nếu chỉ trông chờ vào nguồn đầu tư của Nhà

22


×