Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (50.12 MB, 181 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>BỘ TƯ PHÁP</small>
<small>TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI</small>
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
Chu nhiém dé tai: TS. Nguyén Thi Kim Phung
<small>Phó chủ nhiệm Khoa Sau dai hoc</small>
HA NOI - 2008
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">| THU KÝ ĐỀ TÀI:CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI:
<small>TS. Nguyên Thị Kim Phụng</small>
<small>Phó Chủ nhiệm Khoa Sau đại học</small>
<small>TS. Đỗ Ngan BìnhTS. Trần Th Lâm</small>
<small>Giảng viên Bộ mơn Luật lao động</small>
<small>7. ThS. Nguyễn Xuân Thu8. ThS. Nguyén Hién Phuong9. ThS.D6é Thị Dung</small>
<small>10. CN. Nguyễn Hai Cường</small>
<small>Trưởng Ban TCDNPhó Chủ nhiệm khoa</small>
<small>Báo cáo phúc trình,</small>
<small>Chun đề 7Chun dé 1Chuyén dé 3Chuyén dé 8, 9Chuyén dé 14</small>
<small>Chuyén dé 12, 13</small>
<small>Chuyén dé 5, 10Chuyén dé 11</small>
<small>Chuyén dé 2</small>
PHAN I: MG DAU1. Tinh cấp thiết của việc nghiên cứu dé tài
Việt Nam đang bước vào thời kì đây mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đấtnước và hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trởthành một nước cơng nghiệp. Trong tiễn trình này, lao động kĩ thuật được xác định làlực lượng xung kích, đào tạo nghề trở thành một nhiệm vụ trọng yếu trong chính sáchgiáo dục - đào tạo nói chung Ở nước ta. Chúng ta đã và đang có lợi thế cạnh tranh về
một lực lượng lao động đồi dào với mức tiền cơng thấp. Tuy nhiên, trong bối cảnh<small>tồn cầu hố và sự chuyển hướng của nên kinh tế thế giới từ kỷ nguyên công nghiệpchế tạo sang kỷ nguyên công nghệ cao địi hỏi một lực lượng lao động trí tuệ, có ky</small>
năng được đào tạo bài bản thì lao động giản đơn với giá cơng rẻ khơng cịn là lợi thếmà có thể trở thành một trở ngại lớn cho qua trình cơng nghiệp hố và hiện dai hố
nên kinh tế cũng như hội nhập của đất nước.
Thực tế mạng lưới cơ sở dạy nghề ở nước ta còn tương đối mỏng, chưa được
quy hoạch một cách hợp lí, cơ sở vật chất còn lạc hậu, nghèo nàn; lực lượng giáoviên dạy nghé thiếu về số lượng, yếu về trình độ; nội dung, chương trình, giáo trình
dao tạo nghề cịn nhiều hạn chế; chưa có một hệ thống tiêu chuẩn hop lí dé đánh giá
chất lượng đào tạo nghề; tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề còn khá thấp, đặc biệtthiếu lao động có trình độ tay nghề cao... nên nhìn chung, chưa đáp ứng được yêu
câu của thị trường lao động trong nước và nhiệm vụ xuất khẩu lao động. Theo thông
kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội!, hiện nay cả nước có 1.688 cơ sở dạynghề. Trong đó có 236 trường dạy nghề, 404 trung tâm dạy nghề, còn lại là các cơsở dạy nghề của tư nhân và của các cơ sở sản xuất kinh doanh. So với lực lượng
hàng năm bước vào độ tuổi lao động, với mạng lưới cơ sở dạy nghề như vậy chỉ đápứng khoảng 60% nhu cầu học nghề trên thực tế. Hiện nay, cả nước có khoảng
13.000 giáo viên dạy nghề. Trong đó chỉ có 25% được đào tạo chính khố, 75%chưa được đào tạo chính khố nên nhìn chung chất lượng của đội ngũ giáo viên dạy
nghề còn nhiều hạn chế ”. Kết quả điều tra lao động, việc làm năm 2006 cho thay cả<small>nước có 31,54% lực lượng lao động đã qua đào tạo, trong đó chỉ có 21,25% lực</small>
lượng lao động được đào tạo nghề.
<small>Trước thực trạng trên, Chính phủ và các ban, ngành hữu quan cũng đã xâydựng chiến lược, các chương trình và giải pháp cho việc quy hoạch các cơ sở dạy</small>
<small>nghề, nâng cao trình độ của đội ngũ giáo viên dạy nghề; đôi mới nội dung, phươngpháp và hình thức dao tạo nghề... nhăm cải thiện tỷ lệ lao động qua đào tạo nghé,</small>
<small>' Báo điện tử - Dang cộng sản Việt Nam, trang thời sự (cập nhật 16 giờ 57 phút ngày 25/12/2006)</small>
<small>? Báo Sài gòn giải phóng ngày 18/12/2006</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">nâng cao chất lượng lực lượng lao động xã hội, đáp ứng nhu cau của thị trường laođộng trong nước, khu vực và quốc tế. Đặc biệt, Quốc hội nước cộng hoa XHCN<small>Việt Nam Khoa XI, ki hop thu 10, da thong qua Luật day nghè vào ngày 29/11/2006nhằm thống nhất sự điều chỉnh pháp luật về dạy nghề.</small>
Luật Dạy nghệ được thông, qua khơng chỉ pháp điển hố các quy định trong<small>lĩnh vực đào tạo nghề mà cịn khắc phục được tình trạng cùng một vấn đề (đào tạo</small>nghề) nhưng có tới hai luật điều chỉnh (Luật lao động và Luật giáo dục đào tạo) nên
<small>có phần thiếu đồng bộ, tản mạn, trùng chéo.. . Trong khi đó, các nội dung thiết thựccủa việc điều chỉnh pháp luật lại chủ yếu được quy định trong các văn bản dưới luậtnên khó khăn trong việc thực hiện và đánh giá mức độ thực thi cũng như trong việc</small>
nghiên cứu và tiếp tục hoàn thiện các quy định về dạy nghề. Việc thống nhất điều
<small>chỉnh pháp luật trong lĩnh vực đào tạo nghề cũng đặt ra cho công tác nghiên cứu,</small>
<small>giảng dạy pháp luật những yêu cầu mới về quan. điểm nhận thức, đổi mới nội dung</small>bài giảng và cách tiếp cận thực tế... đặc biệt cần thiết đối với môn học Luật laođộng. Luật Dạy nghề mới được ban hành cũng cần tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn
<small>thi hành sát thực và hiệu quả cũng như đánh giá, kiểm nghiệm tính khả thi để tiếp</small>
<small>tục hoàn thiện.</small>
<small>Những điều đã dé cập ở trên cho thấy việc nghiên cứu "Pháp luật về day</small>
<small>nghệ trong điều kiện phat triển và hội nhập ở Việt nam hiện nay” là cần thiết, xéttrên phương diện điều chỉnh pháp luật và nghiên cứu, giảng dạy. Vì vậy, Tổ bộ môn</small>
Luật lao động lựa chọn vấn đề trên làm đề tài nghiên cứu khoa học, với mong muốn
<small>đáp ứng yêu câu của công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học, nâng cao</small>
chất lượng đào tạo và thực hiện mục tiêu chính trị của Nhà trường; đồng thời, góp<small>phần vào việc hướng dẫn thi hành Luật Dạy nghề ở nước ta.</small>
<small>Là một để tài nghiên cứu khoa học cấp trường, cùng với mục đích góp phân</small>
<small>xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của Nhà nước, việc nghiên cứu đề tàichủ yếu nhằm hỗ trợ, nâng cao chất lượng dạy và học cho môn Luật lao động bởichế định Học nghề là một chế định khá quan trọng và cần thiết trong chương trình</small>
<small>khung của bộ mơn. Tiếp cận vấn đề học nghề và điều chỉnh pháp luật đối với học</small>nghẻ dé cập nhật thông tin và đóng góp kinh nghiệm của mình trong vấn đề hồn<small>thiện pháp luật là việc làm có ý nghĩa thiết thực, vừa tạo cơ hội cho giao viên trau</small>
<small>déi kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, vừa là một nhân tố giúp sinh viêntiếp cận vấn đề học nghề một các tồn diện.</small>
<small>2. Tình hình nghiên cứu đề tài</small>
<small>Như đã nói ở trên, học nghé là một chiên lược quan trọng nham nâng cao chat</small>
<small>lượng nguôn nhân lực ở nước ta. Vì vậy, trong thực tế đã có rất nhiêu đơn vị, cá</small>
<small>nhân có những cơng trình nghiên cứu ở các cap độ khác nhau về van dé nay. Trước</small>
<small>hết, phải kê đền dé tài nghiên cứu khoa học “hái triển lao động kĩ thuật ở Liệt</small>
<small>*</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">Nam giải đoạn 2001 — 2010” do Tông cục dạy nghề — Bộ Lao động — Thương binh
và Xã hội thực hiện năm 2006 (PGS.TS Đỗ Minh Cương làm chủ nhiệm). Đề tàinày bao gồm các đề tài nhánh sau:
- Cơ sở khoa học của đào tạo lao động kỹ thuật và chuyên dịch cơ cấu lao
động trong giai đoạn 20012010 phục vụ cơng nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước
-Chủ nhiệm PGS.TS.Mai Quốc Chánh. Cơ quan chủ trì: Tổng cục Dạy nghé, 2006.- Dự báo nhu cau vé lao động kỹ thuật giai đoạn 2001-2010 gắn với q trình
cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa - Chủ nhiệm TS.Đỗ Trọng Hùng. Cơ quan chủ tri:
Tổng cục Dạy nghề, 2006.
- Hoàn thiện hệ thong cơ sở dạy nghề đáp ứng yêu câu phát triển nguồn laođộng kỹ thuật - Chủ nhiệm TS.Mac Văn Tiến. Cơ quan chủ trì: Tông cục Dạy nghề,<small>2006.</small>
<small>- Đánh giá thực trang lao động kỹ thuật Việt Nam giai đoạn hiện nay. Chủ</small>
nhiệm TS.Trần Thị Tuyết. Cơ quan chủ trì: Tổng cục Dạy nghẻ, 2006.
<small>Bên cạnh đó, những năm trước đây cịn có một sơ cơng trình khoa học có liênquan dén van dé này như:</small>
TS.Đỗ Trọng Hùng. Cơ quan chủ trì: Bộ Lao động - Thương binh — Xã hội, 1999.
- Mối quan hệ giữa chat lượng nguồn nhân lực với phát triển kinh tế ở nướcta hiện nay - Chủ nhiệm TS.Nguyễn Dang Thảo. Cơ quan chủ trì: Học viện Chính<small>trị Quốc gia Hơ Chi Minh, 2002.</small>
- Báo cáo kết quả khảo sát nhu cau nhân lực của các doanh nghiệp phan
mềm từ nay đến 2006 và khả năng cung ứng của các cơ sở đào tạo tại Thanh phố
Hô Cho Minh. Tác gia Chu Tiến Dũng.
- Thuc trạng lao động - việc làm ở Việt Nam, từ kết quả điều tra lao
động-việc làm 1999. Nhà xuất bản Thống kê, 2000.
- Phát triển nguôn nhân lực Công nghệ thông tin - thực trạng và giải pháp.
Tác giả Nguyễn Trọng Đường. Tạp chí Bưu chính viễn thơng, 2004.
- Phát triển nguôn nhân lực Việt Nam đến năm 2010. Tác giả Nguyễn Thị
<small>Hang. Tap chí Cộng san, 1999.</small>
- Thực trạng nguôn nhân lực ở Thành phổ Hà Chi Minh và một số định
hưởng phát triển nguôn nhân lực có chất lượng trong sự nghiệp cơng nghiệp hóa,hiện đại hóa. Tác giả Đàm Nguyễn Thùy Dương. Tạp chí Khoa học, 2003.
- Van dé lao động qua đào tạo nghệ. Tác giả Dinh Hữu Liễn. Tạp chí Phát
<small>trién Giáo dục, 2003.</small>
<small>fod</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><small>- Đảo tạo nghề - giải pháp quan trong nang cao chat lượng đội ngũ lao động,dap ving vêu cau sự nghiệp cơng nghiệp hóa. hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Tácgiả Phạm Thị Khanh. Tạp chí Phát triên kinh tê, 2001...</small>
Những cơng trình khoa học trên chủ yếu nghiên cứu van dé đào tạo nghé dướigóc độ quản lí, góc độ kinh tế- xã hội, thống kê hoặc nghiên cứu van dé dao taonghề trong phạm vi từng ngành, từng khu vực... nhất định. Như vậy, trong phạm Nộiquan sát của chúng tôi, hầu như chưa có dé tài nào nghiên cứu tổng thể vẫn đề đào
<small>tạo nghề dưới góc độ pháp luật, đặc biệt là sau khi Luật Dạy nghề đã được thông</small>qua. Với việc nghiên cứu : Sane luật về day nghề trong diéu kiện phát triển và hội<small>nhập ở Việt nam hiện nay”, nhóm thực hiện đề tài mong muốn sẽ nghiên cứu tổng</small>thé hệ thống pháp luật về Dạy nghề trong điều kiện mới, làm tư liệu cho việc nghiên
cứu, giảng dạy và học tập trong phạm vi môn học Luật lao động; góp phần hướngdẫn thi hành, hồn thiện và nâng cao tính khả thi của đạo luật này nhằm đây mạnh
hoạt động đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho nền kinh tế Việt nam trongđiều kiện phát triển và hội nhập.
