Tải bản đầy đủ (.pdf) (114 trang)

Tự thuật trong tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh của Romain Gary

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.21 MB, 114 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN






LÊ THỊ THÀNH





TỰ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỜI HỨA
LÚC BÌNH MINH CỦA ROMAIN GARY


LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học nước ngoài




















Hà Nội - 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN







LÊ THỊ THÀNH






TỰ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT LỜI HỨA
LÚC BÌNH MINH CỦA ROMAIN GARY






Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Văn học nước ngoài
Mã số: 60 22 02 45





Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đào Duy Hiệp






Hà Nội-2013
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài. 1
2. Lịch sử vấn đề 1
3. Lí thuyết, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1. Về lí thuyết tự thuật / tự truyện (autobiographie) 3
3.2. Phân biệt tự thuật với một số thể loại gần với nó. 6
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5. Phương pháp nghiên cứu 8
6. Cấu trúc của luận văn 8

7. Đóng góp của luận văn 8
Chương 1. 10
Lịch sử của cái “tôi” nhà văn qua điểm nhìn tự thuật 10
1.1. Số phận cá nhân và chiến tranh 10
1.2. Sự hình thành bản lĩnh người lính 18
1.3. Sự hình thành con người nghệ sĩ 23
Chương 2. 34
Vai trò của Người mẹ trong lịch sử tâm hồn nhà văn 34
2.1. Tình mẫu tử thiêng liêng 34
2.2. Những cuộc tản cư qua các không gian 43
2.3. Lời thoại, những hồi ức về chiến tranh 49
Chương 3. 56
Nghệ thuật viết tự thuật với tư cách là một tiểu thuyết 56
3.1. Kết cấu trong tác phẩm 57
3.2. Các hình thái thời gian và mối liên hệ sự kiện, biến cố với văn bản trần thuật 63
3.3. Tổ chức kết cấu của tác phẩm. 71
3.4. Giọng điệu trong tác phẩm 83
KẾT LUẬN 99
THƯ MỤC THAM KHẢO 101






LỜI CẢM ƠN!

Tôi vô cùng cảm động và biết ơn những tình cảm chân thành, cũng như
sự chỉ bảo tận tình, dạy dỗ của các thầy cô trong Khoa cũng như thầy cô trực
tiếp giảng dạy tôi để tôi có thể hoàn thành bài luận văn này.

Tôi đặc biệt tỏ lòng biết ơn sâu sắc, chân thành nhất và lời chúc sức khỏe
tới PSG.TS Đào Duy Hiệp, người đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tôi hoàn
thành bài luận văn này.
Lời cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã
khích lệ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành khóa học
và bài luận văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, 27/11/2013


Lê Thị Thành








LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn
của PSG.TS Đào Duy Hiệp.
Các vấn đề triển khai trong luận văn này là trung thực, đảm bảo tính xác
thực. Các nguồn tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

Hà Nội, 27/11/2013
Kí tên




Lê Thị Thành












1


MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài.

Tác phẩm Lời hứa lúc bình minh (“La promesse de l‟aube”) của Romain
Gary là lịch sử đan xen với cuộc đời thực của tác giả, trong đó nổi lên hình
ảnh người mẹ của ông thật cảm động. Những cuộc tản cư của hai mẹ con ông
trong những năm chiến tranh, những lời động viên của mẹ về thiên hướng
nghệ thuật của đứa con trai thiên tài trong tương lai là những bài học về tình
mẫu tử muôn đời.
Cuốn tiểu thuyết còn cho độc giả chứng kiến sự trưởng thành của một
con người dũng cảm trong chiến tranh song song với hoạt động sáng tạo nghệ
thuật. Bên cạnh đó là chất thơ, sự hài hước, bi kịch và trên hết là sự bao dung,

tính nhân văn cao cả. Chiều sâu của tác phẩm còn gợi mở nhiều suy tư về sự
tồn tại, tình yêu thương, trách nhiệm công dân, sự phi lý của chiến tranh, tội
ác do chiến tranh gây ra
Mở đầu và kết thúc tác phẩm đều trên bãi biển như một cấu trúc quay
vòng của thơ về nỗi cô đơn, buồn bã của kiếp người. Lời hứa lúc bình minh đ-
ược xếp vào hàng những tác phẩm “cần phải đọc trước khi chết”. Tác phẩm
đã kết hợp uyển chuyển giữa sự kiện với chất văn, nhà văn dùng tự thuật như
là một phương thức để sáng tạo nên một tác phẩm nghệ thuật tinh tế, vô cùng
hấp dẫn, làm xúc động hàng triệu độc giả trên thế giới.

2. Lịch sử vấn đề
Romain Gary là một nhà văn lớn của Pháp, ông đã hai lần đoạt giải
Goncout với hai tác phẩm tiêu biểu Cội rễ và bầu trời (1956) và Cuộc sống
2

trớc mặt (1975). Ông được coi là một tác gia kinh điển trong làng văn thế
giới. Được nhiều giới phê bình quan tâm và đánh giá cao. Tuy nhiên đánh giá
về Romain Gary có nhiều ý kiến trái chiều :
+ Một số nhà phê bình thấy tác phẩm của ông ở khía cạnh ê chề, chán
chường, nhạt nhẽo.
+ Số khác thì đả kích ông vì thứ văn chương không thuần Pháp. Họ còn
tung tin đồn các tác phẩm của Romain Gary đều được Albert Camus chỉnh
sửa giúp.
+ Ngoài ra, Romain Gary còn dính vào vụ bê bối nhất trong lịch sử văn
học Pháp: ông dự thi giải Goncourt bằng tên Ajar, và ông đã đoạt giải.
- Năm 2009 xuất hiện một bài viết “Lời hứa” Nhị Linh trên báo (Tien
phong online). Tác giả cho rằng nhà văn Romain Gary là một trong những
nhà văn tuyệt vời nhất của thế kỷ XX.
- Năm 2009 Nguyễn Duy Bình dịch Lời hứa lúc bình minh (Nxb. Nhã
Nam). Sau đó ông có hai bài viết trên báo (Vietvan.vn) và báo (Tien phong

online).
- Năm 2010 có một tọa đàm về tác giả nhân dịp hai tác phẩm của ông
được dịch ra tiếng Việt, diễn ra vào 05/02 ở trung tâm văn hóa Pháp tại Hà
Nội.
- Hầu như ở Việt Nam chưa có một công trình nào nghiên cứu đầy đủ về
tác phẩm của ông. Chỉ có một số bài viết nhỏ, lẻ tẻ trên mạng vẫn còn mang
tính cảm nhận chung về nội dung và hình thức.
- Ở luận văn này tôi đi vào tìm hiểu cuộc đời và số phận của nhà văn và
đặc biệt nghiên cứu tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh ở phương diện hình
thức tự thuật là phương tiện để sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật thực sự.
3. Lí thuyết, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại, do thị hiếu của độc giả, do nhu cầu
3

