Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Đề tài : U T NÂNG CAO N NG L C ĐẦ Ư Ă Ự
C NH TRANH TRONG DOANH NGHI PẠ Ệ .
1
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
LỜI NÓI ĐẦU
Trong điều kiện hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực, vấn đề
nâng cao khả năng cạnh tranh có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và
phát triển của các doanh nghiệp Việt Nam và sự tăng trưởng kinh tế của đất
nước. Trong xu thế hội nhập và mở cửa của nước ta,.nâng cao năng lực cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt Nam đã là thách thức lớn nhất đối với quá
trình hội nhập của nước ta. Mỗi chủ thể kinh tế phải tự vận hành, tự quyết
định tất cả mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, từ hoạt động thăm
dò thị trường, quyết định đầu tư máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ, đầu
tư cho lực lượng lao động, đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Đối với các
doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh có ý
nghĩa sống còn với doanh nghiệp khi mà nền kinh tế Việt Nam ngày càng
hội nhập sâu và rộng vào nền kinh tế thế giới, tính cạnh tranh của thị trường
ngày càng khốc liệt và gay gắt. Đầu tư vào đâu? Và bao nhiêu? Và kết quả
thu được là gì?
Xuất phát từ vấn đề đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong doanh
nghiệp Việt Nam, nhóm em xin trình bày một bài tiểu luận về vấn đề trên.
Từ cơ sở lý thuyết chung nhóm phân tích vấn đề “Đầu tư nâng cao khả
năng cạnh tranh trong Công ty Xuất nhập khẩu Lương thực – Thực
phẩm Hà Nội”. Nội dung bài tiểu luận gồm 3 chương:
• Chương 1: LÝ LUÂN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH
• Chương 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CẠNH TRANH Ở VIỆT NAM
• Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM HOẠT THIỆN HOẠT ĐỘNG
ĐẦU TƯ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
2
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Vì giới hạn về thời gian và trình độ kiến thức nên bài tiểu luận của nhóm
không tránh khỏi những thiếu sót mong nhận được những đóng góp xây
dựng từ giáo viên và các bạn để bài được hoàn thiện
3
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Chương 1: LÝ LUÂN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH
1.1 Tổng quan về đầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh trong doanh
nghiệp
1.1.1 Các khái niệm
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là hoạt động sử dụng vốn cùng các
nguồn lực khác trong hiện tại nhằm duy trì sự hoạt động và làm tăng thêm
tài sản mới cho doanh nghiệp tạo thêm việc làm phát triển nguồn nhân lực
và nâng cao đời sống các thành viên trong đơn vị
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị
phần, lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh trong và
ngoài nước. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần mà doanh nghiệp đó có
được. định nghĩa cho thấy, một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh
tranh khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận cạnh tranh, chấp nhận sự tồn tại
của đối thủ cạnh tranh, chấp nhận việc giành những điều kiện thuận tiện có
lợi cho chính doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải có tiềm lực đủ mạnh để
có thể đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh
1.1.2 Phân loại đầu tư phát triển trong doanh nghiệp
1.1.2.1
Căn cứ vào lĩnh vực phát huy tác dụng.
• Đầu tư phát triển sản xuất
• Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng- kĩ thuật
• Đầu tư phát triển văn hóa giáo dục, y tế, và dịch vụ xã hội khác
• Đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật
• Đầu tư phát triển khác.
1.1.2.2
Theo nội dung cụ thể
1) Đầu tư xây dựng cơ bản: là hoạt động đầu tư nhằm tái tạo tài sản cố
định của doanh nghiệp. Đầu tư XDCB bao gồm các hoạt động chính như
xây lắp và mua sắm máy móc thiết bị. Hoạt động đầu tư này đòi hỏi vốn lớn
và chiếm tỷ trọng cao trong tổng vốn đầu tư phát triển của đơn vị.
4
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
2) Đầu tư bổ sung hàng tồn trữ: tỷ trọng đầu tư vào hàng tồn trữ trong
tổng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp thương mại thường cao hơn các
loại hình doanh nghiệp khác.
3) Đầu tư phát triển nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực có vị trí đặc
biệt quan trọng trong nền kinh tế và doanh nghiệp. Chỉ có nguồn nhân lực
chất lượng cao mới đảm bảo giành thắng lợi trong cạnh tranh. Do vậy đầu tư
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là rất cần thiết.
4) Đầu tư nghiên cứu và triển khai các hoạt động khoa học và công
nghệ: Phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi cần
đầu tư cho các
5) Hoạt động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ. Đầu tư
nghiên cứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao. Hiện nay
khả năng đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa học và
công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn khá khiêm tốn. Cùng với đà phát
triển của kinh tế đất nước và doanh nghiệp, trong tương lai tỷ lệ chi cho
hooatj động đầu tư này sẽ ngày càng tăng, tương ứng vs nhu cầu và khả năng
của doanh nghiệp.
6) Đầu tư cho hoạt động marketing: hoạt động marketing là một trong
những hoạt động quan trọng của doanh nghiệp. Đầu tư cho hoạt động
marketing bao gồm đầu tư cho hoạt động quảng cáo, xúc tiến thương mại,
xây dựng thương hiệu …Đầu tư cho các hoạt động marketing cần chiếm một
tỷ trọng hợp lý trong tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp.
1.1.2.3 Xuất phát từ quá trình hình thanh và thực hiện đầu tư:
• Đầu tư cho các hoạt động chuẩn bị đầu tư
• Đầu tư trong quá trình thực hiện đầu tư
• Đầu tư cho giiai đoạn vận hành.
1 2.4 Từ góc độ tài sản:
1) Đầu tư chia tài sản vật chất (Tài sản thực- Tài sản hữu hình)
2) Đầu tư tài sản vô hình
1 2.5 Căn cứ vào phương thức thực hiện đầu tư
1 2.5.1 Đầu tư theo chiều rộng:
Khái niệm : Đầu tư theo chiều rộng là hình thức đầu tư trên cơ sỏ cải
tạo và mở rộng cơ sở vật chất kĩ thuật hiện có, xây dựng mới nhưng
với kĩ thuật và công nghệ dưới mức trung bình tiên tiến của ngành,
vùng.
5
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Vai trò: Đầu tư theo chiều rộng gắn với việc xây dựng thêm các cơ sở
sản xuất của các doanh nghiệp được mở rộng cho phép khai thác hiệu quả
theo quy mô. Đầu tư theo chiều rộng góp phần tạo ra nhiều việc làm mới,
giải quyết công ăn việc làm cho người lao động ở các địa phương, tăng
doanh thu của các doanh nghiệp, góp phần tăng ngân sách của nhà nước.
