LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin gửi lời trì ân sâu sắc tới PGS. TS. Nguyễn Ngọc Thiện, người đã tận tình
hướng dần, động viên giủp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chần thành tới các thầy cô trong to Lý luận văn học, các cán bộ
Phòng Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo mọi điều kiện giúp đô tôi trong suốt
thời gian học tập và nghiên cứu.
Những lời cảm ơn sau cùng, tôi xin dành cho gia đình, bạn bè và đong nghiệp đã hết lòng
quan tâm, động viên và tạo điều kiện tốt nhất đế tôi hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, tháng 6 năm 2013
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Văn xuôi Việt Nam hiện đại với rất nhiều cây bút đã thành danh và để lại cho đời những
kiệt tác bất hủ với nhiều phong cách khác nhau. Có những nhà văn chọn cho mình một lối viết cá
tính, sáng tạo, phóng khoáng, mạnh mẽ về hình thức và sâu sắc, chi tiết, cặn kẽ về nội dung. Nhưng
cũng có những nhà văn lại chọn cho mình một lối sáng tác thâm trầm, suy tư, kín đáo, nhẹ nhàng
như thủ thỉ, như giãi bày cùng độc giả. Những trang viết của họ vô cùng sâu sắc, tinh tế, Bùi Ngọc
Tấn là một trong những nhà văn như vậy.
1.2. Bùi Ngọc Tấn sinh ngày 03 tháng 7 năm 1943. Quê thôn cầu Tử - Hợp Thành - Thủy
Nguyên - Hải Phòng. Trong kháng chiến chống Pháp, Bùi Ngọc Tấn đi học tại Thái Nguyên. Năm
1954 ông đi thanh niên xung phong rồi làm phóng viên báo Tiền Phong và bắt đầu viết văn. Năm
1960, Bùi Ngọc Tấn làm phóng viên báo Hải Phòng. Cuộc đời cầm bút của ông từ lúc bắt đầu viết
cho đến nay đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị mặc dù trong chiều dọc của nghề viết có thời gian
ông đã gặp trắc trở. Bùi Ngọc Tấn được xem là một nhà văn kỳ cựu có nhiều thành tựu. Bên cạnh
Chuyện kế năm 2000 (tiếu thuyết 2000) ra đời gây nhiều tranh luận thì Bùi Ngọc Tấn còn có rất
nhiều các tác phẩm được khẳng định như: Một thời đê mất (hồi ký 1995); Những người rách việc
(truyện ngắn 1996); Rủng xưa xanh lá (chân dung văn học 2002); Viết về bạn bè (tập Chân dung
văn học 2003); Người gác đèn biển (truyện ký 1962) Đặc biệt là Biển và chim bói cá (tiểu thuyết
2008), tác phẩm đã đoạt giải thưởng lớn trong liên hoan quốc tế về Sách và biển tại Pháp vào tháng
4 năm 2012. Bùi Ngọc Tấn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; Hội viên danh dự Hội Văn bút Quốc
1
tế; Hội viên danh dự Hội Văn bút Canađa. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng văn học cao quý
của: Tạp chí Vãn nghệ;
Tạp chí Văn nghệ Quần đội; Bộ Văn hóa; Nhà xuất bản Hội Nhà văn Việt Nam; Hội Liên hiệp
Văn học Nghệ thuật Hải Phòng; giải thưởng Hội Nhà văn.
Văn xuôi Bùi Ngọc Tấn có sức lôi cuốn người đọc một cách kỳ lạ. Mỗi tác phẩm của ông
giống như một bộ phim quay chậm, quay tỉ mỉ hiện thực cuộc sống. Nghệ thuật tự sự trong tiểu
thuyết của Bùi Ngọc Tấn đã làm cho những trang văn của ông như cũng có tâm trạng cùng nhân
loại với những số phận, cuộc đời, với những nhân tình thế thái. Người đọc khi tiếp cận tác phấm
của ông luôn luôn phải trăn trở, suy ngẫm và như tìm thấy chính mình trong đó. Bùi Ngọc Tấn
với cách viết dung dị, chi tiết, chân thật, khách quan đã đóng góp cho tiểu thuyết Việt Nam hiện
đại thêm một tầm vóc mới, tự tin đứng ngang hàng với bạn bè quốc tế.
1.3. Bùi Ngọc Tấn là một nhà văn lão thành, có nhiều thành tựu lớn trong đời viết của
mình. Nghiệp văn chương như một định mệnh đã đeo đuổi suốt cuộc đời ông. Lặn lội trên đường
đời khắc nghiệt với những cay đắng, ngọt bùi đã làm nên một Bùi Ngọc Tấn đầy bản lĩnh, đủ sức
chống trọi với những cơn cuồng phong của cuộc sống đầy xô bồ, hỗn tạp. Niềm đam mê viết văn
đã len vào từng huyết mạch của ông, đã có lúc ông tưởng như gục ngã, "bẻ bút", "đoạn tuyệt hẳn
" với bút mực, với văn chương nhưng niềm đam mê viết đã thôi thúc ông trở lại mạnh mẽ, quả
quyết, bản lĩnh và chín hơn. Ông đã từng thố lộ trong trang bìa của tiếu thuyết Biến và chim bói
cá: "Thế hệ chúng tôi đã chứng kiến biết bao biến động của lịch sử. Một thế hệ nhiều năm rồi
nằm trong tầm bắn tỉa của Thần Chết, đang biến mất khỏi hành tinh này không để lại một vết
xước nào. Tôi chỉ muốn thật trung thực trong khi viết để góp phần vào việc lưu giữ ký ức của
Dân tộc"; và ông nhận là "người thư ký, là người chép sử của thời đại".
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn có thể xem như một hiện tượng văn học đáng chú ý trong nền văn
học hiện đại Việt Nam những năm sau 1975. Niềm say mê viết của ông đã được nhiều đồng
nghiệp nhìn nhận và đánh giá, khẳng
định chỗ đứng của ông trong văn đàn Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
Mặc dù, trong suốt chiều dọc của cuộc đời mình, đã có một khoảng thời gian ngắn Bùi Ngọc
Tấn gặp trắc trở, lận đận trong nghề viết vì quan điểm tư tưởng của mỗi một giai đoạn lịch sử xã
hội, nên cái nhìn về ông có sự hiểu lầm. Nhưng không vì thế mà hình ảnh Bùi Ngọc Tấn nhanh
chóng bị chôn vùi cùng năm tháng, ngược lại ông vẫn còn có nhiều, rất nhiều bạn bè đồng nghiệp
hiểu và đánh giá đúng bản chất con người ông, đặc biệt là con người văn chương trong trái tim nhà
văn. Đã có rất nhiều các bài viết, phê bình, nghiên cứu về các sáng tác của Bùi Ngọc Tấn trong một
2
khoảng thời gian khá dài, từ những năm 2000 trở lại đây. Đó là những bài viết của các tác giả:
Dương Tường, Vân Long, Phong Hằng, Trần Đức Hiến, Thanh Vân, Khánh Phương Điều này
phần nào nói lên được cho dù có gặp không may mắn, có sự hiểu lầm nhưng tầm ảnh hưởng và
vai trò của những tác phẩm văn chương mà nhà văn Bùi Ngọc Tấn mang đến cho cuộc đời này đã
được đón nhận và ghi nhận, đã được lưu giữ cùng thời gian.
Bài viêt của tác giả Dương Tường trong Chỉ tạì con chích chồe (tạp luận - 2009) với nhan đề
"Bùi Ngọc Tấn và hóa học của nhân bản" đã khám phá về một Bùi Ngọc Tấn ngồn ngộn chất sống
với những trải nghiệm, hội nhập, đồng hóa với tất cả các hạng người trong xã hội khi họ phải đối
mặt với những trầm luân của nhân sinh. Tác giả Dương Tường nhận ra trong tầng sâu bản chất con
người Bùi Ngọc Tấn một bản lĩnh, một sự nỗ lực vươn lên, đã nhìn thấy Bùi Ngọc Tấn vượt ra khỏi
sự cầm tù của nỗi đau, để bắt đầu có những tín hiệu của một sự khởi đầu mới. Nhà văn cho rằng:
"Những năm tháng hoạn nạn - theo quy luật bù trừ của tạo hóa? - đã tạo cho Bùi Ngọc Tấn hội
nhập, thậm chí đồng hóa, vào môi trường dưới đáy, giàu thêm bao trải nghiệm trên mọi cung bậc
trầm luân của nhân sinh
Tác giả Vân Long với bài viết Hiện thực Bùi Ngọc Tấn trong Những người rót biến vào chai
(chân dung văn học), Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội. 2010 đánh giá và nhìn nhận Bùi Ngọc Tấn là
một trong những nhà văn "bản lĩnh" hơn cả. Nhà văn Vân Long nhìn nhận sự trở lại văn đàn của
Bùi Ngọc Tấn như sau: "Sau thời gian im lặng, ngòi bút hiện thực của anh được nâng cao hắn lên
một mức của sự tỉnh xác, độ lượng và hóm hỉnh một cách "ma quái" sự trải nghiệm đời những
năm im lặng làm anh sâu sắc hơn, chân thiện hơĩĩV'. Tác giả bài viết đánh giá, trong nghiệp viết
của mình, chưa bao giờ Bùi Ngọc Tấn rời xa bút pháp hiện thực, thậm chí ông còn đằm mình sâu
hơn vào lòng của hiện thực để trải nghiệm và viết.
