NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
HỌC VIỆN NGÂN HÀNG
KHOA NGÂN HÀNG
BÀI THẢO LUẬN
PHÁP LUẬT NGÂN HÀNG
Đề tài: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các NHTM tại Việt nam
Hà Nội - 2016
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
I.Năng lực cạnh tranh nói chung
1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
II. Năng lực cạnh tranh của các NHTM
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Về tài chính
Về năng lực quản trị
Về nguồn nhân lựuc
Về công nghệ
Về sản phẩm
Về thị phần
Về marketing
CHƯƠNG III: Giai pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
LỜI MỞ ĐẦU
Thế giới đang bước vào kỷ nguyên của hội nhập kinh tế và xu hướng toàn cầu hóa diễn ra
rộng khắp. Sự xuất hiện của các khối kinh tế và mậu dịch trên thế giới là một điều tất yếu
khách quan, một nấc thang mới, một bệ phóng mới trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh
tế. Khi gia nhập các tổ chức thương mại trong khu vực và trên thế giới, mục tiêu đầu tiên
mà mỗi quốc gia luôn hướng đến là đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế, một xã hội
văn minh, hiện đại, đời sống được cải thiện. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, một hệ thống
tài chính - ngân hàng lành mạnh, cạnh tranh là một trong những nền tảng cho phát triển
kinh tế đồng thời cũng mang lại nhiều thách thức khó khăn không nhỏ. Chính vì vậy,
trong thời gian qua, cùng với việc đổi mới các cơ chế vận hành của nền kinh tế Việt Nam,
các ngân hàng thương mại Việt Nam cũng có những bước tiến quan trọng trong việc nâng
cao năng lực cạnh tranh để sẵn sàng hội nhập quốc tế với nhiều biện pháp khác nhau
như : tăng quy mô vốn, phát triển công nghệ, ứng dụng các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại,
đồng thời đẩy mạnh việc Marketing. Bên cạnh những điểm tích cực đó, vẫn còn ghi nhận
nhiều hạn chế về năng lực cạnh tranh. Do vây để có thể đứng vững và phát triển trong cơ
chế mở cửa theo yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước trong hiện tại và tương lai thì cần
thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các NHTM
một cách bền vững. Với lý do đó, nhóm chúng em đã nghiên cứu về thực trạng năng lực
cạnh tranh của các NHTM ở Việt Nam đồng thời có những đề xuất góp phần nâng cao
năng lực cạnh tranh của NHTM ở Việt Nam để hệ thống Tài chính – Ngân hàng ở nước ta
sẵn sàng cho kỷ nguyên hội nhập đầy cơ hội và thách thức đang tới.
VẤN ĐỀ THẢO LUẬN
Chương 1: Cơ sở lý luận năng lực cạnh tranh của các NHTM
1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh trên các cấp độ: quốc
gia, doanh nghiệp và sản phẩm. Và hiện chưa có một lý thuyết nào hoàn toàn có tính
thuyết phục về vấn đề này, do đó không có lý thuyết “chuẩn” về năng lực cạnh tranh.
Trong khuôn khổ đề án ta chỉ nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp tức là
năng lực cạnh tranh của các ngân hang thương mại Việt Nam
Dưới đây là một số cách quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đáng chú ý.
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần,
thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó
năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với các đối thủ và khả năng
“thu lợi” của các doanh nghiệp.
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn
công của doanh nghiệp khác. Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất
định tính, khó có thể định lượng.
Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo M. Porter (1990),
năng suất lao động là thước đo duy nhất về năng lực cạnh tranh.
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh để
chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”.
Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu thống nhất.
2.Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chịu tác động
của rất nhiều nhân tố khác nhau. Tuy nhiên, có thể chia các nhân tố tác động đến năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp làm hai nhóm: các yếu tố bên trong doanh nghiệp và các
yếu tố bên ngoài doanh nghiệp.
Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
a.
Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Tổ chức, quản lý doanh nghiệp là dựa trên những chức năng, nhiệm vụ đã xác định của
bộ máy quản lý để sắp xếp về lực lượng, bố trí về cơ cấu, xây dựng mô hình và làm cho
toàn bộ hệ thống quản lý của doanh nghiệp hoạt động như một chỉnh thể có hiệu lực nhất.
Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố quyết định sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói
riêng. Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thể hiện ở các mặt:
Trình độ của các lãnh đạo doanh nghiệp
Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp của đội ngũ cán bộ
Thực tế thực hiện của các nhân viên, chuyên viên của doanh nghiệp.
b.
Trình độ lao động trong doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp,lao động vừa là yếu tố đầu vào vừa là lực lượng trực tiếp sử
dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ. Lao động còn là
lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa quá trình sản xuất
và thậm chí góp sức vào những phát kiến và sáng chế…Đây là một yếu tố tác động trực
tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
c.
Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả năng huy
động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trong doanh nghiệp. Năng
lực tài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắt buộc
phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng cao năng lục cạnh
tranh.
d.
Năng lực marketing của doanh nghiệp
Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, đáp ứng
nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thị phần tiêu thụ sản phẩm, nâng
cao vị thế của doanh nghiệp. Đây là nhóm nhân tố rất quan trọng tác động tới năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp.
e.
Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp
Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp là yếu tố tổng hợp gồm nhiều
yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết bị, tài chính cho hoạt động nghiên cứu và
phát triển (R&D), khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp. Năng lực nghiên cứu và
phát triển có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm,
thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, hợp lý hóa sản xuất.
g. Trình độ thiết bị, công nghệ
Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Công nghệ phù hợp tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản
phẩm của doanh nghiệp. Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất của doanh nghiệp,
nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp.
