Tải bản đầy đủ (.docx) (29 trang)

HÂN TÍCH CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI THEO QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (961.55 KB, 29 trang )

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................1
NỘI DUNG...............................................................................................................1
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG
MẠI.......................................................................................................................1
1. Khái niệm hoạt động xúc tiến thương mại.....................................................1
2. Đặc điểm của hoạt động xúc tiến thương mại................................................2
II. PHÂN TÍCH CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI THEO QUY ĐỊNH
PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ.....................................3
1. Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không
phải trả tiền.........................................................................................................4
2. Tặng hàng hố cho khách hàng, cung ứng dịch vụ khơng thu tiền................4
3. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng
dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc
thơng báo. (khuyến mại bằng hình thức giảm giá).............................................5
5. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn
người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố..................................6
6. Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang
tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa,
dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo
thể lệ và giải thưởng đã công bố........................................................................7
7. Tổ chức chương trình khách hàng thường xun, theo đó việc tặng thưởng
cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà


khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi
nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác..................................8
8. Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật,
giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.........................................9
9. Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về
thương mại chấp thuận.......................................................................................9


III. THỰC TRẠNG THI HÀNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH
THỨC KHUYẾN MẠI......................................................................................10
IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP
LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI..............................................11
KẾT LUẬN.............................................................................................................12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..............................................................13
CHÚ THÍCH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT.............................................................15
PHỤ LỤC................................................................................................................22


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LTM

Luật Thương Mại năm 2005


MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ như ngày nay, ngoài việc
nâng cao chất lượng mẫu mã sản phẩm, các thương nhân phải tích cực hơn trong
các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm đẩy mạnh khâu tiêu thụ sản phẩm.
Khuyến mại là một trong những biện pháp đạt hiệu quả hàng đầu trong việc đưa
sản phẩm đến tay người tiêu dùng thơng qua những hình thức vô cùng đa dạng.
Nhận thấy được tầm quan trọng đó, bởi vậy, trong bài tiểu luận này em xin được
trình bày về đề tài số 22. Trong quá trình làm bài có thể có những sai sót, em rất
mong các thầy cơ có thể bỏ qua cho em và em rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của thầy cô để em học thêm được nhiều kinh nghiệm và sẽ hồn thiện tốt hơn về
nhận thức của mình đối với môn Luật Thương Mại 2. Em xin chân thành cảm ơn.
NỘI DUNG
I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI.
1. Khái niệm hoạt động xúc tiến thương mại.

Cạnh tranh là vấn đề tất yếu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Trong cuộc ganh đua đó, các doanh nghiệp sử dụng mọi biện pháp để tìm kiếm,
thúc đẩy cơ hội bán hàng và cung ứng dịch vụ như tuyên truyền, giới thiệu hàng
hóa dịch vụ, giảm giá, phát quà,… Các hoạt động này được gọi là xúc tiến thương
mại và là một quá trình tất yếu mà doanh nghiệp tiến hành để đáp ứng nhu cầu cạnh
tranh. Quá trình này do thương nhân tự tổ chức thực hiện hoặc thông qua dịch vụ
xúc tiến thương mại do thương nhân khác cung ứng.
Ở góc độ kinh tế, xúc tiến thương mại là tất cả các biện pháp có tác động
khuyến khích phát triển thương mại. Ở góc độ pháp lí, xúc tiến thương mại là hoạt
động thương mại do thương nhân thực hiện để thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ, cơ hội đầu tư. Các hoạt động xúc tiến thương mại
được pháp luật quy định bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại,
trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại.
1


Theo định nghĩa khái niệm tại khoản 10 điều 3 LTM 2005 thì “Xúc tiến
thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hố và cung ứng
dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới
thiệu hàng hoá, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại.” Định nghĩa này bao
hàm một nhóm hoạt động thương mại của thương nhân với cùng một mục đích là
thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ.1
2. Đặc điểm của hoạt động xúc tiến thương mại.
Về tính chất: Xúc tiến thương mại là hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lời



và thường do thương nhân thực hiện. Tuy nhiên, khác biệt với các loại hoạt động
thương mại khác, xúc tiến thương mại có ý nghĩa hỗ trợ cho hoạt động mua bán
hàng hoá, cung ứng dịch vụ hay các hoạt động thương mại có mục đích sinh lời

khác, tạo cơ hội khuyến khích, thúc đẩy các hoạt động này thực hiện với hiệu quả
cao nhất.


Về chủ thể: Do xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng
hoá và cung ứng dịch vụ, nên chủ thể thực hiện nó chủ yếu là thương nhân (người
bán hàng, người cung ứng dịch vụ hoặc là người kinh doanh dịch vụ xúc tiến
thương mại). Tuy nhiên, do đặc thù của các hình thức xúc tiến thương mại, có
những tổ chức, cá nhân (khơng phải là thương nhân) cũng tham gia vào hoạt động
này như người phát hành quảng cáo (ví dụ: cơ quan báo chí trong quan hệ phát
hành sản phẩm quảng cáo) hay người cho thuê phương tiện quảng cáo... Họ trở
thành chủ thể tham gia vào hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân và là
"các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động thương mại", chịu sự điều chỉnh
của LTM.



Về đối tượng tác động: đối tượng tác động của hoạt động xúc tiến thương mại là
khách hàng, bao gồm khách hàng tiềm năng cũng như khách hàng đã và đang có
quan hệ mua bán hàng hóa hay cung ứng dịch vụ với thương nhân xúc tiến thương
mại. Khách hàng có thể là người tiêu dùng hay đối tác thương mại của thương
1

Phan Huy Hồng (2020), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hóa và dịch vụ, Trường Đại học Luật Thành phố
Hồ Chí Minh, Nxb. Hồng đức – Hội Luật gia Việt Nam.