đổi mới nghệ thuật viết các nhà văn đã đã không ngừng nỗ lực đổi mới cách
viết, trong đó có thể loại tự truyện, đặc biệt sự xuất hiện của tự thuật. Tiểu
thuyết tự thuật đã và đang trở thành một vấn đề được giới nghiên cứu, phê
bình và sáng tác quan tâm như một hiện tượng văn học từ cuối thế kỷ XX cho
đến nay. “Tự thuật có giá trị quy chiếu hay giá trị thẩm mỹ, là văn học hay
chứng nhân là thực tế hay trí tưởng tượng, là ký ức hay sáng tạo…” vấn đề
này được giới phê bình, nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau.
Trong cuốn Tự truyện ở Pháp, P.Lejeune đã phân biệt tự truyện với thể loại
kế cận nó như hồi ký, nhật ký, song sự phát triển của thể loại này đã đặt ra sự
nhập nhằng khó xử giữa tự thuật với các thể loại khác.
a. Về lí thuyết tự thuật / tự truyện (autobiographie)
Khái niệm “tự thuật” vẫn được dùng với ý nghĩa như là “tự truyện” được
dịch từ “autobiography” (E), “autobiographie” (F). Theo định nghĩa của Từ
điển văn học Pháp từ A đến Z (“La littérature française de A à Z”):
“autobiographie” là “thể loại văn học mà tác giả kể về chính cuộc đời mình”.
Đây là một thể loại hiện đại, được khai mở bắt đầu từ tác phẩm Tự thú của

Rousseau, được soạn thảo từ 1764 đến 1770, và được xuất bản sau khi ông
qua đời (1782-1789). Theo Philippe Lejeune một nhà lí thuyết pháp về thể
loại này đã định nghĩa “tự thuật” như một “ truyện kể hồi cố bằng văn xuôi
mà một con người có thật kể về cuộc đời riêng của mình, khi nó đặt điểm
nhấn lên cuộc đời cá nhân, đặc biệt điểm nhấn lên lịch sử hình thành nhân
cách cá nhân người tự thuật” [Dẫn theo 24.tr168]
Tự thuật trong tiểu thuyết là “những hư cấu dựa trên nền tiểu sử tác giả
trở thành chất liệu của tiểu thuyết người đọc có thể nghi ngờ sự đồng nhất
giữa tác giả và nhân vật, tác giả có thể khẳng định sự đồng nhất đó hoặc
không, có thể sử dụng điểm nhìn trần thuật ở ngôi thứ nhất hay ngôi khác”
[36, tr.20]. Có những mập mờ dễ dẫn đến hiểu lầm, đánh đồng giữa tự truyện
4

và tự thuật trong tiểu thuyết qua khái niệm “tự thuật” trên đây và khái niệm
“tự truyện” dưới đây:
Theo Từ điển văn học đã định nghĩa: “Tự truyện là một thể loại văn học
trong đó tác giả kể truyện cuộc đời mình, nhân vật chính trong tác phẩm chính
là tác giả”. Hoặc “Tự truyện là văn bản bám vào hiện thực, người viết truyện
kể lại như sống lại quá khứ qua tâm tưởng và kí ức, cảm tính hay ý thức” [32,
tr.13].
Lại Nguyên Ân trong 150 thuật ngữ văn học, mục “tự truyện” viết: “Tự
truyện là tác phẩm văn học tự sự, thường được viết bằng văn xuôi trong đó tác
giả kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình”. Ông cũng đề cập đến việc
“người viết tự truyện có khi cũng vận dụng hư cấu, “thêm thắt” hoặc “sắp xếp
lại” các chi tiết của cuộc đời mình, nhằm làm cho sự trình bày về cuộc đời ấy
trở nên hợp lí, nhất quán Tự truyện luôn là hành vi khắc phục cái thời gian
đã lùi xa, là mưu toan quay về tuổi thơ, tuổi trẻ, làm sống lại những đoạn đời
quan trọng nhất, nhiều kỉ niệm đẹp nhất, như là sống lại cuộc đời mình từ đầu.
Tự truyện, do vậy, thường được viết vào thời tác giả đã trưởng thành, đã trải
qua phần lớn các chặng đường đời”[2, tr.29].

Ngoài các Từ điển, ở ta, trong một số công trình như: Tiểu thuyết Pháp
những tìm tòi đổi mới, Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI của Phùng Văn
Tửu; Tự thuật và tiểu thuyết Pháp ở thế kỉ XX của Đặng Thị Hạnh; Tuổi thơ
của Nathalie Sarraute và sự đổi mới thể loại tự thuật của Lê Hồng Sâm; Alain
Robe-Grilet: sự thật và diễn giải của Nguyễn Thị Từ Huy đều ít nhiều đã bàn
đến vấn đề này. Phùng Văn Tửu trong cuốn Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ
XXI ông đã đã khẳng định tiểu thuyết cuối thế kỉ XX đang có sự biến đổi trên
nhiều bình diện, đặc biệt là tự truyện. Tác giả cho rằng đó là sự biến đổi giữa
tự truyện (autobiographique) và tiểu thuyết (roman) nói chung và tiểu thuyết
tự thuật (roman autobiographique) nói riêng.
5