Báo Trong đời sống hôm nay, số 197, tháng 5 năm 2012, tác giả Trần Đức Hiển có bài viết:
“Một ngày vui với nhà văn Bùi Ngọc Tấn” đã đánh giá Bùi Ngọc Tấn là một con người cởi mở, dễ
gần, không có dấu ấn của một người đã phải chịu nhiều những thăng trầm, đã mất mát trong đời
sống tinh thần. Sau hơn 20 năm "ngủ yên" (1968-1995), Bùi Ngọc Tấn đã "bừng tỉnh" và liên tục
cho ra đời các tác phẩm gây được nhiều sự chú ý của người đọc như: Một thời đê mât, Những
người rách vỉệc, Rừng xưa xanh lả Bùi Ngọc Tấn đã được trả về đúng với vị trí của ông trên văn
đàn. Các giải thưởng của Báo Văn nghệ, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, Bộ Văn hóa, Nhà xuất bản
Hội Nhà văn đặc biệt là tiểu thuyết Biển và chim bói cá xuất bản năm 2008, dịch ra tiếng Pháp và
đoạt giải thưởng danh giá mang tên nhà văn Pháp nổi tiếng Henri-Queffélec trong liên hoan quốc tế
3
Sách và biển đã chứng minh điều đó. Hơn thế nữa, Bùi Ngọc Tấn còn là Hội viên danh dự Hội Văn
bút Quốc tế và Hội Văn bút Canađa.
Các bài viết khác của các tác giả Vân Long; Phong Hằng; Thanh Vân; Dương Hướng về
Bùi Ngọc Tấn trong khoảng thời gian mười năm gần đây đều đi chung vào một nhận định ông
chính là người thư ký trung thành của thời đại. Với lối viết dung dị, tỉ mỉ, Bùi Ngọc Tấn cần mẫn,
lặng lẽ như con ong chắt lọc những giọt mật cho đời, cho dù có những giọt mật đắng.
Tuy nhiên, những bài viết, nghiên cứu, tìm hiểu về các sáng tác của Bùi Ngọc Tấn mới chỉ
dừng lại ở cái nhìn, đánh giá tổng thế, khái quát chung về đời viết của ông. Hiện nay chưa có nhiều
công trình nghiên cứu về Bùi Ngọc Tấn và những đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà, đặc
biệt là ở thể loại tiểu thuyết còn là khoảng đất trống. Vì vậy, chúng tôi đã chọn đề tài nghiên cứu:
Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn. Đây là công trình nghiên
cứu đầu tiên tập trung phân tích nghệ thuật tự sự trong cuốn tiếu thuyết Biến và chim bói cá của Bùi
Ngọc Tấn. Chọn đề tài này, chúng tôi mong muốn có thêm tiếng nói của những người yêu mến văn
chương khẳng định những đóng góp của Bùi Ngọc Tấn cho sự phát triến của văn học dân tộc nói
chung và tiếu thuyết Việt Nam hiện đại nói riêng.
2. Mục đích nghiên cún
Từ những lí do đã nêu ở trên, mục đích của luận văn nhằm đi sâu vào tìm hiếu phương diện
nghệ thuật tự sự, qua đó nhận diện được phong cách tự sự của Bùi Ngọc Tấn. Chỉ ra được những
đặc điểm về nghệ thuật tự sự thể hiện trong các tiếu thuyết của Bùi Ngọc Tấn nói chung, Biến và
chim bói cá nói riêng.
Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu tiểu thuyết Biển và chim bói cá để thấy được những đóng góp
tài năng của Bùi Ngọc Tấn đối với văn xuôi hiện đại Việt Nam, cụ thể hơn là ở thể loại tiểu thuyết.
Trong khuôn khổ có hạn của bài viết, luận văn không có tham vọng tìm hiểu, nghiên cứu
nghệ thuật tự sự trong tập hợp nhiều tiểu thuyết của Bùi Ngọc Tấn nên chỉ dừng lại ở việc tìm hiếu
nghệ thuật tự sự trong một cuốn tiểu thuyết của ông đó là Biến và chim bói cá.
3. Nhiệm vụ nghiên cún
Thông qua việc đọc và tìm hiếu chi tiết tiếu thuyết Biến và chim bói cá để làm rõ phong cách
nghệ thuật tự sự độc đáo trong tiểu thuyết của Bùi Ngọc Tấn nói chung cùng Biến và chim bói cá
nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cún
4.1. Đối tượng nghiên cún
4
Luận văn tập trung khảo sát chủ yếu tiểu thuyết Biến và chim bối cá (Tiểu thuyết 2008).
4.2. Phạm vỉ nghiên cún
Nghiên cứu văn học là một quá trình, cho nên để có cái nhìn và sự đánh giá toàn diện, khách
quan về văn phong độc đáo cũng như những sáng tạo trong quá trình sáng tác của nhà văn, người
viết có tham khảo so sánh tiểu thuyết Biến và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn với: Biến xa (tập
truyện ngắn) của Bùi Đức Ái, Đứng trước biến (tiểu thuyết) của Nguyễn Mạnh Tuấn.
5. Phương pháp nghiên cún
Đe tiếp cận một tác phẩm văn chương có rất nhiều các con đường đến khác nhau, tuy nhiên
luận văn đã lựa chọn một sô phương pháp phù hợp với việc tìm hiểu nghệ thuật tự sự trong tiểu
thuyết Biển và chim bói cá như:
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Với bản thân các sáng tác của nhà văn ở các thời điểm khác nhau.
Với một số nhà văn khác cùng chung đề tài về biển như: Bùi Đức Ái, Nguyễn Mạnh Tuấn
- Phương pháp phân tích thống kê.
- Phương pháp tổng họp.
6. Những đóng góp của luận văn
Đây là luận văn đầu tiên đặt ra vấn đề nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong tiếu thuyết Biến và
chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn, để tiếp tục khắng định phong cách rất riêng, độc đáo của nhà văn ở
thể loại tiểu thuyết. Qua việc nghiên cứu này, người viết muốn làm rõ hơn sự đóng góp rất lớn của
Bùi Ngọc Tấn đối với sự phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
Vì đây là bài tiểu luận đầu tiên, nên trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu
sót và hạn chế, người viết mong được sự bổ sung, góp ý của thầy cô và đồng nghiệp.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Ket luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Bức tranh đời sống xã hội trong tiểu thuyết Biển và chim
bói cá.
Chương 2. Thế giới nhân vật trong tiểu thuyết Biển và chim bói cá. Chương 3.
Đặc sắc trong kết cấu, ngôn ngữ, giọng điệu, cốt truyện.
5
Chương 1 BỨC TRANH ĐỜI SỔNG XÃ HỘI TRONG TIẺƯ THUYÉT BIẺN VÀ
CHIM BÓI CÁ 1.1. Đề tài về biển và những người lao động trên biển trong văn học
Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX
Văn chương luôn là một tấm gương phản chiếu chính xác hiện thực cuộc sống. Ở
mỗi một giai đoạn lịch sử xã hội nhất định, bộ mặt của đời sống sẽ có những nét khác
nhau. Đất nước trải qua một thời gian dài đắm chìm trong khói lửa của chiến tranh. Con
người phải oằn mình, kiên cường đối mặt với mất mát, đau thương đế giành lại nụ cười
rạng rỡ trong ngày độc lập. Ngoảnh nhìn lại gần một thế kỷ, Tổ quốc phải chịu nhiều
những đau đớn, đổ nát bởi bom đạn, bởi thuốc súng. Giờ phút tự do như tia nắng mặt
trời chiếu rọi xuống làm ấm, sáng từng số phận, từng cuộc đời của mỗi người dân Việt
Nam. Cả nước vặn mình đứng lên, vượt qua những tổn thất, những đớn đau nở nụ cười
rạng rỡ đón chào một kỷ nguyên mới, cho dù phía trước còn muôn vàn những thử thách,
chông gai.
Sau nhiều năm tìm đường xây lại ngôi nhà bị đổ nát, Đất Nước đã có những đối
thay nhất định. Như những bước chân của Phù Đống năm xưa, cả nước đứng lên quyết
đem lại cho cuộc sống một tư thế mới. Tất cả các lĩnh vực kinh tế được đánh thức, ầm
ầm, sôi động, hăng hái vào cuộc, để vực lại một dáng đứng tự tin, khang trang, sang
trọng. Văn học chính là con mắt dõi theo và truyền lại quá trình vặn mình đó của dân
tộc. Như một người thư ký trung thành, mỗi tác phẩm văn học của nhà văn đều ghi chép
lại rất chi tiết, chính xác từng bước đi của cuộc sống. Ở đó có niềm vui, có nỗi buồn, có
nỗi thất vọng của sự thất bại, có nụ cười của sự thành công, có đau đớn, chua chát nhưng
cũng có niềm hy vọng, lòng vững tin.