Ngoài ra, một số yếu tố khác nhau như lợi thế về vị trí địa lý, ngành nghề kinh
doanh của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp… có ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Có rất nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp. Nhưng nhìn chung đều thuộc các nhóm yếu tố như sau:
a. Thị trường
Thị trường là môi trường kinh doanh rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Thị
trường vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm đầu vào thông qua hoạt động mua – bán
hàng hóa dịch vụ đầu ra và các yếu tố đầu vào. Sự ổn định của thị trường có ý nghĩa rất
quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của
doanh nghiệp nói riêng.
b. Thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách gồm các quy định pháp luật, các biện pháp hạn chế hay
khuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ, ngành nghề, địa bànnghĩa
là các biện pháp điều tiết cả đầu vào và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của
doanh nghiệp. Do vậy, đây là nhóm yếu tố rất quan trọng liên quan tới hoạt động của
doanh nghiệp nói chung và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng.
c. Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin,
hệ thống giáo dục – đào tạo… Đây là tiền đề quan trọng, tác động mạnh đến hoạt động
của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của sản phẩm. Để bảo đảm cho
doanh nghiệp hoạt động bình thường và nâng cao năng lực cạnh tranh, cần có hệ thống
kết cấu hạ tầng đa dạng, có chất lượng tốt. Điều đó đòi hỏi có sự đầu tư đúng mức để
phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
d. Các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ
Hoạt động sản xuất kinh doanh với mỗi doanh nghiệp sẽ liên quan tới một chuỗi
các ngành khác và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như: những ngành cung cấp nguyên liệu
đầu vào, dịch vụ vận tải, cung cấp điện, cung cấp nước… Nếu sử dụng các dịch vụ với
chi phí thấp, chất lượng phục vụ tốt sẽ tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp tăng năng lực cạnh
tranh,
Vì vậy, doanh nghiệp rất cần duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài với các ngành có
liên quan nhằm tạo ra lợi thế tiềm tàng cho cạnh tranh.
e. trình độ nguồn nhân lực quốc gia
Trình độ nguồn nhân lực quốc gia nói chung có vai trò rất quan trọng đối với sự
phát triển doanh nghiệp. Trình độ và các điều kiện về nguồn nhân lực thể hiện ở kỹ năng
của nguồn nhân lực, mức lương, hệ thống lương, điều kiện làm việc, sức khỏe và an toàn,
đầu tư cho đào tạo, vai trò của công đoàn
II. Cơ sở lý luận về NHTM và năng lực cạnh tranh của NHTM.
1.Khái niệm NHTM
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức kinh doanh tiền tệ tín dụng có vị trí
quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường ở các nước. Có nhiều khái niệm khác nhau
về ngân hàng thương mại:
Theo Pháp lệnh Ngân hàng năm 1990 của Việt Nam: Ngân hàng thương mại là
một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà nghiệp vụ thường xuyên và chủ yếu là nhận tiền gửi
của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, chiết khấu và
làm phương tiện thanh toán.
Theo luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam có hiệu lực vào tháng l0/1998:“Ngân
hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan”.
Nghị định của Chính phủ số 49/2000 NĐ-CP ngày 12/9/2000 định nghĩa: “Ngân
hàng thương mại là ngân hàng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt
động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận, góp phần thực hiện các mục
tiêu kinh tế của nhà nước "
2. Cạnh tranh trong kinh doanh hoạt động ngân hàng
Cạnh tranh của NHTM là khả năng tạo ra và sử dụng có hiệu quả các lợi thế cạnh tranh,
để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với các NHTM khác, là nỗ lực hoạt động
đồng bộ của ngân hàng trong một lĩnh vực khi cung ứng cho khách hàng những sản phẩm
dịch vụ có chất lượng cao, chi phí rẻ nhằm khẳng định vị trí của ngân hàng vượt lên khỏi
các ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động ấy.
Giống như bất cứ loại hình đơn vị nào trong kinh tế thị trường, các NHTM trong kinh
doanh luôn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên so với sự cạnh tranh của
các tổ chức kinh tế khác, cạnh tranh giữa các
NHTM có những đặc trưng nhất định.
Một là, các đối thủ cạnh tranh trong sự ganh đua nhưng cũng có sự hợp tác với
nhau trong một lĩnh vực kinh doanh nhạy cảm.
Hai là, cạnh tranh ngân hàng luôn phải hướng tới một thị trường lành mạnh, tránh
xảy ra rủi ro hệ thống.
Ba là, cạnh tranh ngân hàng thông qua thị trường có sự can thiệp gián tiếp và
thường xuyên của Ngân hàng trung ương của mỗi quốc gia hoặc của khu vực.
Bốn là, cạnh tranh ngân hàng phụ thuộc mạnh mẽ vào các yếu tố bên ngoài ngân
hàng như môi trường kinh doanh, doanh nghiệp, dân cư, tập quán dân tộc, hạ tầng cơ
sở…
Năm là, cạnh tranh ngân hàng chịu ảnh hưởng thường xuyên của thị trường tài
chính quốc tế.
Các nhân tố tác động đến cạnh tranh của các NHTM.
* Các nhân tố khách quan
- Tác nhân từ phía NHTM mới tham gia thị trường. bất kể thực lực của NHTM mới là
thế nào, thì các NHTM hiện tại đã thấy một mối đe dọa về khả năng thị phần bị chia sẻ;
ngoài ra, các NHTM mới có những kế sách và sức mạnh mà các NHTM hiện tại chưa thể
có thông tin và chiến lược ứng phó.
- Tác nhân là các NHTM hiện tại. Đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến chiến lược hoạt
động kinh doanh của NHTM trong tương lai. Ngoài ra, sự có mặt của các đối thủ cạnh
tranh thúc đẩy ngân hàng phải thường xuyên quan tâm đổi mới công nghệ, nâng cao chất
lượng các dịch vụ cung ứng để chiến thắng trong cạnh tranh.