Đặng Thị Hạnh cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa tự thuật và tiểu thuyết
và lí giải tại sao tự thuật lại cứ bị hút về tiểu thuyết, tiểu thuyết vốn khác hẳn
các thể loại khác ở chỗ nó không hề có quy tắc. Cái khiến cho tự thuật bị hút
về phía tiểu thuyết đó là bởi yếu tố tự truyện, như Lại Nguyên Ân nói: “Tự
truyện tương đối gần gũi với tiểu thuyết Yếu tố tự truyện là nét khá đậm
trong nhiều loại sáng tác của nhà văn thế kỉ XX, dù họ thuộc về những xu
hướng thẩm mĩ khác nhau” [2, tr.29]. Philippe Lejeune tác giả của Hiệp ước
tự thuật cũng cho rằng nếu ta coi tiểu thuyết tự thuật nằm ở ranh giới giữa tự
truyện (autobiography) và tiểu thuyết (novel) thì ranh giới đó khá mập mờ và
lỏng lẻo để tạo điều kiện cho nhà văn sáng tạo. Còn Bellemin thì cho rằng:
“Người ta có quyền tìm thấy niềm vui được đọc trong tự truyện một tiểu
thuyết thuộc loại đặc biệt, ở đó, nhân vật chính kiêm người kể chuyện hoàn
toàn có thể trở thành một người hư cấu” [6].
Công trình của T.S Nguyễn Thị Từ Huy về Alain Robbe-Grillet thực sự
trở thành “Một nỗ lực khái niệm” khi tác giả đề cập và giải quyết những vấn
đề lí luận trên cơ sở các sáng tác đa diện của Robbe-Grille trong “Trò chơi lời
nói và mặt nạ”. Trên thực tế thì hầu như phần lớn các tác giả ban đầu với ý
định viết tự truyện về bản thân mình nhưng sản phẩm lại là một cuốn tiểu

thuyết tự thuật. Ở đó, nhà văn tiểu thuyết hóa đời sống hiện thực, cái tôi và
con người mình trong những vay mượn tiểu sử, biến cố, tình huống có thật
của đời sống để tự hư cấu - giả tự truyện cho tác phẩm của mình dưới hình
thức cái tôi muôn hình vạn trạng, nửa thật, nửa hư tạo nên đặc trưng khu biệt
giữa tự truyện và tự thuật. Những dấu hiệu đầu tiên của sự biến tướng tự
truyện thành tự thuật xuất hiện ở phương Tây với nhà văn J.P. Sartre, thuật
ngữ “auto-fiction” (hư cấu, giả tự truyện) của Serge Doubrovsky với quan
điểm “Tự hư cấu về bản thân mình, dựa trên một số/nhiều yếu tố tiểu sử có
thật, làm lạc lối, rối trí người đọc, gây ra những bất ổn về cảm nhận/ nhận
6

biết/ đạo đức và sự thật” [39]
Từ sự biến tướng, chuyển hóa trên, ranh giới giữa thể loại tự truyện và
phương thức tự thuật trở nên mong manh, nhòe mờ. Trong đó, “tự truyện”
hay “tự thuật” đều kể về cuộc đời cá nhân có thật, là lịch sử hình thành nhân
cách của người viết hơn là chú ý đến những sự kiện bên ngoài, khách quan
của “hồi kí”; nó cũng được viết ở dạng hồi cố (khi tác giả đã lớn tuổi) mà
không phải như dạng “nhật kí” (thời gian viết và thời gian kể không có sự
phân biệt).
Dù tự truyện hay tự thuật thì làm nên thành công cho tác phẩm đều là
những tự sự tình cảm sâu sắc và sống động, có khi bình lặng như những dòng
lưu bút, trang nhật kí nhưng cũng có khi là biến cố sôi sục, dữ dội trong
những trang tự thuật của nhà văn.
b. Phân biệt tự thuật với một số thể loại gần với nó.

Tự thuật được phân biệt với những thể loại gần gũi như: nhật kí (journal)
thời gian viết và thời gian được nói đến trùng nhau, mang đậm tính thời sự, là
cái đang diễn ra, dang dở, gắn với người viết hiện tại. “Tự thuật hư cấu”
(autofiction) (thuật ngữ do Serge Doubrovsky tạo ra nhân giới thiệu tác phẩm
Những đứa con trai, 1977), dựa trên hiệp ước về hư cấu (điều này lại là tiểu

thuyết) và chỉ rải rác có những chỉ dẫn về cuộc đời tác giả theo cách thức mập
mờ. Tính chất đặc thù của “hiệp ước tự thuật”, thông qua việc đối lập với hiệp
ước hư cấu, thực ra là hiệp ước về sự thật: tác giả đồng thời vừa là người kể
chuyện vừa là vai chính trong truyện kể của mình, ở đó tác giả nói sự thật về
bản thân và quá khứ của mình. Tự thuật còn được phân biệt với “hồi ức”
(mémoire) không phải lấy lịch sử cá nhân làm đối tượng mà có sự hòa trộn
đời sống thầm kín riêng tư với bức tranh lịch sử đời sống. Cùng với đó còn có
“hồi kí” rất lưu ý tới thế giới bên ngoài, với những con người, cảnh quan mà
7

nhà văn đã tiếp xúc, nếm trải, hồi kí quan tâm tới quá khứ trên phương diện
thế sự chứ không phải là một câu chuyện của riêng mình. Đó là một bức tranh
về một thời đại, bên cạch câu chuyện của mình, tác giả còn đi sâu tìm hiểu
những mảnh đời khác nhau.
Gần đây nhất là công trình “Nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết tự
thuật (khảo sát qua 3 tác phẩm Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, Gia
đình bé mọn của Dạ Ngân, Một mình một ngựa của Ma Văn Kháng” của Đặng
Thị Thu Phương. H, ĐHSPHN, 2010. Tác giả đã phân biệt được khái niệm
“tự truyện”, “tiểu thuyết tự thuật”, “tự truyện hư cấu”: Tiểu thuyết tự thuật
trong quan niệm của luận văn được hiểu như là những hư cấu dựa trên nền
tiểu sử tác giả bao gồm cả những tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện, tự
thuật hay những tiểu thuyết viết bằng kỹ thuật tiểu thuyết, tiểu thuyết hóa tự
truyện. Và tác giả đã khái quát chung khía cạnh nghệ thuật kể chuyện trong
một số tiểu thuyết tự thuật ở Việt Nam. Đồng thời, tiểu thuyết tự thuật là xu
thế tất yếu cho quá trình phát triển văn học cũng như kỹ thuật tiểu thuyết hiện
đại.
Lời hứa lúc bình minh nằm trong xu hướng đổi mới của tự thuật vào thế
kỉ XX với một thuật ngữ mới được gọi là một tiểu thuyết tự thuật (roman
autobiographique). Trong luận văn người viết sẽ khai thác tự thuật như là
phương thức sáng tác tiểu thuyết để tìm hiểu về sự hình thành nhân cách nhà

văn; lịch sử có thực qua lăng kính của ông cũng như những tình cảm của ông
dành cho mẹ, cho cuộc đời.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: tác phẩm Lời hứa lúc bình minh, Nguyễn Duy Bình dịch,
Nxb.Văn học, H. 2009.
- Phạm vi nghiên cứu:
8

