Tải bản đầy đủ (.pdf) (5 trang)

Tiêu chuẩn hoá phân cấp số đồng bộ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (106.28 KB, 5 trang )

Tiêu chuẩn hoá phân cấp số đồng bộ


ở Mỹ, việc nghiên cứu mạng quang học đồng bộ SONET, một mạng
truyền dẫn quang học đồng bộ sử dụng như những trục truyền thông
được nối với nhau bằng các sợi quang học đã được tiến hành từ 1984;
một sợi quang học chứa một vài tuyến trục truyền thông chính để
chuyển các tín hiệu tiêu chuẩn hoá một cách song song. Hệ thống này đã
được chấp nhận như 1 tiêu chuẩn của ITU-T.
Tương ứng, ở những vị trí tương ứng rời cổng thu trên các đường, những
tín hiệu chuẩn của mỗi đường hoặc tín hiệu dưới cấp đó được tách ra và
xen vào để phân chia hoặc kết hợp các tín hiệu. Các đường được phân
phối tại các điểm giao nhau của các đường trục cũng giống như những
chiếc ô tô thay đổi tuyến đi dựa theo điểm đích của chúng. Format đồng
bộ đã được chấp nhận như một tiêu chuẩn Mỹ như sau:
Các tín hiệu STS1 (tín hiệu chuyển đồng bộ cấp 1) với tốc độ cơ bản
51,840 Mb/s đã được chọn làm những tín hiệu cơ bản sẽ chiếm mỗi làn
trên đường trục thông tin và những tín hiệu STS-N (tốc độ 51,840 Mb/s)
đã được chọn làm những tín hiệu N làn (đơn hướng). Cũng như thế một
vật mang quang học cấp 1 (OC-1) và OC-N đã được chọn để sử dụng
làm giao diện quang học.
Giao diện nút mạng (NN1) sử dụng cả giao diện của mạng trung kế và
giao diện mạng người sử dụng (UNI) là giao diện giữa các thuê bao và
mạng, giao diện này tiếp theo được phân thành những NNI dị bộ và NNI
đồng bộ. ITU-T đã nghiên cứu việc tiêu chuẩn hoá liên quan đến vấn đề
này. Trong trường hợp NNI dị bộ sử dụng từ 1988, việc tiêu chuẩn hoá
giao diện tới loại DS4 đã được hoàn thành.
Đối với những tốc độ cao hơn việc nghiên cứu tập trung vào tiêu chuẩn
hoá quốc tế của NNI đồng bộ đã được tiến hành. Kết quả là, vào
11/1988 STM-1 và STM-4 (622,080 Mb/s) với tốc độ cơ bản 155,520
Mb/s đã được kiến nghị. Sự khác biệt là ở chỗ cấu trúc ghép kênh của tín


hiệu STS-3 cũng giống như STM-1 và ở chỗ nó có thể thích ứng tới các
tín hiệu loại DS4 (hoặc dịch vụ loại H4) với nội dung thông tin về phần
bổ xung từng phần và dung lượng tải
3.6.5 Sự đồng bộ hoá mạng
Để thực hiện một cách linh hoạt việc trao đổi, tách và xen vào sự chia
thời gian của các tín hiệu ghép kênh, xung thu/phát của mỗi nước nên
được đồng bộ hoá về mặt thời gian. Nếu không làm được điều này thì sự
trượt sẽ xảy ra.
Ba loại đồng bộ mạng hiện có gồm: phương pháp đồng bộ hoá gần đồng
bộ được thực hiện bằng cách lắp đặt một dao động tách biệt ở từng tổng
đài, sự đồng bộ chủ/tớ được thực hiện bằng cách đảm bảo để bộ dao
động ở tổng đài là mức cao nhất và sau đó, cung cấp đồng bộ cho các
tổng đài nhánh mức cao (high-level) để đồng bộ toàn mạng, và phương
pháp đồng bộ hoá tương hỗ được thực hiện bằng cách đảm bảo để một
bộ dao động tần số thay đổi ở mỗi tổng đài, so sánh sự khác pha giữa
đồng hồ của các tổng đài khu vực với đồng bộ ở các tổng đài khác trong
mạng, và sau đó điều khiển tần số dao động để giá trị trung bình của
những sự khác pha này bằng 0 nhằm đồng bộ toàn mạng.

Hình 3.37. Sự đồng bộ hoá mạng qua sự đồng bộ hoá các nhánh.
Trong trường hợp đồng bộ hoá gần đồng bộ, bộ dao động phải được vận
hành ở mức độ ổn định cao bởi vì các tổng đài khác thu được sự trượt ra
sự xuất hiện thường xuyên của sự khác biệt tần số đồng hồ. Trong
trường hợp đồng bộ hoá tương hỗ, các tổng đài hay các tuyến truyền dẫn
có lỗi sẽ có ảnh hưởng tối thiểu với các tổng đài hay các tuyến truyền
dẫn có lỗi sẽ có ảnh hưởng tối thiểu với các tổng đài hay tuyền truyền
dẫn khác. Trong trường hợp ngược lại, việc phát hiện lỗi sẽ rất khó thực
hiện và các thiết bị đồng bộ hoá phức tạp hơn sẽ cần thiết cho sự vận
hành.
G.811 của các khuyến nghị ITU-T đã đưa ra ý kiến về việc sử dụng đồng

bộ trên bình diện quốc tế và việc duy trì sự chính xác của tần số của các
cổng quốc tế ở độ trượt là 1 trượt /70 ngày (1 slip/7 days) (độ trượt 10
-11
). Để đạt mức độ chuẩn xác này, cần phải sử dụng một bộ dao động hạt
nhân có Cesium hoặc Rudiem.

×