CHUYÊN
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
1
CHUYÊN
2
CHUYÊN
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Đề tài:
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT
TẠI CÔNG TY TNHH MTV ĐÓNG TÀU HỒNG HÀ
3
CHUYÊN
Sinh viên thực hiện
:
Trần Thị Phượng Ngân
Lớp
:
KTLĐ_52B
Mã sinh viên
:
CQ522482
4
CHUYÊN
Khoa
:
Kinh tế và quản lý NNL
Giáo viên hướng dẫn
:
PGS.TS Vũ Thị Mai
Hà nội - 2014
5
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
LỜI CAM ĐOAN
Em, sinh viên Trần Thị Phượng Ngân, lớp KTLĐ_52B, khoa Kinh tế và quản
lý NNL, Đại học Kinh tế quốc dân, xin cam đoan chuyên đề tốt nghiệp là công trình
nghiên cứu của riêng em, các số liệu được trình bày trong chuyên đề là xác thực,
phù hợp với tình hình hoạt động kinh doanh và công tác quản lý đào tạo của Công
ty TNHHMTV đóng tàu Hồng Hà
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Trần Thị Phượng Ngân
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian nghiên cứu và học tập tại khoa Kinh tế và quản lý nguồn nhân
lưc - Đại học Kinh tế quốc dân, được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô
giáo, bạn bè đồng nghiệp, em đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp với đề tài “ Hoàn
thiện công tác đào tạo công nhân kỹ thuật của công ty TNHHMTV đóng tàu
Hồng Hà”
Hoàn thành chuyên đề này, cho phép em được bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy
cô giáo trong khoa Kinh tế và quản lý NNL, đặc biệt em xin được chân thành cảm
ơn PGS.TS Vũ Thị Mai đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình làm
chuyên đề này.
Xin chân thành cảm ơn Ông Nguyễn Văn Cường – Giám đốc công ty
TNHHMTV Đóng tàu Hồng Hà đã cho phép em thực tập tại đơn vị.
Xin cảm ơn các cô chú, anh chị phòng kinh doanh, phòng hành chính, phòng
kỹ thuật, phòng kế toán, phòng tổ chức lao động đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong
quá trình thực tập tại công ty.
Tuy nhiên nội dung được đề cập trong đề tài này chỉ là kết quả của quá trình
nghiên cứu bước đầu mang tính chủ quan cá nhân trong việc nhận xét và ý kiến
đóng góp. Do điều kiện thời gian và năng lực của bản thân chắc chắn đề tài của em
không tránh khỏi những khiếm khuyết, em rất mong nhận được những ý kiến đóng
góp của thầy cô giáo cũng như cô chú, anh chị làm việc ở công ty để đề tài của em
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
MỤC LỤC
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
DANH MỤC BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
PGS.TS Phó Giáo Sư – Tiến Sĩ
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
MTV Một thành viên
TC – LĐ Tổ chức – Lao động
CNKT Công nhân kỹ thuật
CN Công nhân
TT Trung tâm
PP Phương pháp
XD Xây dựng
VĐT Vốn đầu tư
KHCN Khoa học công nghệ
NSLĐ Năng suất lao động
NNL Nguồn nhân lực
DN Doanh nghiệp
TMCP Thương mại cổ phần
PGĐ Phó giám đốc
TB Trung bình
BQP
Bộ quốc phòng
KD
Kinh doanh
ĐT Đào tạo
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
BẢNG
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cần thiết của đề tài nghiên cứu.
Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, nguồn nhân lực và yếu tố tri thức con
người đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Do nhận thức được tầm quan trọng ấy nên
Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng đào tạo, bồi dưỡng nguồn lao động đáp ứng
yêu cầu, mục tiêu đề ra ở từng thời kì phát triển kinh tế xã hội của đất nước nhằm
đưa chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam tiến một bước tiến gần hơn với thế giới.
Đặc biệt, đối với mỗi doanh nghiệp, yếu tố nhân lực đóng vai trò quyết định,
đào tạo người lao động vì thế lại càng được chú trọng hơn và trở thành vấn đề đáng
quan tâm hàng đầu hiện nay. Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ tác động
mạnh mẽ đối với sự phát triển của mỗi doanh nghiệp, đặc biệt ở giai đoạn hiện nay,
khi khoa học công nghệ tiến bộ vượt bậc, kinh tế tri thức đang hình thành và phát
triển. Sứ mạng đào tạo nhân lực có chất lượng của doanh nghiệp, việc khai thác và
sử dụng các sản phẩm của đào tạo lao động ở Việt Nam hiện nay đang là đề tài đang
thu hút sự chú ý đặc biệt của toàn xã hội.
Công ty Hồng Hà tự hào là một trong những doanh nghiệp đóng tàu hàng đầu
của đất nước, hàng năm lượng tàu cung ứng cho xuất khẩu và phục vụ an ninh quốc
phòng là rất lớn. Vì thế, công ty rất chú trọng đào tạo chất lượng CNKT, những
người trực tiếp tham gia sản xuất và quyết định lớn đến chất lượng đầu ra của sản
phẩm. Tuy nhiên, đối với công tác đào tạo CNKT hiện nay của công ty vẫn tồn tại
nhiều bất cập, việc nâng cao chất lượng đào tạo CNKT hiện đang là một bài toán
khó. Do đặc thù tính chất chính trị, vì thế công ty còn mang nặng tính hành chính,
cơ cấu bao cấp, chưa thực sự năng động và chủ động trong công tác đào tạo nói
riêng cũng như thực trạng quản trị nhân lực trong công ty nói chung.
Nhận thức được tính bức thiết của vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo CNKT
của công ty Hồng Hà, tác giả đã lựa chọn đề tài : “Hoàn thiện công tác đào tạo
công nhân kỹ thuật tại công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà”, nhằm nghiên
cứu thực trạng kỹ năng, năng lực, kiến thức chuyên môn… của CNKT tại công ty
trước và sau đào tạo. Từ đó, đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào
tạo cho công ty Hồng Hà nói riêng cũng như các doanh nghiệp cùng ngành, cùng
quy mô nói chung, đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo CNKT cho toàn xã hội
Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu.