Đầu tư theo chiều rộng càng có hiệu quả thì doanh nghiệp càng có điều kiện
thuận lợi về vốn, lao động, tài nguyên để phát triển sản xuất.
Nội dung đầu tư theo chiều rộng:
• Đầu tư theo chiều rộng là đầu tư cho cả 4 yếu tố của đầu vào là lao động,
vốn, công nghệ và tài nguyên theo một tỷ lệ như cũ để sản xuất theo công
nghệ hiện đại.
• Đầu tư theo chiều rộng là hoạt động mua sắm máy móc thiết bị để đổi mới
thay thế những thiết bị cũ theo dây chuyền công nghệ đã có từ trước.
• Đầu tư theo chiều rộng là đầu tư xây dựng mới nhà cửa, cấu trúc hạ tầng
theo thiết kế được phê duyệt lần đầu làm tăng thêm lượng tài sản vật chất
tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh.
• Đầu tư tăng thêm số lao động, nhưng không tăng trình đọ tay nghề, kinh
nghiệm, kĩ năng lao động.
Ưu và nhược điểm:
• Ưu điểm: Giảm được chi phí về thời gian, tiền bạc nghiên cứu vì dựa vào cơ
sở khoa học công nghệ hiện có; phát triển thêm về mặt công nghệ nhưng
không làm thay đổi công nghệ hiện có; tốc độ tăng của lao dộng thường là
lớn hơn tốc độ tăng vốn nên có thể huy động được nhiều việc làm cho người
lao động.
• Nhược điểm: Quá trình đầu tư kéo dài; không tiết kiệm được nguyên liệu và
không làm tăng năng suất lao động; lượng vốn đầu tư cần thiết lớn và vốn
này nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư; hạn chế trong việc
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vvaf có tính chất phức tạp, mạo hiểm
cao.
1.2.5.2
Đầu tư theo chiều sâu
a. Khái niệm: Đầu tư theo chiều sâu là đầu tư nhằm nâng cao
năng suất lao động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Đầu tư theo chiều
sâu là hoạt động đầu tư được thực hiện trên cơ sở cải tạo, nâng cấp, đồng bộ
hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất kĩ thuật hiện có, đầu tư mới một dây chuyền
công nghệ , xây dựng một nhà máy mới nhưng với kĩ thuật công nghệ phải
6
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
hiện đại hơn mức trung bình tiên tiến của kĩ thuật công nghệ hiện có của
ngành, vùng.
b. Vai trò: Đầu tư theo chiều sâu là điều kiện không thể thiếu
trong chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa nền kinh tế. Không chỉ mở
rộng về mặt lượng tức là đầu tư theo chiều rộng mà song song tiến hành đầu
tư theo chiều sâu để nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng năng suất lao
động, trên cơ sở nâng cao trình độ của người lao động, sử dụng hiệu quả các
nguồn nhân lực, tăng cường hàm lượng công nghệ trong sản phẩm. Đối với
doanh nghiệp đầu tư theo chiều sau là chiến lược tồn tại và phát triển lâu dài
của doanh nghiệp. Sau thời gian mở rộng sản xuất kinh doanh nhằm chiếm
lĩnh thị phần hay sau nhiều chu kỳ kinh doanh máy móc thiết bị của các
doanh nghiệp bị hao mòn thì doanh nghiệp cần đầu tư theo chiều sau nhằm
đổi mới kĩ thuật công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản
phẩm, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thanh sản phẩm.
c. Nội dung của đầu tư theo chiều sâu
• Đầu tư phát triển nguồn nhân lực
• Đầu tư hiện đại hóa bộ máy quản lí, phương pháp quản lý của
các doanh nghiệp
• Xây dựng mới hoặc mua sắm thêm những tài sản mới
• Đầu tư bố trí lại toàn bộ hoặc một bộ phận các dây chuyền sản
xuất cho phù hợp với dây chuyền sản xuất mới. Hiện đại hóa, thực hiện các
biện pháp kĩ thuật nhằm cơ khí hóa, tự động hóa các bộ phận sản xuất đang
hoạt động, thay thế những thiết bị cũ đã hao mòn hoặc lạc hậu, bằng những
thiết bị mới có năng suất, hiệu quả cao hơn.
d. Ưu và nhược điểm
• Ưu điểm: Làm giảm chi phí sản xuất, tăng năng suất lao động
và nâng cao hiệu quả đầu tư; khối lượng vốn đầu tư đòi hỏi không lớn và có
thể thực hiện nhanh chóng; thời gian thực hiện đầu tư tương đối ngắn so với
đầu tư theo chiều rộng; thu hồi vốn diễn ra nhanh chóng.
• Nhược điểm: tốc đọ tăng vốn lớn hơn tốc độ tăng lao động,
trong khi sức ép về lao động đang là vấn đề cấp bách.
e. Mối quan hệ giữa đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều
sâu
• Đầu tư theo chiều rộng là nền tảng, là bước đi ban đầu để đầu tư
chiều sâu.
7
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Đầu tư theo chiều rộng tạo tiền đề để đầu tư theo chiều sâu khi nó
tạo điều kiện tích lũy vốn, tích lũy kinh nghiệm trong việc lựa chọn chiến
lược và phương thức đầu tư theo chiều sâu có hiệu quả, hiểu được trình độ
công nghệ của ngành và doanh nghiệp khác từ đó lựa chọn trình độ công
nghệ đầu tư.
• Đầu tư theo chiều sâu tạo điều kiện để đầu tư theo chiều rộng ở
cả khía cạnh cũ và mới.
Đầu tư theo chiều sâu tạo ra hệ thống máy móc thiết bị hiện đại,
đội ngũ lao động có trình độ tay nghề cao, bộ máy quản lý tiên tiến. Kết quả
là doanh nghiệp tạo ra nhiều sản phẩm có chất lượng, mẫu mã tốt, có uy tín
và thương hiệu. Đầu tư chiều sâu có hiệu quả là động lực để doanh nghiệp
tiếp tục mở rộng sản xuất những sản phẩm đó để đáp ứng nhu cầu của thị
trường.
Đầu tư theo chiều sâu hiệu quả không những tạo nguồn vốn cho
hoạt động đầu tư theo chiều rộng ở mọi khía cạnh mà còn nghiên cứu tạo ra
những sản phẩm mới, những khía cạnh tiềm năng mà doanh nghiệp có thể
khai thác, đồng thời còn có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí.