- Tác nhân là sức ép từ phía khách hàng
Những người bán sản phẩm thông qua các hình thức gửi tiền, lập tài khoản giao dịch
hay cho vay đều có mong muốn là nhận được một lãi suất cao hơn; trong khi đó những
người mua sản phẩm (vay vốn) lại muốn mình chỉ phải trả một chi phí vay vốn nhỏ hơn
thực tế. Như vậy, ngân hàng sẽ phải đối mặt với sự mâu thuẫn giữa hoạt động tạo lợi
nhuận có hiệu quả và giữ chân được khách
- Tác nhân là sự xuất hiện các dịch vụ mới
Sự ra đời ồ ạt của các tổ chức tài chính trung gian. Các trung gian này cung cấp cho
khách hàng những sản phẩm mang tính khác biệt và tạo cho người mua sản phẩm có cơ
hội chọn lựa đa dạng hơn, thị trường ngân hàng mở rộng hơn. Điều này tất yếu sẽ tác
động làm giảm đi tốc độ phát triển của các NHTM, suy giảm thị phần.
* Nhóm nhân tố chủ quan
Nhóm các nhân tố thuộc về nội tại của hệ thống NHTM cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng
lực cạnh tranh của các ngân hàng này, chúng bao gồm:
- Năng lực điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng
- Quy mô vốn và tình hình tài chính của NHTM
- Công nghệ cung ứng dịch vụ ngân hàng
- Chất lượng nhân viên
- Cấu trúc tổ chức
- Danh tiếng và uy tín của NHTM
3. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của NHTM
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại.
Năng lực cạnh tranh của NHTM là khả năng tự duy trì một cách lâu dài, có ý thức các
lợi thế của mình trên thị trường để đạt được mức lợi nhuận và thị phần nhất định hoặc
khả năng chống lại một cách thành công sức ép của các lực lượng cạnh tranh
Để đánh giá năng lực cạnh tranh trong kinh doanh ngân hàng cần căn cứ vào các tiêu
chí sau:.
a. Tiềm lực tài chính
Yếu tố tài chính quan trọng nhất của NHTM là vốn. Bao gồm: Vốn pháp định và Quỹ
dự trữ. Vốn ngân hàng là điều kiện cơ bản đảm bảo tiền gởi của khách hàng, một khi gặp
rủi ro trong kinh doanh (như nợ khó đòi, lỗ trong nghiệp vụ chứng khoán thì vốn của
ngân hàng là khoản bù đắp rủi ro đó và tạo khả năng thanh toán các khoản nợ của khách
hàng). Mặc dù vốn là yếu tố cơ bản để đánh giá về mặt tài chính của ngân hàng, nhưng
ngoài yếu tố vốn ta cần phải tính đến hàng loạt các yếu tố khác như: tính thanh khoản của
ngân hàng, cấu trúc rủi ro của lãi suất, tính chất biến động của các loại tiền gửi và chất
lượng quản lý ngân hàng
Theo quan điểm của Mỹ và một số nước phương Tây, muốn đánh giá một ngân hàng
người ta sử dụng 5 chỉ tiêu:
Chỉ tiêu
Tỉ lệ vốn
Ghi chú
Các tỉ số về vốn (VSCH/Tổng TS, VCSH/Tài sản
có …)
Chất lượng tài sản có Chất lượng tín dụng và các khoản đầu tư
Chất lượng quản lý Đội ngũ quản lý, nhân viên, mạng lưới, công
Tiền lãi
Thanh khoản
nghệ…
Các tỉ số về thu nhập
Tính thanh khoản trên tài sản, trên cổ phiếu ….
Tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu là một thước đo độ an toàn vốn của ngân hàng.
CAR = [(Vốn cấp I + Vốn cấp II) / (Tài sản đã điều chỉnh rủi ro)] * 100%
Bằng tỉ lệ này người ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các
khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro vận
hành. tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu ở Việt Nam hiện đang là 8%. Khi tính toán tỉ lệ an toàn
vốn tối thiểu, người ta xét đến hai loại vốn: vốn cấp I(vốn nòng cốt) và vốn cấp II(vốn bổ
sung), trong đó vốn cấp I được coi là có độ tin cậy và an toàn cao hơn. Ngoài yêu cầu
đảm bảo cho CAR từ 8% trở nên, các ngân hàng còn phải đảm bảo tổng vốn cấp II không
được vượt quá 100% vốn cấp I.
b. Thị phần
Thị phần ngân hàng là phần thị trường ngân hàng chiếm lĩnh. Thị phần nói rõ phần sản
phẩm tiêu thụ của riêng doanh nghiệp so với tổng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường. Để
giành giật mục tiêu thị phần trước đối thủ, ngân hàng thường phải có chính sách lãi suất
phù hợp. Việc đảm bảo thị phần cho mình là đảm bảo nguồn thu cho các ngân hang.
Thường thì thị phần ngân hang sẽ được xem xét dưới 2 khía cạnh
- Thị phần huy động vốn ( nhận tiền gửi )
- Thị phần tín dụng ( cho vay )
Bên cạnh đó, còn xem xét tới thị phần tương đối ( Relative market share )
c. Hệ thống sản phẩm, dịch vụ
Các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng thương mại bao gồm”
Thực hiện trao đổi ngoại tệ.
Chiết khấu thương phiếu và cho vay thương mại
Nhận tiền gửi.
Bảo quản vật có giá trị:
Cung cấp dịch vụ ủy thác.
Cho vay tiêu dung
Tư vấn tài chính:
Quản lý tiền mặt.
Bán các dịch vụ bảo hiểm.
Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán. …
Nhiều loại hình tín dụng và tài khỏan tiền gửi mới đang được phát triển, các loại dịch
vụ mới như giao dịch qua Internet và thẻ thông minh (Smart) đang được mở rộng và các
dịch vụ mới (như bảo hiểm và kinh doanh chứng khoán) được tung ra hàng năm. Hệ
thống sản phẩm dịch vụ càng đa dạng thì càng tăng tính thỏa mãn cho khách hang, từ đó
nâng cao năng lực cạnh của các ngân hang
d. Trình độ công nghệ
Năng lực công nghệ của NHTM thường được đánh giá thông qua các tiêu chí:
- Khả năng trang bị công nghệ mới
- Mức độ đáp ứng của công nghệ ngân hàng đối với nhu cầu của thị trường để giữ
được thị phần dịch vụ
- Tính liên kết công nghệ giữa các ngân hàng và tính độc đáo về công nghệ của mỗi
ngân hàng
e. Trình độ quản lý
Đánh giá năng lực quản trị, điều hành của NHTM thông qua các tiêu chí sau:
- Mô hình một ngân hàng hiện đại
- Cơ cấu, trình độ của bộ máy lãnh đạo
- Khả năng ứng phó của cơ chế điều hành trước diễn biến của thị trường;
- Cơ chế vận hành một ngân hàng hiện đại (quản trị tài sản nợ, tài sản có, quản trị
dịch vụ phi tín dụng, quản trị kế toán và ngân quỹ, quản trị nhân sự…)
f. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nhân tố rất quan trọng tạo nên chất lượng sản phẩm của các
NHTM trong quá trình hoạt động, bởi vì:
- Trong quá trình giao dịch trực tiếp với khách hàng, nhân viên ngân hàng chính là
một “ hiện hữu” chủ yếu của sản phẩm dịch vụ
- Đa số các ý tưởng cải tiến sản phẩm dịch vụ hoặc cung ứng sản phẩm dịch vụ được
đề xuất từ các hoạt động thực tiễn của nhân viên.
- Nhân viên là lực lượng chủ yếu chuyển tải thông tin tín hiệu từ thị trường, từ khách
hàng, từ đối thủ cạnh tranh đến các nhà hoạch định chính sách của ngân hàng.
Do vậy nâng cao chất lượng nguồn nhân yêu cầu tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh
cho ngân hàng
g.Mạng lưới
Muốn có được thị phần lớn, khai thác triệt để các cơ hội ngân hang cần tạo dựng cho
mình một mạng lưới rộng rãi nhất có thể. Việc mở các chi nhánh, phòng giao dịch sẽ giúp
cho người dân và các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với các sản phẩm và dịch vụ của
ngân hang hơn.Tuy nhiên việc mở quá nhiều các chi nhánh, phòng giao dịch quá với khả
năng có thể gây ra nhiều ảnh hưởng xấu nếu như ngân hang không đủ tiềm lực tài chính
để đáp ứng. Một hệ thống phân phối hợp lý sẽ giúp ngân hang tận dụng tốt nhất các cơ
hội kinh doanh trong khả năng có thể vẫn bảo đảm an toàn, tránh rủi ro xảy ra.
h. Thương hiệu
Ngoài ra, còn có thể đánh giá năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng qua danh
tiếng và uy tín của mỗi ngân hàng đó. Về hình thức, danh tiếng và uy tín biểu hiện qua
thương hiệu. Về bản chất, danh tiếng và uy tín được tạo ra từ chất lượng, quy mô của sản
phẩm dịch vụ. Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hang danh tiếng còn ảnh hưởng rất lớn đến
quyết định của người dân khi họ lựa chọn dùng sản phẩm mà các ngân hang cung cấp.Vì
vậy xây dựng một danh tiếng tốt sẽ là cơ sở để các ngân hang tồn tại và phát triển
Chương 2 : THỰC TRẠNG CẠNH TRANH CỦA CÁC NHTM
I, Danh sách các NHTM tại Việt Nam
(Số liệu thống kê đến 31/12/2015)
Đơn
vị: Tỷ đồng
TT TÊN NGÂN HÀNG
ĐỊA CHỈ
SỐ
GIẤYVỐN
PHÉP
ĐIỀU LỆ
NGÀY CẤP
NHTM DO NHÀ NƯỚC NẮM GIỮ TRÊN 50% VỐN ĐIỀU LỆ
Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt
1
Nam
(Vietnam
Bank
Agriculture
and
for
Rural
Số 02 Láng Hạ, Thành
Công, quận Ba Đình, Hà
Nội
Development - Agribank)
Ngân hàng TNHH MTV DầuCapital Tower, số 109
2
khí toàn cầu (GP Bank)
Trần Hưng Đạo, phường
(Global Petro CommercialCửa Nam, quận Hoàn