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
12
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Nghiên cứu về thực trạng công tác đào tạo công nhân kỹ thuật tại công ty
TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà; từ đó phân tích các tác động ảnh hưởng đến vấn
đề đào tạo CNKT và đề xuất một số các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện công
tác đào tạo CNKT tại công ty.
Phạm vi nghiên cứu
Đội ngũ công nhân kỹ thuật của công ty TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà
trong giai đoạn 2011 - 2013
Phương pháp nghiên cứu.
Bài nghiên cứu sử dụng các phương pháp:
Điều tra phỏng vấn : phỏng vấn qua bảng hỏi và qua điện thoại, gặp
gỡ trao đổi trực tiếp.
Phân tích tổng hợp.
Phương pháp thống kê, so sánh.
Phương pháp thu thập dữ liệu: Sử dụng nguồn số liệu của tổ chức.
Cấu trúc đề tài nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu gồm 3 phần chính:
Phần 1. Tổng quan nghiên cứu về đào tạo CNKT
Phần 2. Thực trạng công tác đào tạo CNKT tại công ty TNHH MTV đóng tàu
Hồng Hà
Phần 3. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác đào tạo CNKT tại công ty
TNHH MTV đóng tàu Hồng Hà
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
13
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
PHẦN I
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐÀO TẠO CÔNG NHÂN KỸ THUẬT
1.1 Tổng quan lý thuyết
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản:
Đào tạo
“Đào tạo nguồn nhân lực ( gọi tắt là đào tạo) là quá trình truyền đạt và lĩnh hội
những kiến thức và kỹ năng cần thiết để người được đào tạo có thể thực hiện được các
công việc, chuyên môn hoặc một nghề nào đó trong tương lai. Đào tạo gắn liền với quá
trình học tập và giảng dạy. Nếu quá trình đào tạo không có giảng dạy thì gọi đó là quá
trình tự đào tạo do người học tự học tập nâng cao trình độ của mình thông qua các tài
liệu sách báo và thực tế hoạt động” ( PGS.TS Trần Xuân Cầu, Giáo trình Kinh tế
Nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2012, trang 91).
Công nhân kỹ thuật
“ Công nhân kỹ thuật là người được đào tạo và cấp bằng (đối với những người
tốt nghiệp các chương trình dạy nghề dài hạn từ 1 đến 3 năm) hoặc chứng chỉ (đối
với những người tốt nghiệp các chương trình dạy nghề ngắn hạn dưới 1 năm) của
bậc giáo dục nghề nghiệp trong hệ thống giáo dục để có năng lực thực hành - thực
hiện các công việc phức tạp do sản xuất yêu cầu ” ( PGS.TS Trần Xuân Cầu, Giáo
trình Kinh tế Nguồn nhân lực, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2012,
trang 103).
Đào tạo công nhân kỹ thuật
Đào tạo công nhân kỹ thuật là các hoạt động của quá trình học tập nhằm
truyền tải thông tin từ người dạy sang học viên là công nhân kỹ thuật. Kết quả là
giúp cho công nhân kỹ thuật nắm vững được về công việc, nâng cao trình độ, kỹ
năng, thái độ để thực hiện chức năng, nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn.
Đào tạo CNKT được thực hiện bởi mạng lưới dạy nghề. Mạng lưới đào tạo
nghề bao gồm các trường dạy nghề thuộc các Bộ, ngành, địa phương, kể cả các
trường trung học chuyên nghiệp và cao đẳng kỹ thuật có chức năng và nhiệm vụ
dạy nghề; các trung tâm dạy nghề; các lớp dạy nghề. Cũng như các cơ sở dạy nghề
tại doanh nghiệp, ngoài công lập, các cơ sở có VĐT nước ngoài và các chương trình
dạy nghề trong các TT giáo dục cộng đồng. Do đặc điểm đào tạo, để đào tạo nguồn
nhân lực cho mình các tổ chức phải xây dựng được kế hoạch đào tạo. Trong kế
hoạch đào tạo CNKT phải thể hiện được dự toán về phát triển KHCN, xu hướng
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
14
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
phát triển các ngành nghề, nhu cầu của cá nhân và của doanh nghiệp, của ngành…
đảm bảo sự cân đối giữa nhu cầu và khả năng đào tạo, giữa yêu cầu về số lượng,
chất lượng CNKT với thời gian đào tạo, sử dụng và các hình thức đào tạo.
1.1.2 Công tác đào tạo công nhân kỹ thuật trong doanh nghiệp
Xác định nhu cầu đào tạo
Xác định nhu cầu đào tạo là việc xác định khi nào, ở bộ phận nào cần phải
đào tạo, đào tạo kỹ năng nào, cho loại lao động nào và bao nhiêu người.
Việc xác định nhu cầu đào tạo thì lại được xác định dựa trên vấn đề phân tích
nhu cầu lao động của doanh nghiệp, yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần thiết cho
việc thực hiện các công việc và dựa vào việc phân tích trình độ, kiến thức, kỹ năng
hiện có của người lao động. Từ đó xác định được nhu cầu đào tạo cụ thể phù hợp
với tình hình của doanh nghiệp.
Xác định mục tiêu đào tạo
Xác định mục tiêu đào tạo là xác định kết quả cần đạt được của nội dung
chương trình đào tạo. Gồm có: những kỹ năng cụ thể cần được đào tạo và trình độ
kỹ năng có được sau đào tạo, số lượng và cơ cấu học viên, thời gian đào tạo.
Việc xác định chính xác mục tiêu đào tạo giúp cho công tác đào tạo có được
hướng đi đúng đắn và khoa học, không gây lãng phí các nguồn lực của doanh nghiệp.