Ngược lại, đầu tư theo chiều sâu không hiệu quả sẽ làm cho các
doanh nghiệp không đủ điều kiện để tiếp tục đầu tư chiều rộng, mở rộng sản
xuất ở giai đoạn sau, chu kỳ sau. Trang thiết bị máy móc, khi đầu tư chiều
sâu không phù hợp với điều kiện địa lí, khí hậu nước ta, không đồng bộ về
công nghệ và với tay nghề của người lao động, llafm giá thanh sản phẩm
cao, sản phẩm khó tiêu thụ, hiệu quả đầu tư thấp, không thu hồi được vốn.
Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sâu là hai hình thức
đầu tư đan xen nhau, bổ sung cho nhau, trong đó đầu tư chiều sâu là chiến
lược lâu dài.
Đầu tư theo chiều rộng và đầu tư theo chiều sau là hai hình thức
của quá trình tái sản xuất, luôn gắn liền với nhau, thúc đẩy lẫn nhau. Đầu tư
theo chiều rộng thường được tiến hành khi bắt đầu kinh doanh hoặc trong
quá trình kinh doanh muốn mở rộng quy mô.
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp
1.2.1 Lợi nhuận kì vọng
Lợi nhuận kì vọng là lợi nhuận mà chủ đầu tư mong muốn, kì vọng sẽ thu
được trong tương lai khi đầu tư.
8
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Tỷ suất lợi nhuận biên của vốn giảm dần do cầu về vốn đầu tư, khi nhu cầu
vốn đầu tư tăng làm giá cả hay lãi suất tăng , lợi nhuận giảm do đó tỷ suất
lợi nhuận biên giảm. và một nguyên nhân khác xuất phát từ phương diện
cung sản phẩm cho thị trường, đầu tư tăng , cung sản phẩm tăng, lợi nhuận
trên một đơn vị sản phẩm giảm.
Mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận/vốn và quy mô vốn đầu tư là mối quan
hệ thuận:
IRR
IRR
2
IRR1
O I
1
I
2
I
Khi tỷ suất lợi nhuận tăng lên trong điều kiện các yếu tố khác ít thay đổi sẽ
kích thích nhà đầu tư tăng quy mô vốn và ngược lại.
1.2.2 Lãi suất tiền vay
Lãi suất là giá cả của tín dụng, của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những
dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hay các dạng thức tài sản khác nhau.
Hay nói cách khác, lãi vay là tỷ lệ phần trăm giữa tiền lãi mà người đi vay
phải trả cho người cho vay tính trên số vốn vay và thường gắn với một kì
hạn nhất định.
9
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Nếu lãi suất cho vay thấp hơn tỷ suấat lợi nhuận vốn đầu tư các nhà đầu tư
sẽ gia tăng đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới máy móc, trang bị công nghệ
hiện đại và ngược lại.
Nếu lãi suất danh nghĩa tăng lên thì số dự án được thực hiện sẽ ít đi và số chỉ
tiêu cho đầu tư cũng ít đi.
Mối quan hệ giữa lãi suất và quy mô vốn đầu tư là mối quan hệ tỷ lệ nghịch:
i
i
1
i
2
D1
O I
1
I
2
I
Khi lãi suất tăng lên từ i
o
đến i
1
thì vốn đầu tư giảm xuống từ I
O
đến I
1
.
Ngược lại khi lãi suất giảm thì vốn đầu tư tăng lên.
Mối quan hệ giữa tỷ suất lợi nhuận, lãi suất với quy mô vốn đầu tư:
1.2.3 Tốc độ phát triển sản lượng
Để sản xuất một đơn vị đầu ra cho trước cần phải có một lượng vốn đầu tư
nhất định. Tốc độ phát triển sản lượng là: K
t
= x* Y
t
, chi tiêu đầu tư tăng
hay giảm phụ thuộc vào quy mô sản phẩm cần sản xuất. Việc thay đổi sản
lượng ảnh hưởng đến tăng hay giảm quy mô vốn đầu tư. Mỗi sự thay đổi sản
lượng của nền kinh tế dẫn đến sự thay đổi của quy mô vốn đầu tư cùng chiều
và lớn hơn nhiều lần.
10
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
1.2.4 Chu kì kinh doanh
Chu kì kinh doanh là sự biến động của tổng sản lượng trong ngắn hạn
xung quanh đường xu thế của nó. Ở mỗi thời kì khác nhau của chu kỳ kinh
doanh sẽ phản ánh các mức chi tiêu đầu tư khác nhau.
Sản lượng
sản lượng thực tế
C
E
O B
sản lượng xu thế
A
Thời gian
Chu kì kinh doanh vận động theo hinh sin, khi chu kì kinh doanh vận
động đi lên, quy mô của nền kinh tế mở rộng, nhu cầu đầu tư gia tăng và
ngược lại.
1.2.5 Môi trường đầu tư và hoạt động xuất tiến đầu tư
Môi trường đầu tư bao gồm nhiều yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp
đến hiệu quả đầu tư. Môi trường đầu tư gồm phần cứng và phần mềm.
Chính phủ ban hành các chính sách nhằm tạo dựng một môi trường đầu tư
thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư, xúc tiến đầu tư. Những yếu tố trên thuận
lợi sẽ khuyến khích các nhà đầu tư và thu hút nhiều vốn đầu tư.
11
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
1.3 Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp
1.3.1 Nguồn vốn chủ sở hữu
1.3.1.1
Vốn ban đầu
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ chủ doanh nghiệp cũng phải
có một số vốn ban đầu nhất định, do các cổ đông_ chủ sở hữu góp. Khi nói
đến nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét
hình thức sở hữu của doanh nghiệp đó, vì hình thức sở hữu sẽ quyết định
tính chất và hình thức tạo vốn của doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư
của nhà nước. Chủ sở hữu của các doanh nghiệp nhà nước chính là nhà
nước.
Đối với doanh nghiệp, theo luật doanh nghiệp chủ sở hữu phải có số
vốn cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp. Trong thực tế, vốn tự
có của chủ doanh nghiệp bao giờ cũng lớn hơn rất nhiều vốn pháp định, nhất
là sau một thời gian hoạt động và mở rộng hoạt động kinh doanh.
1.3.1.2
Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia:
Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia là bộ phận lợi nhuận được sử
dụng tái đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Tài trợ bằng lợi nhuận không chia- nguồn vốn nội bộ là một phương
thức tạo nguồn tài chính quan trọng và khá hấp dẫn của các doanh nghiệp, vì
doanh nghiệp giảm đước chi phí, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài.
Để có được lợi nhuận để lại thì trước tiên doanh nghiệp phải đang
hoạt động, có lợi nhuận và được phép tiếp tục đầu tư. Đối với doanh nghiệp
nhà nước việc tái đầu tư còn phụ thuộc vào chính sách tái đầu tư của nhà
nước.