Bên cạnh rất nhiều đề tài để văn học ghi chép, phản ánh thì đề tài về biển luôn là
đối tượng được nhiều nhà văn quan tâm.
Một trong những chủ trương để đất nước có một nền kinh tế vững chắc, đứng
ngang hàng với bạn bè quốc tế trong khu vực chính là mô hình kinh tế biển. Tuy nhiên,
trong lăng kính của văn học nghệ thuật cuộc sống lao động của những người công nhân
gắn liền với biến cả lại rất sinh động với nhiều gam màu, cung bậc khác nhau. Biển
trong cái nhìn của người nghệ sĩ có rất nhiều dáng hình, tính tình, vẻ đẹp. Trong thơ của
Huy Cận, Xuân Diệu, Xuân Quỳnh biển đẹp, lãng mạn, thơ mộng, hiền hòa như sự
ngọt ngào, đắm say của tình yêu đôi lứa. Như một bài ca bất tận về vẻ đẹp chung thủy,
ồn ào, nồng cháy bởi các cung bậc của tình yêu. Nhưng biển cũng lại có một hình hài
khác, một tư thế khác khi gắn biển với nhịp thở của cuộc sống đời thường. Cho nên đề
tài về biển và cuộc sống của những người lao động trên biển trong văn học Việt Nam
nửa cuối thế kỷ XIX xuất hiện khá sinh động. Điều này giúp cho chúng ta có được cái
nhìn từ nhiều góc độ khác nhau về biến, về những người cả một đời song hành cùng với
sóng nước mênh mông nơi đại dương bao la.
1.1.1. Tập truyện ngắn Biển xa (1961) của Bùi Đức Ái
Hòa vào dòng chảy chung của văn học khi viết về xã hội Việt Nam những năm
cuối của thể kỷ XIX. Bùi Đức Ái cũng có một góc nhìn khá sinh động về cuộc sống của
những người lao động trên biến. Tập truyện ngắn Biến xa ra đời năm 1961 lại là một sự
cảm nhận mới rất riêng của tác giả dành cho biển và những người lao động gắn với biển.
Tập truyện bao gồm có mười truyện cùng chung chủ đề: Chuyến lưới máu, Người đào
hát, về làng, Con đường phía trước, Bức tranh để lại, Người gác đèn biến, Con cá song,
Một người chú ở Lộng Dương, Cứu thuyền, Chuyện riêng, ơ mỗi truyện là một mảng
sống đầy nhọc nhằn, lam lũ của những người dân chài.
Trong Chuyến lưới máu, Bùi Đức Ái viết về những số phận của người lao động
trong bối cảnh xã hội cũ. Tác giả thuật lại trong một chuyến đi biến, vì ham một mẻ cá
lớn, Tư Hưng là ông chủ của con thuyền đã không lỡ bỏ mẻ cá đế cho thuyền vào bờ kịp
thời nhằm mục đích chữa trị cho một chú bé đánh cá thuê có tên là Vọi. Vọi đã vì cố sức
kéo một mẻ cá lớn nên bị gãy chân. Cuối cùng, chú bé phải chấp nhận để mất đi vĩnh
viễn một bên chân của mình trên biến bởi vết thương đã quá lâu mà không được chạy
chữa. Vì mưu sinh, vì phải tiếp tục sống nên cho đến hết cả cuộc đời, Vọi sẽ phải làm
thuê trên đôi chân đi nạng của mình.
Cuộc sống của những người đi biển với muôn màu, ở mỗi gam màu lại hiện lên
một mảng màu sắc khác nhau, tạo nên bức tranh đa dạng sắc màu trong đời sống dân
chài. Ở truyện ngắn Cứu thuyền, nhà văn thuật lại quá trình chuẩn bị đi cứu một chiếc
thuyền bị nạn ở ngoài khơi của bà con một làng đánh cá theo đạo. Trong câu chuyện
này, tác giả vừa nêu lên tinh thần hết lòng quan tâm, giúp đỡ, bao bọc lẫn nhau của bà
con xứ đạo, đồng thời là lời tố cáo vạch trần bộ mặt giả nhân giả nghĩa của những tên
trùm đạo rắp tâm phá hoại cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, mà cụ thể ở đây là phản
đối chủ trương xây dựng họp tác xã.
Đen truyện Người gác đèn biến, Bùi Đức Ái kể lại câu chuyện về một người
nghèo khổ, trôi dạt trên bãi biển và trở thành người gác đèn sống xa đất liền mấy chục
năm. Những năm tháng sống xa đất liền, sống xa ánh đèn và âm thanh của thành phố,
người gác đèn biển đã cứu sống một em nhỏ bị bão làm đắm thuyền và nuôi nấng, cưu
mang em nhỏ đó dần khôn lớn. Anh đã bỏ qua quãng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời
mình, bỏ qua nhu cầu tất yếu trong cuộc sống đời thường, không một mái ấm gia đình
riêng chỉ vì ánh sáng của cây đèn biển. Đứa trẻ được anh cứu sống và nuôi nấng đã
trưởng thành, người gác đèn lại một lần nữa gạt đi tình cảm gắn bó giữa hai ông cháu,
đồng ý cho đứa bé lên bờ để có điều kiện học hành và có một tương lai tốt đẹp hơn.
Người gác đèn biển lại tiếp tục trở về với cuộc sống lẻ bóng, cô đơn cùng với cây đèn
biển ngoài khơi cho đến lúc rời xa vĩnh viễn cuộc đời vì bệnh tật.
Hay trong Một người chú ở Lộng Dương, nhà văn Bùi Đức Ái khắc họa tính cách
một người đánh cá tên là Năm Hoa. Bản chất Năm Hỏa là một người tốt, nhưng ông
phải chịu đế cho một người bạn thân sỉ nhục là người xấu, chỉ vì ông không chịu cho
người bạn vay tiền mua lưới làm ăn cá thế. Trong thâm tâm, ông muốn giúp bạn bằng
cách đưa bạn vào tập đoàn đánh cá.
Truyện Con cá song được xem là tiêu biểu nhất trong Biển xa. Câu chuyện kể lại
cuộc đấu tranh giữa hai bố con của một người đánh cá. Trong một chuyến đánh cá, chỉ
vì lợi ích tư hữu nên người cha đã bán con cá song to nhất trong mẻ lưới. Người cha cho
rằng hành động đó của ông sẽ không có ai biết và nghĩ rằng đó cũng là lẽ đương nhiên
đế bù lại cho những thiệt thòi của ông. Mặc dù, đây là mẻ lưới chung của cả tập đoàn
đánh cá. Anh con trai không đồng ý, khuyên cha nếu đã bán thì hãy đem trả lại số tiền
đó cho tập đoàn. Câu chuyện kết thúc bằng hành động người cha đã làm theo sự khuyên
nhủ của anh con trai.
Có thế thấy rất rõ trong những câu chuyện trên, nhà văn Bùi Đức Ái bằng việc
khắc họa chân dung những con người lao động rất bình thường với muôn vàn những tình
huông, ứng xử trong cuộc sông tưởng như cũng rât bình thường nhưng chứa đựng bao
điều trăn trở về hiện thực cuộc sống. Tập truyện đã đề cập đến rất nhiều những vấn đề
khác nhau trong nếp sinh hoạt đời thường: số phận của những người lao động trong xã
hội cũ; lòng yêu nước nồng nàn; lòng nhân ái, tình yêu thương con người. Điều nổi bật
hơn cả trong tập truyện còn là vấn đề về mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và tập thể.
Đây chính là vấn đề có ý nghĩa rất lớn lao mà bất kỳ giai đoạn lịch sử xã hội nào cũng
cần phải lưu tâm tới.
1.1.2. Tiểu thuyết Đứng trước biển (1983) của Nguyễn Mạnh Tuấn Cùng
chung nguồn mạch về đề tài biến với những người lao động trên biển trong xã hội trước
thời kỳ đối mới. Đứng trước biến của Nguyễn Mạnh
Tuấn lại có quy mô lớn hơn Biển xa của Bùi Đức Ái. Trong Đứng trước biến, Nguyễn
Mạnh Tuấn xông vào những hiện thực mới xuất hiện của xã hội đó là vấn đề giữa con
người và sản xuất. Tác phẩm ra đời được xem như là một sự kiện văn chương của giai
đoạn văn học đương thời.
Nguyễn Mạnh Tuấn viết Đứng trước biến khi nền kinh tế trên khắp đất nước ta ở
tất cả các ngành nghề đang có sự chuyển biến mạnh mẽ về cách làm ăn theo những chỉ
thị, nghị quyết mới của Trung ương. Ket cấu của Đửìĩg trước biến xoay quanh sự trả lại
vị trí thích họp của một cán bộ quản lí gắn với số phận của một xí nghiệp đánh cá. Trong
tiểu thuyết này, nhà văn nêu lên phương pháp, cách thức của một lối quản lí, hoạt động
sản xuất, làm kinh tế theo lối mới. Ấn sau đó còn là vấn đề xã hội, vấn đề nhân sinh.