Lựa chọn đối tượng đào tạo
Lựa chọn đối tượng đào tạo là việc lựa chọn người cụ thể để đào tạo dựa trên
việc nghiên cứu, xác định nhu cầu và động cơ đào tạo của người lao động, cũng như
tác dụng của đào tạo đối với người lao động và khả năng nghề nghiệp của từng
người. Lựa chọn đối tượng đào tạo sao cho đúng và hợp lý là một yêu cầu cần thiết
của công tác đào tạo nhằm thực hiện đúng mục tiêu đào tạo.
Xây dựng chương trình đào tạo
Xây dựng chương trình đào tạo và lựa chọn phương pháp đào tạo là xây dựng
hệ thống các môn học, bài học với nội dung và thời gian cụ thể để từ đó lựa chọn
phương pháp đào tạo sao cho phù hợp nhất đối với nội dung chương trình đào tạo.
Việc xây dựng chương trình đào tạo dựa trên kết quả của việc xác định nhu cầu đào
tạo, còn việc lựa chọn phương pháp đào tạo phụ thuộc vào tình hình hiện tại của DN
cũng như mức độ cần thiết, yêu cầu đào tạo và mục tiêu đào tạo.
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
15
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Các hình thức đào tạo
Kèm cặp trong sản xuất: Kèm cặp trong sản xuất là PP đào tạo trực tiếp tại nơi
làm việc, trong đó người học (CN học nghề) sẽ học được những kỹ năng cần thiết
cho công việc thông qua thực tế thực hiện công việc dưới sự hướng dẫn của những
công nhân lành nghề hơn (người hướng dẫn). Kèm cặp có thể theo nhóm hoặc kèm
cặp từng cá nhân. Thời gian đào tạo ngắn, thường chỉ 1 đến 3 tháng, thậm chí dưới
1 tháng. Đối với hình thức này thì chương trình đào tạo được tiến hành tại nơi làm
việc, bắt đầu bằng việc học lý thuyết (nghe và quan sát người hướng dẫn tại nơi làm
việc) sau đó học viên được thực hành theo hướng dẫn của công nhân lành nghề.
Người học nghề làm thử dưới sự kèm cặp và giám sát của người hướng dẫn cho tới
khi thành thạo tất cả các kỹ năng của nghề thì người học nghề sẽ tự mình tiến hành
công việc.
Các lớp cạnh doanh nghiệp: Hình thức này dành cho những nghề tương đối
phức tạp, các công việc có tính đặc thù thì các doanh nghiệp lớn tự tổ chức hoặc
phối hợp với các doanh nghiệp khác có tính chất sản xuất tương đối giống nhau
(cùng một loại ngành nghề) và có vị trí địa lý tương đối gần nhau để tổ chức các lớp
đào tạo với các phương tiện và thiết bị dành riêng cho học tập. Thời gian đào tạo
thường kéo dài từ 9 đến 12 tháng. Theo PP này quá trình đào tạo gồm hai giai đoạn:
giai đoạn học lý thuyết (học tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật trực tiếp giảng
dạy) và giai đoạn thực hành (được tiến hành ở xưởng thực tập hoặc các doanh
nghiệp có nghề liên quan do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn)
Các trường dạy nghề: Quá trình đào tạo được chia làm 2 giai đoạn: học lý
thuyết (học cơ bản và học chuyên môn) và giai đoạn thực hành. Hai giai đoạn kết
hợp chặt chẽ, đan xen trong quá trình học tập. Hình thức này dành cho người học
nghề được học tập một cách có hệ thống từ đơn giản tới phức tạp, từ lý thuyết tới
thực hành, tạo điều kiện tiếp thu kiến thức nhanh chóng và dễ dàng, mặt khác, kiến
thức được truyền tải tương đối toàn diện nên giúp CN khi ra trường có đầy đủ kỹ
năng để tự giải quyết công việc, đảm nhận các công việc tương đối phức tạp đòi hỏi
trình độ lành nghề cao.
Dự tính chi phí đào tạo
Dự tính chi phí đào tạo là việc dự toán các loại chi phí cần thiết cho việc đào
tạo như chi phí cho việc học, cho việc giảng dạy, chi phí cho các tài liệu Việc dự
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
16
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
tính chi phí đào tạo cũng là một trong những thước đo để sau này xác định hiệu quả
đào tạo và đánh giá chương trình đào tạo.
Xây dựng cơ sở vật chất cho đào tạo
Cơ sở đào tạo công nhân kỹ thuật là các trường nghề, trung tâm dạy nghề; các
lớp, xí nghiệp, phân xưởng của các doanh nghiệp. Chất lượng đào tạo của học viên
cũng bị ảnh hưởng bởi chất lượng cơ sở vật chất. Trang thiết bị cơ sở vật chất và
phương tiện giảng dạy được trang bị đầy đủsẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác
giảng dạy và học tập, góp phần nâng cao được hiệu quả đào tạo. Vì vậy tùy thuộc
vào mục tiêu đào tạo cụ thể mà tổ chức sẽ lựa chọn cơ sở đào tạo cho phù hợp với
kế hoạch và nguồn kinh phí
Lựa chọn và đào tạo giáo viên
Việc lựa chọn giáo viên cho đào tạo có thể xác định từ những người trong biên
chế của doanh nghiệp hoặc thuê ngoài. Giáo viên được chọn sẽ được tập huấn để
nắm vững mục tiêu và cơ cấu của nội dung chương trình đào tạo chung, từ đó có thể
có được cách giảng dạy hợp lý, đáp ứng đúng yêu cầu của nội dung chương trình
đào tạo, và hoàn thành mục tiêu đào tạo.