<small>3. Phương pháp nghiên cứu</small>
Theo một cách truyền thống, dé tài sử dụng phương pháp luận cơ bản củaTriết học Mác - Lênin. Trên cơ sở đó, các phương pháp cụ thể như: phương phápphân tích, tong hợp, quy nạp, so sánh, dự báo, lich sử... sẽ được sử dụng phù hopvới từng lĩnh vực của đề tài nghiên cứu.
4. Mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài<small>* Muc đích nghiên cứu:</small>
Nghiên cứu dé tài này, trước hết và chủ yếu, nhằm thực hiện mục dich tìm
hiểu hệ thống pháp luật về dạy nghề ở Việt Nam trong điều kiện mới ban hành Luật
Dạy nghề dé thống nhất các quan điểm, nhận thức, định hướng trong điều chỉnh
pháp luật về dạy nghề, làm cơ sở cho việc giảng dạy vấn dé đào tạo nghề trong
chương trình mơn học Luật lao động. Q trình nghiên cứu này cũng đồng thờihướng tới mục đích tìm hiểu thực tiễn cơng tác đào tạo nghề ở Việt Nam hiện nay;trên cơ sở đó, kiến nghị việc hướng dẫn thi hành Luật Dạy nghề nhằm nâng cao tínhkhả thi của đạo luật nay, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các đơn vị sử dụng lao độngtrong điều kiện hiện nay ở Việt Nam. Việc tìm ra những vấn đề cần tiếp tục nghiêncứu, hoàn thiện pháp luật dạy nghề trong một tương lai xa hơn, tuy không phải làmục dich co bản, nhưng cũng được dé cập đến trong dé tài này, ở mức độ phù hợpvới điều kiện nghiên cứu.
* Pham vi nghiên cứu cua đề tài:
<small>Dé thực hiện mục đích nghiên cứu như trên, phạm vi nghiên cứu của đề tàiđược xác định như sau:</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Nghiên cứu các quy định của Luật Dạy nghề (2006) và thực tiễn cong<small>tac dao tạo nghé ở nước ta trong giai đoạn hiện nay;</small>
- Nghiên cứu pháp luật quốc tế, kinh nghiệm của Việt Nam và một số
<small>nước trong điêu chỉnh pháp luật, phát triên hệ thong dao tạo nghê;</small>
: Đề xuất các giải pháp thiết thực cho việc hướng dẫn thi hành, hoàn
<small>thiện pháp luật dé góp phan nâng cao chat lượng dao tạo nghé trongthời gian tới.</small>
5. Kết cau của đề tài
Với mục đích và phạm vi nghiên cứu đã được xác định như trên, ngồi Phần<small>Mở đâu và Báo cáo phúc trình và Phụ lục, đề tài được kết câu theo 2 nội dung chínhvới 14 chun dé như sau:</small>
Nơi dung thứ nhất: Định hướng phát triển và các kinh nghiệm để hoàn thiện<small>pháp luật dạy nghề ở Việt Nam trong điêu kiện hiện nay.</small>
Nội dung này được nghiên cứu trong 5 chuyên đề:
+ Chuyên dé 1: Chiến lược phát triển nguồn nhân lực và trách nhiệm
<small>của Nhà nước trong lĩnh vực đào tạo nghề;</small>
+ Chuyên đề 2: Thực trạng hoạt động dao tạo nghề va các mục tiêu,
<small>giải pháp phát triên dạy nghề ở Việt nam;</small>
+ Chuyên dé 3: Quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế về đảo tạo
nghề và việc vận dụng vào pháp luật Việt Nam.
+ Chuyên đề 4: Kinh nghiệm phát triển dạy nghề và tổng quan về luật
<small>dạy nghê của một sô nước;</small>
+ Chuyên đề 5: Lịch sử điều chỉnh quan hệ đào tạo nghề ở Việt Nam
<small>và những bai học kinh nghiệm trong điều kiện phát triển và hội nhập.</small>
Nôi dung thứ hai: Thực trạng pháp luật dạy nghề và những kiến nghị hoàn
<small>thiện pháp luật.</small>
Nội dung này được chia thành 4 van dé nhỏ
2.1. Các quy định hiện hành về dạy nghề đáp ứng yêu cầu dạy nghềtrong điều kiện kinh tế thị trường
Bao gồm 3 chuyên đề sau đây:
+ Chuyên đề 6: Các quy định của pháp luật nhằm đa dạng hoá, xã hội<small>hố cơng tác đào tạo nghé;</small>
+ Chun dé 7: Pháp luật về các trình độ dạy nghề và khuyến nghị việchướng dẫn thi hành luật dạy nghẻ;
<small>in</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">+ Chuyên dé 8: Hợp đồng học nghệ, thực trạng và một số kiến nghi
<small>hoan thién.</small>
2.2. Các quy định đổi với chủ thé tham gia hệ thống dạy nghề
Bao gồm 3 chuyên đề sau đây:
+ Chuyên đề 9: Địa vị pháp lý của Trung tâm dạy nghé, thực trạng và
định hướng phát trién để đáp ứng yêu cầu sử dụng lao động;
+ Chuyên dé 10: Dia vị pháp lý của hệ thống trường dạy nghề ở Việt
Nam, thực trạng và định hướng đổi mới để đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề
trong điều kiện kinh tế thị trường:
+ Chuyên dé 11: Quy định đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực đào tạo
2.3. Dạy nghề cho các đối tượng đặc biệtGồm 2 chuyên đề sau đây:
+ Chuyên dé 12: Các quy định về đào tạo cho người lao động đi làm
việc ở nước ngoài theo hợp đồng:
+ Chuyên để 13: Chế độ đào tạo nghề cho các lao động đặc thù.
2.4. Xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại trongđào tao nghề
6. Những đóng góp của đề tài:
Sau khi Luật dạy nghề (2006) được thơng qua thì đây là dé tai đầu tiên nghiêncứu tong thể về pháp luật dạy nghề ở nước ta. Việc nghiên cứu đề tài mang đến
<small>những kêt quả cơ bản như sau:</small>
+ Nghiên cứu thực trạng hoạt động dạy nghề, quan điểm của Đảng và nhà
nước về phát triển dạy nghề và những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật dạy nghề,giải pháp phát triển dạy nghề trong bối cảnh hiện nay ở nước ta; đó là một trong các
cơ sở dé đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về đào tạo nghề (những điểm phù
+ Nghiên cứu kinh nghiệm của Việt Nam, ILO và của một số nước trong lĩnh
vực đào tạo nghề. Từ đó, bình luận và rút ra những bài học thực tiễn có thể áp dụng
trong điêu kiện thực tế ở Việt Nam.
+ Nghiên cứu các quy định nhằm xác định trách nhiệm của Nhà nước và cácchủ thé hữu quan trong công tác dao tạo nghẻ:
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">+ Tìm hiêu, phân tích, bình luận Luật Dạy nghè, liên hệ thực tiễn công tácđào tạo nghề ở Việt Nam dé hiểu rõ điều kiện thực hiện đạo luật này (Như: thựctrạng về các hình thức đào tạo nghề, hoạt động của các cơ sở dạy nghề; thực trạngVIỆC giao kết và thực hiện hợp đồng học nghề; thực trạng của hoạt động đào tạonghề cho mục tiêu xuất khẩu lao động, cho các đối tượng đặc thù trong xã hội; thực
trạng về cơng tác quản lí, xử lí vi phạm, giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh
vực dao tạo nghé...). Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật vàcác giải pháp dé thực hiện pháp luật dạy nghề một cách có hiệu quả.
7. Tổ chức thực hiện
<small>Đê thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ và triên khai nội dung nghiên cứucủa Dé tài, các công việc đã được tiên hành bao gôm:</small>
+ Đăng ký và ký hợp đồng nghiên cứu đề tài khoa học cấp trường với Ban
<small>giám hiệu Trường Đại học Luật Hà Nội (ngày 22 tháng 1 năm 2007)</small>
+ Chủ nhiệm dé tài làm dé cương va bảo vệ đề cương nghiên cứu trước Hội<small>dong khoa học Trường;</small>
+ Tổ chức các phiên họp triển khai thực hiện đề tài;
+ Các tác giả thu thập tài liệu và viết các chuyên đề của đề tài;
+ Hồn chỉnh, đóng cuốn, nộp phòng quản lý khoa học của trường để tổ chức
<small>nghiệm thu.</small>
Tồn bộ q trình thực hiện, từ khi ky hợp đồng nghiên cứu đến khi nộp dé
<small>tài cho phòng quản lý khoa học Trường trong thời gian 12 tháng.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><small>ĐÈ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CAP TRƯỜNG “PHÁP LUAT VE DAY NGHETRONG DIEU KIEN PHÁT TRIEN VA HOI NHAP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY”</small>
<small>Giới thiệu chung</small>
“ Pháp luật về day nghệ trong điều kiện phát triển và hội nhập ở ViệtNam hiện nay” là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường do Bộ môn Luật laođộng, Khoa Pháp luật kinh tế đảm nhận. Đề tài được nghiên cứu với 14 chuyên đề,theo hai nội dung chính: định hướng phát triển và các kinh nghiệm để hoàn thiện
dạy nghề và kiến nghị hoàn thiện.
pháp luật dạy nghề ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay:
Phan này gồm 5 chuyên dé, từ chuyên dé thứ nhất đến chuyên dé thứ năm.Sau khi phân tích chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và trách nhiệmcủa Nha nước trong lĩnh vực đào tạo nghề, đề tài đã đánh giá thực trạng công tácdạy nghề cũng như những quan điểm, giải pháp phát triển dạy nghề ở Việt Namhiện nay. Day là những vấn đề có tính chất định hướng dé xây dựng và hoàn thiện
theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế ILO, từ thực tiễn của các quốc gia
nay. Những bài học đó nếu được vận dụng có hiệu quả sẽ góp phần nâng cao tínhkhả thi của các quy định về dạy nghề trong điều kiện thực tiễn ở Việt Nam.
<small>thiện pháp luật. Nội dung này được chia thành 3 nhóm nhỏ:</small>
diéu tiện kinh tế thị trường.
những vấn dé cụ thé như: các quy định của pháp luật nham da dạng hố, xã hộihố cơng tac đào tạo nghé; các trình độ dạy nghé theo quy định của pháp luật
<small>8</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Việt Nam nhăm đáp ứng yêu cầu dao tạo nghề trong điều kiện phát trién và hội
nhập và hợp đồng học nghề, công cụ hữu hiệu dé thực hiện việc đào tạo nghề
theo định hướng thị trường. Từng chuyên dé đã lần lượt đánh giá một cách cụ
thể, khách quan các quy định của pháp luật hiện hành về dạy nghề đáp ứng nhu
cầu của nên kinh tế thị trường. Qua đó, chỉ ra những điểm hợp ly và những điểm
còn bat cập của các quy định này so với thực tế. Trên cơ sở xác định nguyênnhân của những bat cập và kết hợp với những bai học kinh nghiệm được đưa ratrong nội dung nghiên cứu thứ nhất, dé tài đã đề xuất những giải pháp về mặtpháp lý để hoàn thiện từng lĩnh vực cụ thể của hoạt động dạy nghề, trong đóđáng chú ý là những giải pháp về quy định về đấu thầu thực hiện chỉ tiêu đào tạo
nghề theo đơn đặt hàng của nhà nước, ký kết, thực hiện và giải quyết tranh chấpvề hợp đồng học nghề...
2.2. Các quy định đối với chủ thể tham gia hệ thống dạy nghệ
Cách tiếp cận và giải quyết vấn đề của 3 chuyên đề trong nhóm này (các
Chuyên dé 9, 10, 11) cũng tương tự như trên. Nghĩa là cũng bắt đầu bằng việc
đánh giá sự hợp lý và chưa hợp lý trong hệ thống các quy định pháp luật về chủ
thé dạy nghé, từ đó nêu lên một số kiến nghị nhằm hồn thiện pháp luật và nâng
cao tính khả thi của các quy định. Những chủ thể dạy nghề được pháp luật điềuchỉnh khi tham gia các hoạt động dạy nghề bao gồm: trung tâm dạy nghé, hệ thống
2.3. Dạy nghề cho các đối tượng đặc biệt
Bên cạnh việc dạy nghề cho các đối tượng là người lao động bình thường cónhu cau học nghề, pháp luật dạy nghề cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải dạy nghề
cho các đối tượng đặc biệt nhằm tạo cơ hội cho họ tìm kiếm việc làm. Hai đốitượng đặc biệt được nghiên cứu trong nhóm van dé này là người lao động ra nước
ngoài làm việc (đối tượng xuất khâu lao động) duoc nghiên cứu ở Chuyên dé số<small>12 và lao động đặc thù (lao động tàn tật, lao động nữ...) được nghiên cứu ở</small>Chuyên đề số 13. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật, đề tài đã nêu lên một
số kiến nghị cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật về van dé này trong thời gian tới.
2.4. Xứ lý vi phạm, giải quyết tranh chấp và bôi thường thiệt hại trong đào
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">dạy nghề. Cũng trên cơ sở đánh giá các quy định đó, để tài đưa ra các giái pháphồn thiện pháp luật đê pháp luật thực sự mang tính khả thi, có thê vận dụng hiệu
quả đề giải quyết các tình huống phát sinh trong thực tiễn.