* Nghệ thuật viết tiểu thuyết tự thuật của Romain Gary.
* Tìm hiểu về sự hình thành nhân cách nhà văn; lịch sử có thực qua lăng
kính của ông cũng như những tình cảm của ông dành cho mẹ, cho cuộc đời
qua bút pháp của tiểu thuyết, đậm chất trữ tình và hài hước.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Luận văn vận dụng lý luận thi pháp thể loại, phương pháp tiểu sử,
phương pháp cấu trúc, phân tâm học, phương pháp trần thuật học.
- Sử dụng các thao tác thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp.
6. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Mục lục, Thư mục tài liệu tham khảo,
cấu trúc luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lịch sử của cái “tôi” nhà văn qua điểm nhìn tự thuật
Chương 2: Vai trò của Người mẹ trong lịch sử tâm hồn nhà văn
Chương 3: Nghệ thuật viết tự thuật với tư cách là một tiểu thuyết
7. Đóng góp của luận văn
- Thứ nhất, luận văn dựa trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu khoa
học như phân tâm học, trần thuật học để nghiên cứu, đánh giá sâu những
sáng tạo, cách tân của tác giả trong những đặc sắc nghệ thuật tác phẩm. Đặc
biệt là nghệ thuật tự thuật được đan xen bởi việc nhà văn tự thuật chính cuộc
đời mình lồng ghép trong “cuộc đời tác phẩm” với một giọng điệu, phong
cách riêng của nhà văn.

- Thứ hai, bên cạnh sự sáng tạo tự thuật mang phong thái riêng của tác
giả thì đặt trong dòng chảy sự vận động chung của thể loại tiểu thuyết Pháp
thế kỉ XX, luận văn nhận thấy những đóng góp của thể loại tự thuật Romain
Gary trong trào lưu tiểu thuyết Pháp là không hề nhỏ. Trong đó chúng tôi
quan tâm đến kết cấu lắp ghép-phân mảnh, hình thái thời gian-không gian,
ngôn ngữ-lời thoaị của một tự thuật tiểu thuyết tạo sự biến đổi cấu trúc câu
9

và những trật tự phi tuyến tính.
- Thứ ba, với việc tìm hiểu cuộc đời tác giả qua việc tìm hiểu tác phẩm
nhằm khẳng định tài năng, giá trị của nhà văn trong thời đại mình với những
đóng góp văn chương giúp định vị giá trị sáng tạo của Romain Gary trong lộ
trình văn học Pháp.
Đạt được những kết quả trên, luận văn đã kế thừa những nhận định, đánh
giá của các nhà nghiên cứu, phê bình đi trước vừa tìm tòi, khám phá để từ đó
làm rõ hiện tượng tự thuật trong tiểu thuyết của Romain Gary vừa mang tính
truyền thống vừa mang đậm chất riêng, sáng tạo.
Thực hiện đề tài này là một nguồn bổ sung, lời giới thiệu tiếp thêm cho
một tác phẩm xuất hiện gây “kinh ngạc”, “xôn xao dư luận” thời gian gần
đây, đem nó tới rộng rãi công chúng hơn ết quả của Luận văn góp phần gợi
mở hướng tiếp cận tác phẩm Lời hứa lúc bình minh của Romain Gary, với
những hạn chế của đề tài mong được sự đón nhận cũng như góp ý của luận
văn và tới chính vấn đề mà người viết đang quan tâm.













10


Chƣơng 1

LỊCH SỬ CỦA CÁI “TÔI” NHÀ VĂN QUA ĐIỂM NHÌN
TỰ THUẬT


Tiểu thuyết là sản phẩm của tinh thần với những cung bậc cảm xúc hòa
với tư duy nghệ thuật con người về thế giới. Tư duy nghệ thuật của con người
càng phát triển hơn nữa trong xã hội hiện đại, điều này khiến cho sự xuất hiện
tiểu thuyết tự thuật như một quy luật tất yếu khi mà tự thuật được nuôi dưỡng
trong những giá trị tinh thần đó với cái Tôi và ý thức cá nhân. Sự xuất hiện
này không chỉ làm thay đổi tư duy con người mà còn làm thay đổi hệ hình tư
duy văn học, biểu hiện ở vấn đề cái Tôi cá nhân, quan niệm về hiện thực và
hư cấu trong tiểu thuyết.
Cái Tôi cá nhân là điều kiện tối thiểu nhất cần có để nhà văn có thể viết
tự thuật, khi ấy tác giả có thể công khai tên tuổi, tự do nói những điều mình
nghĩ, thể hiện bằng quan điểm riêng cá nhân. Xét trên khía cạnh Triết học thì
cái Tôi được nhìn nhận như một con người, con người như một thực thể của
vũ trũ,vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của xã hội. Còn theo
cách nhìn nhận của văn học thì cái Tôi khác với đại từ ngôi thứ nhất số ít chỉ
mối quan hệ cá nhân với người khác được hình thành một cách tự phát như:
tôi, tao, tớ, ta, mình Cái Tôi trong văn học được phát hiện sớm như một

phát minh của phương Tây, đặc biệt là khi cái Tôi đó đi vào tiểu thuyết qua
điểm nhìn tự thuật của nhà văn. Cái Tôi ấy lần lượt được nhà văn tự thuật qua
số phận cá nhân và chiến tranh, sự hình thành bản lĩnh người lính, sự hình
thành con người nghệ sĩ trong tiểu thuyết Lời hứa lúc bình minh.
1.1. Số phận cá nhân và chiến tranh
11