Tiểu thuyết Đứng trước biển đã công phá cái tiêu cực với những biểu hiện và
những tính chất khác nhau trong tư tưởng, tâm lí con người. Những nhân vật phản diện
trong tác phẩm như: Chín Tâm, Năm Miên, Sáu Kình đã bộc lộ rõ bản tính cơ hội, ích
kỷ, chuyên quyền. Nhưng dụng ý của tác giả là ở chỗ những nhân vật này với nét tính
cách trái chiều đã làm nền để tô điểm cho những nhân vật mang tính tích cực như: Ba
Đức, Năm Dũng, út cần, Sáu Hớn, Lê Tám Nguyễn Mạnh Tuấn đã phản ánh khá chi
tiết hiện thực xã hội trước cải cách, đổi mới cả hai mặt sáng và tối.
Đứng trước biến là bức tranh hiện thực của xã hội Việt Nam. Giống như biển có
dòng trong dòng đục, hiện thực xã hội cũng có mảng sáng, mảng tối. Từ sự đúng đắn
trong suy nghĩ của Ba Đức, lòng chân thật, cao thượng của Lê Tám, đạo đức cách mạng
trong sáng của Sáu Hớn, cái nhìn sắc sảo và nghiêm khắc của út cần, đức tự tin và năng
lực dồi dào của nhân vật Thành cho đến sức mạnh tập thể của tàu HI4 với người đứng
đầu là thuyền trưởng đủ phẩm chất, bản lĩnh và uy tín như Năm Dũng. Chính những
dòng nhân vật này trong tiểu thuyết Đứng trước biển đã nhấn mạnh vẻ đẹp của biển,
nhấn mạnh vẻ đẹp rõ rệt dòng trong của lòng biển, mảng sáng của hiện thực.
Bên cạnh đó dòng đục của biển, mảng tối của hiện thực được tác giả tập trung
miêu tả qua sự trụy lạc, phản phúc của Sáu Kình, sự lỗi thời, cơ hội của Năm Miên, đặc
biệt là sự vô dụng, bất tài, lộng hành, ích kỷ của Chín Tâm
Các nhân vật trong tiếu thuyết đã chứng tỏ cái nhìn khách quan của Nguyễn
Mạnh Tuấn khi nhìn hiện thực xã hội trong tác phẩm không đơn giản, một chiều. Ở đây,
có dòng trong, dòng đục, có mảng sáng, mảng tối và thậm chí có cả dòng trong đục,
mảng sáng tối lẫn lộn.
Tập thể tàu HI5 là sự phức hợp đó. Các nhân vật như Hai Tiến, Ba Phi, Liên
cũng chính là sự pha trộn giữa hai dòng. Hai Tiến giỏi về chuyên môn, nhung sớm co
mình trong cái vỏ phận sự của công chức, Ba Phi là một thuyền trưởng xứng đáng
nhưng lại quen lối sống tự do đến buông thả; Liên sống thiết tha, có sự gắn bó với công
việc nhưng không phải đã tìm được ngay một thái độ cần có trong cuộc đấu tranh với cái
tiêu cực ở cuộc đời.
Tuy nhiên, vấn đề chính của bức tranh hiện thực đời sống trong Đủng trước biến
vẫn là sự nổi bật, vượt lên hơn cả của dòng trong, mặt sáng, điếm này đã giữ vai trò chủ
đạo trong tác phẩm. Mặc dù, cái xấu vẫn tiếp tục vùng quẫy và gây lên nhiêu tác hại ghê
gớm.
Nguyễn Mạnh Tuấn đã gửi quan điểm của mình, lí tưởng tham mỹ của mình qua
những nhân vật tích cực như Ba Đức, Bảy Thu, út cần, Sáu Hớn. Tác giả cho rằng, muốn
có suy nghĩ đúng thì điều đầu tiên phải có can đảm nhìn thẳng vào thực chất của sự vật.
Sự tránh né hoặc tạo ra ảo tưởng bằng cách này hay cách khác trong nhìn nhận hiện thực
không có sự cải tạo được hiện thực. Nhà văn xây dựng nhân vật Bảy Thu với nét tính
cách ưa nói thẳng vào sự thật, nói thẳng vào tội lỗi, ưa phanh phui ý nghĩa trần tục của
hiện tượng. Bảy Thu "không quen gọi những tên ăn cắp với hán từ đồng nghĩa là "tham
ô" [45, tr.60], những tên tham ô là "hủ hóa", những kẻ u tối, bất tài là thiếu năng lực,
những hậu quả phá hoại là "vô trách nhiệm". Vì theo Bảy Thu, cách nói như vậy sẽ
khiến cho những "kẻ tội lỗi có vẻ sạch sẽ, do đó giá tiị thật của đạo đức và liêm sỉ bị rẻ
rúng đi" [45, tr.60].
Vào thời kỳ quá độ, không phải lúc nào cái tích cực, tốt đẹp cũng thắng thế. Cho
nên, tác giả quan niệm điều quan trọng bậc nhất trong mối quan hệ giữa con người với
con người là đừng đế mất lòng tin. Sáu Hớn là một nhân vật tích cực trong tác phẩm đã
từng nghĩ một cách thấm thìa: "mất gì thì mất chứ không thể để mất lòng tin của quần
chúng"[45, tr 226].
Nguyễn Mạnh Tuấn gửi gắm nỗi trăn trở, suy tư của người cách mạng trong một
xã hội đang có sự chuyến mình ở chỗ người cách mạng chân chính phải xả thân vì công
việc chung, phải dám đứng ra gánh chịu trách nhiệm trước cái ngưng trệ, thậm chí thối
rữa của hiện thực. "Đe những gia đình công nhân phải chịu đựng vô lí trong sự cùng cực
này thêm một ngày là ta có tội một ngày ; "không phải tụi đầu nậu lưu mạnh mà chính
chúng ta phải chịu trách nhiệm" [ 45, tr.83]. Điều này có nghĩa là trong bất kỳ tình
huống nào, như Bảy Thu nói "người cách mạng chân chính, không thế vô trách nhiệm
khi đứng trước biển được".
Vậy trong Đứng trước biến, Nguyễn Mạnh Tuấn đặt ra vấn đề cấp bách là người
cách mạng lúc này phải làm gì? Và làm như thế nào? Bởi vì, lí tưởng tốt đẹp cần được
thể hiện bằng hiệu quả sinh động trong thực tế. Ba Đức hoàn toàn có cơ sở khi nghĩ rằng
"tạo ra nguồn của cải vật chất đầy đủ cho xã hội sẽ là sợi giây níu giữ tốt người ta ở lại
với Tổ quốc" [45].
Xây dựng nhân vật Ba Đức, tác giả chủ yếu muốn đưa ra một mẫu người hành
động. Cuộc tranh luận giữa Ba Đức và Hai Tiến về mối quan hệ giữa dũng khí, hiểu biết
và cách làm của người cách mạng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc thể hiện ý
đồ nghệ thuật của nhà văn.
Nguyễn Mạnh Tuấn là một nhà văn có tính cách thẳng thắn, bộc trực bởi chính
tác giả cũng xuất thân từ tầng lớp lao động, cũng là người thợ. Cho nên, trong Đứng
trước biển tác giả đã đề cập đến những vấn đề rất "nóng" của xã hội lúc bấy giờ. Sự ảnh
hưởng của gia đình - người cha của Nguyễn Mạnh Tuấn cũng bị đánh giá là lập trường,
tư tưởng có vấn đề, cho nên tác giả đã không được thi đại học. Những năm tháng là một
người thợ ở Quảng Ninh đã giúp nhà văn có cái nhìn thấu đáo vào hiện thực xã hội, hiện
thực cuộc sống của người công nhân. Đứng trước biến ra đời được xem là một sự kiện
văn chương.Thời gian tiểu thuyết xuất hiện trên văn đàn Văn học là lúc ở các địa
phương, các ngành, nền kinh tế đang có sự chuyển biến mạnh mẽ về cách làm ăn theo
những chỉ thị, nghị quyết mới của Trung ương.
Nội dung cốt lõi của Đứng trước biển là sự đề cập thẳng của nhà văn vào nhiều
vấn đề xã hội phức tạp được thu nhỏ lại trong một xí nghiệp đánh cá đang trên con
đường phát triển. Sự trì trệ và đi xuống của xí nghiệp đánh cá Sao Mai do lối làm ăn
quan liêu, bao cấp, bảo thủ, giáo điều và thiếu tinh thần trách nhiệm của những cán bộ
lãnh đạo đã được phản ánh khá chi tiết. Nhà văn không né tránh hiện thực. Sự đi xuống
của nền kinh tế không phát triến trong xã hội đương thời là do nếp quản lĩ lạc hậu và
trình độ thấp kém. Đồng thời, nguyên nhân còn là sự thiếu năng động, chây lười của một
bộ phận công nhân, thủy thủ.
Có thể nói, cùng chung đề tài viết về biển, trong Đứng trước biển, cái nhìn của
Nguyễn Mạnh Tuấn đã dám thắng thắn nhìn thắng vào hiện thực.Tác giả đã nhìn thẳng
vào những vấn đề còn bất cập trong xã hội để từ đó đưa ra mục tiêu cần có một con
đường mới phù hợp để đưa nền kinh tế nước nhà phát triển.