Sau đây là kết quả nghiên cứu chủ yếu của dé tài theo những nội dung đã<small>nêu trên:</small>
1. Định hướng phát triển, yêu cầu và các kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luậtdạy nghề ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay
Như trên đã đề cập, những nội dung được nghiên cứu trong phần này chính làcơ sở lý luận quan trọng đặt nền tảng cho việc đánh giá thực trạng các quy địnhhiện hành về dạy nghề ở Việt Nam. Đồng thời, phần nghiên cứu này cũng là mộttrong các cơ sở cho việc đưa ra những kiến nghị cụ thé ở những chuyên dé sau.
Trước hết, đề tài nêu khái quát sự cần thiết của việc phát triển nguồn nhân lực
dé đáp ứng yêu cau của thị trường lao động, của các nhà đầu tư, tiến tới cung ứngnhân lực cho thị trường lao động quốc tế. Chiến lược phát triển nguồn nhân lựcđược tác giả chuyên đề xem xét là phương châm và biện pháp mang tính tồn diệnvề việc đào tạo lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu của việc phát triển kinh tếxã hội trong từng thời kỳ. Với quan niệm đó, có thể nói Việt Nam đã có những<small>định hướng trong việc xây dựng, duy trì và cung ứng một lực lượng lao động theo</small>
yêu cầu của sự phát triển. Tuy nhiên, chưa có sự hiện diện rõ ràng, đây đủ một quy
hoạch hoặc một kế hoạch 6n định đủ để tạo ra, phát triển lực lượng lao động chocác hoạt động kinh tế xã hội bởi vì những hoạch định dài hơi và có tầm bao quátvề lực lượng lao động đó vừa là điều kiện để phát triển kinh tế, cải tạo xã hội, mặtkhác, vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, van dé chất lượng vàcơ cấu lao động mat cân đối, quan niệm xã hội về nghề nghiệp, điều kiện di
chuyên lao động, cơ chế lợi ích trong đào tạo và sử dụng chưa hợp lý... còn là
những rào cản dé đạt đến một chiến lược tổng thé.
Trong điều kiện đó, rách nhiệm của nhà nước trong đào tạo nghề được xácđịnh như sau: nhà nước dé ra mục tiêu hợp lý dé phát triển dạy nghề, quyết định
các giải pháp đúng đắn trong việc đào tạo nguồn nhân lực, tập trung nghiên cứu
thống luật pháp về dao tao nghề, có chính sách nhằm thu hút đào tạo nghề theo
hình thức đầu tư trực tiếp của nước ngồi, khuyến khích các hoạt động đảo tạo
nghề truyền thống theo lối kèm cặp đối với các ngành nghề đặc trưng mang tính
<small>10</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><small>dan tộc dé giữ gìn bản sắc và quang bá văn hoá dan tộc... Muốn dao tạo nguồn</small>
nhân lực có chất lượng cao thì nhà nước cần phải đảo tạo đội ngũ giáo viên dạy
nghề giỏi lý thuyết và thực hành, có chính sách đảm bảo tính liên thơng giữa đào
tạo nghé với hệ thống giáo dục quốc dân, có cơ chế thu hút học sinh tốt nghiệp cáctrường phô thông cơ sở đến phổ thông trung học tham gia vào các chương trìnhđào tạo nghề.
Trước khi đưa ra các giải pháp phát triển dạy nghề, đề tài đánh giá khái quát
thực trạng hoạt động dạy nghề ở Việt nam hiện nay theo các nội dung: mạng lướicơ sở dạy nghề, quy mô dạy nghề, việc đa dạng hố các hình thức day nghề, đánh
giá chất lượng dạy nghề trên cơ sở đánh giá đội ngũ giáo viên và cán bộ quản ly,
và van dé huy động tài chính trong dao tạo nghé. Từ việc nêu và phân tích nhữngcon số thống kê cụ thể, tác giả chuyên đề đưa ra đánh giá chung về kết quả đạt
được của công tác dạy nghề trong thời gian qua: nhận thức của các cấp, các ngành
và của toàn xã hội về dạy nghề đã có bước chuyển biến tích cực; hệ thống luật
pháp, chính sách về dạy nghề đã tạo hành lang pháp lý cho dạy nghề phát triển;dạy nghề đã từng bước chuyển đổi theo hướng tiếp cận sát với nhu cầu của thị
trường lao động; gắn kết với các chương trình giải quyết việc làm, xố đói giảm
nghèo, xuất khẩu lao động và các mục tiêu xã hội khác; mạng lưới cơ sở dạy nghềphát triển theo quy hoạch; đa dạng vé hình thức sở hữu và loại hình dao tạo, việc
xã hội hố dạy nghề đã có bước chuyển rõ rệt; quy mơ dạy nghề tăng nhanh, gópphan tăng tý lệ lao động qua đào tao và thúc đây quá trình chuyển dich cơ cầu lao
động, cơ cau kinh tế; các điều kiện đảm bảo chất lượng dạy nghề đã được tăng
cường, chất lượng dạy nghề được nâng lên rõ rệt... Bên cạnh đó, các hạn chế trongcơng tác này cũng được chỉ rõ như: việc triển khai xây dựng các trường chất lượng
cao, trường đạt trình độ tiên tién của khu vực và các trung tâm dạy nghề cấp huyện
cịn chậm, nhất là ở các vùng nơng thơn, miền núi (hiện cịn trên 1/2 số quận,huyện, thị xã chưa có trung tâm dạy nghề cấp huyện); cơ cau, ngành nghề dao tạochưa theo kịp với nhu cầu của thị trường lao động; các điều kiện đảm bảo chấtlượng dạy nghề còn nhiều hạn chế. Chất lượng dạy nghề chưa đáp ứng yêu cầu
pihát triển ngày càng cao của sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố và hội nhập
kinh tế quốc tế; chưa huy động hết khả năng tham gia, phối hợp của doanh nghiệp
thức chung của các cấp quản lý và toàn xã hội về dạy nghề trong phát triển nguồn
nihân lực chưa được quan tâm đúng mức (vẫn coi trọng đào tao đại học) nên công
tác quy hoạch và dau tư cho dạy nghé là chưa đúng tầm; luật pháp, cơ chế, chính
<small>II</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><small>sách về dạy nghề trong một thời gian dài lạc hậu, chậm sua đôi nên những namqua day nghệ van cịn ở trình độ thap; hệ thông tô chức, quản lý chưa theo kịp yêucâu phát triên sự nghiệp dạy nghề...</small>
Trên cơ sở thực trạng đó, các quan điểm, giải pháp phat triển dạy nghề và yêu
câu đối với việc điều chỉnh pháp luật dạy nghề được phân tích. Cụ thể, ở Việt
<small>Nam trong giai đoạn hiện nay, Đảng và nhà nước đã thể hiện quyết tâm phát triển</small>
dạy nghề nhằm đào tạo nhân lực kỹ thuật có năng lực thực hành, đáp ứng yêu cầuphát triển kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động theo yêu cầu của thị trường, thực
<small>hiện mục tiêu hiện đại hố, cơng nghiệp hố đất nước và tăng cường khả năngcạnh tranh của lao động Việt Nam trong giai đoạn tới. Điều đó đặt ra nhiều yêu</small>
cầu mới đối với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật dạy nghề. Các giải pháp chủyếu phát triển dạy nghề cũng được phân tích và chỉ rõ: tiếp tục phát trién dạy nghề
<small>theo hướng đa dạng, linh hoạt; xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và</small>cán bộ quản lý dạy nghề; thực hiện kiểm định chất lượng, đánh giá, công nhận kỹ
năng nghề cho người lao động: tiếp tục thực hiện xã hội hoá, tăng cường nguồnlực tài chính cho dạy nghề; tăng cường cơng tác quản lý dạy nghề...
Để tạo cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật dạy nghề đáp ứng yêu cầu phát triểnvà hội nhập, dé tài còn nghiên cứu quan điểm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)về đào tao nghề thông qua các Công ước và Khuyến nghị của ILO. Trước hết là hai
công ước trực tiếp quy định về vấn dé đào tạo nghề: Công ước số 142: “công ước vẻ
hướng nghiệp và đào tạo nghề trong việc phát triển nguồn nhân lực” được hội nghị
toàn thể của tổ chức lao động quốc tế thơng qua năm 1970 và có hiệu lực từ19/7/1974 gồm 13 điều; Công ước số 159: “ cơng ước về tái thích ứng nghề nghiệp
và việc làm của người khuyết tật” được thông qua ngày 20/6/1983 gồm 17 điều.
Cùng với đó là hai Khuyến nghị quy định trực tiếp về đào tạo nghề: Khuyến nghị vềhướng nghiệp 1949 và Khuyến nghị về đào tạo nghề 1962. Ngồi ra, cịn có tới 6cơng ước gián tiếp quy định về vấn đề đào tạo nghề”.
Trong các công ước và khuyến nghị đó, ILO khuyến cáo các nước thànhviên các biện pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng khả năng
<small>cạnh tranh của người lao động. Nội dung chủ yếu về đào tạo nghề của ILO tập</small>
trung vào các van dé sau: i) Nhà nước giữ vai trò quan trong trong van đề hướngnghiệp dao tạo nghề nhằm phát triển nguồn nhân lực. Nha nước cần phải xâydựng và triển khai thực hiện các chính sách, các chương trình về dao tạo nghề. ii)
<small>“Các Cơng ước: số 168 về xúc tiến. việc làm và chống thất nghiệp; số 44 về bao đảm tiền trợ cấp cho những người thất</small>
<small>nghiệp không tự nguyện; số 88 về tô chức dịch vụ việc làm; số 97 về người lao động di chú; số 111 về chồng phan</small>
<small>biệt đôi xử trong việc làm, nghề nghiệp; số 120 về chính sách việc làm.</small>
<small>12</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">Về hình thức đảo tạo và chương trình dao tạo, ILO nhân mạnh yêu cầu về việccần phải thực hiện xã hội hoá và đa dạng hố các hình thức đào tạo nghề; các
quốc gia cần phải có hệ thống thống mở, mềm dẻo và tương hỗ về giáo dục phô
thông, kỹ thuật và chuyên nghiệp, về định hướng trong nha trường và trong nghềnghiệp. Tức là, cần có sự liên thơng giữa các cấp trình độ và liên thơng giữa cáchệ thống đào tạo nhằm tạo điều kiện cho người học có thể phan đấu nâng caotrình độ. iii) Tham gia vào quá trình đào tạo nghề cần phải có Nhà nước, các cơ
nhân mạnh đến vai trò của người sử dung lao động (các doanh nghiệp) trong quá
hoà nhập cộng đồng.
Có thể nói, việc điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề đào tạo nghề ở Việt Namđã và đang từng bước tiếp cận các quan điểm của ILO về dạy nghề. Nhà nước ViệtNam đã thực hiện tương đối tốt vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực đào tạo
nhiên, để có thể hội nhập sâu rộng hơn nữa với các quốc gia, chúng ta cần phải thực
hiện nhiều giải pháp cụ thé dé các định hướng do ILO vạch ra có thé trở thành hiệnthực và phát huy hiệu quả điều kiện thực tiễn Việt Nam.
Kinh nghiệm của mội số quốc gia trong van dé dạy nghề cũng được đề cập
với mục đích học tập các kinh nghiệm từ bên ngoài dé pháp luật về dạy nghề ở Việt
Nam ngày càng được hoàn thiện phù hợp hơn với xu thế hội nhập và phát triển hiệnnay. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nước ASEAN, Nhật Bản, Trung Quốc... vàcác nước phát triển như Mỹ, Đức... luôn quan tâm đặc biệt đến việc phát triển dạy
nghề trong Chiến lược phát triển nguồn nhân lực. Cụ thể, các nước có chính sáchđồng bộ về phát triển dạy nghề trong Chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc
gia, có tầm nhìn xa về xu hướng phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là xu hướng
phát triển của khoa học và cơng nghệ, để từ đó có chiến lược đáp ứng yêu cầu về
nhân lực; phát triển dạy nghề lược nhất quán từ khâu đảo tạo, sử dụng và bồi dưỡng,
của các đối tác xã hội được chú trọng, nhất là dạy nghề tại doanh nghiệp; đồng thời,phát huy tính chủ động của người lao động trong một xã hội học tập suốt đời...
Những kinh nghiệm này của các nước là bài học rất bố ích đối với nước ta- mộinước di sau trong quá trình phát triển nên chịu sự chi phối, ảnh hưởng sâu sắc củaxu hướng phát triển và hội nhập toản cau.
<small>13</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><small>Bên cạnh việc vận dụng sáng tao quan diém dao tao nghề cua ILO và kinh</small>
nghiệm của các nước vào điều kiện thực tiễn ở nước ta, chúng ta cần rút kinhnghiệm từ chính quá trình diéu chỉnh quan hệ đào tao nghề ở Việt Nam từ trước
đến nay. Những bai học cần tiếp tục phát huy là: i) không chi quan tâm đến việc
phát triển công tác dạy nghề trong nước mà phải chú ý đến việc dao tạo nghề ở
<small>nước ngồi thơng qua việc đưa lao động đi làm việc ở các nước. ii) Các văn bản về</small>day nghề phải điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội quan trọng trong các lĩnh vựckhác nhau của dạy nghề từ quy hoạch, kế hoạch dạy nghề, đến các điều kiện đảmbảo chất lượng dạy nghề cũng như quản lý nhà nước về dạy nghề. iii) Các vấn dépháp lý về hợp đồng học nghề, quyền và nghĩa vụ của cơ sở dạy nghề, người họcnghé cũng cần rút kinh nghiệm, quy định một cách đầy đủ vả rõ nét.