Trong dòng chảy văn xuôi thế giới thì chiến tranh, nhất là những nhà văn
mặc áo lính là một mảng đề tài có vị trí và tầm quan trọng, đặc biệt ở thể loại
tiểu thuyết. Ở đó, nhân vật chính cũng có khi là tác giả tự thuật lại những
tháng ngày sống trong mưa bom bão đạn hoặc những dư âm mà chiến tranh đi
qua để lại trong cuộc sống hòa bình của họ. Số phận cá nhân trong mối quan
hệ với chiến tranh được nhà văn dàn trải dưới góc độ tự thuật rõ nét và sâu
sắc.
1.1.1. Số phận một con ngƣời
Những điểm cơ bản về Romain Rary bước đầu được biết qua tiểu sử của
ông. Ông Sinh năm 1914 với cái tên Roman Kacew, nhà văn lớn lên ở Wilno
(nay là Vilnius, Lithuania) và Warsaw, Ba Lan, ông lớn lên dưới sự nuôi dạy
của người mẹ. Năm 14 tuổi, ông chuyển đến sống tại Nice, Pháp. Sau khi theo
học ngành luật, ông đăng ký gia nhập không quân Pháp. Trong thế chiến thứ
hai, ông là sĩ quan chỉ huy và được thưởng Bắc đẩu bội tinh. Với tiểu thuyết
đầu tay Giáo dục châu Âu, Romain Gary từng được giải thưởng phê bình năm
1945, cũng là năm ông bắt đầu sự nghiệp tại bộ Ngoại giao Pháp. Tiểu thuyết
Cội rễ bầu trời của ông đoạt giải Goncourt năm 1956, là bức tranh toàn cảnh
về đời sống một nước thuộc địa của Pháp ở vùng châu Phi xích đạo. Ông
thành công trong cả các hoạt động văn chương và chính trị, được coi là một
trong những tác gia kinh điển của thế kỉ XX. Romain Gary đã sống một cuộc
đời đầy sôi động và vinh quang, đoạt hai giải Goncourt, có hai cuộc hôn nhân
với hai người đàn bà nổi tiếng, nhưng người ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với
ông là người mẹ với tình yêu vô điều kiện và niềm tin kỳ lạ của bà. Lời hứa

lúc bình minh cho thấy điều đó.
Ra đời trong hoàn cảnh thiếu thốn tình cảm của người cha và những
người yêu thương xung quanh nhưng ông lại được bù đắp bởi tình cảm nhân
đôi của người mẹ, vừa gánh trọng trách một người cha đồng thời làm nghĩa vụ
12

thiêng liêng của một người mẹ. Chính bởi thấm sâu những nỗi đau mà người
mẹ phải gánh lấy trong quá trình sinh hạ và nuôi nấng Romain Gary khôn lớn,
bà đã đặt ra những mục tiêu phải đạt được cũng như vẽ ra một mẫu hình
mong muốn để đặt lên số phận một con người theo những gì đã hoạch định
sẵn của mình.
Được người mẹ đặt lên đôi vai mình một gánh vác nặng nề, một trọng
trách cao cả mà người mẹ kính yêu giao phó: “Con sẽ là Guynemer thứ hai
Con sẽ là một người hùng, con sẽ trở thành một vị tướng, Gabriele
d‟Annunzio, Ngài Đại sứ Pháp” [18, tr.14]. Mọi mong mỏi của người mẹ với
một chỗ dựa tinh thần duy nhất là đứa con trai ấy, khiến Romain Gary vừa
luôn phấn đấu, nỗ lực hết mình để vâng lời mẹ, thực hiện “lời hứa lúc bình
minh” với mẹ “tôi ôm mẹ và nghĩ đến tất cả những cuộc chiến mà tôi sẽ lao
vào vì bà, nghĩ đến những gì mình đã hứa vào lúc bình minh của cuộc đời, sẽ
trả lại công bằng cho mẹ, làm cho sự hi sinh của mẹ có ý nghĩa” [18, tr.15].
Thế nhưng trong hành trình thực hiện lời hứa ấy, có những khi ông lao
vào đầy nhiệt huyết và quyết tâm nhưng đôi khi cũng có sự áp lực, gò bó và
có phần khó chịu trong sâu thẳm trái tim yêu thương của ông trước những
hành động, lời nói có phần “quá” của người mẹ. Đó là khi “Tôi nghĩ chưa bao
giờ một đứa con trai lại ghét mẹ mình như tôi lúc ấy trong lúc tôi cáu kỉnh
thì thầm giải thích là bà đang làm hỏng bét uy danh của tôi trong mắt lính
Không quân và thêm một lần nữa cố đẩy bà ra sau chiếc taxi” [18, tr.14]. Một
số phận hiện lên vừa khiến bạn đọc ngưỡng mộ bởi được hưởng và truyền lửa
một niềm tin sắt đá từ người mẹ hiền nhưng cũng có phân máy móc, áp đặt và
phó mặc cho số phận của nhân vật “tôi”. Một “lời hứa” của một đứa trẻ vâng

lời nhưng nó cũng đồng nghĩa một cuộc sống đi theo những con đường đã
được vẽ sẵn và tự mình không có được hướng đi cho riêng mình “Tôi không
ngạc nhiên. Đã từ lâu tôi sống “theo điều kiện”. Tôi biết mẹ lâu rồi nên tôi
13

hoàn toàn hiểu mẹ” [18, tr.262].
1.1.2. Con ngƣời và chiến tranh trong Lời hứa lúc bình minh
Trong một phạm vi hẹp, số phận cá nhân đó là chính tác giả nhưng mở
rộng hơn thì đó còn là số phận của biết bao người lính khác trong chiến tranh
với những thăng trầm mà họ phải chịu đựng. Đó là chiến tranh chốn sa
trường, là chiến tranh với cuộc sống để tồn tại và sống tốt hơn qua việc phân
tích sự kiện lịch sử và tâm lí con người trong chiến tranh, mối quan hệ giữa
con người và chiến tranh làm cho cuốn tiểu thuyết về số phận con người và
chiến tranh hiện lên sinh động và đậm đặc hơn.
Mở đầu tác phẩm bằng việc nhà văn đưa người đọc đến với cuộc gặp gỡ
giữa hai mẹ con trong trường Đào tạo Phi công khi người con đang làm trung
sĩ huấn luyện ở đó. “Mẹ tôi đã đi taxi suốt năm tiếng đồng hồ để chào đón tạm
biệt tôi sắp tới ngày huy động tại Salo-de-Provence quãng đường dài ba trăm
cây số” [18, tr.12]. Chiến tranh như được báo trước và không khí của nó bao
trùm lên cả cuốn tiểu thuyết. Chiến tranh của hiện thực nơi sa trường được
nhân vật tâm sự một cách chân thành và sâu lắng, đem đến cho bạn đọc sự
đồng cảm và cả những dự cảm về đau thương chiến tranh sắp xảy ra theo
chiều dài tác phẩm.
Thật khó để nói về một tác phẩm mà hư cấu và hiện thực đan cài vào
nhau một cách tự nhiên, đầy cảm xúc và biến động, mô tả những tháng năm,
những mẫu người không bao giờ còn trở lại trong lịch sử loài người khi chiến
tranh đã để lại dấu ấn của nó trên mình thời gian. Nghệ thuật tự thuật độc đáo
khi tác giả trao quyền kể chuyện cho nhân vật chính xưng “tôi” để kể lại
những sự việc và cảm nhận một cách tinh tế, sâu sắc nhất hiện thực đồng thời
phơi bày cảm xúc của nhân vật trong những cảnh huống ấy.