Đối với công ty cổ phần việc để lại lợi nhuận liên quan đến một số
yếu tố nhạy cảm. Đó là mối quan hệ giữa việc chi trả cổ tức và giữ lại lợi
12
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
nhuận để tái đầu tư. Khi công ty để lại lợi nhuận, tức là cổ đông không được
nhận cổ tức, bù lại họ có quyền sở hữu số cổ phần tăng lên của công ty.
Như vậy, giá trị ghi sổ của các cổ phiếu sẽ tăng lên cùng với việc tài
trợ bằng nguồn vốn nội bộ. Điều này một mặt khuyến khích cổ đông giữ cổ
phiếu lâu dài, nhưng mặt khác dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong
thời kì trước mắt (ngắn hạn) do cổ đôg chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ
hơn. Nếu tỷ lệ chi trả cố tức thấp, hoặc số lãi ròng không đủ hấp dẫn thì giá
cổ phiếu có thể bị giảm sút
1.3.1.3
Phát hành cổ phiếu:
Là hoạt động tài trợ dài hạn của doanh nghiệp và là nguồn tài chính dài hạn
rất quan trọng của doanh nghiệp.
♦ Cổ phiếu thường.
Cổ phiếu thường( còn gọi là cổ phiếu thông thường)là loại cổ phiếu
thông dụng nhất, đồng thời là chứng khoán quan trọng nhất được trao đổi,
mua bán trên thị trường chứng khoán.
Sau khi phát hành phần lớn cổ phiếu nằm trong tay các nhà đầu tư-
các cổ đông. Những cổ phiếu này gọi là những cổ phiếu đang lưu hành trên
thị trường. Công ty phát hành có thể mua lại những cổ phiếu của mình và
giữ chúng nhằm mục đích nào đó, chúng được gọi là cổ phiếu ngân quỹ.
Việc mua bán những cổ phiếu này phụ thuộc vào một sổ yếu tố như:
Tình hình biến động vốn và khả năng đầu tư.
Tình hình biến động thị giá chứng khoán trên thị trường.
Chính sách đối với việc sáp nhập hoặc thôn tính công ty.
Tình hình trên thị trường chứng khoán và quy định của uỷ ban chứng khoán
nhà nước.
♦ Cổ phiếu ưu đãi.
13
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Được hiểu là loại cổ phiếu phát có kèm theo một số điều kiện ưu tiên
cho nhà đầu tư sở hữu nó. Thường chỉ chiểm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số
cổ phiếu được phát hành. Tuy nhiên trong một số trường hợp việc sủ dụng
cổ phiếu ưu tiên là thích hợp. bao gồm cổ phiếu ưu đãi cổ tức và cổ phiếu ưu
đãi hoàn lại
Ngoài ra vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp có thể được bổ sung từ
phần chênh lệch đánh giá lại tài sản cố định, chênh lệch tỷ giá.
♦ Chứng khoán có thể chuyển đổi
Ở một số nước, các công ty có thể phát hành những chứng khoán kèm
theo những điều kiện có thể chuyển đổi được.
1.3.2 Nguồn vốn nợ
1.3.2.1
Phát hành trái phiếu công ty.
• Khái niệm.
Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp
của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
• Phân loại:
- Trái phiếu có lãi suất cố định: Loại trái phiếu này thường được
sử dụng nhiều nhất, phổ biến nhất trong các loại trái phiếu doanh
- Trái phiếu có lãi suất thay đổi: thực ra lãi suất của loại trái
phiếu này phụ thuộc vào nguồn lãi suất quan trọng khác. Trong điều kiện có
mức lạm phát khá cao và lãi suất thị trường không ổn định, doanh nghiệp có
thể khai thác tính ưu việt của loại trái phiếu này. Tuy nhiên loại trái phiếu
này có một vài nhược điểm là doanh nghiệp không thể biết chắc chắn về chi
phí lãi vay của trái phiếu, điều này gây khó khăn một phần cho việc lập kế
hoạch tài chính; việc quản lý trái phiếu đòi hỏi tốn nhiều thời gian hơn do
doanh nghiệp phải thông báo điều chỉnh lãi suất.
14
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
- Trái phiếu có thể thu hồi: tức là doanh nghiệp có thể mua lại
vào một thời gian nào đó. Loại trái phiếu này phải được quy định ngay từ
đầu để khách hàng biết. Loại trái phiếu này có những ưu điểm như: có thể sử
dụng như một cách điều chỉnh lượng vốn sử dụng, khi không cần thiết doanh
nghiệp có thể mua lại các trái phiếu đó và thay bằng nguồn tài chính khác.
Tuy nhiên nếu không có hấp dẫn nào đó thì trái phiếu này không được ưa
thích.
- Chứng khoán có thể chuyển đổi: cho phép doanh nghiệp, người đầu
tư có thể lựa chọn cách đầu tư có lợi và thích hợp.
1.3.2.2
Nguồn vốn tín dụng ngân hàng
♦ Vai trò:
Vốn vay ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất,
không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối
với toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sự hoạt động và phát triển của các công
ty, các doanh nghiệp đều gắn liền với các dịch vụ tài chính do các ngân hàng
thương mại cung cấp, trong đó có việc cung ứng các nguồn vốn tín dụng.
Không một doanh nghiệp nào không vay vốn ngân hàng hoặc không sử dụng
tín dụng thương mại nếu doanh nghiệp đó muốn tồn tại vững chắc trên
thương trường.
Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngắn hạn
ngân hàng để đảm bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh
doanh, đặc biệt là đảm bảo có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư
chiều sâu của doanh nghiệp.
• Hạn chế.
- Điều kiện tín dụng: các doanh nghiệp muốn vay vốn tại các
ngân hàng thương mại cần đáp ứng được những yêu cầu đảm bảo an toàn tín
15
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
dụng của ngân hàng. Trước tiên ngân hàng phải phân tích hồ sơ xin vay vốn,
đánh giá các thông tin liên quan đến dự án đầu tư hoặc kế hoạch sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp vay vốn.Doanh nghiệp phải xuất trình hồ sơ
vay vốn và những thông tin cần thiết mà ngân hàng yêu cầu.
- Các điều kiện đảm bảo tiền vay: khi doanh nghiệp xin vay vốn,
nói chung các ngân hàng thường yêu cầu doanh nghiệp đi vay phải có bảo
đảm tín dụng, phổ biến nhất là bằng tài sản thế chấp. Việc yêu cầu người vay
có tài sản thế chấp trong nhiều trường hợp làm chô bên đi vay không thể đáp
ứng được các điều kiện đi vay, kể cả các thủ tục pháp lí về giấy tờ… Do đó,
doanh nghiệp cần tính đến yếu tố này khi tiếp cận với nguồn vốn ngân hàng.
