Tải bản đầy đủ (.ppt) (77 trang)

Chuẩn SIP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.08 MB, 77 trang )

PHẦN 3
Chuẩn SIP
Tổng đài IP
Phần 3.1: Giao thức SIP
Giới thiệu

SIP (Session Initiation Protocol) là một giao
thức chuẩn do IETF phát triển từ năm 1996

Đầu tiên SIP chỉ đơn thuần là một giao thức
dùng để thiết lập phiên quảng bá cho
Internet2, sau đó người ta đã phát hiện ra
rằng nó cũng rất thích hợp trong liên lạc cá
nhân.

SIP đưa ra nhằm mục đích thực hiện một hệ
thống có khả năng truyền dữ liệu Multimedia
qua môi trường mạng IP.
Giao thức SIP

SIP là một giao thức một giao thức điều
khiển báo hiệu, cơ bản dựa trên nguồn gốc
web (HTTP), trình duyệt web, giao thức
SMTP.

Giao thức SIP có khả năng kết hợp các tính
năng cao, thông minh trong viễn thông của
điện thoại di dộng và cố định với các tính
năng Internet như email, web, các giao dịch
và giải trí.
Hình thành chuẩn SIP



SIP được tiêu chuẩn hóa lần đầu tiên vào
tháng 3 năm 1999 trong bộ tiêu chuẩn RFC
2543

SIP được sửa đổi vào tháng 5 năm 2002
trong tiêu chuẩn RFC 3261, với:

22 lĩnh vực tiêu chuẩn mới của RFCs

21 bản dự thảo của các nhóm làm việc về Internet,
và hơn 50 văn bản tiêu chuẩn do các nhóm độc
lập không phải là thành viên của các nhóm làm
việc (WG) đệ trình
Mạng VoIP - SIP

SIP là giao thức báo hiệu điều khiển lớp ứng
dụng được dùng để thiết lập, duy trì, kết thúc
các phiên truyền thông đa phương tiện
(multimedia).

Các phiên truyền thông multimedia bao gồm
thoại Internet, hội nghị, và các ứng dụng
tương tự có liên quan đến truyền âm thanh,
hình ảnh, và dữ liệu.

Hỗ trợ liên lạc với thời gian thực
Mạng VoIP - SIP

SIP dựa trên ý tưởng của SMTP và HTTP. Nó được

định nghĩa theo mô hình client-server trong đó các
yêu cầu được bên gọi (bên client) đưa ra và bên bị
gọi (server) trả lời nhằm đáp ứng yêu cầu của bên
gọi.

SIP sử dụng một số kiểu bản tin và header giống
HTTP, xác định nội dung thông tin cụ thể giống như
giao thức được sử dụng trên Web.

Địa chỉ SIP có dạng URL
sip:
Các giao thức của SIP (Session Initiation
Protocol)

Là giao thức điều khiển lớp ứng dụng (báo
hiệu) để: tạo ra, thay đổi và kết thúc các
phiên làm việc Multimedia có một hoặc nhiều
người tham gia

Các phiên SIP bao gồm:

Hội họp Multimedia qua Internet

Các cuộc gọi điện thoại Internet

Các phiên Video qua Internet và

Phân phối dữ liệu Multimedia
Các giao thức của SIP
Chức năng chính của SIP


Thiết lập một phiên liên lạc (communication session
hay còn gọi là transaction). Để làm được điều đó, nó
phải có khả năng biết các user online/offline, biết khả
năng của thiết bị của user (terminal capacity)

Thiết lập phiên (chuyển tải thông tin liên quan đến
phiên liên lạc - session description)

Quản lý phiên liên lạc

Thay đổi các đặc tính liên quan đến phiên liên lạc

Kết thúc phiên
Giao thức SIP
Các dịch vụ của SIP

Định vị user: Xác định vị trí của user tiến hành hội
thoại.

Xác định các phương thức (phương tiện) và các
tham số tương ứng trong hội thoại phù hợp với năng
lực của user.

Xác định những user sẵn sàng tham gia hội thoại.

Thiết lập các tham số cần thiết cho cuộc gọi.

Điều khiển cuộc gọi: Bao gồm cả quá trình truyền và
kết thúc cuộc gọi.

Điện thoại SIP và điện thoại video SIP
Thành phần trong hệ thống SIP

Hai thành phần chính trong hệ thống SIP là

User agent bao gồm User Agent Client (UAC) và
User Agent Server (UAS)

Network server bao gồm Proxy server, Redirect
server, Registar server, Location server

Các user agent gọi và bị gọi được nhận dạng
bằng các địa chỉ SIP.
User Agent

Đóng vai trò của thiết bị đầu cuối trong báo
hiệu SIP

User Agent Client (UAC): Khởi tạo các yêu
cầu SIP và đóng vai trò như tác nhân chủ gọi
của người dùng.

User Agent Server (UAS): Nhận các yêu cầu
và thay mặt cho người sử dụng gửi trả các
đáp ứng, đóng vai trò như tác nhân bị gọi.
Proxy server

Xử lý các yêu cầu hoặc chuyển đổi nội dung rồi gửi
cho các server khác


Mục đích tạo các yêu cầu thay mặt cho các client
khác, các yêu cầu được phục vụ bên trong hoặc
truyền chúng đến các server khác.

Proxy Server còn làm nhiệm vụ ghi nhận tất cả các
số điện thoại được phía client đăng ký đến qua bản
tin “Registration”.

Proxy server nhận một yêu cầu từ client và quyết
định server kế tiếp mà yêu cầu sẽ đi đến. Proxy này
có thể gửi yêu cầu đến một server khác
Redirect server

Là một server chấp nhận một yêu cầu SIP,
ánh xạ địa chỉ trong yêu cầu thành một địa
chỉ mới và trả lại địa chỉ này trở về client.

Không giống như Proxy server, nó không
khởi tạo một yêu cầu SIP và không chuyển
các yêu cầu đến các Server khác. Không
giống như Server đại diện người dùng UAS,
nó không chấp nhận cuộc gọi.
Registrar server

Là server tiếp nhận và xử lý các yêu cầu
đăng ký (vd, khi bật máy thuê bao), thực hiện
nhận thực thuê bao

Một Registrar server được xếp đặt với một
Proxy hoặc một Redirect server và có thể

đưa ra các dịch vụ định vị.

Registrar server được dùng để đăng ký các
đối tượng SIP trong miền SIP và cập nhật vị
trí hiện tại của chúng.
Location server

Location server có chức năng giống như
DNS server: chứa thông tin vị trí/địa chỉ của
các UA trên mạng SIP.

Đầu tiên thì UA báo vị trí của nó về registrar
server ( thường được tích hợp vào trong
proxy server hay redirect server), tiếp theo thì
registrar server sẽ lưu thông tin này trên
location server.


SIP-URI

SIP URI là cách đánh địa chỉ SIP dùng để gọi cho
người khác thông qua SIP. Nói một cách khác, SIP URI
chính là số điện thoại SIP của người dùng. SIP URI
giống với địa chỉ email và được viết ở dạng sau:

SIP URI = sip:x@y
Trong đó x=tên người dùng và y=máy (miền hay IP)

Ví dụ:
sip:

sip:
sip:

Tiêu chuẩn SIP URI đã được định nghĩa trong tiêu
chuẩn RFC 3261.
Địa chỉ
Mạng VoIP - SIP
Mạng VoIP - SIP

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×