Điểm đặc biệt là khi viết về chiến tranh nhà văn không đi sâu phô bày sự
hiểu biết về chiến trường, kể chuyện chiến trường mà còn thể hiện một thái độ
14

rất tôi của tác giả, có cá tính, có quan niệm riêng của mình trước hiện thực
những cuộc chiến tranh ấy. Nhân vật luôn muốn thu vào tầm tay những gì là
của mình, là mong muốn của mẹ về một cuộc chiến với các vị thần: ti tiện,
định kiến, ngu dốt, chân lí tuyệt đối, thần nghèo, thần đói, thần của những thói
quen không đuộc phép tồn tại trong một nhà quý tộc, giới thượng lưu chính
cống Những cuộc chiến mà đao kiếm không thể giải quyết, chỉ có thể dùng
sức mạnh tinh thần để chiến thắng “Tôi muốn tranh giành quyền làm chủ thế
giới với các vị thần phi lí và đam mê quyền lực, muốn trả lại trái đất cho
những ai bao bọc nó bằng tất cả tình yêu thương và lòng quả cảm” [18, tr.18].
Không cuộc chiến nào khốc liệt và gay go bằng cuộc chiến giành lấy lương
tâm về tình yêu thương của con người!
Bên cạnh cuộc chiến đẫm máu với những vết thương thể xác thì còn có
những cuộc chiến ác liệt và cam go hơn nhiều, đó là cuộc chiến với những
sóng gió, bão táp của cuộc đời để đi đến con đường định danh mà mình đã
chọn “một ngày nào đó sẽ trở về nhà sau khi đã chiến thắng trong cuộc tranh
giành quyền làm chủ thế giới với những kẻ mà, ngay thủa chập chững biết đi,
tôi đã biết tới sức mạnh và tàn ác” [18, tr.15]. Sức mạnh của cuộc chiến “định
danh” này càng lớn tới đâu thì sự tàn ác và những đánh đổi mà nhân vật phải
trao lại càng lớn bấy nhiều. Cuộc chiến không khoan nhượng, chẳng cân sức
giữa số phận con người với những phạm vi có thể của nó.
Những tiểu thuyết sau 1975 ở Việt Nam cùng viết về chiến tranh theo
hướng tiếp cận trực tiếp có thể kể tới Ký sự miền đất lửa, Biển gọi, Họ đã
sống như thế, Nắng đồng bằng, Miền cháy, Rừng lá đỏ, Đất trắng, Đất miền
Đông Các tiểu thuyết này lí giải chiến tranh, tiếp tục ngợi ca khẳng định, và
khi trong điều kiện hòa bình, còn có thêm một khía cạnh nữa là “tính sổ”, con
người cô đơn tạo cho tiểu thuyết về chiến tranh có thêm hơi thở mới thì ở

Lời hứa lúc bình minh chiến tranh đã được xây dựng theo hướng tiểu thuyết
15

hóa các sự kiện thực, tuy vậy tính chất tư liệu về tác giả vẫn là nét đậm “Thú
thật tôi có lưỡng lự một lúc. Tôi vừa phải chiến đấu trên nhiều mặt trận, từng
làm mười nghề khác nhau, nghề nào cũng đáng ghét cả và luôn nỗ lực hào
phóng hết ình trên mặt giấy cũng như trong cuộc đời” [18, tr.260].
Nhà văn đã dựng lại những trang sử hiện đại bằng ngôn ngữ tiểu thuyết
từ góc độ ý thức cá nhân, diễn biến tâm lí của nhân vật xưng “tôi” đồng thời
đó cũng là tiếng nói của đám đông lính thường và dân thường đã trải qua
những ngày kháng chiến bên nhau: “mặc dù vậy, tôi không hề tuyệt vọng.
Thậm chí đến giờ tôi cũng không tuyệt vọng. Tôi chỉ làm bộ làm tịch thế thôi.
Nỗ lực lớn lao nhất đời tôi là làm thế nào để tuyệt vọng được an toàn. Nhưng
có được đâu. Khi nào trong tôi cũng có cái gì đó liên tục mỉm cười” [18,
tr.292]. Những tâm trạng cứ chảy trôi theo dòng ý thức qua những tháng ngày
chiến tranh được nhân vật tự thuật một cách đậm nét.
Trong khi thể hiện những cuộc chiến tranh mà nhân vật “tôi” phải đương
đầu thì còn có đan cài bổ sung giữa đề tài chiến tranh và các đề tài khác. Lê
Thành Nghị thấy rằng mô típ con người trở về từ chiên stranh là mô típ có ý
nghĩa đáng kể đồng thời là nơi để nhà văn có dịp bộc lộ tư tưởng thẩm mĩ của
mình, đó là khả năng phân tích, bình giá và mổ xẻ hiện thực đa chiều của
chiến tranh, đó là sự phân tích mối quan hệ cự kì phức tạp giữa số phận từng
con người với biến cố chiến tranh, là năng lực khám phá và đặt ra những vấn
đề nóng bỏng nhất trong chiến tranh và sau chiến tranh do tác động dai dẳng
của chiến tranh trong đời sống của từng cá nhân và của toàn xã hội. Trải qua
cuộc bể dâu, nhân vật nhận ra nhiều điều “Tóm lại, tôi giữ niềm tin trọn vẹn
của mình cho tới phút và rõ ràng cho tới bây giờ tôi vẫn chưa thay đổi nhiều
về mặt ấy: một thất bại như thất bại ở Điện Biên Phủ, những lời thóa mạ bên
lề cuộc chiến Algerie khiến tôi ngạc nhiên vì rối loạn và khó hiểu” [18, tr.
303]. Nhân vật trong và sau cuộc chiến như phân vân không hiểu cái lí do