- Sự kiểm soát của ngân hàng: một khi doanh nghiệp vay vốn của
ngân hàng, doanh nghiệp cũng phải chịu sự kiểm soát của ngân hàng về mục
đích và tình hình sử dụng vốn vay.
- Lãi suất vốn vay: Phản ánh chi phí sử dụng vốn. Lãi suất vốn
vay ngân hàng phụ thuộc vào tình hình tín dụng trên thị trường trong từng
thời kỳ. Nếu lãi suất vay quá cao thì doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí
vốn lớn và làm giảm thu nhập của doanh nghiệp
1.3.2.3 Nguồn vốn tín dụng thương mại (Vốn chiếm dụng của nhà
cung cấp)
● Khái niệm
Tín do dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp,
được biểu hiện dưới các hình thức mua bán chịu hàng hoá. Tín dụng thương
mại xuất hiện là do sự tách biệt giữa sản xuất và tiêu dùng. Do đặc tính thời
vụ trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm khiến các doanh nghiệp phải mua bán
chịu hàng hóa.
● Vai trò
16
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Trong nền kinh tế thị trường hiện tượng thừa thiếu vốn ở các doanh
nghiệp thường xuyên xảy ra, vì vậy hoạt động của tín dụng thương mại một
mặt đáp ứng được nhu cầu vốn của các doanh nghiệp tạm thời thiếu, đồng
thời giúp cho các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá của mình. Mặt khác,
sự tồn tại của hình thức tín dụng này giúp cho các doanh nghiệp khai thác
được vốn nhằm đáp ứng kịp thời hoạt động sản xuất kinh doanh.
● Hạn chế
- Hạn chế về quy mô tín dụng: Tín dụng thương mại là do các doanh nghiệp
cung cấp và họ chỉ cung cấp với khả năng giới hạn của họ. Nếu người đi vay
có nhu cầu cao hơn thì người cho vay không thể đáp ứng đươc.
- Hạn chế về thời hạn cho vay: Điều kiện kinh doanh và chu kì sản xuất của
các doanh nghiệp có thể không phù hợp với nhau, vì vậy mà khi thời hạn mà
người cho vay muốn cung cấp và người đi vay có nhu cầu không phù hợp
nhau thì tín dụng này không thể xảy ra.
- Hạn chế về phương hướng: Tín dụng thương mại được cung cấp dưới hình
thức hàng hóa, vì vậy mà doanh nghiệp chỉ có thể cung cấp được tín dụng
cho một số doanh nghiệp nhất định, những doanh nghiệp cần hàng hoá đó để
sử dụng cho sản xuất hoặc dự trữ để bán ra
1.4 Nội dung đ ầu tư nâng cao năng lực cạnh tranh của một Doanh
Nghiệp:
Đầu tư phát triển trong doanh nghiệp bao gồm các nội dung: đầu tư
xây dựng cơ bản,dầu tư hàng tồn trữ, đầu tư nghiên cứu và ứng dụng
khoa học,công nghệ,đầu tư phát triển nguồn nhân lực,đầu tư cho hoạt
động Marketing và đầu tư tài sản vô hình khác.
1.4.1 Đầu tư xây dựng cơ bản (đầu tư tài sản cố định) trong doanh
nghiệp.
TSCĐ là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến năng
suất,chất lượng sản phẩm,giá thành,lợi nhuận cũng như năng lực cạnh
tranh trong doanh nghệp. TSCĐ về cơ bản bao gồm: nhà cửa,công trình
kiến trúc,máy móc thiết bị,phương tiện vận tải,thiết bị và công cụ quản lí.
17
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Đầu tư TSCĐ. Đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò quan trọng trong quá
trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhằm tái tạo tài sản cố định
của doanh nghiệp. Đầu tư xây dựng cơ bản trong doanh nghiệp là điều
kiện tiên quyết để DN mở rộng hoạt động kinh doanh. Hoạt động này
chiếm tỷ trọng vốn lớn trong tổng số đầu tư phát triển của DN.
•Xét theo nội dung, đầu tư phát xây dựng cơ bản bao gồm các nội dung:
- Đầu tư xây dựng nhà xưởng,các công trình kiến trúc,kho tang, bến bãi,
phương tiện vận tải,truyền dẫn. Hoạt động đầu tư này thường xảy ra
trước khi tiến hành sản xuất trong thời gian khá dài, thường từ 3-5 năm.
- Đầu tư mua săm,lắp đặt máy móc,thiết bị sản xuất.
- Đầu tư sửa chữa nâng cấp,cải tạo những tài sản hư hỏng lỗi thời.
- Đầu tư vào TSCĐ khác.
• Xét theo khoản mục chi phí,đầu tư xây dựng cơ bản trong doanh nghiệp
bao gồm những nội dung chính sau:
Chi phí ban đầu liên quan đến đất đai:
- Chi phí thuê đất hoặc chi phí quyến sử dụng đất.
- Chi phí đền bù và tổ chức giải phóng mặt bằng.
Chi phí xây dựng: xây mới và mở rộng nhà xưởng,nhà kho, vật kiến
trúc.
- Chi phí khảo sát quy hoạch xây dựng công trình.
- Chi phí thiết kế xây dựng.
- Chi phí quản lí dự án.
- Chi phí bảo hiểm công trình,vệ sinh,bảo vệ môi trường.
- Chi phí san lấp mặt bằng xây dựng.
- Chi phí xây dựng công trình tạm,công trình phục vụ thi công.
- Chi phí kiểm định vật liệu công trình.
- Chi phí chuyển thiết bị thi công và vật liệu,lực lượng xây dựng.
- Các loại thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình cần thiết.
- Chi phí khác được ghi trong tổng dự toán.
Chi phí mua sắm máy móc thiết bị, phương tiện vận tải: Việc mua
sắm và đổi mới trang thiết bị theo hướng hiện đại có tầm quan trọng đối
với doanh nghiệp. Chi phí bao gồm:
- Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ và trang thiết bị phục vụ sản
xuất,quản lí.
- Chi phí mua các phương tiện vận tải,thiết bị truyền dẫn phục vụ kinh
doanh,báo các tổng hợp.
- Chi phí vận chuyển máy móc tới công trình.
18
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
- Chi phí lưu kho.bảo quản,bảo dưỡng tại kho.
- Chi phí kiểm tra thiết bị máy móc khi tiến hành lắp đặt.