Bên cạnh đó, cũng cịn một số vấn đề chưa được các văn bản pháp luật về
dạy nghề đề cập. Đây sẽ là những bài học cần rút kinh nghiệm trong q trình
hồn thiện pháp luật về dạy nghề trong thời gian tới. Cụ thể: ¡) cần phải thừa
<small>nhận cả trình độ đại học trong việc dao tạo nghề; ii) chú trọng vấn dé dạy nghềthường xun; nâng cao tính xã hội hố trong việc dạy nghề... Đó là những vấn</small>
đề chúng ta có thể rút kinh nghiệm trong việc điều chỉnh quan hệ đào tạo nghề,trước hết là việc ban hành các nghị định và thông tư hướng dẫn luật Dạy nghề
<small>trong thời gian tới.</small>
2. Thực trạng pháp luật day nghề và những kiến nghị hồn thiện
Trên cơ sở các vấn đề có tính chất lý luận như định hướng, yêu cầu và các kinhnghiệm dé hoàn thiện pháp luật dạy nghề ở Việt Nam trong điều kiện hiện nay, đề
tài đã phân tích khá kỹ về thực trạng pháp luật dạy nghề trong mối tương quan với
yéu cầu dạy nghề của thực tiễn. Từ đó, đánh giá những điểm phù hợp và những
điểm cịn hạn chế nhằm đề xuất những kiến nghị hồn thiện pháp luật.
Nhóm chuyên dé này được xác định là nội dung chính của dé tài. Vì thế, phần
này chiếm số lượng chuyên đề tương đối lớn: 9 trong số 14 chuyên dé của dé tai.
Các chuyên đề thuộc nhóm này có thể phân thành 4 nội dung nhỏ, lần lượt đề cậpđến các vẫn đề: ¡) các quy định về dạy nghề theo yêu cầu của nền kinh tế thị
trường; ii) các quy định đối với chủ thể tham gia hệ thống dạy nghề; iii) dạy nghềđối với đối tượng đặc biệt; iv) xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp và bồi thườngthiệt hại trong lĩnh vực dao tạo nghề.
<small>Cụ thê, nội dung cơ bản của các chuyên đề trong phân này như sau:</small>
<small>14</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">2.1. Thực trang và hướng hoàn thiện các quy định về dạy nghệ theo yêu caucủa nên kinh tế thị trường
2.1.1. Những điểm phù hợp
Đối với các quy định về đa dạng hố, xã hội hố cơng tác đào tạo nghề, phápluật đã xác định rõ 3 loại hình cơ sở dạy nghề là: cơ sở dạy nghề công lập, cơ sởdạy nghề tư thục va cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nước ngồi. Trong đó, quy địnhrõ điêu kiện, thảm quyền thành lập, cho phép thành lập, đình chỉ hoạt động dạy
tư thục, để minh bach hoá điều kiện tham gia và rời khỏi thị trường dao tạo nghé.Đặc biệt, lần đầu tiên trong hệ thống pháp luật dạy nghề Việt nam đã có quy địnhđầy đủ, tồn diện, cụ thê quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong hoạt động dạy
nghề. Đây chính là điểm nỗi bật trong các quy định của pháp luật về đây mạnh xã
hội hoá dạy nghề.
Điểm hop lý trong các quy định về trinh độ dạy nghề là đã xác định tương đốicụ thé 3 cấp trình độ đào tạo nghề là: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳngnghề nhằm mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất,
dịch vu có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo. Việc xác
định mục tiêu cụ thể của từng cấp trình độ đào tạo nghề dựa vào 3 tiêu chí: Kiếnthức shun mơn, năng lực thực hành và thái độ nghề nghiệp. Đây là 3 tiêu chí
chung để xác định mục tiêu ở các trình độ đào tạo nghề khác nhau. Đối với mỗi
trình độ đào tạo nghề, pháp luật đều quy định rất rõ ràng về mục tiêu dao tạo,
thời gian học nghề, tuyển sinh học nghề, chương trình. giáo trình, cơ sở dạy nghề
và ching chi/bang cấp sau khi học xong nghề. Các quy định đó là điều kiện để
thực 1ién liên thơng trong dao tạo nghề, đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao
<small>kiện cho phép.</small>
Cc quy định về hợp đồng học nghề là phần được vận dụng nhiều nhất trong
thực iễn. Về tính hợp lý của các quy định này, có thể thấy pháp luật hiện hành
đã quy định tương đối đầy đủ các van đề vẻ hợp đồng học nghề, bao gồm: kháiniệm hợp đồng học nghề, hình thức của hợp đồng học nghề, nội dung, thời hạn
của lợp đồng học nghề, các bên tham gia hợp đồng học nghề... Đặc biệt, có
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">nhiêu quy định khá hợp lý về các điêu khoản trong hợp đồng học nghề và việc<small>châm dut hợp đơng học nghé.</small>
2.1.2. Những điểm cịn hạn chế
Dé đánh giá khách quan và toản diện các quy định hiện hanh về dạy nghề đápứng yêu cầu của nên kinh tế thị trường, nhóm chuyển dé này khơng chi đơn thuầnphân tích những điểm hợp lý của pháp luật mà còn chỉ ra những hạn chế cơ bảntrong các quy định này dé tìm giải pháp khắc phục. Có thé khái quát về những hạnchế này như sau:
Trong các quy định về đa dạng hoá, xã hội hoá cơng tác đào tạo nghề cịnnhững bất cập sau đây:
i) Trong hệ thống các quy định hiện hành về xã hội hoá dạy nghề dường nhưchủ yếu tập trung mọi sự quan tâm đến việc phát triển mạng lưới các cơ sở dạy
nghề tư thục thông qua việc đầu tư thành lập mới và chuyển các cơ sở dạy nghề
công lập sang tư thục. Phan lớn các quy định nói trên đều nhấn mạnh vấn dé này
trong khi các khía cạnh khác của xã hội hoá (nhiều đối tượng tham gia và dạy
nghề, đa dạng hố các mơ hình đảo tạo, đa dạng hố nội dung, chương trình và
phương thức dạy nghề... Đặc biệt, phải có chính sách khuyến khích các doanh
nghiệp tham gia vào dạy nghề...) thì rất it được đề cập.
chỉnh nửa vời. Hiện nay, các quy định về cơ chế chính sách tạo điều kiện chohoạt động của cơ sở day nghề tư thục cũng không đầy đủ và chưa thực sự thuận<small>lợi.</small>
iii) Các cơ sở dạy nghề công lập được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, chỉthường xuyên, được tăng cường nguồn lực từ các dự án trong và ngồi nước, từchương trình mục tiêu quốc gia... trong khi các cơ sở dạy nghề tư thục tự bươn
<small>chải. Các cơ sở tư thục chưa được chơi cùng sản với các cơ sở cơng lập. Sự bất</small>bình đăng này làm cho các cơ sở tư thục khó có thể cạnh tranh và tổn tại trong cơ
chế thị trường.
Các quy định về trinh độ day nghề còn thiếu nội dung về danh mục nghề đào
tạo. Vì vậy, pháp luật cũng chưa ban hành quy định chung về việc xây dựng tiêu
chuẩn kỹ năng nghề trên cơ sở danh mục nghề đào tạo. Quy định tiêu chuẩn giáoviên dạy nghề ở ba cấp trình độ đào tạo theo quy định của Luật dạy nghề cũngchưa rõ ràng. Quy định về việc tuyển sinh đảo tạo nghề cịn thiếu tính linh hoạt,
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><small>chưa thực sự thích ứng được với những yêu câu luôn thay đôi của thị trường lao</small>
<small>động về dao tạo nguôn nhân lực.</small>
Các quy định về hop dong học nghề dù được đánh giá là tương đối hợp lý(xem 2.1.2) nhưng cũng vẫn còn một số điểm cần được xem xét như:
i) Khái niệm về hợp đồng học nghề theo Điều 35 của Luật dạy nghề tuy đã décập được chủ thé của hợp đồng học nghề song còn quá chung chung, chưa kháiquát được nội dung và phạm vi quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ học vàdạy nghề.
ii) Luật Dạy nghề còn quy định qua chung chung về van đề chấm dứt hợpđồng học nghề cũng như việc xác định mức bồi thường thiệt hại khi có tranh chấpxảy ra liên quan đến chấm dứt hợp đồng học nghề. Luật dạy nghề đã không quyđịnh cụ thể về những trường hợp phải bồi thường cũng như không phải bồithường phi dao tạo nghề.
2.1.3. Những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định về dạy nghệ đáp ứng yêu
câu của nên kinh tế thị trường
Trước thực trạng nêu trên, cần có những giải pháp hợp lý để từng bước hoànthiện các quy định về dạy nghề đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Trongtừng chuyên dé, các tác giả đã có những luận giải và phân tích về những giải pháp
cụ thé. Có thé khái quát những kiến nghị đó như sau:Đối với các quy định về trinh độ dạy nghề:
i) Xây dựng Danh mục nghề đảo tạo căn cứ vào một số yêu cầu chủ yếu như:nhu cầu thực tiễn của sản xuất, sự thay đổi của khoa học, kỹ thuật và công nghệ
_ trong san xuất và yêu cầu của thị trường lao động. Trong đó, có tính đến những dự
báo phát triển của những lĩnh vực liên quan đến day nghề trong thời gian tới;
ii) Cơ quan quan lý nhà nước về dạy nghề ở trung ương phải ban hành quy định
chung về việc xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề trên cơ sở danh mục nghề đàotạo. Trên cơ sở đó hướng dẫn các cơ quan, các hội nghề nghiệp có liên quan tổchức xây dựng và ban hành tiêu chuẩn nghề.
iii) Quy định tiêu chuẩn giáo viên day nghé ở ba cấp trình độ đào tạo. Trong đó,
có chuẩn trình độ đào tạo đối với giáo viên giảng day ở từng trình độ đảo tạo ;
chuar trình độ kỹ năng nghề đối với giáo viên dạy thực hành ở từng trình độ dao
tạo, chuẩn trình độ ngoại ngữ, chuẩn về năng lực ứng dụng công nghệ thông tinvào giảng day đối đối với giáo viên giảng day ở từng trình độ đào tạo.
<small>iv) Quy định việc tuyên sinh dao tạo nghé một các linh hoạt nhăm tạo điêu kiện</small>
<small>cho mọi người đêu có cơ hội được học nghé dé tìm kiêm việc lam.</small>
Những kiến nghị được đề xuất liên quan đến mục tiêu đa dạng hố, xã hội hốcơng tác đào tạo nghề bao gồm:
Chính sách cơ chế phải đủ mạnh dé doanh nghiệp coi việc tham gia vào dạy nghề
<small>khơng phải là nghĩa vụ mà vì lợi ích của chính họ và lợi ích của xã hội. Chỉ có như</small>
vậy các doanh nghiệp mới tự nguyện tham gia, tự nguyện đầu tư vào đào tạo
nguồn nhân lực.
những người lao động có tay nghề cao được tham gia vào hoạt động dạy nghề nhưgiáo viên dạy thực hành nghề.
cơng lập. Chỉ có như vậy thì mới thực sự khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tưthành lập cơ sở dạy nghề tư thục.
hợp đồng học nghé là:
học nghé về quyền, nghĩa vụ của các bên trong quá trình dạy và học nghề.
ii) Về vấn dé bồi thường: Cần phải có sự quy định cụ thé về các trường hợp ngườilao động phải bồi thường phí đào tạo. Ngồi trường hợp người lao động phải bôithường do vi phạm cam kết về thời hạn làm việc cho doanh nghiệp, nên quy địnhthêm trường hợp người lao động phải bồi thường phí đào tạo khi họ bị người sửdụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng do lỗi của chính bản thân họ như<small>trường hợp người lao động bị kỷ luật sa thải, trường hợp người lao động thường</small>xun khơng hồn thành cơng việc được giao nhằm đảm bao quyền lợi cho người<small>sử dụng lao động tránh tình trạng lạm dụng từ phía người lao động.</small>
2.2. Thực trạng và hướng hoàn thiện các quy định vỀ hệ thông chú thể tham gia
đào tạo nghệ
khá day đủ và chỉ tiết về các loại hình trung tâm dạy nghé, điều kiện và thủ tục
<small>is</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">thành lập trung tâm day nghé, cơ câu tô chức, nhiệm vụ, quyên hạn của trung tâm
dạy nghệ cũng như việc đình chỉ hoạt động và giải thể trung tâm dạy nghề. Nhờnhững quy định đó và q trình triển khai thực hiện pháp luật tương đối tốt nêncác trung tâm dạy nghề bước đầu đã phát triển theo quy hoạch, đa dạng về loạihình sở hữu theo chủ trương xã hội hố dạy nghẻ, từng bước khắc phục tình trạng
phân bố mat cân đối giữa các vùng, góp phan đáp ứng yêu cầu lao động qua đào
tạo nghề phục vu cho việc phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu học nghề dé tìmviệc làm, tự tạo việc làm của người lao động. Các trung tâm dạy nghề hiện nay đãbat đầu chú trọng đến việc dao tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy nghề. Cơ cau
ngành nghề đào tạo tại các trung tâm dạy nghề đang từng bước chuyển dan từ
hướng cung sang hướng cầu, đào tạo những ngành nghề mà thị trường lao động có
<small>nhu câu.</small>
Đối với các rường day nghé, chúng ta đã rất quan tâm đến việc thành lập vàphát triển các trường dạy nghề nhăm đáp ứng nhu cầu học nghề của người lao
động. Các trường dạy nghề hiện nay bước đầu đã phát triển theo quy hoạch, đa
dạng về loại hình sở hữu theo chủ trương xã hội hoá dạy nghề, từng bước khắcphục tinh trang phân bỗ mất cân đối giữa các vùng, góp phan đáp ứng yêu cầu lao
động qua đào tạo nghề phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu họcnghề để tìm việc làm, tự tạo việc làm của người lao động. Các trường dạy nghềhiện nay đã bắt đầu trú trọng đến việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên dạy
nghề. Các trường đào tạo giáo viên dạy nghề đã được quan tâm, đầu tư về cơ sở
vật chất, phát triển đội ngũ giảng viên. Tương tự như các trung tâm dạy nghề, cơ
cau ngành nghề dao tạo của các trường dạy nghề cũng dang từng bước chuyển dantừ hướng cung ứng những sản pham đào tao mà trường có thé sang hướng dao tạonhững ngành nghề mà thị trường lao động có nhu cầu.