16

khiến cho niềm tin rằng nước Pháp sẽ không bao giờ thua lại bị bại trận ở Việt
nam, điều này khiến nhân vật như có một cái nhìn lại một cách có phân tích
và suy luận những tác động, mối liên hệ phức tạp giữa số phận con người với
chiến tranh. Đó có phải là định mệnh?
Thủ pháp dòng ý thức đã được nhà văn vận dụng trong quá trình tự thuật
những cuộc đại chiến trong tâm thức cuộc đời mình. Không những đi sâu vào
những cuộc chiến tranh với bản chất của nó mà thêm vào đó là những quan
điểm mới mẻ của cá nhân trước bức tranh đời sống. Khi bi kịch cá nhân trong
và sau chiến tranh, nhà văn Việt đã linh cảm được vai trò thiết yếu của vô
thức, của giấc mộng, của ám ảnh những kỉ niệm, từng trải thời thơ ấu ảnh
hưởng tới hiện thực như thế nào “Đến tận bây giờ, trong mắt tôi đó hãy là
quang cảnh đẹp nhất thế giới. Đó là nơi mà tâm hồn được thảnh thơi. Tâm
hồn thực sự cần điều ấy” [18, tr.416]. Từng vùng đất, miền quê mà nhân vật
đã từng qua đã in sâu trong kí ức nhân vật mà những đau thương, mất mát của
chiến tranh không thể xóa nhòa. Số phận con người gắn với chiến tranh nhưng
không hề phụ thuộc vào chiến tranh hay bị chiến tranh khuất lấp những mảnh
ghép tâm hồn trong dòng ý thức. Có thể thấy điều này qua một số tác phẩm
viết vào thời kì này của ta như: Bến đò xưa lặng lẽ, Rừng thiêng nước trong,
Ngày rất dài, Những bức tường lửa, Khúc bi tráng cuối cùng Những tác
phẩm này phản ánh rõ hơn bộ mặt trần trụi của chiến tranh và số phận khốc
liệt của con người trong hiện thực tàn bạo ấy, qua đó hợp lí hóa đời sống bản
năng của con người, đề cao nó trong một tinh thần nhân văn cao đẹp; lên án,
phê phán chiến tranh là một thế lực phi nhân tính đã tước đoạt, cướp mất của
con người quyền được sống với chính những nhu cầu bình thường và thiết
yếu của họ.
Romain Gary viết Lời hứa lúc bình minh với tình yêu mãnh liệt dành cho
người mẹ và cho cuộc sống. Đáng tiếc, ông kết thúc cuộc đời mình ở tuổi 66
17


bằng một phát súng tự sát. Cái chết của ông như kết thúc cho số phận một con
người sau những bước đi của đời người đầy chông gai. Một số phận êm đềm
bên người mẹ nhưng cũng nghiệt ngã trước cuộc đời. Cái chết khép lại cuộc
đời ông nhưng mở ra nhiều suy nghĩ cho bạn đọc, cái chết có chủ ý của nhà
văn: đi qua những năm tháng nghiệt ngã của chiến tranh nhưng ông vẫn sống
đến khi đó bởi có niềm tin, nghị lực và quyết tâm của một con người, nhưng
ông lại đi về với người mẹ kính yêu khi được chứng kiến những giờ phút huy
hoàng của cuộc đời mình trên những kết quả của những nỗ lực thành công
“những chú hải cẩu đã lặng im trên những mỏm đá, và tôi ở đó, nhắm mắt lại,
miệng mỉm cười, tôi tưởng tượng một chú hải cẩu nhẹ nhàng đi về phía mình
thì bỗng cảm thấy một chiếc mõm thân thương cà vào má hai vai Tôi đã
từng sống” [18, tr.441]. Tác giả đã từng sống như thế đấy!
“Năm 1980, tại Paris, Romain Gary bắn một phát súng vào đầu để tự kết
thúc cuộc đời mình. Dường như trong cuốn Lời hứa lúc bình minh đã có
những dấu hiệu báo trước cho sự ra đi này” [35]. Ngay từ trang mở đầu ông
đã viết về dấu hiệu ấy: "Hết rồi Biển Big Sur không một bóng người, còn
tôi vẫn nằm trên cát, đúng chỗ tôi đã ngã xuống. Sương mù biển khơi làm cho
mọi vật trở nên dìu dịu; phía chân trời không một cánh buồm ló dạng; trên
một mỏm đá, trước mặt tôi, hàng nghìn con chim đang đậu; trên một mỏm đá
khác là một gia đình chim hải cẩu: hải cẩu bố cứ dập dềnh trên mặt sóng,
bóng nhẫy và đầy vẻ tận tâm, miệng ngậm một con cá. Thi thoảng, những con
nhạn biển hạ xuống gần đến mức tôi phải nín thở, và nhu cầu xưa cũ trỗi dậy
trong tôi: một lát nữa thôi, chúng sẽ đậu lên mặt tôi, nép mình vào cổ tôi, vào
vòng tay tôi, một lát nữa thôi, chúng sẽ phủ khắp người tôi Ở tuổi bốn mươi
bốn, tôi vẫn còn mong được âu yếm thực sự. Tôi đã nằm trên cát lâu lắm rồi,
nằm bất động như thế trong khi những con bồ nông và chim cốc đậu thành
vòng tròn quanh tôi và lúc nãy, một con hải cẩu đã thả mình theo sóng đến tận
18


chân tôi. Nó ở đó một lúc lâu và ưỡn mình trên hai vây nhìn tôi, nhìn xong lại
quay về với đại dương. Tôi mỉm cười với nó, nhưng trông nó có vẻ nghiêm
nghị và đượm buồn, như thể nó biết điều gì đó" [18, tr.11]. Khi miêu tả bãi
biển Big Sur không một bóng người, chỉ có ông đang nằm trên cát, trong cõi
cô đơn, như sắp đi đến với người mẹ hiền để hồi tưởng về đời mình. Và kết
thúc tác phẩm, bối cảnh cũng là trên bãi biển với mênh mông, cô độc, Gary
viết: “Thế đấy. Sắp phải rời xa bờ biển, nơi tôi nằm nghe biển khơi đã rất lâu
rồi. Tối nay, ở Big Sur, sẽ có sương mù nhẹ, trời sẽ se lạnh, còn tôi, tôi chưa
bao giờ học cách nhen lửa để tự sưởi ấm mình. Tôi sẽ cố nán lại đó một lúc
nữa, để lắng nghe, bởi vì tôi luôn có cảm giác mình sắp hiểu những gì đại
dương muốn nói. Tôi nhắm mắt lại, mỉm cười và lắng nghe… Tôi vẫn còn giữ
những thói quen lạ lùng đó. Bờ biển càng hoang sơ tôi càng thấy nó đông đúc.
Những chú hải cẩu đã lặng im trên những mỏm đá, và tôi ở đó, mắt nhắm lại,
miệng mỉm cười, tôi tưởng tượng một chú hải cẩu nhẹ nhàng đi về phía mình
còn mình thì bỗng cảm thấy một chiếc mõm thân thương cà vào má và hai
vai. Tôi đã từng sống” [18, tr. 441].
Ở những tầng ý nghĩa khác, tác phẩm gợi mở nhiều suy tưởng về sự tồn
tại của tình yêu thương trong cuộc sống của mỗi số phận cá nhân, về trách
nhiệm của một công dân với quê hương đất nước đã nuôi mình khôn lớn, về
sự phi lý của chiến tranh và tội ác do chiến tranh gây ra dưới ý niệm về thân
phận con người và những cuộc chiến trong cả thời loạn lẫn thời bình. Ông cho
rằng, như rất nhiều trong số các nhà văn lớn đã trải qua thời kỳ lịch sử cùng
ông, ông chủ yếu nghĩ đến thân phận của con người. Chính những trải nghiệm
trong tình yêu lớn của người mẹ dành cho ông nên đã sớm đưa ông đến chỗ
cảm nhận được hình hài của thân phận con người trong nỗi đau chiến tranh đã
chia cắt thứ tình cảm thiêng liêng ấy.
1.2. Sự hình thành bản lĩnh ngƣời lính
19