- Chi phí bảo hiểm cho các thiết bị máy móc.
- Chi phí cho các loại thuế nhập khẩu máy móc.
- Chi phí khác.
Chi phí lắp đặt máy móc thiết bị:
- Chi phí tháo gỡ phá hủy máy móc.
- Chi phí lắp đặt thiết bị trong các thiết bị vật dụng, hệ thống công trình
cơ sở hạ tầng.
- Chi phí cho các hoạt dộng thăm dò phục vụ hoạt động lắp đặt đó.
- Chi phí cho thiết bị máy móc cần lắm đặt toàn bộ hay bộ phận trên nền
máy cố định.
- Chi phí thuê chuyên gia lắp đặt máy móc.
- Chi phí bổ sung khác.
Chi phí đầu tư sửa chữa tài sản cố định:
- Chi phí sữa chữa tài sản cố định sử dụng một thời gian dài mà thay mới
cần vốn lớn và lãng phí.
- Chi phí nâng cấp tài sản cố định cho phù hợp với thoài đại công nghê.
- Chi phí duy trì bão dưỡng,đại tu thường xuyên.
1.4.2 Đầu tư hàng tồn trữ trong doanh nghiệp:
1.4.2.1
Khái niệm,tác dụng,phân loại hàng tồn trữ:
Hang tồn trữ trong doanh nghiệp là toàn bộ nguyên vật liệu,bán thành
phẩm,chi tiết, phụ tùng,sản phẩm hoàn thành được tồn trữ trong doanh
nghiệp.
Có nhiều cách phân loại hàng tồn trữ. Theo khái niệm, hàng tồn trữ
trong doanh nghiệp được chia làm 3 loại: nguyên liệu thô,sản phẩm đang
chế biến và dự trữ thành phẩm. Theo bản chất: tồn trữ những khoản mục
cần độc lập và khoản mục cầu phụ thuộc. Theo mục đích dự trữ chia
thành: dự trữ chu kì, dự trữ bảo hiểm, dự phòng, dự trữ cho thời kì vận
chuyển.
1.4.2.2
Chi phí tồn trữ.
Trên phương diện đâu tư,chi phí tồn trữ trong doanh nghiệp thường bao
gồm: chi phí cho khoản mục tồn trữ, chi phí dự trữ và chi phí đặt hàng.
Công thức tính:
C
dh
= F× N = F ×
Q
D
19
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Tổng CP tồn trữ = CP dự trữ hàng năm + Chi phí đặt hàng.
TC = bp × A + F ×
Q
D
TC = bp ×
2
Q
+ F ×
Q
D
Trong đó: - Giả sử số áo mua trong năm hay cầu hàng năm là D
- Số lần đặt hàng trong năm là N
- Dự trữ bình quân kì là A
- Giá một đơn vị dự trữ là P
- Tổng chi phí tồn trữ là TC
- Chi phí đặt hàng một lần là F
- Tổng chi phí đặt hàng C
đh
- Quy mô đặt hàng mỗi lần Q
1.4.3 Đầu tư phát triển nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người,một trong những nguồn lực
quan trong trong quá trình phát triển KT-XH. Chất lượng nguồn nhân lực
ảnh hưởng mạnh đến năng suất lao động, đến sự tồn tại và phát triển của
DN. Do vậy cần phải đầu tư phát triển nguồn nhân lực.Số lượng và chất
lượng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển
của DN.
Cơ sở lý thuyết về đầu tư phát triển nguồn nhân lực:
Đầu tư phát triển nguồn nhân lực là hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực., là quá trình trang bị kiến thức chuyên môn,nghiệp vụ
cho người lao động,cải thiện và nâng cao chất lượng điều kiện làm việc
của người lao động.
Bản chất của đầu tư phát triển nguồn nhân lực dựa trên nền tảng của
nhiều lý thuyết,trong đó có 2 lý thuyết quan trọng. Đó là mô hình đi học
và lý thuyết nguồn vốn con người.
Việc đầu tư vào vốn con người còn đem lại một số lợi ích ngoại sinh cho
toàn xã hội.
• Chính phủ thu lợi trực tiếp từ mức vốn con người cao hơn. Chính phủ
phải chi ít hơn cho trợ cấp thất nghiệp và phúc lợi xã hội. Chính phủ còn
thu được nhiều thuế thu nhập hơn.
•Giáo dục tốt hơn dẫn đến tăng trưởng kinh tế ,nhất là giáo dục trong các
lĩnh vực khoa học công nghệ.
20
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
• Đầu tư vốn con người còn có vai trò quan trọng không kém gì đầu tư
vào vốn tài sản trong việc tạo ra tăng trưởng kinh tế . Nó tạo ra nhiều
hiệu ứng lan tỏa.
Tuy nhiên, các lợi ích của đầu tư phát triển nguồn nhân lực chỉ thu được
trong điều kiện nguồn nhân lực được sử dụng hiệu quả và có môi trường
phát triển phù hợp. Ngược lại sẽ là lãng phí đầu tư.
Nội dung đầu tư phát triển nguồn nhân lực bao gồm: đầu tư đào tạo nhân
lực, đầu tư chăm sóc sức khỏe,y tế, đầu tư cải thiện môi trường, điều kiện
làm việc, trả lương đúng đủ cho người lao động.
• Đầu tư đạo tạo nhân lực:
+ Đầu tư đào tạo nghề cho công nhân.
+ Đầu tư đào tạo trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ công nhân
viên chức.
+ Đầu tư đào tạo kiến thức quản lí cho cán bộ quản lí.
Hoạt động đầu tư của DN cần tuân thủ một số yêu cầu sau:
+ Thứ nhất, xây dựng chiến lược đào tạo rõ ràng.
+ Thứ hai,khuyến khích nhân viên đến trường đại học.
+ Thứ ba, gắn hiệu quả đạo tạo với nâng cao năng lực làm việc,tạo ra lợi
thế cạnh tranh.
+ Thứ tư, lấy thực tiễn công việc làm thước đo nhu cầu đầu tư cho đào
tạo.
+ Thứ năm, khuyến khích người lao động tự học và học tập suốt đời.
+ Thứ sáu, chi phí đào tạo là chi phí đầu tư phát triển dài hạn.