1.2. Sáng tác về biển của Bùi Ngọc Tấn
1.2.1. Những sáng tác vik về biến trước tiểu thuyầ Biển và chim bói cá
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn từng được đánh giá là người thư ký trung thành của thời
đại. Mỗi bước đi của đất nước đều được nhà văn dõi theo và phản ánh khá chân thành,
chi tiết. Nen kinh tế Việt Nam những năm đầu đối mới với nhiều những cái mới, cái hay
nhưng cũng không thiếu những mảng tối đã không qua khỏi cặp mắt của tác giả. vốn
cũng là một người thợ, Bùi Ngọc Tấn hiểu rất rõ "gan ruột" của một nền kinh tế đang
muốn đi lên đã có dấu hiệu của những chứng bệnh nào. VI là người con của Hải Phòng,
lại có thời gian khá dài Bùi Ngọc Tấn là nhân viên Quốc doanh đánh cá Hạ Long (1975-
1995) nên biển chính là một trong những nguồn cảm hứng lớn để nhà văn gửi gắm nỗi
niềm thông qua những trang viết.
Trong một bài Bùi Ngọc Tấn trả lời phỏng vấn của phóng viên Phong Hằng, nhà
văn đã bộc bạch duyên nợ của ông đối với biển. Bùi Ngọc Tấn cho rằng ông có một món
nợ rất lớn đối với biến. Những sáng tác về biển của nhà văn thấm đẫm hương vị biển với
nhiều sự cảm nhận khác nhau. Ông đã thồ lộ với phóng viên Phong Hằng như sau: "Tôi
đã làm nhân viên ở một xí nghiệp đánh cá quốc doanh 20 năm. Là một thành viên, một
tế bào của cái cơ thể phập phồng hơi thở có một đối tượng lao động là biến cả này, tôi
vui niềm vui của những ngày biến lặng gió êm, những chuyến biến tàu về đầy ắp cá, tôi
lo lắng cho những người bạn của tôi đang chịu gió mùa, tránh bão; tôi chia sẻ nỗi buôn
với những thủy thủ khi những chuyên biên bị gãy " [Tuôỉ trẻ thứ Sáu, 20-4-2012].
Tuy nhiên, những sáng tác về biển của nhà văn trước khi Biến và chim bói cá ra
đời lại mang một gam màu rất khác.
Ớ Người gác đèn biến (Truyện ký - 1962) và Người gác đèn cửa Nam Triệu, Bùi
Ngọc Tấn phác họa chân dung của những người gắn bó với biển nhưng ở một dòng
khác. Họ không phải là những thủy thủ trực tiếp với những mẻ lưới nặng, vơi, với mùi
tanh nồng của tôm cá. Họ là những người định hướng, là ngọn đèn soi sáng, dẫn đường,
chỉ lối cho những con tàu ra khơi. Người làm nhiệm vụ gác đèn biến như những chú
chim Hải âu, đơn độc giữa biển khơi, sóng nước. Bạn với họ chỉ là nỗi cô đơn và tiếng
sóng biển. Nhưng,
trong tâm hồn họ, những người gác đèn biển, chưa bao giờ họ thấy mình lẻ loi. Bùi
Ngọc Tấn đã phác họa họ như những tượng đồng, đối mặt với phong ba, với gió biển,
với nỗi cô đơn và nếp sống sinh hoạt đời thường. Họ vẫn vững vàng, kiên định, vững
chắc.
Bùi Ngọc Tấn là một nhà văn rất khéo trong việc đặt tên cho tác phẩm của
mình. Mỗi một nhan đề tác phẩm đã phần nào chứa đựng đầy đủ nội dung. Tác phấm
Người gác đèn cửa Nam Triệu là một trong những đứa con tinh thần của nhà văn khi
chào đời, cái tên đã hàm chứa đầy đủ những điều tác giả muốn nói. Đây là một tác
phẩm đầy chất vui sống. Đọc câu chuyện này, người đọc sẽ không nhận thấy sự lẻ loi
của những người ngày ngày phải đối mặt với đầu sóng ngọn gió. Họ rất lạc quan.
Xuyên suốt Người gác đèn cửa Nam Triệu, nhà văn tập trung khắc họa chân dung
người anh hùng Phùng Văn Bằng, một con người gắn bó trọn đời với tháp đèn, với
những hiếm nguy nơi cửa biển bao la. Tác phẩm đã được giải thưởng của Bộ Văn
hóa.
Để khẳng định tình yêu của mình dành cho biển, Bùi Ngọc Tấn đã có rất nhiều
cách tiếp cận biển. Thậm chí, nhà văn không ngần ngại khi nhìn biển ở những nét
tính cách đôi lập nhau. Ngoài Ngườỉ gác đèn biên, Người gác đèn cửa Nam Triệu,
Ngày và đềm trên vịnh Bái Tử Long, thì tác phấm có thế được xem là thành công
nhất, thể hiện rõ nhất tình yêu của ông với biến, sự hiếu biết về biển và về người lao
động trên biển phải kể đến tiểu thuyết Biển và chim bói cá (2008). Cuốn tiểu thuyết
này ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong đời viết của Bùi Ngọc Tấn. Tác
phẩm không chỉ khẳng định tình yêu của ông dành cho biển, cho con người, không
hề vơi cạn, phôi pha, xao lãng mà còn là nỗi niềm suy tư, trăn trở về số phận của mỗi
người công nhân khi gắn với biến.
Trong Biến và chim bói cá, nhà văn thu vào tầm mắt của mình cả hai mảng
sáng và tối. Ông viết về những con người lao động trên biển với một sự
trân trọng, thương xót. Dù nhà văn có phê phán nhưng cũng là sự phê phán bao dung,
rộng rãi của một con người luôn có lòng vị tha trung thực. Cho nên, đầy ắp trong tiếu
thuyết Biến và chim bói cá là tiếng cười.
1.2.2. Đề tài và chủ đề tiểu thuyết Biển và chim bói cá
Đề tài là phạm vi hiện thực đế nhà văn lựa chọn và miêu tả, thể hiện tạo thành
chất liệu của thế giới hình tượng trong tác phẩm, đồng thời là cơ sở để từ đó nhà văn đặt
ra những vấn đề mà mình quan tâm.
Đe tài của tác phẩm thường gắn chặt với hiện thực cuộc sống của thời đại mà nhà
văn đang sống, cho nên đề tài mang tính lịch sử sâu sắc.
Trong Biến và chim bói cá, Bùi Ngọc Tấn chọn biển và những người công nhân
trực tiếp lao động với biển là đề tài sáng tác. Tuy nhiên, thường trong mỗi tác phẩm văn
học không phải chỉ có một đề tài mà có rất nhiều đề tài liên quan đến nhau, bổ sung cho
nhau để tạo thành một hệ thống đề tài. Pospelôp cho rằng: "Hệ đề tài là toàn bộ đề tài
của tác phẩm hoặc sáng tác". Biến và chim bói cá không chỉ là những người lao động
trực tiếp hoặc gián tiếp trên biển mà còn là thái độ phê phán của tác giả về mặt trái trong
quản lí của những cán bộ quan liêu, thoái hóa về phẩm chất, đạo đức. Họ là nguyên nhân
dẫn đến sự trì trệ trong lao động, sản xuất.
Chủ đề là vấn đề chủ yếu, trung tâm, là phương diện chính yếu của đề tài. Chủ đề
là những vấn đề được nhà văn tập trung soi rọi, tô đậm, nêu lên trong tác phẩm mà nhà
văn cho là quan trọng nhất.
Dễ nhận thấy chủ đề trong Biến và chim bói cá là thân phận những người thủy
thủ - họ có những người thuộc biên chế trên biển nhưng vì lí do cơ chế nên phải nằm bờ,
chờ việc và ăn lương thất nghiệp. Phần lớn những thủy thủ có mặt trong phần một của
tiểu thuyết được ra khỏi. Tuy nhiên cuộc sống của họ vô cùng bấp bênh, chìm nổi như
những đợt sóng trên biển cả.
Bên cạnh những người lao động thuộc khối dưới nước là những người làm việc ở
khối trên bờ. Cuộc sống, cuộc đối thoại của họ trong công việc đã
chứng tỏ sự suy sụp của một cơ chế quan liêu bao cấp và những con người sống
trong cơ chế đó đang muốn vùng vẫy để thoát ra. Họ muốn có điều gì đó sẽ thay đổi
về cuộc sống trong tương lai.
Chủ đề và đề tài thường có sự gắn bó với nhau nhưng nhiều khi chủ đề vượt
qua giới hạn của đề tài cụ thể mà nêu lên những vấn đề khái quát hơn.
Từ sự đánh giá về đề tài và chủ đề như trên, có thể thấy rõ đề tài và chủ đề
trong Biến và chìm bói cá tập trung ở một số phương diện sau:
1.2.2.1. Mối quan hệ của con người trong lao động sản xuất
Bùi Ngọc Tấn là một nhà văn cần mẫn, chăm chỉ. Đọc truyện nào, sáng tác
nào cũng thấy đầy ắp vốn sống, ngồn ngộn chi tiết và lấp lánh nét tài hoa, gợi mở.