One Member Limited Bank) Kiếm, Hà Nội
280/QĐ-NH5
ngày 15/01/1996
29.003,6
1304/QĐNHNN
7/7/2015
ngày3.018
Ngân hàng TNHH MTV Đại
Dương
3
199 Nguyễn Lương Bằng,
(Ocean
Commercial
Member
Limited
OneTP Hải Dương, tỉnh Hải
LiabilityDương
663/QĐ-NHNN
ngày 6/5/2015
4.000
Bank)
Ngân hàng TNHH MTV Xây
dựng
4
145-147-149 đường Hùng
CommercialVương, phường 2 thị xã
(Construction
One
LimitedTâm An, tỉnh Long An
Member
Liability Bank)
Ngân hàng TMCP
(Vietnam
Joint
ngày 5/3/2015
3.000
Công
thương Việt Nam
5
250/QĐ-NHNN
Stock
Commercial Bank of Industry
108 Trần Hưng Đạo, Hoàn142/GP-NHNN
Kiếm, Hà Nội
ngày 03/7/2009
37.234
and Trade)
Ngân hàng TMCP Đầu tư và
Phát triển Việt Nam
6
(Joint
Stock
Commercial
Bank for Investment and
Tháp BIDV 35 Hàng Vôi,84/GP-NHNN
Hoàn Kiếm, Hà Nội
ngày 23/4/2012
31.481
Development of Vietnam)
Ngân hàng TMCP Ngoại
Thương Việt Nam
7
(Joint
Stock
Commercial198 Trần Quang Khải,286/QĐ-NH5
Bank for Foreign Trade ofHoàn Kiếm, Hà Nội
ngày 21/9/1996
26.650
Vietnam
VCB)
NGÂN HÀNG 100% VỐN NƯỚC NGOÀI
1
ANZ Việt Nam
(ANZ
2
Bank
(Vietnam)
Limited - ANZVL)
Hong Leong Việt Nam
Tòa nhà Suncity, 13 Hai268/GP-NHNN
Bà Trưng, Hà Nội
ngày 09/10/2008
Tầng trệt, tòa nhà Centec,342/GP-NHNN 3.000
( Hong Leong Bank Vietnam72-74 Nguyễn Thị Minhngày 29/12/2008
Limited - HLBVN)
3.000
Khai, Phường 6, quận 3,
TP. Hồ Chí Minh
3
HSBC Việt Nam
235 Đồng Khởi, phường
( Hongkong-Shanghai
BankBến Nghé, Quận 1, TP.Hồ
Vietnam Limited - HSBC)
Chí Minh
Tầng trệt, tầng lửng, tầng
Shinhan Việt Nam
2,3 Tòa nhà Empress, số
4
(
Shinhan
Bank Vietnam138-142 đường Hai Bà
Trưng, phường Đa Kao,
Limited - SHBVN)
235/GP-NHNN
ngày 08/9/2008
341/GP-NHGP n
gày 29/12/2008
Standard Chartered Việt Nam Keangnam, lô E6, Phạm
( Standard Chartered BankHùng, phường Mễ Trì,
(Vietnam) Limited - SCBVL) quận Nam Từ Liêm, Hà
236/GP-NHNN
ngày 08/9/2008
Nội
NGÂN HÀNG TMCP TRONG NƯỚC
Á Châu
442 Nguyễn Thị
(Asia
Commercial Joint
Stock
Bank
-
ACB)
An Bình
(An
2
Binh
Commercial Joint
Stock
Bank
-
ABB)
Bảo Việt (Baoviet
bank)
3
4.547
Quận 1, TP. Hồ Chí Minh
P 1810-1815, tòa nhà
5
1
7.528
Bao Viet Joint
Stock
commercial Bank
Minh Khai, Quận0032/NHGP ngày
3, TP. Hồ Chí24/4/1993
9.377
Minh
170
Bà0031/NH-GP
Hai
Trưng,
phườngngày 15/4/1993
Đa Kao, Quận 1,77/QĐ-NH5 ngày
4.798
TP. Hồ Chí Minh 15/4/1993
Tầng 1 và Tầng
5,
Tòa
nhà
số328/GP-NHNN
CornerStone,
16
Phan
Chungày 11/12/2008
Trinh, quận Hoàn
Kiếm, Hà Nội
3.150
3.080
Bản Việt
(trước đây là Gia
Định)
4
(Viet
Capital
Commercial Joint
Stock Bank - Viet
Capital Bank)
Bắc Á
6
114-116-118
đường
Hai
Trưng,
Bà0025/
NHGP
phườngngày 22/8/1992
3.000
Đa Kao, Quận 1,
TP. Hồ Chí Minh
0052/NHGP ngày
Quang
01/9/1994
4.400
Commercial JointTrung, TP. Vinh,
183/QĐ-NH5
Stock Bank - Bactỉnh Nghệ An
ngày 01/9/1994
A Bank)
Bưu điện Liên
A117
(BAC
5
Toà Nhà số 112-
Việt
Số 2A Nguyễn
(LienViet
Thị Minh Khai,
Commercial JointPhường Đa Kao,
Stock
Bank
–Quận 1, TP. Hồ
91/GP-NHNN
ngày 28/3/2008
6.460
PostChí Minh.
Lienviet
Bank - LPB)
Đại Chúng Việt
Nam
7
Số
(Public VietnamQuyền,
PVcomBank)
Đông Á
(DONG
9
A
Commercial Joint
Stock
Bank
-
EAB)
Đông Nam Á
(Southeast
279/GP-NHNN
ngày 16/9/2013
Lưu, Quận Phú0009/NHGP ngày
Nhuận, TP. Hồ27/3/1992
25
-
5.000
Chí Minh
Trần
Hưng0051/NHGP ngày5.466
AsiaĐạo, Hoàn Kiếm,25/3/1994
Bank
9.000
130 Phan Đăng
Commercial JointHà Nội
Stock
Hoàn
-Kiếm, Hà Nội
Bank
8
22 Ngô
Seabank)
Hàng Hải
(The
10
Maritime
Commercial Joint
Stock
Bank
-
Sky tower A – 880001/NHGP ngày
Láng Hạ, Hà Nội 08/6/1991
11.750
MSB)
Kiên Long
16-18
Phạm0056/NH-GP
Long
Hồng Thái, TPngày 18/9/1995
3.000
Commercial Joint
Rạch Giá, tỉnh2434/QĐ-NHNN
Stock Bank Kiên Giang.