Đề cao vai trị của cơng tác đào tạo nghề tại doanh nghiệp là một nét mớivà rất tiến bộ của pháp luật về dạy nghề hiện nay. Liên quan đến van dé này, cácchuyên dé (đặc biệt là chuyên dé số 11) đã phân tích những điểm hợp ly và bấtcập của việc điều chỉnh pháp luật déi với công tác dao tạo nghề tại doanh nghiệp.Nhìn chung, pháp luật đã quy định một cách đồng bộ và thống nhất quyền và
trách nhiệm của các doanh nghiệp trong lĩnh vực đảo tạo nghề. Xét một cách
khái quát, có thể thay pháp luật hiện hành điều chỉnh các hoạt động của doanhnghiệp trong lĩnh vực đào tạo nghề đã quy định tương đối đầy đủ và toàn diện.
Vấn dé quan trọng trong thời gian tới là các doanh nghiệp vận dung và tổ chức
thực hiện như thế nào.
<small>19</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">2.2.2. Những điểm bat cập vẻ chủ thé tham gia đào tạo nghề
<small>Đôi với các quy định về frung tam day nghề, cịn có những điềm bat cập sau</small>
ứng được nhu cầu lao động qua đào tạo nghề, nhất là lao động kỹ thuật có tay
nghề cao cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế trọng điểm, các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài...
Thứ ba, cơ câu đào tạo nghề mặc dù đã được các trung tâm dạy nghề quantâm điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của các ngành kinh tế và thị trường lao
động nhưng đến nay cơ cau nghề đào tạo vẫn chưa hop ly.
Vé hệ thống các ường dạy nghề cũng còn nhiều điều bat cập như: Số
lượng các trường dạy nghề tuy đã tăng so với trước nhưng vẫn chậm hình thành
các trường có chất lượng cao, trình độ đào tạo nghề ở Việt Nam chưa theo kịp vớitrình độ đào tạo của các nước tiên tiến trong khu vực. Các trường dạy nghé của cácdoanh nghiệp là những trường mạnh, có nhiều kinh nghiệm trong dạy nghề và có
nên các trường đang có xu hướng giảm mạnh quy mơ đào tạo. Cơ sở vật chất, thiếtbị của các trường dạy nghé trong những năm qua tuy đã được đầu tư nhưng cũngchỉ mới cải thiện được một bước. Trang thiết bị cịn lạc hậu so với trang bị cơngnghệ trong sản xuất nên ảnh hưởng đến chất lượng dao tao.
Như đã dé cập ở trên, trong số các quy định về chủ thể dạy nghề, các quyđịnh vẻ quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp trong lĩnh vực đào tao nghề đượcđánh giá là khá hợp lý và đầy đủ. Do đó, những bất cập trong cơng tác đảo tạonghề tei doanh nghiệp chủ yếu do quá trình triển khai thực hiện pháp luật. Vớinhận xét đó, các kiến nghị khơng nhằm mục đích hồn thiện pháp luật mà chủ yếu
là nhằn mục đích nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
2.2.3. Những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thê đàotạo nghé
hiện cé hiệu quả các quy định đó trong thực tiễn là vấn dé có tầm quan trọng đặcbiệt trong việc đào tạo nghề nói riêng, nâng cao chất lượng ngudn nhân lực nói
<small>^</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23"><small>chung. Dé làm rõ van đề nay, tập thê tac gia nghiên cứu dé tai đã đê xuât những ýkién cụ thé như sau:</small>
Dé nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại các trung tam dạy nghề, cần có
những giải pháp cụ thể như:
Thứ nhát, dam bảo ở mỗi huyện có ít nhất một trung tâm dạy nghề nham tạo
<small>điêu kiện cho người lao động ở các vùng sâu, vùng xa, hải đảo và các vùng nông</small>
<small>thôn được học nghê</small>
<small>Thự hai, cân có những sự đâu tư thoả đáng cho các trung tam dạy nghệ vềcơ sở vật chât, trường lớp, giáo viên...</small>
Thứ ba, cần phải có văn bản hướng dẫn thực hiện Luật dạy nghề. Liên quanđến quy định về các chủ thể tham gia đào tạo nghề, cần hướng dẫn rõ thế nào là vi
phạm pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng phải đình chỉ hoặc giải thể các trung
luật về đào tạo nghề mới thực sự tạo được cơ sở pháp lý vững chắc cho việc tồn tại
và phát triển các trung tâm dạy nghé va dé trung tâm dạy nghề thực sự trở thành
“địa chỉ” đáng tin cậy của những người có nhu cầu học nghề.
<small>Dé nâng cao chat lượng đâu ra của các frường day nghé, cân có những giảipháp cụ thê sau đây:</small>
trường trung cấp nghề và trường cao đăng nghề dé thực hiện kế hoạch đào tạonghề trang thời gian tới.
Thứ hai, nâng cao chất lượng dạy và học nghề với những giải pháp tổng thểnhư: nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vu cho đội ngũ giáo viên day nghé; dautư cơ sở vật chất, kỹ thuật cho các trường dé từng bước chuẩn hoá và hiện đại hoácác cơ sở dạy nghề. Mở rộng các hình thức liên kết giữa cơ sở dạy nghề với các
<small>doanh nghiệp.</small>
Thứ ba, các chương trình dạy nghề cũng như thời gian đào tạo một cấp độnghề cén có sự thống nhất giữa các trường, tránh tinh trạng cùng đào tạo một nghề<small>nhưng ‘hoi gian dao tạo giữa các trường lại khác nhau.</small>
Thứ tw, cần thành lập các trường đại hoc dạy nghề dé vừa thu hút học sinhtốt nghệp phố thông trung học vào học nghề vừa tạo điều kiện cho người lao động
nâng czo trình độ, giải quyết được bài tốn thừa thầy thiếu thợ trong điều kiện của
<small>nước te hiện nay.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">Bàn vẻ các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại doanh nghiệp, đề
tài dưa ra những kiến nghị cụ thé như: cân phát triển hệ thong thông tin về ngành
nghề và thông tin về nhu cầu đào tạo của doanh nghiệp; quy định về Quy hỗ trợ
đào tạo nghề cho các doanh nghiệp; cần quy định cụ thể về liên kết đào tao nghévà mỗi liên hệ giữa doanh nghiệp va cơ sở đào tạo nghề; hướng dẫn thống nhấtquy định bơi thường chi phí dao tạo nghề cho doanh nghiệp; tăng cường hợp tác
quốc tế giữa doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nước ngoài...
2.3. Đào tạo nghệ cho các đổi tượng đặc biệt - Thực trạng và giải pháp
Bên cạnh các quy định về đào tạo nghề cho người lao động nói chung nhằmđáp ứng nhu cầu nhân lực của quốc gia, pháp luật dạy nghề cũng đề cập đến cácquy định riêng về dao tạo nghề cho những chủ thé đặc biệt. Trong phạm vi dé tài
này, các tác giả đã dé cập đến 2 nhóm chủ thé là người học nghề dé ra nước ngoàilàm việc và người học nghề đặc thù (bao gồm phụ nữ, người tan tật...)
2.3.1. Những điểm hợp lý trong các quy định hiện hành về đào tạo nghề chonhững doi tượng đặc biệt
Trên cơ sở đánh giá khách quan về toàn bộ các quy định hiện hành liên quan
đến đạy ngh cho người lao động ra nước ngoài làm việc, đề tài đã chỉ rõ nhữngđiểm hợp lý của các quy định này như sau:
đào tạo nghé hiện nay, đặc biệt là sự cần thiết của việc đào tạo nghề cho người lao<small>động sẽ ra nước ngoài làm việc.</small>
Hai là, pháp luật hiện hành đã quy định khá đầy đủ về nội dung của hoạtđộng dạy nghề cho người đi làm việc ở nước ngoài bao gồm dạy nghề cơ bản, dạyngoại ngữ và bồi dưỡng những kiến thức cần thiết.
Ba là, pháp luật dạy nghề cũng đã quy định một số chính sách hỗ trợ chohoạt động đào tạo nghề dé đưa người lao động ra nước ngoài làm việc.
Về van đề đào tạo nghệ cho lao động đặc thù, pháp luật dạy nghề có những
<small>quy định hợp lý như sau:</small>
Một là, bên cạnh chế độ đào tạo nghề, đào tạo lại, bồi dưỡng, bổ túc nângcao trình độ nghề như những người lao động khác, pháp luật dạy nghề đã cónhững quy định về đào tạo nghề dự phòng áp dụng riêng cho lao động nữ.
Hai là, có những quy định nhằm ràng buộc trách nhiệm của các doanhnghiệp phải đào tạo và sử dụng lao động tàn tật theo một tỷ lệ nhất định
<small>22.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25"><small>Ba la, quy định một sô chính sách ưu đãi đơi với doanh nghiệp dao tạo, sửdụng nhiều lao động nữ như: được hưởng chính sách ưu đãi về vay von, về thué....</small>
Bốn là, có nhiều quy định ưu đãi đặc biệt đối với lao động tàn tật trong việc
với sức khoẻ và khả năng lao động của minh. ii) Được tư vấn hướng nghiệp, tưvấn nghề và tư van học nghề miễn phi. iii) Khi đi học ở các trường công lập sẽ
tín dụng giáo dục, chính sách miễn, giảm phí dịch vụ cơng cộng...
Năm là, có những quy định ưu đãi đối với cơ sở đào tạo nghề cho người tàn
tật như: 1) Được xét cấp ho trợ một phần kinh phí từ Quỹ việc làm cho người tàn
tật. ii) Được xét vay vốn từ Quỹ việc làm cho người tàn tật của tỉnh, thành phótrực thuộc Trung ương dé duy trì, mở rộng hoạt động dạy nghề. iii) Được ưu tiên
giao đất hoặc cho thuê đất ở những địa điểm thuận lợi cho việc tổ chức dạy nghềvà sản xuất kinh doanh cho người tàn tật. iv) Giáo viên dạy nghé cho lao động làngười tàn tật được Nhà nước đầu tư đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, kỹ năng,phương pháp dạy nghé cho người tàn tật, được hưởng chế độ đối với giáo viên dạynghề và hưởng chế độ phụ cấp đặc thù theo quy định của Chính phủ.
2.3.2. Những điểm bất cập trong các quy định về đào tạo nghề cho những
Việc đào tạo nghề cho người di làm việc ở nước ngồi cũng có nhiều điêmbất cập như hoạt động đào tạo nghề nói chung. Đặc biệt, với những yêu cầu và đòihỏi khá cao của một số quốc gia khi tiếp nhận lao động Việt Nam thì việc đảo tạonghề ở nước ta cịn khá nhiều bất cập. Có thể đơn cử như các quy định về điệukiện dạy nghề chưa cu thé nên hệ thống co sở dạy nghề và các kỹ năng khác chongười lao động đi xuất khẩu lao động còn lạc hậu về máy móc, cơng nghệ dạynghé; chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề còn chưa ngang tầm với địi hỏi củathực tiễn; đội ngũ cán bộ làm cơng tác bồi dưỡng kiến thức khác và ngoại ngữ chongười lao động còn chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng sư phạm... Những bất
cập đó chính là một trong những nhân tố hạn chế khả năng cạnh tranh của laođộng Việt nam trong thị trường xuất khẩu lao động bởi tay nghề là một trong
những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và giá cả của hàng hoá sức laođộng trên thị trường lao động quốc tế.