Trong Biển và chim bói cá, nhà văn đề cập đến số phận của những người lao
động mà chỗ họ cần dựa lấy đế mưu sinh chính là đại dương bao la.
Xuyên suốt tác phẩm là một sự phong phú về chi tiết, đầy ắp chất liệu sống và
đặc sệt phong cách Bùi Ngọc Tấn. Với kinh nghiệm hơn hai mươi năm là thành viên
của xí nghiệp đánh cá Hạ Long, Bùi Ngọc Tấn đã chứng kiến đủ những chìm nối,
ngang trái của cuộc sống và con người trong một bầu không khí cũ.
Ở tiểu thuyết này, quan hệ của những người công nhân trong quốc danh đánh
cá Biển Đông rất bình đẳng, rõ ràng, cảm thông và chia sẻ. Tất nhiên, quan hệ này
chỉ có được ở những thủy thủ trực tiếp xuống tàu như Trần Bôn, Chơn, Lê Mây,
Thuyền vì họ đơn thuần chỉ là những thủy thủ bên cạnh tâm huyết làm giàu cho Tổ
quốc, họ còn có cả một gánh nặng gia đình trên đôi vai.
Đọc Biển và chim bói cá, người đọc sẽ nhận thấy tiểu thuyết này lạ ở chỗ
không có đầu, không có đuôi, không có cốt truyện. Cả tác phẩm là sự tiếp nối liên tục
các chi tiết, sự kiện, những câu nói, những nhân vật. Có thế nói vô vàn các chi tiết
kết nối nhau chạy dọc theo chiều dài của tiểu thuyết. Hàng
trăm, hàng nghìn chi tiết lớn nhỏ. Nhưng ấn chứa trong từng chi tiết nhỏ ấy là các mối
quan hệ đan xen của những nhân vật ở cả hai chiều tích cực và ngược lại.
Trung tâm trong Biên và chim bói cá là hình ảnh của một xí nghiệp đánh cá Biến
Đông. Tuy nhiên mối quan hệ không chỉ dừng lại ở đó. Trong câu chuyện nhà văn đưa ra
là một móc xích mà mỗi nhân vật là một mắt xích gắn kết chặt chẽ với nhau. Có quan hệ
giữa các thủy thủ trên tàu; quan hệ của các thủy thủ với những bộ phận trên bờ; thậm chí
các thủy thủ ngoài mối quan hệ với đồng nghiệp, họ còn có mối quan hệ với gia đình bố
mẹ, vợ con, làng quê. Xa hơn nữa, khi tàu đi đến Lạch Trường miền Trung, tới Cà Mau
miền Nam, rồi đặc biệt khi bước vào thời kỳ đổi mới, họ còn có quan hệ giao thương với
các nước ngoài Singapore, Nhật Bản Cho nên, xuất hiện trong tiểu thuyết, các thủy thủ
được giới thiệu rất phong phú từ nguồn gốc, quê quán, nơi ở, hoàn cảnh rất khác nhau,
tất cả những chi tiết đó đã tạo nên tính hấp dẫn cho tác phẩm.
Tiếu thuyết Biến và chim bói cá có rất nhiều nhân vật, ngồn ngộn hàng mấy chục
nhân vật trong Quốc doanh đánh cá của một thành phố biển ở nước ta. Nhân vật gồm cả
những người "trực tiếp sản xuất" trên biến và những người "ăn theo” trên bờ.
Mối quan hệ của họ có sự gắn bó song hành với công việc trong sản xuất, có
niềm vui, nỗi buồn. Người ta hài lòng, tự hào về những thủ thủy có tay nghề vững chắc
như Lê Mây, Trần Bôn, những thủy thủ có tâm huyết như Cương Mặc dù số phận của
họ khi ra khơi không được may mắn như nhau nhưng ở những thủy thủ này vẫn toát lên
một vẻ đẹp cao thượng của những người lao động. Họ có sự chia sẻ, thấu hiểu.
Thủy thủ Chơn, một con người tâm huyết với nghề biến. Những tháng ngày đằng
đẵng lênh đênh trên biển đã khiến cho Chơn không có thời gian nhiều dành cho gia đình.
Nỗi đau quá lớn khi Chơn hay tin ở nhà vợ đã có
mang với một người đàn ông khác. Giận vợ. Thương vợ. Chơn tự trách mình, tự thấy
một phần nguyên nhân dẫn đến nỗi đau mất mát này là bởi anh đã dành phần lớn quỹ
thời gian cho biển. Nỗi đau dần nguôi ngoai vì trên tàu, đồng nghiệp, bạn bè đã khỏa
lấp dần nỗi buồn trong anh. Sự thông cảm, yêu mến, chia sẻ của họ đã giúp Chơn tự
tin vào hạnh phúc sẽ đến với mình trong tương lai. Cuộc sống với miếng cơm manh
áo hàng ngày đã khiến những thủy thủ như Chơn phải lặn lội, bươn chải và như thế
đồng nghĩa với việc vô tình họ đã đánh mất đi phần nào hạnh phúc của mình.
Cương lại khác. Con chìm bói cá này được nhà văn xây dựng là một trong
những thủy thủ rất say nghề. Tâm huyết với nghề. Có kinh nghiệm đi biển nhờ vào
những năm tháng học tập trong nhà trường. Nhưng khi vào nghề, Cương chưa một
lần được làm thủy thủ chính thức trên bất cứ một con tàu nào. Anh chỉ là người thế
chân. Tuy vậy, Cương không thấy bi quan, bất mãn, chán nghề. Biển vẫn có ma lực
hút anh. Những thuyền trưởng trên các tàu, những thủy thủ vẫn thường xuyên ra khơi
rất thấu hiểu và thông cảm với cảnh ngộ của những người như Cương. Họ chia sẻ.
Không khinh bạc. Không coi thường. Ngược lại, thông cảm và thấu hiểu, mặc dù có
lúc trong họ có những chuyện ngủng ngoẳng, mất đoàn kết với nhau.
Hay như: Lê Mây, Quân, Mai, Giáp những thủy thủ này chính là hiện thân
của những con chim đi săn trên biến. Mỗi người một số phận, một cảnh ngộ nhưng ở
họ vẫn toát lên một niềm yêu đời, lạc quan cho dù hiện thực xã hội họ đang sống,
đang lao động còn muôn vàn những bất cập.
Trong tiểu thuyết Biển và chim bói cá, ngoài sự gắn bó của các thủy thủ trên
tàu có sự thấu hiểu, chia sẻ và cùng chung một khát vọng, hoài bão lớn đó là: một
cuộc sống no ấm, hạnh phúc thì sợi dây vô hình liên kết họ sau mỗi chuyến biển
chính là gia đình vợ con.
Bùi Ngọc Tấn đã tạc lên những nhân vật rất đời thường. Ông đã đi sâu, rất sâu
vào trong từng nghĩ suy, ước muốn của họ. Những thủy thủ ngày đêm
lênh đênh trên biển, làm bạn với sóng nước mênh mông đã ấp ủ trong mình những hạnh
phúc rất giản dị.
Trần Bôn, thuyền trưởng tàu Hạ Long HI4. Một thuyền trưởng giỏi, có kinh
nghiệm trong mỗi chuyến ra ngư trường. Vậy mà, ngay khi anh quyết định cất mẻ lưới
cuối cùng để làm tổng vệ sinh, Trần Bôn đã nghĩ ngay đến người vợ ở nhà. Niềm hạnh
phúc này ở Trần Bôn quá ư giản dị. Tàu cập bến, anh nhảy vội lên bờ, không mang theo
gì cả. Trần Bôn quang lại tất cả, không một con cá đem về cho vợ con, nhay ngay lên
xe, chỉ kịp ngoái lại dặn "Các ông ấy có hỏi thì bảo mình lên trạm xá một chút rồi về
ngay. Đấy. Bây giờ lại đau. Có lẽ dạ dày dở chứng thật rồi" [38, tr.25]. Cương, thuyền
phó dự bị rất tâm lí. Rất hiểu, Cương đã đứng ra bảo đảm cho sự vắng mặt của thuyền
trưởng trên tàu mình trong một "cuộc họp quan trọng” như là có lí do rất tự nhiên, rất
chính đáng: "Báo cáo, thuyền trưởng cầm y bạ đi khám bệnh rồi ạ" [38, tr.70].
Trần Bôn, cũng giống như nhiều thủy thủ khác, lênh đênh trên biển dài ngày, về
thăm vợ. Trần Bôn đi rất nhanh vì nhó' vợ. Anh thèm được nhìn thấy gương mặt người
phụ nữ của anh. Thèm được cảm nhận không khí của một gia đình.
Hoặc như cuộc sống với bộn bề khó khăn không làm cho những thủy thủ có cái
nhìn vào cuộc sống tăm tối. Cái tài của Bùi Ngọc Tấn là ở chỗ đó.