ngày 25/12/2006
KLB)
Kỹ Thương
(Kien
11
(Viet
Nam
Technologicar
12
and Commercial
Joint Stock Bank
-
191
Bà
Triệu,
quận Hai
BàTrưng, Hà Nội
0040/NHGP ngày
06/8/1993
8.878
TECHCOMBAN
K)
Nam Á
201-203
Amạng tháng 8,
(Nam
13
Cách
Commercial Jointphường 4, Quận
Stock
Bank
-3, TP. Hồ Chí
0026/NHGP ngày
22/8/1992
3.000
NAM A BANK) Minh
Phương Đông
45
(Orient
14
Duẩn,
Commercial JointQuận 1, TP. Hồ
Stock
15
Lê
Bank
-Chí Minh
0061/
ngày 13/4/1996
OCB)
Quân Đội
21
(Military
Đống Đa, Hà Nội 14/9/1994
Commercial Joint
Stock
Bank
-
Cát
NHGP
3.547
Linh,0054/NHGP ngày16000
MB)
Quốc
Tầng 1,6,7 Tòa
Tế (Vietnam
16
nhà CornerStone
International
Commercial Joint
Stock
Bank
-
VIB)
Quốc dân
số 16 Phan Chu
Trinh,
Hoàn
NHGP
ngày 25/01/1996
4.845
Kiếm, Hà Nội
(Đổi tên từ Ngân28C-28D
17
0060/
Bà
hàng Nam Việt) Triệu, quận Hoàn
(National CitizenKiếm, Hà Nội
bank - NCB)
Sài Gòn
0057/NHGP ngày
18/9/1995
970/QĐ-NHNN
3.010
ngày 18/5/2006
Gon927 Trần Hưng
238/GP-NHNN
14.295
Commercial JointĐạo, Quận 5, TP.
ngày 26/12/2011
Stock Bank -Hồ Chí Minh
(Sai
18
SCB)
Sài Gòn
Công
Thương
19
Số 2C Phó Đức
(Saigon Bank forChính, Quận 1,
Industry & TradeTP. Hồ Chí Minh
0034/NHGP ngày
04/5/1993
3.080
- SGB)
Sài Gòn – Hà Nội
0041/NH-GP
Hưng
ngày 13/11/1993
8.866
ommercial JointĐạo, quận Hoàn
93/QĐ-NHNN
Stock Bank -Kiếm, Hà Nội
ngày 20/01/2006
SHB)
Sài Gòn Thương
(Saigon-Hanoi C 77
20
Tín
21
Trần
266-268 Nam Kỳ
(Saigon ThuongKhởi
Nghĩa,0006/NHGP
Tin Commercial Quận 3, TP. Hồngày 05/12/1991
Joint Stock BankChí Minh
- Sacombank)
18.852
Tiên Phong
22
Số 57 Lý Thường
(TienPhong
Kiệt,
phường
123/GP-NHNN
5.550
Commercial JointTrần Hưng Đạo,
ngày 05/5/2008
Stock Bank -Hoàn Kiếm, Hà
TPB)
Việt Á
Nội
34A-34B
Hàn
AThuyên, phường
12/NHGP
3.500
Commercial JointPhạm Đình Hổ,
ngày 09/5/2003
Stock Bank -quận Hai Bà
(Viet
23
Trưng, Hà Nội
VIETA Bank)
Việt Nam Thịnh
Vượng
Hưng
0042/NHGP
8.056,5
Commercial JointĐạo, quận Hoàn
ngày 12/8/1993
Stock Bank forKiếm, Hà Nội
(Vietnam
24
72
Trần
47
Trần
Private Enterprise
- VPBank)
Việt
Nam
Thương Tín
(Viet
25
Nam
Thuong
Tin
Commercial Joint
Stock
Bank
Vietbank)
Xăng
dầu
Petrolimex
Commercial Joint
27
Sóc2399/QĐ-NHNN
Trăng, tỉnh Sócngày 15/12/2006
Tầng 16, 23, 24
Bank
-
Sơn, phường Ngã125/QĐ-NHNN
3.000
Tư Sở, Đống Đa,ngày 12/01/2007
Hà Nội
PGBank)
Xuất Nhập Khẩu Tầng 8 Tòa nhà0011/NHGP
(Viet
3.000
Trăng
số 229 Phố Tây13/11/1993
Group
Stock
TP.
tòa nhà MIPEC0045/NHGP ngày
(Petrolimex
26
Đạo,
Hưng
namVincom, số 72 Lêngày 06/4/1992
12.355
Thánh Tôn và 47
Commercial JointLý
Stock
Tự
-phường
Eximbank)
Trọng,
Bến
Nghé, Quận 1,
TP. Hồ Chí Minh
Phát triển Thành
phố Hồ Chí Minh 25 bis Nguyễn
(Ho
28
MinhThị Minh Khai,
Chi
city Developmentphường
Joint
Bến
00019/NH-GP
ngày 6/6/1992
StockNghé, Quận 1,
Commercial
8.100
TP. Hồ Chí Mịnh
Bank - HDBank)
* Ghi chú:
- Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cầu đã chuyển thành Ngân hàng TNHH MTV do Nhà
nước sở hữu 100% vốn điều lệ kể từ 7/7/2015. Ngân hàng TMCP Phương Nam đã sáp
nhập vào Ngân hàng TMCP Sài Gòn từ 1/10/2015. Ngân hàng TMCP Phát triển Mê
kông sát nhập vào Ngân hàng TMCP Hàng Hải từ ngày 21/7/2015.
- Ngày 25/5/2015 Ngân hàng TMCP Phát triển Nhà đồng bằng Sông Cửu Long (MHB)
sáp nhập vào Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV
II, THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CANH TRANH GIỮA CÁC NGÂN HÀNG
1, Năng lực tài chính
A, Về quy mô tổng tài sản
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), đến thời điểm 30/6/2015, tổng tài sản
của toàn hệ thống tổ chức tín dụng đạt hơn 6,6 triệu tỷ đồng, tăng 1,52% so với đầu năm
2015.