<small>tO ee)</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">Vệ phương điện ban hành luật. các quy định về dao tạo nghệ cho lao động
đặc thù có thé mang lại nhiều cơ hội học nghề cho đối tượng này. Nhưng trong
thực tiễn áp dụng, vẫn thây nôi lên những bất cập cơ bản như sau:
Mot là, xét về thực chất thi người sử dụng lao động phải chịu trách nhiệm
hoàn toàn về việc đào tạo nghề dự phịng cho lao động nữ và nhìn chung, họ
doanh nghiệp không thực hiện tốt cơng tác đào tạo nghề dự phịng và người chịu
thiệt thòi vẫn là người lao động nữ.
nghiệp không thực hiện hoặc thực hiện không tốt nghĩa vu đào tao nghề dự phòng<small>cho lao động nữ theo quy định.</small>
Việc quy định đào tạo nghề đối với người tàn tật nhìn chung là tốt. Hiệu quảáp dụng các quy định này chủ yếu phụ thuộc vảo quá trình triển khai thực hiện.2.3.3. Những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và tổ chức dạy nghệ cho đối tuong<small>đặc biệt</small>
Đối với việc đào tạo nghề cho người lao động ra nước ngoài làm việc, đáng
chú ý là các kiến nghị sau đây:
Một là, cần có quy định cụ thể hơn về điều kiện cơ sở vật chất của các cơ sở
một số trường nghề nịng cốt cho việc đào tạo người lao động đi làm việc ở nước<small>ngoài.</small>
Hai là, cần có quy định chặt chẽ về điều kiện giáo viên, cán bộ quản lý tham
kiến thức cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Các doanh nghiệp, đơn vị
sự nghiệp, các nhà đầu tư cần chú trọng công tác cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ
làm việc ở nước ngoài. Đội ngũ này cần được tiếp xúc với thực tế thị trường lao
<small>trường lao động ngoài nước.</small>
<small>24</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27"><small>công việc can chứ khơng dạy cho họ những gì mà cơ sở dạy nghề, người day</small>
<small>nghề có,</small>
<small>Bon là, can chn hố chương trình, giáo trình và các tài liệu phục vụ choviệc đào tạo người lao động đi làm việc ở nước ngoài; xây dựng hệ thông thông tinvề thị trường lao động ngồi nước...</small>
Năm là, Nhà nước cần có chính sách áp dụng hợp lý cho việc đào tạo nghềcho người lao động đi làm việc ở nước ngồi, như: có chính sách khuyến khích cácdoanh nghiệp, các cơ sở dạy nghề đào tạo nguồn lao động di làm việc ở nướcngoài; thực hiện chính sách miễn, giảm thuế cho các cơ sở chuyên dạy nghề cho
<small>người lao động đi làm việc ở nước ngồi...</small>
Để làm tốt cơng tác đào tao nghề cho những đối tượng lao động đặc thù, đặcbiệt là lao động nữ và lao động tàn tật là hai đối tượng chủ yếu mà pháp luậthướng tới và nhằm mục đích bảo vệ, cần thực hiện những giải pháp sau đây:
Một là, trong thời gian tới Nhà nước cần phải sửa đổi, bổ sung những quy
định về đào tạo nghề dự phòng cho lao động nữ. Bên cạnh việc áp dụng chính sách
đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động về vay vốn, thuế như hiện nay,Nhà nước cần hỗ trợ một phần kinh phí từ Quỹ quốc gia giải quyết việc làm hoặc
Quỹ giải quyết việc làm của địa phương cho công tác đảo tạo nghề dự phòng cho
<small>lao động nữ.</small>
Hai là, cùng với việc hỗ trợ kinh phí cho cơng tác đào tạo nghề dự phòng,Nhà nước cần bổ sung các quy định xử phạt đối với doanh nghiệp vi phạm quy
định về đào tạo nghề dự phịng cho lao động nữ. Bên cạnh đó, các cơ quan chức
năng của Nhà nước cân đây mạnh công tác thanh, kiểm tra và xử lý các vi phạmnhằm nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp trong công tác này và bảo đảm
quyên lợi của lao động nữ.
2.4. Thực trạng xử lý vi phạm, giải quyết tranh chap và bi thường thiệt hai
trong lĩnh vực đào tạo nghề
2.4.1. Về công tác thanh tra và xử lý vi phạm:
Sau khi phân tích các quy định và thực tế thực hiện các quy định về xử lý vi
phạm, giải quyết tranh chap và bồi thường thiệt hại trong các quy định về đảo tạonghề, dé tài có nhận xét tổng thé rằng: nhìn chung, nhóm các quy định này cũngtương đối đầy đủ, các cơ sở dạy nghề trên thực tế cũng đã thực hiện tương đối tốt
các quy định của pháp luật về dạy nghề nên việc xử lý vi phạm đối với các cơ sởdạy nghề cũng rất ít khi xảy ra. Các vi phạm của các cơ sở dạy nghề thường
<small>25</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28"><small>không dén mức nghiêm trong.</small>
Trên thực tế, khi thanh tra các cơ sở dạy nghề, các đoàn thanh tra của tổngcục day nghề rất ít khi ra quyết định xử phạt các cơ sở dạy nghẻ mà chủ yếu chỉđưa ra các kiến nghị của đoàn với cơ sở dạy nghé và Sở lao động thương binh xãhội nơi cơ sở dạy nghề có trụ sở.
2.4.2. Về việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đào tạo nghé
Theo quy định của pháp luật, việc giải quyết các tranh chấp xảy ra trong lĩnhvực dạy nghề theo cơ chế giải quyết tranh chấp lao động cá nhân. Thực tế, chủ
yéu là các tranh chấp về bồi thường phí dao tạo. Những tranh chấp này chiếm
một tỷ lệ khá lớn trong số lượng án lao động được giải quyết tại Toà án (chỉ sauán sa thải và đơn phương chấm dứt hợp đồng) và ngày càng có chiều hướng gia
tăng. Rất nhiều các doanh nghiệp bỏ tiền chi phi cho người lao động di học ở
nước ngoài để sau này về làm việc cho doanh nghiệp nhưng người lao động đã vi
<small>hạn như đã thoả thuận.</small>
2.4.3. Vấn dé bồi thường thiệt hại trong đào tạo nghề
Đây là vấn đề còn khá nhiều bất cập trên cả bình diện điều chỉnh pháp luật vàáp dụng pháp luật. Cụ thể là, còn bỏ sót một số trường hợp người lao động phảibồi thường khi chấm dứt hợp đồng học nghé trước thời hạn hoặc không dam baocam kết về thời hạn làm việc sau khi học xong nghé.
Những bat cập trên cần hoàn thiện theo hướng sau:
Thứ nhất, quy định thêm trường hợp người lao động phải bồi thường khi họ bị
người sử dụng lao động đơn phương cham dứt hợp đồng do lỗi của chính ban than<small>họ như trường hợp người lao động bị kỷ luật sa thải, trường hợp người lao độngthường xun khơng hồn thành cơng việc được giao.</small>
Thứ hai, quy định chặt chẽ hơn đối với trường hợp người lao động không
phải bồi thường phi dao tạo khi đơn phương cham dứt hợp đồng lao động hợppháp theo điều 37 Bộ luật Lao động. Đối với hợp đồng lao động không xác định
thời hạn, nếu người lao động vi phạm cam kết về học nghề cũng sẽ chỉ khơng phải
bồi thường khi có một trong những căn cứ tại khoản Ì Điều 37, nhằm đám bảoquyên lợi cho người sử dụng lao động.
Tóm lại, với 2 nhóm gồm 14 chuyên dé, đề tài: “Pháp luật về dạy nghềtrong điều kiện phát triển và hội nhập ở Việt Nam hiện nay” đã hệ thống một
<small>26</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">cách tương đổi toàn diện các van dé liên quan đến chính sách, pháp luật hiện hànhvề dạy nghé ở nước ta. Trong điều kiện Luật Dạy nghề mới được ban hành, dé taidã giành nội dung chủ yếu đề phân tích, đánh giá những điểm hợp lý và chưa hợplý của pháp luật dạy nghề. Bên cạnh đó, những giải pháp tương đối cụ thể nhămhướng dẫn thực hiện, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
dạy nghề trong quá trình phát triển và hội nhập ở nước ta hiện nay cũng được chú
trọng để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, kiến nghị hướng dẫn thi hành Luật Dạynghề./.
<small>k2 ~J</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">CHUYEN DE 1: CHIEN LUQC PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC VATRÁCH NHIEM CUA NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VUC ĐÀO TẠO NGHE
Ở VIỆT NAM
<small>TS. Lưu Bình Nhưỡng</small>PCN Khoa Pháp luật kinh tế, ĐHLHN
1. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam trong giai đoạn mới1.1. Sự cân thiết của việc phát triển nguôn nhân lực
Việt Nam đang đứng trước một cơ hội lớn và đồng thời là thách thức lớn mang tầmthời đại về phương diện phát triển kinh tế - xã hội. Với tư cách là thành viên đầy đủ
<small>của WTO, thành viên của ASEAN, Việt Nam đang thực hiện quá trình hội nhập</small>
mạnh mẽ vào đời sống kinh tế quốc tế. Sự hội nhập mạnh mẽ ấy tạo cho Việt Nammột “thế” thuận lợi. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải có “lực” thực sự mới có thểgit vững “thế” đó và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển. Liên quan đến tạo
<small>“lực”, một trong những bài toán đang đặt ra là nhân lực cho quá trình hội nhập và</small>
với tay nghề, phẩm chất cần thiết thì khơng thé vận hành nên kinh tế - xã hội.
Muốn hội nhập, muốn phát triển, Việt Nam đặt ra mục tiêu là phải hiện đại hố,cơng nghiệp hố. Điều đó khơng chỉ liên quan đến việc trang bị, nâng cấp máy móc,
<small>cơng nghệ mà cịn phải nâng cao khả năng thích ứng của người lao động - nhữngngười sử dụng máy móc, cơng nghệ hiện đại đó.</small>
Khơng chi các nhà đầu tư, các doanh nghiệp nước ngoài, mà ngay cả các nhà đầu tư,các đơr vị sử dụng lao động của Việt Nam cũng rất cần nhân lực, với số lượng lớn
và chất lượng cao. Thị trường sản xuất, dịch vụ càng ngày càng đòi hỏi ở người lao
động những phẩm chất đặc dụng của nghè nghiệp, những phẩm chất có tính chun
Có thể nói, thực trạng của nền nhân lực Việt Nam hiện nay chưa thực sự đáp ứngyêu cầu của thị trường. Mặc dù được “sở hữu” một lực lượng lao động hùng hậu vớitrên 50triệu người trong độ tuổi lao động, một lực lượng trẻ trung, nhưng Việt Namvẫn đarg đứng trước một tình trạng khơng đảm bảo nồi nhân lực cho sự phát triển
lượng ho động có tác phong cơng nghiệp thực sự là những vấn đề ảnh hưởng trực
<small>28</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31"><small>tiếp tới hoạt động thu hút đâu tu và trién khai các dự án đâu tư lớn ở Việt Nam tronggiai đoạn trước mat và đặc biệt là trong những năm toi.</small>
<small>- Về tâm quan trong của nguồn nhân lực:</small>
Nhân lực là van đề hết sức quan trong và là một trong những điểm mấu chốt của lực
lượng sản xuất. Nhân lực là sự quyết định mang tính nền tảng bởi nó trả lời cho câuhỏi: Ai là người chế tạo và vận hành máy móc, cơng nghệ? Ai tạo ra sản phẩm, cácgiỏ trị? Khi kinh tế càng phát triển, tốc độ đầu tư, tốc độ kinh doanh càng quaynhanh, công nghệ cảng hiện đại, phương thức sản xuất càng đổi mới, trình độ sảnxuất của xã hội càng vươn nhanh từ nền kinh tế tự động hoá tới nền kinh tế tri thứcthực sự đòi hỏi đối với lực lượng lao động càng cao. Nhân lực không chỉ đáp ứngvấn đề số lượng mà còn đảm bảo vấn đề chất lượng của lực lượng sản xuất. Và bảnthân nhân lực cịn có thé tự thân vận động và làm phát triển nó bên cạnh việc pháttriển sản xuất...
- Trình độ lao động và những đòi hỏi của thị trường/ nhà đầu tư/ người sử dụng lao
Thực trạng lao động của Việt Nam hiện nay đang bộc lộ sự mat cân đối.
Trong hội nghị tổng kết đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Thủ tướng Chính phủNguyễn Tân Dũng có đề cập tới một hạn chế cần tập trung tháo gỡ để thu hút đầu tưnước ngoài trong giai đoạn hiện nay và những năm tiếp theo là đào tạo nguồn lao
động. Nếu như trước kia Việt Nam thiếu vốn trầm trọng thì nay lại bị thiếu nhân lực
ở mức đáng báo động. Hàng ngàn dự án đầu tư đang trong giai đoạn triển khai hoặcsắp được triển khai có nguy cơ phải dừng lại hoặc phải kéo dài, thậm chớ có thé bịhuỷ bỏ vi thị trường lao động của Việt Nam không đáp ứng nỗi nhu cầu nhân lực.Điều đó cho thấy việc dao tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ hội nhập quốc
tế trong giai đoạn hiện nay là bức thiết đến mức nào.
- Van đề cung ứng nhân lực cho thị trường lao động quốc tế
Một trong những mục tiêu chiến lược của Việt Nam trong những năm tới là đưa
được một số lượng lớn người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Việc đưa lao độngViệt Nam đi làm việc ở nước ngoài không chỉ nhằm giải quyết việc làm cho ngườilao động mà còn hướng tới mục tiêu thu nhập và ngoại tệ, và hơn nữa, giúp phầnrèn luyện tay nghề, kỹ năng, tác phong của người lao động phục vu cho sự nghiệphiện đại hố và cơng nghiệp hố của đất nước. Giữa hoạt động đưa người lao độngđi làm việc ở nước ngoài và hoạt động thu hút đầu tư nước ngoải vào Việt Nam,nhìn bên ngồi có vẻ như trái ngược và độc lập với nhau. Nhưng thực tế chúng cómồ liên hệ khá mật thiết và bố sung, nâng đỡ cho nhau. Cho nên, ở một khía cạnh
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32"><small>nào do, việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng giúp phân thu hútđâu tư nước ngoài vào Việt Nam.</small>
<small>1,2. Chiến lược dao tao nguồn nhán luc và những van dé dat ra đôi với việc dé ra</small>
<small>và trién khai chiến lược phát triên nguồn nhân lực ở Việt Nam</small>- Vấn đề lý luận thuần tuý hay là một quan điểm phát triển?
Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực được hiểu là phương châm và biện pháp mang
tính toan diện về việc đào tạo lực lượng lao động bao gồm những người lao động
với những kỹ năng, kỹ thuật và trình độ nhất định dé họ có thé tiếp cận với cơngviệc trong hệ thông kinh tế xã hội. Mỗi thời kỳ phát triển xã hội có một chiến lượcđào tạo nguồn nhân lực phù hợp với phù cầu của thời kỳ đó. Và, thêm nữa, chiếnlược đào tạo nguồn nhân lực của một quốc gia còn phụ thuộc vào quan điểm của các
nhà lãnh đạo, của Chính phủ đứng ra chỉ huy và vận hành nên kinh tế xã hội.
Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực là phương châm có tinh én định trong một thờigian dài và phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vì xét chocùng, việc đào tạo nguồn nhân lực chính là nhăm đảm bảo cho nhu cầu nhân lực củacác ngành kinh tế quốc dân. Không thẻ tồn tại một chiến lược đảo tạo nguồn nhân
lực năm ngồi khơng gian kinh tế xã hội của quốc gia.
Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực là van dé có tính định hướng. Sự định hướngkhông phải tập trung ở việc xác định số lượng mà còn tập trung ở chủng loại và chấtlượng lao động. Toàn bộ nền kinh tế, mỗi ngành kinh tế quốc dân, mỗi địa phương,mỗi tập đoàn, thậm chí mỗi doanh nghiệp đều có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực
của riêng mình. Sở dĩ có hiện tượng như vậy là do mỗi khu vực kinh tế đều có quyhoạch riêng và mục tiêu phát triển riêng. Và nguồn nhân lực là một trong những
điều tiện không thé thiếu bên cạnh những điều kiện khác như van dé tài chính, thị<small>trường, cơng nghệ...</small>
Bên cạnh đó, một chiến lược dao tao nguồn nhân lực luôn đi kèm các biện pháp haygiải rháp thực thi. Các giải pháp được đề ra luôn phải phù hợp với phương châm vànăng lực dao tạo. Tuy nhiên, giải pháp đào tạo nghề có thé được xây dựng vượt trênkhả năng đào tạo hiện có nhưng có tính khả thì nhằm đạt được mục tiêu đó đề ra.Câu lỏi đặt ra là, chúng ta đã có một chiến lược phát triển nguồn nhân lực haychưa“ Đề giải đáp cho vấn dé này chac chăn phải xem xét ở nhiều khía cạnh. Tuynhiên có thé nói, ở bat cứ giai đoạn nào của sự phát triển xã hội, việc xây dựng, duytrì vàcung ứng một lực lượng lao động giàu kỹ năng, có tỉnh thần trách nhiệm và cótác piong lao động tốt là van đề ln ln được đặt ra. Nguồn nhân lực có chấtlượng cao càng là đòi hỏi của nên sản xuất xã hội. Bởi lẽ, ngày nay, và trong tươnglai gần, và trong nhiều năm nữa, Việt Nam được coi là một trong những trung tâm
<small>30</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33"><small>thu hút đâu tư cua khu vực và thé giới. Điều đó có nghĩa là, việc chn bị một</small>
<small>ngn nhân lực du khả năng tiệp nhận được những thành tựu công nghệ, quan lý,ln là vân đê được quan tâm sâu sac.</small>
Vì thế, muốn xác định được sự hiện diện của một chiến lược nguồn nhân lực thìđiều đơn giản nhất phải cắt nghĩa là đã có hay chưa một định hướng, một quy hoạchhoặc một kế hoạch rõ ràng, ôn định trong một thời gian nhằm tạo ra, phát triển lựclượng lao động cho các hoạt động kinh tế xã hội. Những hoạch định dài hơi và cótâm bao quát về lực lượng lao động đó có một giá trị khá vững vàng và có quan hệvới tat cả các ngành kinh tế quốc dân, vừa là điều kiện dé phát triển kinh tế, cải tạoxã hội, mặt khác, vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế.
<small>- Vân dé chat lượng va so lượng của nguồn nhân lực</small>
Có thể nói, kỹ năng nghề, kỹ năng làm việc ln ln được coi là vấn đề quan trọng
hàng đầu. Kỹ năng thực hành các hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh của
người lao động thường được coi là thước đo có ý nghĩa quyết định của nguồn nhânlực. Trong thời đại cơng nghiệp và tồn cầu hố, kỹ năng lao động khơng cịn là tài
sản của nguồn nhân lực của một quốc gia. Đối với Việt Nam, cái thiếu lớn nhất hiệnnay chính là chất lượng lao động. Với một lực lượng lao động động đảo, lại được bổsung thường xuyên hàng năm, Việt Nam có một nguồn nhân lực déi dào, thuộc loạihàng đầu của khu vực. Tuy nhiên, do sự mắt cân đối trong đảo tạo, tý lệ lao động kỹthuật phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh chưa tương xứng. Số lượng lao động
Tuy nhiên, nói như vậy khơng có nghĩa là số lượng lao động khơng có vai trị tronghệ thống nguồn nhân lực. Mỗi ngành kinh tế đều cần một lực lượng lao động vớinhiều loại lao động khác nhau. Vẫn có những vị trí, những khu vực kinh tế khơng có
địi hỏi cao về trình độ của người lao động. Hơn nữa, nên kinh tế với sức phát triển
mạnh mẽ cần có một lực lượng lao động dự trữ, thay thé và bé sung kip thời cho thi
trường lao động. Lực lượng lao động chưa đạt trình độ cao vẫn có cơ hội tạo nên
năng lực lao động có trình độ cao do được dan dan tiếp cận thông tin, kỹ năng, tác<small>phong lao động hiện đại trong xu hướng cạnh tranh việc làm và thu nhập.</small>
- Vân đề chun giao cơng nghệ trong làn sóng đầu tư
Phát biểu trong cuộc gặp các học viên của khoá dao tao về Luật Dân sự và Thươngmại theo chương trình do JICA (Nhật Bản) tơ chức tại trụ sở của tập đoàn Panasonic(Osaka Nhật Bản đầu năm 2005) các nhà hoạch định chiến lược của Panasonic longại rằng, chất lượng nguồn nhân cơng của Việt Nam chính là vấn dé ảnh hưởngđến chính sách đầu tư. Với những cơng nghệ tiên tiến được chuyển giao, các nhàđầu tư nước ngồi rất lo lăng vì hiện tại trình độ nhân công của Việt Nam chưa đủ
<small>3]</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">khả năng tiếp nhận và sử dụng,vận hành. Sự lo lang nay đã được Thu tướng Chính
<small>phủ của Việt Nam một lân nữa khăng định trong hội nghị tổng kết thu hút đầu tư</small>
<small>nước ngồi ci năm 2007.</small>
- Cung cách lao động mới hay là sự đối mặt với văn minh cơng nghiệp thực sự.Ngày nay, q trình lao động sản xuất địi hỏi người lao động khơng chỉ cókỹ năng, kỹ thuật, tay nghề thực hành cao mà còn đòi hỏi người lao động có ý
<small>thức, tác phong và văn hố khi tham gia vào q trình sản xuất kinh doanh. Điều</small>
đó xuất phát từ u cầu của q trình hợp tác, cạnh tranh nội bộ, và hơn nữa, củaviệc duy trì và phát triển các mối quan hệ với cơng chúng. Một lực lượng lao độngcó ý thức, tác phong chắc chăn sẽ tạo nên một môi trường làm việc có văn hố, có
kỷ luật và cố nhiên là có điều kiện tạo ra và đạt được các mục tiêu năng suất, chất
<small>lượng, hiệu quả.</small>
- Sự hạn chế về tính định hướng trong đào tạo nhân lực
Từ lâu nhiều chuyên gia, doanh nhân và nhà quản lý đã cảnh báo tình trạng đáng
báo động trong việc định hướng và xác định cơ cấu lao động trong hệ thống giáo
dục - dao tạo của Việt Nam. Họ cho rằng, cơ cấu về trình độ của Việt Nam dườngnhư đã thốt ly với điều này trên thế giới. Tý lệ lao động có nghề thực sự thấp hơnrất nhiều so với những người có bằng cấp ở bậc đại học, cao đăng. Nói cách khác,cơ cấu lao động của nước ta mat cân đối nghiêm trong.’ Việc định hướng dao tạo
<small>nhân lực chứng tỏ chưa bám sát với xu hướng đào tạo lao động phục vụ cho yêu cầu</small>phát triển sản xuất trong thời đại cơng nghiệp và vì vậy thực sự không thể đảm bảo<small>cho việc tạo lập một lực lượng lao động với kỹ năng thích hợp và sẵn sàng vận hành</small>
nên sản xuất lớn đó.
<small>- Sự lựa chọn cá nhân và những quan điểm lỗi thời</small>
Người lao động có những lý do cá nhân để chọn nghề. Việc chọn nghề không chỉ
tập trung vào loại nghề, loại công việc, mà cịn biểu hiện ở việc lựa chọn trình độ để
tiếp cận và tham gia quá trình đào tạo. Quan niệm về việc có một bằng cấp trình độcao để tiếp cận với việc làm và đặc biệt là ước muốn có địa vị trong xã hội đãhướng lớp trẻ và nhiều người lao động tham gia vào quá trình đào tạo bậc cao tích
cực hơn. Người lao động và các gia đình ln thể hiện sự cố gắng tối đa để con emcủa họ vào học đại học và tiếp tục học lên hơn là sẵn sàng định hướng cho lớp trẻ<small>* Hội thao “Đào tạo- Việc làm: Cơ hội và thách thức trong hội nhập quốc tế” được Trường Cao Đăng Nguyễn Tât</small>
<small>Thành TPHCM tô chức sáng 30-7-2007 đã chí ra những hạn chế trong lĩnh vực dạy nghẻ, huy động nguôn nhân lựccho phát triên kinh tế - xã hội của Việt Nam. Theo các ý kiến được nêu ra tại hội tháo này thì cơ câu lao động của</small>
<small>Việt Nam là: | Cử nhân - 1,16 Trung cấp chuyên nghiệp — 0,95 Công nhân kỹ thuật, trong khi đó ty lệ nay ở các nước</small>
<small>khác là: 1 Cử nhân - 4 Trung cap chuyên nghiệp — 10 Công nhân kỹ thuật.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">tham gia các chương trình học nghề đê kiếm sống. Và một trong những vấn đề đang
<small>hiện hữu ở Việt Nam có ảnh hưởng khơng nhỏ toi việc định hướng dao tạo và cơ</small>
cầu lực lượng lao động là quan niệm về tính ơn định về việc làm trong cơ quan công
quyên - những nơi thường chủ yếu ưu tiên tuyển dụng lao động ở bậc cử nhân tro
việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã làm giảm sút số lượng người
<small>lao động tham gia vào các đơn vị sử dụng lao động nội địa. Nhưng đó vẫn được coi</small>là việc làm cần thiết vì quyền lao động của người lao động là một quyền rộng và tự
do. Chính vì vừa phải đào tạo nhân lực phục vụ cho nhu cầu lao động trong nước
<small>vừa phục vụ cho hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, nên yêu</small>
cầu đào tạo nguồn nhân lực lại càng bức xúc. Bên cạnh đó, việc di chuyển lao độngtừ khu vực nông thôn ra thành thị, đặc biệt trong đó số đơng là những người nơngdân bị thu hồi đất đai canh tác để xây dựng các khu kinh tế, khu nhà ở sang trọng,khu vui chơi giải trí...đã khơng có được một trình độ nghề tối thiểu để có thé thamgia nghiêm túc và day đủ vào thị trường lao động. Cái thiếu vé trình độ tay nghềlàm giảm sút khả năng di chuyển lao động và cơ hội việc làm của nhiều lao độngnông thôn cho thay van dé dao tạo càng trở nên bức bách.
- Đầu tư đào tạo nghẻ - những cái lợi trước mắt quá nhỏ so với tương lai (các cơ sở<small>đào tạo chịu đựng thiệt thịi cho các cơng ty sử dụng và thu lợi lớn)</small>
Hiện tại, nếu so sánh tương quan về dau tư giữa các cơ sở dao tạo nghề độc lập vớicác doanh nghiệp và tô chức, cá nhân sử dụng lao động qua đảo tạo nghé thi có thé
thấy rõ những lợi thế của các nhà sử dụng lao động. Các nhà sử dụng lao động sửdụng nguồn nhân lực qua đào tạo của các các cơ sở đào tạo công và tư. Họ khôngphải thực hiện các đơn đặt hàng cho các cơ sở đào tạo mà chủ yếu là tuyển dụngngười lao động đã sẵn có trình độ, có kỹ năng. Các chi phí ban đầu dé đào tạo nghề,tạo nên nguồn nhân lực phục vụ cho các nhà tuyển dụng và cho việc cung ứng laođộng cho nước ngoài hầu như do nhà nước và chính những người lao động đó bỏ ra.Đã có một số các nhà tuyển dụng quan tâm đến quá trình dao tạo nguồn nhân lực.