Câu chuyện của bác cấp dưỡng già dưới tàu có tên là Tích đã chứng minh cho
người đọc thấy được vẻ lạc quan đó: " Chúng mày biết gái Thủy Nguyên đập lúa rồi
chứ gì. Khăn mỏ quạ bịt kín mặt chỉ để hở hai con mắt, chẳng biết già trẻ xấu tốt ra sao.
Đập xong, tất cả ra về, chỉ còn tao và một cô ở lại quét dọn, về sau. Đen khi ra cầu ao,
cô ấy cởi khăn ra giũ. ôi trời! Đẹp quá. Má hồng rực, tóc mai dính bết, mắt bồ câu long
lanh. Hai đứa xắn quần lội xuống bậc gạch bên dưới. Cô ấy cúi xuống. Tao cũng cúi
xuống nhưng chưa vục nước ngay mà còn nhìn sang cô nàng. Hai bắp chân trắng như cá
chép ngâm dưới nước. Cô ấy cũng nhìn lại tao cười, má cứ rục lên rồi lại cúi xuống ao,
hai bàn tay khum khum định vốc nước lên mặt. Tao mới đưa tay sang xoa xoa vào mặt
nước chỗ khuôn mặt cô ấy. Cô ấy cười tủm tỉm, rồi nắm lấy tay tao, giữ chặt không cho
tao khỏa nước nữa. Lại còn đưa một tay sang xoa chỗ ao tao đang soi xuống. Trả miếng
đấy. Có đi có lại đấy. Ăn chết rồi! Tao cũng nắm lấy tay cô ấy, giữ tay cô gay lại, bóp
một cái thật mạnh. Cô nàng nhăn nhó há miệng ra chiều đau. Chỉ há miệng chứ không
kêu thành tiếng. Chà! Cái nhăn mặt ấy mới chết người" [38, tr.l 14].
Tác giả đã quá thấu hiểu họ. Hon 20 năm, có lúc chính nhà văn cũng từng ra
khơi. Nỗi niềm, tâm trạng của những thủy thủ. Tác giả hiểu rõ hơn ai hết. Cho nên, phần
lớn trong các sáng tác của Bùi Ngọc Tấn, hình như ông đã đế cho ngọn bút và con mắt
quan sát cùng những kinh nghiệm trường đời của mình được cố định trên trang giấy.
Những con chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn vì thế cũng đáng được hưởng tình yêu
đàn bà con gái. Bởi những ngày dài đằng đẵng của họ ở dưới tàu, chỉ có trên là trời dưới
là nước. Và cũng vỉ những ngày đêm họ đã cật lực làm việc cho xí nghiệp.
7.2.2.2. Số phận của người lao động trong xã hội đương thời
Tiểu thuyết Biển và chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn nhìn tổng thể từ hai góc độ có
thể xem như một phóng sự dài. Tiểu thuyết Biến và chìm bói cá ra đời đã chứng minh
Bùi Ngọc Tấn không chỉ là một nhà tiểu thuyết đơn thuần mà ông còn dùng chất liệu
báo chí để viết. Cho nên, Biến và chim bói cá có thể xem là một tiểu thuyết tư liệu, bởi
chứa trong suốt chiều dọc của tiểu thuyết có đến vài chục ngàn chi tiết lớn, nhỏ, chi tiết
nào cũng hóm hỉnh khiến người đọc phải bật cười tức khắc, lay động những cảm giác
sâu kín của lòng trắc ẩn, lương tri
Biến và chìm bói cá là cuốn tiểu thuyết đồ sộ gồm khoảng hai mươi nhân vật,
được nhà văn miêu tả như những hình tượng đa phương, có phần lỏng lẻo trong một tác
phẩm sắp đặt của loại hình nghệ thuật thị giác, nói bằng thứ ngôn ngữ trực quan của mồ
hôi, nước mắt, máu và cả tiếng thở dài.
Trong mỗi một nhân vật, nhà văn gửi vào đó một số phận, may mắn có, bất hạnh
có, lạc quan có, đau đớn, thất vọng có. Đó là một xã hội thu nhỏ, mỗi nhân vật là một
tiếng nói, là một miếng ghép tưởng là độc lập nhưng lại rất gắn kết để làm nên một bức
tranh hoàn bích về xã hội Việt Nam trong những năm đầu đổi mới.
Lật giở từng trang tiểu thuyết Biến và chim bói cá, người đọc sẽ tìm thấy chân
dung những con người luôn khao khát hạnh phúc mà không bao giờ đạt đến hạnh phúc
đích thực.
Phần 1 của tiểu thuyết, Bùi Ngọc Tấn vẽ lên chân dung, cuộc sống của những
thủy thủ trục tiếp lao động trên ngư trường. Tuy nhiên, câu hỏi mà tác giả ngầm lun lại
trong lòng mỗi người khi đọc xong tiếu thuyết này là: những số phận thủy thủ trong
Quốc doanh đánh cá này họ có hạnh phúc hay không? Và đến bao giờ thì họ có nối hạnh
phúc?
Trong phần 2 của tác phấm, Bùi Ngọc Tấn vẽ lên cuộc sống của những con chim
bói cá "ăn theo" tại vô số ban bệ trên bờ. Nhìn tổng quát tiếu thuyết không né tránh hiện
thực. Mỗi nhân vật là một góc nhìn toàn diện về số phận người công nhân trong xã hội
đương thời. Nhà văn đã khắc họa thực tế đời sống thực thể và tinh thần đầy éo le, sóng
gió, trôi dạt của anh em thủy thủ, công nhân viên tại một cơ sở đánh cá quốc doanh, Bùi
Ngọc Tấn muốn đào xới đến kiệt cùng hiện thực nhọc nhằn của sinh tồn, bao gồm cả
sinh kế và nhân sinh. Mỗi hành động sống đều bị đấy đến ranh giới của một tồn tại khác,
thứ tồn tại buộc người ta phải tự vấn đến cùng để soi lại vị trí của bản thân trong những
thang bậc của tính người, của tư cách con người.
Tinh thần đau đớn, không gì diễn tả được của thuyền trưởng Chơn. Bởi phần lớn
thời gian anh dành cho biến nên sự quan tâm dành cho gia đình cha mẹ, vợ con của
Chon không được nhiều. Đen nỗi, người vợ anh nhất mực yêu thương ở nhà đã không
giữ trọn được đạo làm vợ, đã có mang với một anh giáo viên trường cap II về sau làm xã
đội. Điều đau đớn hơn cả, kẻ đã phá đi tổ ấm của anh lại là người bạn học cùng: MĐÓ là
một người chẳng xa lạ gì. Một thằng bạn học cùng lóp trường làng, cho đến cấp hai, và
khi anh học lên cấp ba thì hắn thi vào Mười cộng ba. Tao không ngờ lại là mày Tính ạ!"
[38, tr. 10].
Chưa hết, Chơn còn luôn bị dằn vặt bởi đạo làm con anh chưa tròn trách nhiệm.
Ngày bố mất, Chơn không có mặt ở nhà, không được nhìn bố lần cuối, không lo được
vải đỏ để liệm cho bố. Lúc đó anh còn đang lênh đênh trên biển. Vì cuộc sống, vì sự tồn
tại, Chon đã phải nếm những cay đắng như vậy của cuộc đời.
Hay như Nhược, một thợ lạnh thuộc khối trên bờ, Nhược bỗng dưng trở thành
"người nổi tiếng" trong xí nghiệp vì đã kéo thêm một người bạn nữa ăn vụng hết cả
mâm cơm tiếp khách của giám đốc mà anh có nhiệm vụ phải bưng về. Miếng ăn trong
thời buổi khó khăn đã lấy hết lòng tự trọng của con người. Điểm nhấn của nhà văn ghi
lại trong tác phẩm là ở chỗ đó.
Xa hơn nữa, Bùi Ngọc Tấn còn tế nhị, phát hiện đến tận chỗ thầm kín nhất trong
đời sống của thủy thủ. Cái khó khăn hàng ngày trong cuộc sống đã khiến những người
công nhân quên mất đi mình là Người. Quên mất một phần tất yếu trong cuộc sống vợ
chồng là yêu nhau như những gì rất tự nhiên mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. Vợ
chồng bác sĩ Bá mòn mỏi trong cảnh thiếu thốn giật gấu vá vai, bỗng dưng Mhồi xuân",
yêu đương nồng thắm, cuộc đời mở ra đầy hy vọng, sinh khí và tư cách, kể từ khi Bá
được nhận lệnh chuyển sang làm việc trên tàu viễn dương.
Cuộc sống với muôn vàn khó khăn đã khiến những con người trong tiểu thuyết
Biển và chim bói cá phải băng mình để kiếm ăn. Đằng sau mỗi người công nhân là một
gánh nặng gia đình. Họ luôn canh cánh trong mình một nỗi khát khao có được cuộc sống
đủ đầy. Một khát khao chính đáng. Khi chưa đạt được điều đó, nhu cầu cần phải sinh tồn
đã khiến họ phần nào mất đi lòng tự trọng của mình. Tàu về cả người trên bờ lẫn thủy
thủ trực tiếp đi biển đều tìm mọi cách có được chút gì đấy, xin được chút gì đấy. Họ là
những kẻ đáng thương. Cuộc sống quá thiếu thốn. Họ cần phải cất giấu thật kỹ lòng tự
trọng, sự sĩ diện để tồn tại đã.