Đánh giá chương trình và kết quả đào tạo
Đánh giá chương trình đào tạo dựa trên các tiêu thức như: mục tiêu đào tạo có
đạt được hay không, những điểm yếu mạnh của chương trình đào tạo và đặc tính
hiệu quả kinh tế của việc đào tạo thông qua đánh giá chi phí và kết quả của chương
trình, từ đó so sánh chi phí và lợi ích của nội dung chương trình đào tạo.
Kết quả của công tác đào tạo căn cứ vào việc đánh giá và so sánh kết quả nhận
thức, trình độ, kỹ năng, thái độ và hành vi của học viên trước và sau khi đào tạo.
Đánh giá khả năng vận dụng kiến thức và kỹ năng lĩnh hội được của học viên từ
chương trình đào tạo, và đánh giá kết quả thực hiện công việc thông qua NSLĐ,
mức độ hoàn thành công việc.
1.2 Tổng quan nghiên cứu:
1.2.1 Đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển công nhân
kĩ thuật tại Tổng công ty Cổ phần Dệt May Hà Nội – Hanosimex”
Đề tài đã đi sâu phân tích được tầm quan trọng của công tác đào tạo và phát
triển công nhân kĩ thuật đến công tác Quản trị nhân lực. Đồng thời cũng đánh giá
thực trạng Quản trị nguồn nhân lực tại Tổng công ty Dệt May Hà Nội – Hanosimex.
Từ đó hoàn thiện công tác đào tạo và phát triển công nhân kĩ thuật tại Tổng công ty
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
17
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Cổ phần Dệt May Hà Nội – Hanosimex. Ngoài ra còn đưa được ra một số hướng
thiết kế và phân tích công tác đào tạo và phát triển công nhân kĩ thuật tại Tổng công
ty Cổ phần Dệt May Hà Nội – Hanosimex.
Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài đã làm rõ được thực trạng đào tạo CNKT
tại Tổng công ty Hanosimex. Đối với công tác đào tạo CNKT, Tổng công ty đã
thực hiện khá tốt, từ khâu xác định nhu cầu đào tạo đến việc đánh giá thực hiện đào
tạo, từng bước đi đúng tiến độ đào tạo, đảm bảo bố trí công việc sau đào tạo hợp lý.
Cách thức đào tạo tại các trường dạy nghề là lý thuyết kết hợp thực hành, do đó
phần lớn người lao động đều cho rằng hình thức đào tạo này giúp tay nghề của họ
được nâng cao hơn và kỹ năng đào tạo được áp dụng ngay vào thực tế công việc.
Nội dung chương trình đào tạo được xây dựng phù hợp với tiêu chuẩn đánh giá
công việc tại Tổng công ty, kế hoạch nâng cao tay nghề của CNKT được thực hiện
rõ ràng. Ngoài ra, chế độ đãi ngộ của Hanosimex được đánh giá là khá tốt nhằm giữ
chân và thu hút người lao động, có thể kể đến như việc trang trải các chi phí học tập
và cung cấp tài liệu học tập cho CN khi thực hành tại xưởng sản xuất, hỗ trợ một
phần kinh phí và phụ cấp đối với những CN được Tổng công ty cử đi học (những
CN mới sẽ không được hưởng ưu đãi này), sắp xếp và bố trí công việc phù hợp với
kiến thức và kỹ năng của CN sau đào tạo; xem xét và đề bạt thăng chức, tăng lương
đối với những CN có thành tích tốt.
Qua đó, có thể thấy rằng đối với một công ty có quy mô lớn như Hanosimex,
công tác đào tạo CNKT rất được chú trọng. Tổng công ty đã thực hiện tốt khâu xác
định nhu cầu đào tạo, mục tiêu đào tạo và đối tượng đào tạo; xây dựng chương trình
đào tạo với nội dung hợp lý đảm bảo tiến độ đào tạo (thời gian thực hiện khóa đào
tạo nghề 2 chậm so với quyết định mở lớp) đặc biệt là các khóa đào tạo nghề sợi,
may, may mới, dệt, cũng như lựa chọn PP đào tạo dễ hiểu và phù hợp với số đông
người lao động của tổng công ty. Đối với việc dự tính kinh phí đào tạo cũng có thể
coi là khá hợp lý, tuy vẫn còn một số lớp đào tạo tại đơn vị yêu cầu chỉ 1 – 2 người/
lớp gây lãng phí. Về vấn đề xây dựng cơ sở vật chất cho đào tạo cũng đã được quan
tâm, Tổng công ty cũng đã trang bị tài liệu học tập cho CN tại các phân xưởng, tuy
nhiên các thiết bị đã khá lạc hậu, cụ thể một số loại máy như máy cắt, máy xén…
chưa đáp ứng được yêu cầu về chất lượng kỹ thuật. Các giáo viên kiêm chức, giáo
viên kèm cặp, hướng dẫn công nhân có trình độ chuyên môn tốt, có trách nhiệm với
công việc giảng dạy; nhưng vẫn còn tồn tại một số giáo viên chưa nhiệt tình với
công việc giảng dạy, kèm cặp, hướng dẫn công nhân. Giáo viên khi lên lớp chưa
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
18
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
soạn giáo án riêng mà dùng tài liệu kĩ thuật để lên lớp khiến cho việc giảng dạy
không sát thực tế và không tập trung. Việc đánh giá kết quả thực hiện được Tổng
công ty thực hiện chi tiết, rõ ràng, đầy đủ, cụ thể từng nội dung; việc đánh giá chính
xác sẽ dễ dàng hơn cho Hanosimex trong việc bố trí công việc sau đào tạo cho đúng
người, đúng vị trí, đồng thời cũng sát sao hơn trong công tác tổ chức thi nâng bậc và
đánh giá tay nghề của CN. Có thể thấy rằng, đối với nội dung đào tạo CNKT, Tổng
công ty dệt may Hà Nội - Hanosimex đã thực hiện từng khâu khá đầy đủ, trọng tâm,
tuy vẫn còn tồn tại một số thiếu sót nhỏ trong quá trình đào tạo, nhưng không gây
ảnh hưởng nhiều và đáp ứng được yêu cầu về chất lượng đào tạo của Tổng công ty.