Đáng chú ý, hầu hết các loại hình tổ chức tín dụng đều tăng tài sản, ngoại trừ khối ngân
hàng cổ phần. So với đầu năm, tổng tài sản của nhóm này giảm 0,47%. Còn nếu tính
riêng trong tháng 6, các ngân hàng cổ phần đã giảm 40.400 tỷ đồng tổng tài sản.
Theo thống kê từ các báo cáo tài chính hợp nhất quý II/2015, 7/17 ngân hàng có tổng tài
sản giảm sau 6 tháng đầu năm với tổng số tài sản giảm lên tới 52.256 tỷ đồng.
Tốc độ giảm mạnh nhất là Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu (Eximbank). Tính đến ngày
30/6, tổng tài sản của ngân hàng Eximbank bất ngờ chỉ còn 130.170 tỷ đồng, tương
đương với việc "bốc hơi" 30.924 tỷ đồng, tương đương giảm 19% so với đầu năm.
Kết thúc quý II/2015, tổng tài sản của Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam
(PVcomBank) chỉ còn 96.624 tỷ đồng, giảm 10,5% so với cuối năm 2014.
Trao đổi với chúng tôi, ông Võ Trọng Thủy, thành viên Hội đồng quản trị độc lập của
PVcomBank cho biết, tổng tài sản của ngân hàng giảm phần lớn do ủy thác đầu tư, ủy
thác cho vay giảm nhiều. Theo luật từ NHNN, nếu một tổ chức đang đi vay thì không thể
ủy thác cho vay. Theo đó, Tập đoàn Dầu khí và các công ty con không được tiếp tục ủy
thác qua PVcombank nữa.
Trong 6 tháng đầu năm, tổng tài sản của nhiều ngân hàng khác như Ngân hàng Ngân
hàng TMCP Quốc tế ( VIB ) cũng giảm từ 80.712 tỷ đồng hồi đầu năm xuống còn 77.440
tỷ đồng, giảm 4%. Tổng tài sản của Ngân hàng TMCP Xăng dầu Petrolimex (PGBank)
đạt 24.433 tỷ đồng, giảm 5,22%, Ngân hàng TMCP AN Bình (ABBank) và Ngân hàng
TMCP Kỹ thương (Techcombank) giảm lần lượt 2,68% và 1,8%,
Trong top ngân hàng thương mại cổ phần Nhà nước, duy nhất trường hợp của Ngân hàng
TMCP Ngoại thương (Vietcombank) có tổng tài sản giảm nhẹ 0,08%. Trong khi đó, Ngân
hàng TMCP Đầu tư và phát triển có tổng tài sản tăng 11,45% lên 724.814 tỷ đồng, do
nhận sáp nhập từ Ngân hàng MHB. Đây cũng là ngân hàng đứng đầu về quy mô tổng tài
sản trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay.
B, Về vốn điều lệ
Cho đến thời điểm này, Vietinbank vẫn là ngân hàng dẫn đầu hệ thống về vốn điều lệ với
37.234 tỷ đồng. Tuy nhiên khác với trước, Vietinbank cao hơn trên dưới chục nghìn tỷ so
với 3 ngân hàng ở vị trí tiếp theo là Agribank, BIDV và Vietcombank thì đến nay, BIDV
đã theo sau khá sát với 31.481 tỷ đồng, sau khi nhận sáp nhập với MHB.
Xét về số vốn điều lệ trong số 34 ngân hàng hiện nay, có thể chia làm 3 top. Top 1 với 9
ngân hàng có vốn lớn hơn 10.000 tỷ đồng; top 2 gồm 9 ngân hàng có vốn từ 5.000 –
10.000 tỷ đồng và top 3 là còn lại với 16 ngân hàng có vốn điều lệ dưới 5.000 tỷ đồng.
Hiện trong hệ thống có 9 ngân hàng có vốn tròn hoặc nhỉnh hơn 3.000 tỷ đồng bao gồm:
BaoVietBank, KienLongBank, NamABank, PGBank, VietcapitalBank, CBBank, NCB,
GP.Bank và NamABank.
Điều thú vị là vốn điều lệ của 12 ngân hàng cuối bảng cộng lại là 37.694 tỷ đồng, cao hơn
vỏn vẹn 460 tỷ đồng so với vốn điều lệ hiện có của Vietinbank. Trong khi đó, Vietinbank
đang nỗ lực tăng vốn lên 49.000 tỷ đồng vào cuối năm 2015.
Trong năm nay, hàng loạt ngân hàng có kế hoạch tăng vốn. Theo số liệu thống kê của
CafeF, có đến 12 ngân hàng đã lên kế hoạch tăng vốn ngay trong năm 2015. Trong đó,
một số ngân hàng đã tăng vốn thành công như VPBank tăng từ 6.348 tỷ đồng cuối năm
2014 lên 8.056 tỷ đồng cuối quý II/2015. BacABank cũng đã tăng vốn thành công lên
4.400 tỷ đồng, nhờ đó mà tỷ lệ sở hữu của bà Trần Thị Thoảng, Chủ tịch HĐQT và bà
Thái Hương, Phó chủ tịch kiêm Tổng giám đốc BacA Bank đã về mức cho phép.
Một số ngân hàng khác cũng đang triển khai tăng vốn như MBBank, ngân hàng này có ý
định tăng vốn lên 16.000 tỷ đồng. Theo dự đoán của một công ty chứng khoán mới đây,
có thể MBBank sẽ sớm tăng vốn trong vài tuần tới, từ đó sẽ dẫn tới việc hở room cho
khối ngoại.