1.4.3 Đầu tư nghiên cứu và ứng dụng khoa học ,công nghệ
Khoa học và công nghệ là nguồn lực tăng trưởng nhanh và phát triển
bền vững,tăng năng suất lao động ,phát triển sản xuất. Nhờ ứng dụng những
thành tựu khoa học công nghệ đã làm cho chi phí về lao động, vốn , tài
nguyên trên một đơn vị sản phẩm giảm xuống ,hiệu quả sử dụng của các yếu
tố này tăng lên .Sự phát triển khoa học và công nghệ cho phép tăng trưởng
và tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu ,làm xuất hiện những ngành kinh tế
có hàm lượng khoa học cao như : công nghệ điện tử ,công nghệ thông tin
,công nghệ sinh học.Vì vậy ,nghiên cứu và triển khai khoa học công nghệ
phải được quan tâm đầu tư đúng mức
Đầu tư đổi mới công nghệ và phát triển khoa học –công nghệ là hình
thức đầu tư nhằm hiện đại hóa công nghệ và trang thiết bị ,cải tiến đổi mới
sản phẩm hàng hóa ,dịch vụ ,góp phần tạo chuyển biến rõ rệt về năng suất
,chất lượng ,hiệu quả trong sản xuất ,nâng cao năng lực cạnh tranh của sản
21
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
phẩm hàng hóa ,tạo ra những công nghệ mới trong các ngành và doanh
nghiệp.
Đầu tư phát triển khoa học công nghệ trong doanh nghiệp có thể chia
thành: đầu tư phần cứng của KHKT-CN và đầu tư phần mềm của KHKT-
CN
Đầu tư phần cứng của KHKT-CN ở doanh nghiệp là hoạt động đầu tư
xơ sở hạ tầng ,day chuyền máy móc ,trang thiết bị hiện đại. Một là ,đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng để tiếp nhận dây chuyền máy móc thiết bị mới .Hai
là ,đầu tư nhập khẩu dây chuyền sản xuất phù hợp .Ba là ,tiếp nhận công
nghê của dây chuyền máy móc trang thiết bị .Bốn là ,tiến tới nghiên cứu
triển khai để có thể sản xuất dây chuyền máy móc dựa vào công nghệ được
tiếp nhận.
Đầu tư phần mềm của KHKT-CN ở DN là hoạt động đầu tư phát triển
nhân lực khoa học công nghệ ,xây dựng thương hiệu ,bí quyết kinh doanh
,uy tín và phát triển thể chế tổ chức phù hợp ,năng động.
Về nội dung ,đầu tư phát triển KHCN trong doanh nghiệp có thể bao
gồm các hình thức sau:
Đầu tư nghiên cứu khoa học.
NCKH là hoạt động tìm kiếm ,xem xét diều tra hoặc thử nghiệm. Dựa
vào những số liệu ,tài liệu ,kiến thức…để phát hiện cái mới về bản chất sự
vật, về thế giới tự nhiên và xã hội ,để sáng tạo phương tiện kỹ thuật cao
hơn , giá trị hơn. Theo các giai đoạn nghiên cứu có thể chua thành nghiên
cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và triển khai. Nghiên cứu là nghiên cứu
nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái sự vật. Kết quả nghiên cứu cơ
bản có thể là các khám phá, phát minh. Nghiên cứu ứng dụng là sự vận dụng
qui luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật hoặc tạo ra
những nguyên lý mới về giải pháp. Triển khai là sự vận dụng các lý thuyết
để đưa ra các hình mẫu với những tham số khả thi về kỹ thuật.
Doanh nghiệp có thể đầu tư vào nghiên cứu phát minh ra công nghệ
mới hay có những cải tiến trong việ sử dụng để tăng năng suất của doang
nghiệp. Mục đích nghiên cứu KHCN nhằm tìm ra giải pháp công nghệ nâng
cao năng suất.
Đầu tư cho nghiên cứu và triển khai là hoạt động đầu tư mang tính dài
hạn, hướng tới tương lai đồng thời kết quả thì chưa thể xác định trước. Như
vậy, hoạt động đầu tư này mang tính rủi ro cao nhưng do đó cũng có thể
đem lại lợi nhuận lớn. Các công ty lớn có tiềm năng tài chính đồng thời có
chiến lược phát triển dài hạn thường có xu hướng đầu tư nhiều hơn cho loại
này.
22
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu khoa học ở doanh nghiệp có thể
thực hiện qua các chương trình dự án. Tuy nhiên, hiện tại chi phí nghiên cứu
tại Việt Namn chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Trong khi, mỗi năm, nước Mỹ đầu tư
cho KH&CN 312 tỷ USD. Ở Trung Quốc đầu tư cho KH&CN 1,3% GDP,
Thái Lan 2,8% GDP, trong khi đó con số này ở Việt Nam
kinh phí cho KH&CN là 2.411 tỷ đồng, bằng 0,34% GDP (theo nguồn Bộ
Tài Chính năm 2004).
Phát triển sản phẩm mới và các lĩnh vực hoạt động mới đòi hỏi cần đầu tư
cho các hoạt động nghiên cứu, triển khai, ứng dụng công nghệ. Đầu tư
nghiên cứu hoặc mua công nghệ đòi hỏi vốn lớn và độ rủi ro cao.
Hiện nay, khả năng đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và triển khai khoa
học công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam còn khá khiêm tốn. Cùng với đà
phát triển của kinh tế đất nước và doanh nghiệp, trong tương lai tỷ lệ chi cho
hoạt động đầu tư này sẽ ngày càng tăng, tương ứng với nhu cầu về khả năng
của doanh nghiệp.
- Đầu tư cho máy móc thiết bị, chuyển giao công nghệ để phát triển sản
phẩm mới.
Đầu tư phát triển khoa học công nghệ trước hết là đầu tư dây chuyền,
máy móc, trang thiết bị hiện đại. Đây là hoạt động đầu tư ở các giai đoạn
tiếp theo khi việc sản xuất thử nghiệm các kết quả nghiên cứu và triển khai
đã thành công hoặc trong quá trình chuyển giao phần cứng của chuyển giao
công nghệ. Những đầu tư này thực chất là đầu tư trực tiếp cho sản xuất và
thường có giá trị lớn cho máy móc thiết bị đòi hỏi giá thành cao.
Chuyển giao công nghệ là hình thức mua và bán công nghệ trên cơ sở
hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được thỏa thuận phù hợp với các quy
định cuả pháp luật. Bên bán có nhiệm vụ chuyển giao các kiến thức tổng hợp
của công nghệ hoặc cung ca6o1 các máy móc ,thiết bị dịch vụ đào tạo ,kèm
theo các kiến thức công nghệ cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanh
toán cho bên bán để tiếp thu ,si73 dụng các kiến thức công nghệ đó cho các
thỏa thuận đã ghi nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ.