1.2.2 Đề tài nghiên cứu“Hoàn thiện công tác đào tạo công nhân kỹ thuật tại
Tổng công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt nam”
Đề tài nhằm hệ thống hóa lý luận về công tác đào tạo và phát triển công nhân
kỹ thuật trong các tổ chức. Từ đó vận dụng các lý luận để phân tích làm rõ công tác
đào tạo công nhân kỹ thuật của Tổng công ty, tìm ra các biện pháp có tính khả thi để
đẩy mạnh công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển
ngành công nghiệp tầu thủy Việt nam trong công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước.
Thông qua kết quả nghiên cứu, đề tài đã đi sâu phân tích được thực trạng công
tác đào tạo CNKT tại Tổng công ty. Về khâu xác định nhu cầu đào tạo, việc xác
định nhu cầu đào tạo CNKT của các đơn vị được căn cứ vào kế hoạch sản xuất kinh
doanh, căn cứ vào giá trị sản lượng kế hoạch, tốc độ tăng trưởng để xác định số
lượng CNKT cần có, từ đó Tổng công ty sẽ tổ chức đào tạo tại các đơn vị của mình
hoặc liên kết đào tạo với các đơn vị khác ở trong và ngoài nước. Trong công nghiệp
tàu thủy các ngành nghề của công nhân kỹ thuật là rất đa dạng, mỗi công vịêc có
một đặc thù riêng và nó sẽ ảnh hưởng đến việc xác định nhu cầu đào tạo. Đối với
những công việc mà mức độ lao động trí óc không nhiều, cần sức khỏe là chính thì
Tổng công ty có thể kèm cặp công nhân ngay tại nơi làm việc, còn đối với những
công việc đòi hỏi trình độ cao cần sự sáng tạo thì công nhân có thể được gửi đi đào
tạo ở nước ngoài.Nhìn chung việc xác định nhu cầu đào tạo CNKT tại Tổng công ty
đã được thực hiện khá tốt nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế tồn tại. Việc
xác định nhu cầu chưa thực sự khoa học và cụ thể, căn cứ được dùng để xác định
nhu cầu chỉ mang tính chất ước lượng nên các kết quả để xác định không sát với
thực tế nhu cầu công việc, ngoài ra yếu tố chủ quan còn đặt nặng khi xác định và
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
19
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
đánh giá khả năng, kỹ năng, trình độ của người lao động, điều đó gây nên tính thiếu
chính xác trong khâu xác định nhu cầu đào tạo của Tổng công ty. Bên cạnh đó, do
việc xác định nhu cầu đào tạo chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục nên dễ
gặp phải tình trạng bị động về số lượng và cả chất lượng của NNL trong Tổng công
ty, dẫn đến việc phải tuyển dụng cả những lao động không có kỹ năng chuyên môn
đáp ứng được yêu cầu công việc, trong khi không tập trung đào tạo nâng cao trình
độ cho những lao động sẵn có tại Tổng công ty.
Đối với mục tiêu đào tạo, Tổng công ty đặt ra những mục tiêu rất cụ thể, hợp
lý và thực tế, theo sát được phương hướng phát triển của công ty cũng như kế hoạch
sản xuất kinh doanh trong giai đoạn sắp tới, làm tiền đề để bố trí công việc phù hợp
cho lao động sau đào tạo, đồng thời Tổng công ty cũng xác định rõ được tiến trình
đào tạo nhằm đảm bảo hoạt động đào tạo diễn ra nhịp nhàng và chuẩn xác. Có thể
thấy rằng, Tổng công ty đã thực hiện khá tốt nội dung này.
Về việc xác định đối tượng đào tạo, căn cứ vào mục tiêu đào tạo phục vụ cho
kế hoạch sản xuất kinh doanh mà Tổng công ty lựa chọn đối tượng đào tạo cho phù
hợp. Đối với những lao động mới tuyển vào công ty thì sẽ được đào tạo bài bản và
có hệ thống, sau đó sẽ nâng cao tay nghề trình độ để đáp ứng được yêu cầu công
việc. Với những lao động đã làm việc tại Tổng công ty, thì Tổng công ty sẽ xem xét
đào tạo nâng bậc tay nghề hoặc cử đi tu nghiệp ở nước ngoài đối với những lao
động có khả năng phát triển thành đội ngũ CNKT nòng cốt và giữ vai trò chủ chốt
tại Tổng công ty. Ngoải ra, còn một bộ phận CNKT được tuyển để đáp ứng nhu cầu
nhân lực thiếu hụt, đây là những lao động không có kỹ năng, trình độ, kiến thức
chuyên ngành, do đó sẽ được đào tạo theo hình thức kèm cặp trong công việc, tuy
nhiên do thiếu khả năng chuyên sâu nên bộ phận này sẽ khó phát triển cao hơn.
Nhìn chung, việc xác định đối tượng đào tạo được Tổng công ty thực hiện khách
quan và bài bản, đem lại hiệu quả cao, tạo ra lực lượng CNKT tay nghề cao, chuyên
môn hóa, nâng cao NSLĐ và chất lượng công việc. Tuy nhiên, Tổng công ty cũng
cần chú trọng đến vấn đề đào tạo trọng tâm, chính xác, đúng người đúng việc,
không nên đào tạo tràn lan gây lãng phí kinh phí và lãng phí NNL.