Đi đôi với quá trình hình thành người nghệ sĩ để chiến đấu trên mặt trận

tinh thần là sự hình thành một người lính trên sa trường để bảo vệ Tổ quốc.
Đây có thể coi là sự kết hợp giữa hiện thực và lãng mạn trong một con người,
vừa để hài hòa cân đối vừa là giữ trọn niềm tin với người mẹ. Hai quá trình
này tồn tại song hành và bổ sung cho nhau.
1.2.1. Một ngƣời lính trong mắt ngƣời mẹ
Ngay trong niềm tin mà người mẹ gieo cho anh hồi còn nhỏ phải là một
Đại sứ Quán Pháp, là một vị tướng tài giỏi đã cho ta thấy trước được kết quả
của quá trình hình thành người lính này. “Guynemer! Con sẽ là Guynemcer
thứ hai! Con sẽ thấy, mẹ lúc nào cũng đúng” hay “con sẽ là một người hùng,
con sẽ trở thành một vị tướng” [18, tr.14]. Người mẹ đặt hết thảy niềm tin vào
việc định danh về mặt xã hội cho người con duy nhất của mình. Sự chắc chắn
đến tuyệt đối, và bà tin rằng người con chỉ cần tin vào điều người mẹ nói thì
chắc chắn sẽ trở thành thành hiện thực. Chính niềm tin này là gốc rễ cho sự
phát triển của quá trình hình thành người lính của nhà văn.
Ngay khi mở đầu, sau đoạn nói về biển, nhà văn đã nhắc tới nhân vật tôi
ở vào một hoàn cảnh điển hình nói về quân đội để báo trước cho ta thấy quá
trình hình thành người lính trong anh sau niềm tin vững chắc ấy “mẹ tôi đã đi
taxi suốt năm tiếng đồng hồ để đến chào tạm biệt tôi sắp đến đợt huy động tại
Salon-de-provence nơi bây giờ tôi đang là trung sĩ huấn luyện tại Trường Đào
tạo phi công” [18, tr.12]. Thời gian bị đảo ngược từ khi nhà văn đang ngồi tại
bờ biển ở tuổi bốn mươi tư rồi lại trở về với một chàng trai là sĩ quan trung sĩ
trong trường đào tạo và rồi lại trở về với những năm tháng tuổi thơ trong quá
trinh rèn rũa của mẹ và thực tế đất nước để trở thành người lính thực sự theo
đúng nghĩa của nó.
Tác phẩm với nhiều ý nghĩa khác nhau, ở đó có tỉnh yêu thương, có gieo
và gặt hái niềm tin, có cả những khổ luyện thành tài của một người nghệ sĩ,
20

người lính trải dài qua tác phẩm. Quá trình hình thành bản lĩnh người lính
chiến đấu luôn được nhà văn nói đến trong tình yêu mang theo của người mẹ

kính yêu. “Vào những giờ khắc ác liệt nhất của chiến tranh, tôi luôn đối diện
với hiểm nguy trong cảm giác mình là một kẻ bất khả chiến bại. Không gì có
thể xảy đến được với tôi bởi tôi là sự kết thúc có hậu của mẹ tôi. Trong hệ
thống cân đong đo đếm mà con người tìm cách áp đặt cho thế giới một cách
tuyệt vọng, tôi vẫn luôn thấy mình như chiến thắng của mẹ tôi.” Người mẹ
trong mọi hoàn cảnh luôn là niềm tin, là động lực, là chân lý và mục đích
trong mọi việc làm của người con, ngay cả khi đói diện với cái chết, những
giờ khắc ác liệt nhất của chiến tranh gây nên.
1.2.2. Quá trình trở thành một ngƣời lính
Mạch vận động viết về một người lính dàn trải khắp tiểu thuyết và nó
như thôi thúc nội tâm nhà văn viết về điều gì đó gắn liền với một “thiên
mệnh” của cuộc đời, một trong những thiên mệnh đó là thiên mệnh một người
lính chiến. Thiên mệnh này đến những phần cuối cùng của thiên truyện thì
thiên chức ấy mới được hiển hiện trong một sự thức nhận toàn vẹn những
chân lý về chiến tranh, về trách nghiệm của chính anh – người sống sót sau
chiến tranh – trong cuộc đời hậu chiến và về ý nghĩa thực sự của nghề viết
văn. Trong những chương cuối cuốn tự truyện này, Romain còn nhắc lại rõ rệt
một lần nữa những suy nghĩ của mình về bản lĩnh người lính ấy, bản lĩnh của
một thời đã “đi dọc chiến hào” và để lại không ít những dấu vết trên mình
thời gian. Ông kể, ông nằm hàng giờ trên sân bay, đấu tranh với “sự bất mãn
muôn thuở của mình”, với nhu cầu “được vượt qua, được ra khỏi nơi ấy”. Và,
“đến tận bây giờ tôi vẫn không biết mình muốn nói gì qua hai chữ “nơi ấy”.
Có lẽ đó là hoàn cảnh con người” [18, tr.423]. Nơi ông đã đi qua và gắn bó
những tháng ngày của chàng lính yêu nước, phụng sự Tổ Quốc, cái thân phận
rõ ràng không phải là một ý niệm trừu tượng vô hình, mà có “nơi chốn” xác

×