Doanh nghiệp có thể mua máy móc thiết bị bằng cách khác nhau : thứ
nhất ,mua đứt (công nghệ thuộc quyền sở hữu độc quyền của doanh nghiệp)
thứ hai ,mua quyền sử dụng công nghệ ,doanh nghiệp thường áp dụng hình
thức vì ít rủi ro và tốn ít chi phí hơn. Nó giúp doanh nghiệp có những lợi thế
so với những sản phẩm không có công nghệ đó hoặc lợi thế giá thành rẻ do
công nghệ giúp khai thác tối đa những nguồn lực mà đối thủ chưa có.
Đầu tư phát triển KHKT đòi hỏi một khối lượng vốn lớn .Do đó
nguồn huy động vốn rất đa dạng ,không chỉ huy động vốn nội lực mà còn
23
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
huy động vốn từ bên ngoài như ODA và FDI. Sơ đồ nguồn vốn và loại đầu
tư phát triển khoa học công nghệ được thể hiện như sau :
Nguồn vốn chi phối chủ yếu Các loại đầu tư Đặc điểm
-Vốn ngân sách nhà nước
-Vốn từ các quỹ đầu tư mạo
hiểm
-Vốn tự có của doanh nghiệp
Đầu tư cho nghiên
cứu và triển khai
KHCN (R & D)
-Độ rủi ro cao
-Lượng vốn đầu tư ít
-Kết quả không rõ ràng
-Vốn tín dụng của ngân hàng
-Vốn tự có của doanh nghiệp
Đầu tư thiết bị máy
móc ,công nghệ
-Độ rủi ro thấp
-Đầu tư theo giai đoạn
-Lượng vốn đầu tư lớn
-Kết quả rõ ràng
-Vốn từ ngân sách nhà nước
-Vốn tự có của doang nghiệp
Đầu tư phát triển
nhân lực sử dụng
công nghệ
-Độ rủi ro thấp
-Đầu tư thường xuyên
-Lượng vốn vừa phải
1.4.4 Đầu tư cho hoạt động Marketing
Hoạt động marketing ,trong đó ,quảng cáo ,xúc tiến thương mại ,xây
dựng thương hiệu không phải là những hoạt động tách rời má có mối liên hệ
thống nhất mật thiết .Quảng cáo là chiếc lược ngắn hạn trong mục tiêu xây
dựng thương hiệu dài hạn và được hỗ trợ bằng các hoạt động xúc tiến
thương mại .Thương hiệu là tài sản vô hình đặc biệt ,mà trong nhiều doanh
nghiệp ,nó được coi là tài sản quan trọng nhất .Thương hiệu ảnh hưởng đến
sự lựa chọn của người tiêu dùng ,của nhà đầu tư và các cơ quan công quyền.
Đầu tư vào các hoạt động marketing là nhân tố cần thiết cho sự thành
công của doanh nghiệp .Nhờ có marketing ,tiến hành dự báo nhu cầu tiêu thụ
sản phẩm ,dự tính các hoạt động của doanh nghiệp ,hộ trợ bán hàng thông
qua quảng cáo ,khuyến mại…Đầu tư cho các hoạt động marketing cần chiếm
tỷ trọng hợp lý trong tổng vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Đầu tư cho các hoạt động Marketing gồm :
-Đầu tư hoạt động quảng cáo (chiến lược ngắn hạn )
-Đầu tư xúc tiến thương mại
-Đầu tư xây dựng thương hiệu (chiến lược dài hạn )
24
Bài tiểu luận: kinh tế đầu tư 1 GVHD: Hoàng Thị Hoài Hương
Đầu tư cho hoạt động quảng cáo
Chiến lược quảng cáo là cách thức truyền tải thông tin tới các người
tiêu dùng .Nhiệm vụ đầu tiên của quảng cáo là cung cấp thông tin ,củng cố
hoặc đảm bảo uy tín cho sản phẩm. Quảng cáo có thể khuyến khích hành
động mua hằng ngày lập tức và tạo ra luồng lưu thông cho bán lẻ .Đầu tư
cho hoạt động quảng cáo gồm :
-Chỉ tiêu cho các chiến dịch quảng cáo (chi phí nghiên cứu thị trường
mục tiêu ,nghiên cứu thị trường ,nghiên cứu thông điệp quảng cáo).
-Chi phí truyền thông phù hợp (báo ,tạp chí ,phát thanh ,truyền hình,
gửi thư trực tiếp)…
Đầu tư xúc tiến thương mại
Xúc tiến thương mại (trade promotion) là hoạt động thúc đẩy ,tìm
kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ ,bao gồm hoạt động
khuyến mại ,quảng cáo ,trưng bày ,giới thiệu hàng hóa ,dịch vụ và hội trợ
,triển lãm thương mại
Mục đích của hoạt động xúc tiến thương mại nhằm thúc đẩy ,tìm kiếm
cơ hội mua bán hàng hóa ,dịch vụ ,chi phí tổ chức hội trợ ,triển lãm thương
mại ,chi phí các đoàn xúc tiến và giới thiệu sản phẩm ở nước ngoài…
Đầu tư phát triển thương hiệu
Thương hiệu là một thuật ngự phổ biến trong marketing ,thường được
người ta đề cập đến: nhãn hiệu hàng hóa (thương hiệu sản phẩm) ,tên thương
mại tổ chức .cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh (thương hiệu doanh
nghiệp) hay các chỉ dẫn địa lý và tên gọi xuất xứ hàng hóa. Thương hiệu tạo
ra nhận thức và niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ.
Thực chất ,thương hiệu là tài sản vô hình của công ty .Thương hiệu mạnh sẽ
tạo dựng hình ảnh công ty ,thu hút khách hàng mới ,giúp phân phối sản
phẩm dễ dàng hơn ,tạo thuận lợi hơn khi tìm kiếm thị trường mới ;uy tín cao
của thương hiệu tạo lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm ,đem
lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp ,khách hàng tin tưởng vào chất lượng
,yên tâm và tự hào khi sử dụng sản phẩm.
Do đó ,đầu tư xây dựng thương hiệu là một việc làm thiết yếu của bất
cứ doanh nghiệp nào .Chiến lược thương hiệu phải nằm trong một chiến
lược marketing tổng thể ,xuất phát từ nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng .Đầu
tư phát triển thương hiệu gồm: đầu tư xây dựng thương hiệu ;đầu tư đăng ký
bảo hộ trong và ngoài nước…
Vai trò của marketing ngày càng được khẳng định ,đặc biệt trong nền
kinh tế toàn cầu hiện nay .Tuy nhiên ,thực tế cho thấy ,các doanh nghiệp nhỏ
và vừa Việt Nam chưa thấy chú trọng tới chiến lược marketing ,mà nguyên
nhân quan trọng là do thiếu vốn.
25