Về nội dung xây dựng chương trình đào tạo và lựa chọn PP đào tạo, Tổng
công ty đã xây dựng chương trình đào tạo cụ thể với nội dung dễ hiểu, phù hợp, nội
dung chi tiết cho từng ngành nghề, lĩnh vực. Tổng công ty lựa chọn PP đào tạo chủ
yếu là kèm cặp chỉ bảo tại nơi sản xuất và đào tạo tại các trường dạy nghề trực
thuộc Tổng công ty, hoặc liên kết đào tạo trong nước và quốc tế. Trong thời gian
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
20
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
đào tạo, xen kẽ kết hợp lý thuyết và thực hành, đối với từng công việc cụ thể, điều
chỉnh tỷ lệ thời gian hợp lý. Tổng công ty cũng xác định thời gian đào tạo nhằm
đảm bảo được tiến độ cho quy trình đào tạo. Có thể thấy, trong khâu này, Tổng công
ty đã thực hiện tốt đem lại hiệu quả cao cho công việc, tuy vẫn còn tồn tại một số
hạn chế có thể kể đến như: Nội dung đào tạo tại một số lĩnh vực chưa được chuyên
sâu, chưa thể hiện được tính chất đặc thù của ngành công nghiệp tàu thủy, nhiều khi
nội dung học còn dàn trải, không có trọng tâm và không sát với thực tế công việc,
việc biên soạn các giáo trình tài liệu giảng dạy còn một số khó khăn và chưa hiệu
quả, PP giảng dạy nhiều khi không thích hợp, không gây hứng thú cho người học.
Kinh phí cho đào tạo của Tổng công ty được hình thành từ nhiều nguồn cung
ứng, khối lượng chi cho đào tạo khá lớn, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu về
chất lượng và số lượng NNL. Điều này có thể lý giải là do nguồn vốn đầu tư của
công ty dàn trải, khả năng khai thác nguồn vốn còn thấp, quỹ hỗ trợ và đầu tư cho
đào tạo còn thiếu và không huy động kịp thời. Do đó, việc mở rộng đào tạo nhằm
đáp ứng đủ và kịp thời yêu cầu về CNKT là khá khó khăn.
Tổng công ty cũng đã chú trọng, quan tâm xây dựng CSVC cho đào tạo. Hiện
nay, Tổng công ty có bốn trường kỹ thuật lớn tập trung tại cả ba miền Bắc, Trung,
Nam. Ngoài các trường trực thuộc Tổng công ty, các đơn vị thành viên còn có các
trường dạy nghề riêng. Như vậy có thể thấy Tổng công ty có khá nhiều cơ sở đào
tạo nghề, được trang bị máy móc, phương tiện dạy học, tạo điều kiện cho học viên
được thực hành một cách có hiệu quả, tuy nhiên những trường đang hoạt động có
quy mô chưa đủ lớn, trang thiết bị còn khá lạc hậu chưa đáp ứng được yêu cầu đào
tạo các chuyên môn sâu, hiện đại; khu nghỉ ngơi, giải trí sinh hoạt còn hạn chế, số
lượng lớp đào tạo cũng như số lượng trang thiết chưa nhiều, chưa đáp ứng được yêu
cầu học tập. Hiện nay các trường đang cố gắng đầu tư, nâng cấp tăng năng lực đào
tạo, tuy nhiên khả năng cung ứng công nhân kỹ thuật vẫn bị thiếu hụt, mới chỉ đáp
ứng khoảng 70% nhu cầu hiện tại. Đây là một vấn đề khó khăn và nan giải, Tổng
công ty cần phải thường xuyên theo sát và quan tâm hơn.
Đội ngũ giảng viên giảng dạy tại các trường dạy nghề của Tổng công ty có thể
là cán bộ công nhân viên trong Tổng công ty và có thể là giảng viên thuê ngoài ở
các trường cao đẳng, đại học.Đa số cán bộ, giáo viên giảng dạy trong Tổng công ty
là người có tay nghề cao, có kinh nghiệm trong nghề nghiệp. Tuy vậy so với yêu
cầu hiện nay thì một số giáo viên giảng dạy vẫn còn chưa nhiệt tình và PP giảng dạy
mang nặng tính truyền thống, lý thuyết, dễ gây nhàm chán.
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
21
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
Việc đánh giá chương trình đào tạo có thể được thực hiện bằng nhiều cách, đối
với công nhân kỹ thuật các đơn vị trong Tổng công ty thường áp dụng hình thức
đánh giá thông qua các bài kiểm tra, bài thu hoạch, đồng thời kết hợp với một số
phương pháp như phỏng vấn, điều tra qua bảng hỏi, quan sát sự thay đổi hành vi,
hiệu quả làm việc của các đối tượng sau khi được đào tạo.
Nhìn chung, Tổng công ty đã thực hiện tốt nội dung đào tạo, từ khâu lựa chọn
nhu cầu đào tạo cho đến khâu đánh giá chương trình đào tạo. Đối với từng khâu,
Tổng công ty đều thực hiện một cách cẩn thận, tỉ mỉ, chọn lọc kỹ lưỡng nhằm đảm
bảo yêu cầu chất lượng đào tạo cao nhất. Tuy vẫn còn một số tồn tại hạn chế cần
chú trọng quan tâm nhưng có thể nói hoạt động đào tạo tại Tổng công ty đã diễn ra
nhịp nhàng và khá tốt.
1.2.3 Đề tài nghiên cứu “ Hoàn thiện công tác đào tạo công nhân kỹ thuật tại
công ty TNHH Điện Việt Nam Stanley ”
Đề tài nhằm mục đích: Hệ thống hóa lý luận về đào tạo lấy đó làm cơ sở phân
tích công tác đào tạo khối công nhân kỹ thuật tại công ty TNHH Điện Việt Nam
Stanley; Phân tích thực trạng công tác đào tạo công nhân kỹ thuật tại công ty từ năm
2008 đến 2011; Đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác đào tạo công nhân kỹ
thuật tại công ty TNHH Việt Nam Stanley.