Nhưng chủ yếu là dưới dạng đào tạo nội bộ và đào tạo lại (bồi dưỡng làm quen hoặc
<small>nâng cao). Tuy nhiên, xét cho cùng, trách nhiệm của xã hội là cung ứng lao động.</small>
Sự cung ứng “miễn phí” đó sẽ đổi lại những lợi ích lớn cho tồn bộ nền kinh tế và
cho chính bản thân người lao động. Tồn bộ nên kinh tế được lợi do sự tăng trưởng
<small>33</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><small>qua việc nó đã góp phân dao tạo nguồn nhân lực. Cịn người lao động có được cw</small>
<small>hội việc làm và khả năng đảm bảo thu nhập và đời sông.</small>
<small>2. Trách nhiệm cua nhà nước trong lĩnh vực đào tao nghề</small>
<small>2.I- Những khía cạnh mục tiêu</small>
Mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm 2001 — 2010 là: “Đưa đất nước ta ra khỏitình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tỉnh thân củanhân dân; tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản thành một nước công nghiệphiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng,tiêm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường: thể chế kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên thịtrường quốc tế được nâng cao.”” Đồng thời Việt Nam phải tập trung mọi nguồn lựcdé “nâng tỷ lệ người lao động được đào tạo nghé lên khoảng 40%”%,
Theo nhận định chung, “Đến năm 2010, nước ta có 56,8 triệu người ở độ tuổi laođộng, tăng gần 11 triệu người so với năm 2000” ”. Đó là một lực lượng lao độnghùng hậu về số lượng. Và với định hướng “Đến năm 2010, công nghiệp và xây
dựng chiếm 40-41% DGP và sử dụng 23 ~ 24% lao động” và cùng với việc “Day
nhanh công nghiệp hố, hiện đại hố nơng nghiệp và nơng thơn”” thì việc tập trungđào tạo nghề là van dé đang đặt ra cho nha nước những thách thức rất lớn.
2.2- Những phương châm và giải pháp cơ bản trong việc đào tạo ngn nhân<small>lực.</small>
Có thé nói, việc xây dựng và t6 chức thực hiện chiến lược đào tạo nghề là sự định
đoạt thơng minh và ý nghĩa cho bài tốn nhân lực trước thềm cơng nghiệp hố, hiện
đại hố và hội nhập kinh tế quốc tế và trách nhiệm của nhà nước. Việc đào tạonguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp cơng nghiệp hố, hiện đại hố, đồng thời đápứng u cầu hội nhập và tồn cầu hố kinh tế phải được thực hiện theo những<small>phương châm căn bản, đó là:</small>
<small>- Cân phải cơ câu một cách hợp lý việc đào tạo nguôn nhân lực.</small>
Việc cơ cấu nguồn nhân lực phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững và hợp ly
về ty lệ trình độ trong cơ cấu giáo dục và đào tạo. Muốn vậy, việc phê duyệt mởtrường dai học, cao đăng chuyên nghiệp, các trường dạy nghề phải được xem xéttrong tổng thể các quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Cần chấm dứthiện tượng cho phép mở các trường đại học, cao đăng một cách tràn lan, thậm chí
<small>> Đảng CSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG Hà Nội 2001, Tr.159° Sách đã dẫn, Tr.160</small>
<small>” Sách đã dẫn, Tr. 210Š Sách da dẫn Tr, 175</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">cho ca những cơ sở không đủ năng lực mở trường đại học, cao đăng, Cân tính tốnnhu cau lao động trong các ngành kinh tế quốc dan dé quy hoạch mạng lưới các
trường dạy nghé. Đồng thời khuyến khích các tơ chức, cá nhân tham gia dao taonghề.
- Cần “Coi trọng dao tạo đội ngũ công nhân tay nghề cao, kỹ sư thực hành và nhà
kinh doanh giỏi. Ưu tiên đào tạo nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp và nông
thôn, miễn núi, xuất khẩu lao động, một số ngành mũi nhon.”” Dao tao nguồn nhân
lực không chỉ tập trung ở việc đào tạo các lao động ở trình độ cao mà cần tập trungnguồn lực cho việc dao tạo đội ngũ những người lao động có trình độ thực hànhgidl, truc tiép tham gia vào hoạt động san xuất, kinh doanh. Cần tập trung nâng tý lệcông nhân kỹ thuật ở tất cả các ngành kinh tế quốc dân nhằm đáp ứng yêu cầu ngàycàng cao về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp.
- Cần thiết kế các chương trình mục tiêu quốc gia và tập trung các nguồn lực nhằm
thực hiện tốt các chương trình đó. Chính phủ cần chỉ đạo các Bộ, Ngành và địaphương xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn lực trong tổng thể quyhoạch, kế hoạch phát triển ngành, địa phương. Điều đáng quan tâm nhưng chưađược chú trọng thực sự là việc quy hoạch, đầu tư và phát triển các cơ sở dạy nghề.
Hiện tai, việc quy hoạch mạng lưới các trường Đại hoc, Cao đăng đang được quan<small>tâm và đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch. Cịn việc quy hoạch mạng lưới các</small>
trường dạy nghề mới được đưa vào văn bản của Bộ trưởng Bộ Lao động — Thuongbinh và Xã hội nhưng chưa rõ ràng. °
2.3- Trách nhiệm của nhà nước trong lĩnh vực đào tạo nghé
Dao tạo nghề là một khâu trong toàn bộ hoạt động phát triển nguồn nhân lực. So vớicác lĩnh vực đào tạo đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp, đào tạo nghềđược xem là lĩnh vực khiêm tốn. Cho dù là đào tạo ra những kỹ sư thực hành haynhững người lao động có trình độ cao đăng, trung cấp nghề thì các hoạt động dạynghề vẫn thường bị coi là hoạt động “tầm thấp”.
- Chính phủ cần tập trung nghiên cứu thiết kế chương trình mục tiêu quốc gia vớimột số nội dung chủ yếu như sau: nghiên cứu xây dựng và đầu tư cho các trường,cơ sở dạy nghề theo hướng hiện đại hoá, theo hướng hội nhập và chuẩn hố trình độdao tạo; khuyến khích đầu tu dạy nghề doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là địa chỉ
dạy nghề mang tính thực tiễn, thích ứng và năng động; xây dựng cơ chế quan hệdoanh nghiệp — cơ sở đảo tạo nghề một cách chặt chẽ, trong đó doanh nghiệp va cơ
<small>? Sách đã dẫn, Tr. 203</small>
<small>'° Xem Quyết định số 06/2006/QD-BLDTBXII ngày 2/8/2006 về sua đôi, bô sung một số điều trong Quy định vé thu</small>
<small>tục thành lập và dang ky hoạt động day nghề doi với trường cao đăng nghệ, trung cap nghé ban hành kèm theo Quyétđịnh sô 05/2006/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2006 cua Bộ trường Bộ Lao động —Thuong binh và Xã hội.</small>
<small>tử ni</small>
<small>3</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">sở đào tạo nghé là các bạn hàng bình đăng và có kha năng bồ sung cho nhau trong
một hệ thống thống nhất về nhu cầu va cung ứng dich vụ; chuan bị tài chính và cơchế quản lý linh hoạt nhằm tô chức tốt việc thực thi các hoạt động đầu tư, phát triềncác cơ sở dạy nghề, các hoạt động đào tạo nghề trước mắt cũng như lâu dai. Canxây dựng quỹ tài chính ổn định, đáp ứng yêu cau: nhà nước cần tổ chức hỗ trợ tàichính dưới nhiều phương thức đề xây dựng các cơ sở đào tạo nghề tầm cỡ khu vựcvà quốc tê, đồng thời có chính sách tài chính, thuế hợp lý đối với các cơ sở đào tạonghề ngoài quốc doanh.
- Nhà nước cần nghiên cứu ban hành hệ thông luật pháp về đào tạo nghé. Tránh
hiện tượng “vênh” giữa các quy định về đào tạo nhân lực và giáo dục quốc dan.
Phải coi luật pháp về dao tạo nghề là một bộ phận của giáo dục quốc dân, trong đóđào tạo nghề được coi là khâu quan trọng trong chiến lược đảo tạo nhân lực phục vụcho nền kinh tế - xã hội.
- Cần có chính sách nhằm thu hút đảo tạo nghề theo hình thức đầu tư trực tiếp củanước ngồi. Các doanh nghiệp, tơ chức, cá nhân nước ngồi có thể phối hợp hoặc tựmình mở các cơ sở đảo tạo nghề hoặc chuyên giao công nghệ đào tạo nghề nhằmnâng cấp hoạt động đào tạo nghề của nước ta.
- Bên cạnh việc xây dựng chính sách hiện đại hố dạy nghề, cần khuyến khích các
hoạt động dao tạo nghề truyền thống theo lối kèm cặp đối với các ngành nghề đặc
trưng mang tính dân tộc như chạm, kham, đan, théu...nham giữ gìn vả đây mạnh
việc sản xuất các mặt hàng truyền thong phục vụ cho các hoạt động thương mại,
<small>quảng bá văn hố...</small>
- Muốn đào tạo ngn nhân lực có chất lượng cao thì cần phải dao tạo đội ngũ giáo
viên dạy nghề giỏi lý thuyết và thực hành. Theo các ý kiến đưa ra tại cuộc hội thảovề đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao theo nhu cầu của doanh
nghiệp được tổ chức tại Trường Đại học Cơng nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày
28/10/2007 thì “số lượng giảng viên chưa đáp ứng được sự gia tăng về quy mơ
người học và cịn nhiều hạn chế về năng lực chuyên môn, kỹ năng thực hành và khảnăng sử dụng tiếng Anh”.'"
liên thơng giữa đào tạo nghề với hệ thống giáo dục quốc dân. Theo đó, cho phépvà khuyến khích đồng thời có cơ chế thu hút học sinh tốt nghiệp các trường phdthông cơ sở đến phé thơng trung học tham gia vào các chương trình đào tạo nghề.
<small>'' Diệu Hằng, Đào tạo nhân lực: cần kết hợp “3 nhà”, Báo điện tử Người Lao Động ngày 29/10/2007, cập nhật</small>
<small>01h20:31 GMT+7</small>
<small>36</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><small>Đây là một trong những kinh nghiệm của Nhật Ban khi thiết kế hệ thống giáo dụcquốc đân.</small>
<small>Bên cạnh những giải pháp thực hiện, can tô chức tuyên truyện sâu rộng và thường</small>
<small>xuyên, dong thời kiêm tra và chân chỉnh hoạt động dao tạo nhân lực nhăm đảm bảotôi đa quyền lợi của người học và cơ sở đào tạo nghé.</small>
<small>2</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">CHUYEN ĐÈ 2: THUC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DAY NGHE VÀ MUCTIEU,
GIAI PHÁP PHÁT TRIEN DẠY NGHE Ở VIỆT NAM
Nguyên Hải Cường
Chuyên viên Tổng cục dạy nghé
1. Thực trạng hoạt động dạy nghề ở Việt nam hiện nay'?
Trong những năm gần đây, nhiều văn bản quy phạm pháp luật về dạy nghề đãđược xây dựng, bổ sung, sửa đổi, ban hành. Nổi bật nhất là Luật Giáo dục 2005,Luật Dạy nghề năm 2006 đã được ban hành, tạo hành lang pháp lý dé dạy nghề phattriển trong thời kỳ mới. Trên cơ sở đó, hệ thống dạy nghề đã được phục hồi và cóbước phát triển. Dạy nghề ngày càng sát hơn với nhu cầu của thị trường lao dong,cung cấp nhân lực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các khu công nghiệp, khu chếxuất, các ngành kinh tế trọng điểm, gắn kết chặt chẽ với sản xuất và tạo việc làm(trong nước và xuất khẩu lao động), xoá đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng laođộng, bước đầu đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, góp phan chuyêndịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế.
1.1. VỀ mạng lưới cơ sở dạy nghề
Sau khi có Quyết định số 48/2002/QĐ-TTg ngày 11/4/2002 của Thủ tướngChính phủ về việc phê duyệt quy hoạch mạng lưới trường dạy nghé giai đoạn 2002-
2010 và các văn bản hướng dẫn của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội; các bộ,
ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đãxây dựng và thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy nghề. Tính đến hết 2006, cảnước đã có 40 trường cao dang nghề (3 trường tư thục), 232 trường trung cấp nghề(55 trường tư thục), 599 trung tâm dạy nghề (201 trung tâm tư thục) và hàng ngàncơ sở khác tham gia dạy nghề. Số trường dạy nghề tăng cơ bản đã xoá tinh trạngtrang trường nghề tại 15 tỉnh trên địa ban ở vùng núi phía Bắc, Tây nguyên, Đồngbang sông Cửu long. Mạng lưới cơ sở dạy nghề đã phát triển theo quy hoạch, từngbước khắc phục tình trạng mất cân đối về phân bố giữa các vùng, các ngành; sốlượng cơ sở dạy nghề tư thục tăng nhanh, các trường dạy nghề của doanh nghiệp,trong quân đội đang hình thành, đã có một số cơ sở dạy nghề có vốn đầu tư nướcngồi và một số trường trọng điểm chất lượng cao.
1.2. VỀ quy mô dạy nghề
<small>lát số iéu trong mục này được trích từ To trình về Dự án Luật dạy nghề cúa Chính phu năm 2006 và tài liệu Hội</small>
<small>nghị triên khai kê hoạch dạy nghề, việc làm và xuất khâu lao động giai đoạn 2007 -- 2010 của Bộ LD - TBXH</small>
<small>38</small>
</div>