Bùi Ngọc Tấn đã lần lượt đưa vào tiểu thuyết những góc khuất của đời sống con
người. Mỗi một thủy thủ là một câu chuyện, một số phận. Nhà văn đã rất ti mỉ quan sát
để vẽ lên bức tranh sinh động về thân phận người công nhân trong một giai đoạn lịch sử
nhất định của nước ta, khi nền kinh tế đang phát triển và không tránh khỏi những bất
cập.
1.2.2.3. Nhu cầu tất yếu đỗi mới trong cơ chế quản lí
Liên hiệp đánh cá Biển Đông lừng lẫy thành tích nhưng cũng chất đầy những
ngang trái, những bất công. Tất cả, từ khối dưới nước lẫn khối trên bờ chỉ ngóng trông,
vin chặt vào thành tích. Cho dù đó là thành tích ảo.
Biến và chim bói cá ra đời trong khoảng thời gian cuối thời bao cấp và chớm vào
thời kỳ đối mới. Có nhiều vấn đề đặt ra cho việc đổi mới nền kinh tế nước nhà. Ở một
góc nào đó, xã hội Việt Nam đương thời đã được nhà văn thu nhở trong tiếu thuyết Biến
và chim bói cá.
Mặc dù đang hiện hữu trong không khí khẩn trương xây dựng nền kinh tế sau
chiến tranh; mặc dù đời sống hàng ngày của mỗi người dân còn muôn vàn những khó
khăn, nhưng những thủy thủ trong tiểu thuyết ở một góc nào đó vẫn rất lạc quan và hăng
say lao động. Họ hăng say ra ngư trường vì cuộc sống của gia đình họ và rộng lớn hơn là
vì sự giàu có của đất nước. Bên cạnh những lí do rất đời thường đó, thực tế đó, họ còn
có một tình yêu biển nồng nàn. Biến trong con mắt của những thủy thủ như: Chơn, Bôn,
Lê Mây,
Cương là niềm tự hào, là tình yêu của họ dành cho thiên nhiên. Và có lẽ, trong đời
những thủy thủ này, cho dù có những lúc họ có mâu thuẫn về sự lựa chọn nghề
nghiệp nhưng rồi cuối cùng họ vẫn chọn biến và nguyện dâng hiến cả cuộc đời mình
cho lí tưởng đã chọn.
Những con chim bói cá của Bùi Ngọc Tấn đã va phải sóng lớn, thậm chí họ đã
đụng phải sóng trước khi ra khơi. Những thủy thủ có tâm huyết, hiểu biết và yêu
nghề như Cương thì phải xuống tàu dự bị, đơn giản vì anh không biết cách thức và
hướng đường đi đến cửa sau nhà cấp trên. Lê Mây, một thuyền trưởng có trình độ,
kinh nghiệm khi ra ngư trường nhưng tàu của anh cứ phải cập bến dài, chờ sửa chữa.
Lí do cũng đơn giản, Lê Mây đã không biết thủ trưởng của mình cần gì? Và điều tệ
hại hơn nữa, nguyên nhân chính để Mây cùng thủy thủ trên tàu VT250 không thể ra
khơi vì chính anh đã vô tình biết được mối quan hệ của Giám đốc Hoàng Quốc
Thắng với vợ của một thủy thủ trong xí nghiệp. Sự tư thù cá nhân cũng là một trong
những nguyên nhân góp phần vào việc sản lượng cá của xí nghiệp tăng hay giảm.
Còn nhiều những số phận chim bói cá như: Lê Mây, Thuyền, Cương, tất cả họ, đều
tâm huyết với nghề, đều có chung khát vọng cuộc sống sẽ tươi đẹp hơn nhưng chưa
tìm được lối đi.
Cơ chế đã thắt chặt những chuyến biển về sản lượng cá nhung lại mở ra
những tiêu cực rất lớn. Trên giấy tờ, xí nghiệp đánh cá Biển Đông đang rất phát
triển, nhưng thực ra là số ảo. Cá chưa về đến bờ đã bị thất thoát ngay giữa biển.
Người ta dùng đá ướp cá, dùng dầu của thuyền đánh bắt cá đổi những thứ khác như
một lẽ tự nhiên. Chỉ cần mang số cá về theo đúng chỉ tiêu, còn lại, mỗi một thủy thủ
sẽ có trách nhiệm biến số tấn cá ngoài định mức thành những sản phẩm khác. Mặc
dù vậy, đời sống của mỗi gia đình thủy thủ vẫn không thoát khỏi cảnh túng đói. Đế
một con tàu chuẩn bị ra khơi, mỗi thuyền viên đều phải chờ đợi, chờ bảo dưỡng tàu,
chờ đá ướp cá, chờ các thủ tục giấy tờ, chờ lệnh của xếp. Chỉ ngần ấy thôi đã đủ để
năng xuất lao động bị tiêu hao rất nhiều. Nhiệt huyết của những người thủy thủ có,
thậm chí vì chờ đợi quá lâu họ đã tự quyết bỏ những đồng tiền trong túi của mình để
đóng góp, sửa chữa, đế có kinh phí xin xếp được ra khơi sản xuất. Nhà văn đã chỉ rõ
một cơ chế quản lí máy móc, quan liêu, không hiệu quả. số tàu đủ, số thủy thủ cũng
đủ nhưng chỉ có sản lượng cá là không đáp ứng với nhu cầu sử dụng của xí nghiệp
và người dân.
Những người lao động gián tiếp trên bờ trong xí nghiệp, đầy đủ các ban bệ,
nhưng công việc của họ hàng ngày khi đến cơ quan, họ sử dụng 8 tiếng vàng ngọc
vào những việc không hề liên quan đến sản lượng, chất lượng sản xuất. Họ tìm cách
lấy cá của xí nghiệp mang về. Họ thành lập các nhóm, hội "xin đểu" để rồi biến cơ
quan, đơn vị thành những cái bếp để ăn uống, bàn tán, bình phấm. Hết 8 giờ làm
việc, ai nấy về nhà mà không biết ngày hôm nay, mình đã làm được gì, góp được gì
cho sự nghiệp chung trong sản xuất, trong lao động. Sự trì trệ trong sản xuất trở nên
là lẽ thường khi những người trong cuộc không tỏ ra lo lắng và sốt sắng trước sự
đứng im đó.
Nhà văn đã đưa ra một thực tế không chỉ riêng ở xí nghiệp đánh cá Biển Đông
mà đó còn là tình trạng chung của tất cả các ngành nghề trong một giai đoạn lịch sử
xã hội đương thời. Bởi vậy, một trong những vấn đề tiếu thuyết Biển và chim bói cá
đưa ra là phải đổi mới cơ chế quản lí sản xuất, trong sản xuất và đổi mới sự suy nghĩ
của con người để thích ứng với đòi hỏi của sản xuất là một điều tất yếu. Có như vậy,
con đường sản xuất kinh tế nói chung và khai thác biển nói riêng mới đạt hiệu quả.
1.2.2.4. Cải nhìn đa diện, khách quan của tác giả trong việc miêu tả hiện thực
đời song
Trong rất nhiều những bài nghiên cứu, tìm hiểu, đánh giá về Bùi Ngọc Tấn,
hầu hết các tác giả như: Dương Tường, Khánh Phương, Nguyễn Xuân
Khánh, Châu Diên, Dương Phương Vinh đều có cái nhìn chung về nhà văn đó là Bùi
Ngọc Tấn giống như một người thư ký trung thành của thời đại. Có thể xem trong suốt
chiều dài của thời gian từ lúc đất nước chính thức được sống trong giây phút của tự do,
tự chủ, nhà văn đã bắt đầu quan sát và dõi theo. Như những nấc thang để nền kinh tế của
dân tộc leo lên đỉnh cao của sự phát triển, mỗi một bậc thang là một sự khó khăn, va
vấp, được có, mất có, vui buồn đan xen. Nhà văn Bùi Ngọc Tấn đã lặng lẽ đứng ngắm
nhìn, quan sát và thu vào trong trí óc mình bằng tất cả những gì ông bằng lòng, sung
sướng hoặc còn trăn trở, nghĩ suy để rồi gửi lại qua những trang giấy nỗi niềm vấn
vương của mình.
Vẽ lại hiện thực xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử cuối của thời kỳ bao cấp,
tác giả đã có cái nhìn rất khách quan, không né tránh để tạo nên một bức tranh có đủ các
sắc màu.
Sẽ thấy rất rõ trong Biên và chim bói cá những điều tưởng chỉ là trò đùa, nhưng
ngược lại nó lại diễn ra rất đàng hoàng, như đó là một phần tất yếu tồn tại trong cuộc
sống.
Những thủy thủ khi được ra ngư trường, mặc dù nhiệt huyêt trong họ sôi sục, họ
rất mong muốn có được những kết quả khai thác cao. Nhưng bên cạnh họ còn gánh nặng