Đối với việc nghiên cứu thực trạng công tác đào tạo CNKT tại công ty, đề tài
cũng xác định rõ từng khâu rất cụ thể, chi tiết của nội dung đào tạo. Về vấn đề xác định
nhu cầu đào tạo, công ty đã căn cứ vào kết quả thực hiện công việc của công nhân theo
đánh giá xếp loại A, B, C hàng tháng và dựa trên ý kiến đề xuất của trưởng các bộ phận
nên việc xác định nhu cầu đào tạo cho kết quả khá tốt, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn
chế. Thứ nhất là việc xác định nhu cầu đào tạo không căn cứ vào phân tích công việc,
do đó có thể xác định đối tượng đào tạo chưa thực sự chuẩn xác. Thứ hai là trong quá
trình xác định nhu cầu các trưởng phòng hay tổ trưởng cũng không tìm hiểu nguyên
nhân dẫn tới việc phải đào tạo lại công nhân để xác định liệu đào tạo có phải đào tạo là
giải pháp phù hợp mà chủ yếu là dựa vào ý kiến chủ quan của tổ trưởng, căn cứ vào
tiêu chuẩn sản phẩm nếu tổ trưởng thấy công nhân nào sản xuất ra nhiều sản phẩm
hỏng thì tiến hành lập danh sách cho đi đào tạo lại. Thứ ba là bộ phận chịu trách nhiệm
về công tác đào tạo chưa chủ động xác định nhu cầu đào tạo CNKT của công ty, chủ
yếu mới dừng lại ở việc tổng hợp và lập danh sách đào tạo từ các phòng ban thể hiện ở
chỗ từ trước tới nay chưa bao giờ thực hiện một chương trình khảo sát nhu cầu đào tạo
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
22
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
của CNKT. Và cuối cùng là chưa quan tâm đến ý kiến của công nhân trong việc xác
định nhu cầu đào tạo, điều này dễ dẫn đến việc lựa chọn sai đối tượng đào tạo ảnh
hưởng đến hiệu quả chương trình đào tạo, không có tác dụng nhiều trong nâng cao kiến
thức và hiệu suất của công việc bởi ý kiến của trưởng bộ phận và tổ trưởng có thể
không chính xác do việc quan sát không sát sao và liên tục, thiên vị trong quá trình
đánh giá. Như vậy có thể đánh giá rằng nguồn thông tin để xác định nhu cầu đào tạo
CNKT của công ty chủ yếu là dựa vào đề xuất của trưởng bộ phận là chưa thực sự cho
kết quả chính xác.
Đối với vấn đề lựa chọn mục tiêu đào tạo và đối tượng đào tạo, công ty đã
thực hiện chưa tốt, không theo từng bước cụ thể và chi tiết, chưa thực sự phù hợp
với kế hoạch sản xuất kinh doanh và chiến lược phát triển trong giai đoạn tới cũng
như những yêu cầu về chất lượng thực hiện công việc và trình độ, kỹ năng của CN
phải đạt được đối với từng loại hình công việc cụ thể. Việc lựa chọn đối tượng đào
tạo chỉ được lấy ý kiến từ tổ trưởng sản xuất, không tham khảo ý kiến trực tiếp của
CNKT, điều này gây nên tình trạng chưa hài lòng của CN đối với công tác lựa chọn
đối tượng đào tạo của công ty.
Về vấn đề xây dựng nội dung đào tạo và lựa chọn PP đào tạo, công ty đã chú
trọng xây dựng nội dung đào tạo phù hợp với công việc thực tiễn (theo ý kiến từ
phần lớn CN). Nội dung đào tạo được xây dựng theo nội dung tiêu chuẩn đối với
việc đào tạo lý thuyết, còn nội dung đào tạo chỉ bảo kèm cặp sẽ do giáo viên dựa
trên kinh nghiệm, kỹ năng thực tế đã có để xây dựng nội dung giảng dạy. Các học
viên trước khi được phân công công việc sẽ được đào tạo định hướng, đối với
những học viên có tiềm năng phát triển, công ty sẽ cử đi học thêm tiếng Nhật. Việc
lựa chọn phương pháp đào tạo thông thường theo ý kiến đề xuất của trưởng các bộ
phận. Hiện nay ở công ty thực hiện đào tạo CNKT thông qua kèm cặp hướng dẫn,
mở các lớp cạnh doanh nghiệp và đào tạo thông qua các trung tâm đào tạo nhưng
chủ yếu vẫn là hình thức kèm cặp, hướng dẫn và mở các lớp cạnh doanh nghiệp vì
những phương pháp này ít tốn kém chi phí đồng thời công nhân trong quá trình học
vẫn có thể thực hiện được công việc, không làm gián đoạn quá trình sản xuất. Nhìn
chung, công ty thực hiện khâu đào tạo này khá tốt và hiệu quả, hầu hết CN đều nắm
bắt được công việc và đánh giá cao chất lượng nội dung đào tạo.
Về vấn đề lựa chọn giáo viên đào tạo, công ty lựa chọn những kỹ sư lành
nghề, công nhân có kinh nghiệm hoặc các giáo viên có kinh nghiệm, trình độ
chuyên môn và kỹ năng thực hành cao. Tuy nhiên công ty không có văn bản nào
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
23
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
quy định tiêu chuẩn lựa chọn giáo viên mà chủ yếu là do trưởng bộ phận lựa chọn,
tuy nhiên thông thường những người được chọn phải là những người có kinh
nghiệm làm việc trên 5 năm, trình độ trung cấp nghề trở lên, thường xuyên hoàn
thành nhiệm vụ và ý thức kỷ luật tốt. Điều này dẫn đến việc chủ quan trong đánh
giá tiêu chuẩn giáo viên và sai lầm trong việc lựa chọn giảng viên đủ trình độ.