Thực tế, kế hoạch tăng vốn này đã được chuẩn bị từ 2 năm qua và năm 2015 là cơ hội
cuối cùng để hoàn thành kế hoạch. Nếu thành công, MBBank sẽ vươn lên đứng thứ 5
trong hệ thống xét về vốn điều lệ, chiếm vị trí của Sacombank hiện tại.
Một số ngân hàng có vốn thấp như VietABank cũng có kế hoạch tăng từ 3.098 tỷ đồng
lên 4.200 tỷ đồng.
NamABank cũng có kế hoạch tăng vốn lên 4.000 tỷ đồng tuy nhiên đến nay ngân hàng
này vẫn chưa thể hoàn thành mục tiêu. Tổng số tiền thu từ việc bán cổ phiếu cho cổ đông
hiện hữu mới đây chỉ đạt 21,16 tỷ đồng và sau đợt chào bán, vốn điều lệ của Nam A Bank
tăng lên 3.021 tỷ đồng.
Dưới đây là tình hình vốn điều lệ của các ngân hàng được tổng hợp từ báo cáo tài chính,
các số liệu ngân hàng công bố tính đến cuối quý II/2015.
C, Khả năng thanh toán
Là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự an toàn trong quá trình hoạt động
của một ngân hàng. Do đó, muốn đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng phải duy trì
một tỷ lệ tài sản nhất định dưới dạng tài sản có tính lỏng, đặc biệt là các tài sản có tính
thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi ở Ngân hàng Trung ương và các công cụ dự trữ
thanh khoản khác. Ngoài ra, các ngân hàng còn phải chú trọng nâng cao chất lượng các
tài sản có, xây dựng danh mục tài sản hợp lý, có khả năng chuyển hoá thành tiền nhanh
chóng và thu hồi nợ đúng hạn để đáp ứng yêu cầu chi trả cho khách hàng hoặc thực hiện
các nghĩa vụ đã cam kết.
D, Khả năng sinh lời
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như để đánh giá sự
phát triển bền vững của một ngân hàng. Hiệu quả hoạt động và khả năng sinh lời của
ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khi xét đến chỉ tiêu lợi nhuận, cần phân
tích lợi nhuận trong mối quan hệ với các chỉ tiêu quản lý khác, chẳng hạn như mức độ
thanh khoản, mức chấp nhận rủi ro, cơ cấu tài sản cũng như triển vọng phát triển lâu dài
của ngân hàng. Trong phân tích đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, có thể đo
lường bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau như: Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận
trên vốn tự có (ROE), lợi nhuận trên tổng doanh thu, lợi nhuận trên mỗi cổ phần. Những
chỉ số này phản ánh khả năng sinh lời ròng tài sản. Nói cách khác, mỗi đồng tài sản bình
quân sử dụng trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Nhìn vào số liệu Bảng 2 có thể thấy, 5 ngân hàng trên đều có chỉ số ROA ở mức trung
bình trong ngành Ngân hàng. Điều này chứng tỏ, khả năng sinh lời của ngân hàng này từ
nguồn vốn chủ sở hữu là khá ổn định. Trong khi đó, so với các ngân hàng còn lại, Ngân
hàng Agribank có chỉ số ROA thấp hơn nhưng lại duy trì ở mức tăng trưởng tương đối ổn
định. Chỉ số ROA phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế vĩ mô như lãi suất tiền gửi các loại,
pháp luật và sự cạnh tranh…
2, Năng lực quản trị điều hành
Đến nay công tác quản trị rủi ro đối với mỗi NH tuy đã được chú trọng, nhưng chưa thực
sự trở thành công cụ hữu hiệu phục vụ quản trị điều hành. Tình trạng vay mượn với lãi
suất lên xuống thất thường trên thị trường tiền tệ liên NH trong thời gian qua suy cho
cùng đều bắt nguồn từ việc các NH chưa quản trị tốt tài sản và thanh khoản. Do sự yếu
kém từ quản trị tài sản Nợ, tài sản Có và sự thiếu hụt của các công cụ quản lý hữu hiệu,
trong khi một số NHTM lại muốn sử dụng triệt để phần vốn này để cho các hoạt động
kinh doanh sinh lời, nên xảy ra thiếu thanh khoản cục bộ tại một số NH.
Theo kinh nghiệm của các NH nước ngoài, yếu tố công nghệ có thể giúp giảm 76% chi
phí hoạt động của NH, nhưng để có được nền tảng công nghệ hiện đại, đòi hỏi phải đầu
tư lớn, đây là việc rất khó đối với các NHTM VN. Do vốn ít, năng lực tài chính còn hạn
chế, nên một số NH không dễ thực hiện. Như vậy, quản trị hoạt động cũng như quản trị
công nghệ NH đang là một thách thức lớn trước sức ép hội nhập của hệ thốngNHVN.
Với một một thị trường tài chính còn non trẻ, rất chật hẹp, số lượng NH và TCTD phi NH
là không nhỏ. Một khi mỗi phân đoạn thị trường có nhiều NH/ chi nhánh trong và ngoài
nước khai thác, mức độ canh tranh để giữ thị phần sẽ càng trở nên khốc liệt, nhưng đa số
các NH VN chưa nâng cao được chất lượng, tính tiện ích của dịch vụ, lợi thế công nghệ
và trình độ quản lý để cạnh tranh, mà chỉ dựa vào lãi suất và chính sách khuyến mại.
Điều này đôi khi đã buộc NHNN phải xử lý bằng các mệnh lệnh hành chính, để tránh
những cú sốc nảy sinh từ nguy cơ bất ổn này.
Một số NH CP qui mô vốn nhỏ, mới ra đời chưa có điều kiện khảng định được uy tín và
thương hiệu với khách hàng, chưa có điều kiện để phát triển dịch vụ phi tín dụng, chỉ tập