Ngoài ra, theo đánh giá của CN thì một số giáo viên còn bị hạn chế về kỹ năng sư
phạm, thiếu sự nhiệt tình trong giảng dạy. Công ty nên xem xét để xây dựng chế độ
đãi ngộ hợp lý cho giáo viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Nội dung giảng dạy phù hợp với thực tiễn và tài liệu giảng dạy được chuẩn bị
rất tốt, cũng như cơ sở vật chất cho đào tạo được cung ứng sẵn sàng. Các thiết bị
thực tiễn được trang bị khá đầy đủ cho quá trình học tập của học viên. Có thể thấy
rằng, đối với việc xây dựng cơ sở vật chất cho quá trình đào tạo, công ty thực hiện
nghiêm túc và chỉn chu, cụ thể, sát sao.
Nguồn kinh phí đào tạo CNKT là do công ty trích từ doanh thu để chi cho hoạt
động đào tạo và hạch toán vào chi phí. Công ty không có quỹ cho hoạt động đào tạo
và không lên kế hoạch tính toán cụ thể chi phí đào tạo cho hằng năm. Tùy vào tình
hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà công ty tiến hành lập kế hoạch đào
tạo và việc tính toán chi phí đào tạo sẽ dựa trên bản kế hoạch đào tạo hằng năm của
công ty. Nhìn chung kinh phí đào tạo hằng năm cũng không có sự biến động nhiều
vì công ty chủ yếu là đào tạo nội bộ, ít tốn kém chi phí nên việc lập kinh phí đào tạo
cũng không quá khó khăn và phức tạp. Nhưng nó lại dẫn đến tình trạng thiếu chủ
động trong việc lên kế hoạch tính toán chi phí của công ty. Do đó, công ty nên tiến
hành lập quỹ đào tạo để cán bộ chuyên trách về đào tạo chủ động hơn trong chi tiêu
cho đào tạo.
Tại công ty hiện nay quá trình đánh giá hiệu quả đào tạo gần như không được
thực hiện. Kết quả đào tạo mang lại cho CNKT đi học: Thay đổi hành vi thực hiện
công việc, CNKT học được gì từ khoá đào tạo, chi phí hợp lý hay không, kết quả
công việc sau đào tạo có gì khác so với trước khi đào tạo chưa được xem xét,
đánh giá. Bộ phận phụ trách công tác đào tạo chỉ xem xét CNKT có đạt được các
văn bằng, chứng chỉ mang lại từ khoá đào tạo, còn đối với công việc của CNKT sau
khi đào tạo vẫn không thực hiện được thì có thể cho đi đào tạo tiếp hoặc thuyên
chuyển công việc khác. Để tăng thêm hiệu quả của chương trình đào tạo, công ty
cần chú ý đến vấn đề bố trí sử dụng sau đào tạo. Nhìn chung là việc bố trí công
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
24
Chuyên Đề Tốt Nghiệp ĐH Kinh Tế Quốc Dân
nhân sau đào tạo được công ty thực hiện khá hợp lý, bố trí đúng công việc và
chuyên môn được đào tạo.
Có thể thấy rằng, hoạt động đào tạo của công ty còn mang nặng tính chủ quan,
ít xem xét đến ý kiến và nhu cầu thực sự của CN trong việc thực hiện công tác đào
tạo. Tuy việc thực hiện đào tạo đã mang lại ít nhiều hiệu quả cho quá trình sản xuất
kinh doanh, và quy trình thực hiện nội dung đào tạo cũng theo từng bước, từng khâu
rất cụ thể, chi tiết nhưng vẫn còn tồn tại một số thiếu sót mà công ty cần phải chú
trọng khắc phục để có thể cải thiện và nâng cao chất lượng đào tạo.
1.3 Một số nhận xét và đánh giá
Từ các nghiên cứu trên có thể thấy được một số tồn tại trong công tác đào tạo
CNKT tại các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay. Đối với các doanh nghiệp có quy
mô lớn (Tổng công ty dệt may Hanosimex và Tổng công ty công nghiệp tàu thủy
Việt Nam), việc thực hiện nội dung đào tạo khá chi tiết, cụ thể, đầy đủ từ khâu xác
định nhu cầu đào tạo, mục tiêu đào tạo, đối tượng đào tạo, nội dung và PP đào tạo,
cơ sở vật chất cho đào tạo, đội ngũ giảng viên cũng như dự tính kinh phí đào tạo
đến khâu đánh giá hiệu quả chương trình đào tạo. Có xây dựng tiêu chuẩn và phân
tích công việc cũng như đánh giá được trình độ, kỹ năng, chất lượng NNL của công
ty để đề ra kế hoạch và có phương hướng thực hiện công tác đào tạo hợp lý, phù
hợp với tiến trình và chiến lược hát triển của công ty trong giai đoạn sắp tới. Tuy
nhiên, trong quá trình thực hiện đào tạo, vẫn còn tồn tại một số những thiếu sót và
hạn chế mà công ty cũng cần phải quan tâm sát sao nhằm nâng cao chất lượng đào
tạo một cách cao nhất. Một số tồn tại có thể kể đến như: do quy mô công ty nên số
lượng đào tạo cung ứng chưa đầy đủ; cần nâng cao và hoàn thiện cơ sở vật chất,
trang thiết bị cho công nhân; kinh phí dành cho đào tạo cần phải được bổ sung,…
Đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ ( công ty điện máy Stanley)
thì việc thực hiện hoạt động đào tạo đôi khi còn thiếu sót, tuy rằng công ty cũng đã
chú trọng và quan tâm, nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề hạn chế: không xây
dựng được quy chuẩn chung để đánh giá chính xác chất lượng NNL nhằm đưa ra
nội dung đào tạo phù hợp, bỏ qua mục tiêu đào tạo dựa trên nguyện vọng của CN,
kinh phí dành cho đào tạo chưa được hạch toán và lập kế hoạch chi tiết, đội ngũ
giảng viên giảng dậy chưa thực sự hiệu quả do quá chú trọng đào tạo nội bộ, chưa
đánh giá kết quả thực hiện chương trình đào tạo cũng như việc bố trí nhân lực sau
đào tạo hợp lý.
Trần Thị Phượng Ngân Lớp: KTLĐ 52B
25