2


nhân. Đối tác thương mại của thương nhân có thể là thương nhân mua bán hàng

hóa hay cung ứng hoặc sử dụng dịch vụ cho chính hoạt động thương mại của họ
hoặc là thương nhân làm trung gian thương mại như các nhà đại lý hay phân phối.


Về mục đích: Xúc tiến thương mại nhằm mục đích tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư kích thích nhu cầu của khách hàng, tác
động tới thái độ và hành vi mua sắm của khách hàng để thơng qua đó, thỏa mãn
nhu cầu lợi nhuận của thương nhân. Xúc tiến thương mại không phải là quan hệ
trao đổi hàng hóa, dịch vụ mà chỉ tạo ra cơ hội cho việc mua bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ.



Về cách thức xúc tiến thương mại: Do có đối tượng áp dụng luật thương mại chủ
yếu là thương nhân nên pháp luật thương mại chỉ quy định các cách thức xúc tiến
thương mại do thương nhân tiến hành, bao gồm việc thương nhân tự mình xúc tiến
thương mại hoặc thuê thương nhân khác thực hiện dịch vụ xúc tiến thương mại cho
mình, với các hoạt động cụ thể: khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển lãm thương
mại, trưng bày, giới thiệu hàng hố, dịch vụ.2

II. PHÂN TÍCH CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI THEO QUY ĐỊNH PHÁP
LUẬT HIỆN HÀNH VÀ LIÊN HỆ THỰC TẾ.
Theo quy định tại khoản 1 điều 88 LTM năm 2005 thì “Khuyến mại là hoạt
động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá,
cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.” Hình
thức khuyến mại cũng rất đa dạng. Khách hàng có thể được giảm giá, được nhận
quà tặng, phần thưởng hay phiếu mua hàng có ưu đãi, được tặng thêm hàng hóa khi
mua lượng hàng nhất định hay được chiết giá đối với khách hàng là đại lí hay
người bán lẻ mua số lượng nhiều… Việc dành cho khách hàng những lợi ích nhất
định để tác động tới thái độ và hành vi mua bán của họ là đặc trưng của khuyến mại

phân biệt với các hình thức xúc tiến thương mại khác. 3 Hiện nay, pháp luật đã quy
định về các hình thức khuyến mại tại Điều 92 LTM năm 2005.
2

Nguyễn Viết Tý (2019), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam tập 2, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Tư pháp.
Nguyễn Thị Dung (2007), Pháp luật về khuyến mại - Một số vướng mắc về lý luận và thực tiễn, Luật học (7),
Trường Đại học Luật Hà Nội, tr: 8 – 15.
3

3


1. Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không
phải trả tiền.
Theo quy định tại Điều 8 Nghị định 81/2018/NĐ-CP thì “hàng mẫu đưa cho
khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thử phải là hàng hóa,
dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang, đã hoặc sẽ bán, cung
ứng trên thị trường”. Thương nhân áp dụng hình thức khuyến mại này khi khách
hàng được sử dụng hàng hóa mẫu dưới dạng đóng gói với một khối lượng hay thể
tích nhỏ hơn hàng hóa thương mại và thế hiện trên bao bì dịng chữ “hàng mẫu
khơng bán" hoặc tương tự. Pháp luật không đưa ra hạn chế nào về mặt thời gian áp
dụng chương trình khuyến mại hay giá trị khuyến mại đối với hình thức này. Việc
khuyến mại bằng hàng mẫu nhằm mục đích thăm dị thị trường, tạo thói quen cho
người tiêu dùng với sản phẩm, để họ kiểm tra chất lượng hàng hóa, dịch vụ.
Ví dụ: Với mong muốn giới thiệu sản phẩm mới đến khách hàng, nhãn hàng
Selsun thực hiện chương trình “Tư vấn và nhận mẫu thử dầu gội chống gàu
Selsun” được thực hiện tại các siêu thị, chợ, cao ốc văn phòng, khu cơng nghiệp
ở TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phịng, Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Nguyên,
Thanh Hóa, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An từ ngày 21/06/2019 đến 31/07/2019.4
2. Tặng hàng hố cho khách hàng, cung ứng dịch vụ khơng thu tiền.

Điều 9 Nghị định 81/2018/NĐ-CP quy định về hình thức khuyến mại tặng
hàng hóa, cung ứng dịch vụ khơng thu tiền. Thương nhân được phép tặng hàng hoá,
cung ứng dịch vụ cho khách hàng không thu tiền để thực hiện mục tiêu xúc tiến
thương mại. Tặng quà thường đuợc thực hiện đối với khách hàng có hành vi mua
sắm hàng hoá hoặc sử dụng dịch vụ của thương nhân. Hàng hố, dịch vụ dùng làm
q tặng có thể là hàng hoá, dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc là hàng
hoá, dịch vụ của thương nhân khác. Việc tặng q trong trường hợp này khơng chỉ
có ý nghĩa thúc đẩy hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ, mà còn là cơ hội để thương
nhân quảng cáo, giới thiệu về hàng hoá, dịch vụ của nhau. Tuy giá trị quà tặng hàng
4

/>
4


hóa, giá trị dịch vụ mà thương nhân dành cho khách hàng không bị han chế về định
mức. Tuy nhiên, theo Khoản 2 Điều 6 Nghị đinh 81/2018/NĐ-CP thì tổng giá trị
của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại trong một chương trình khuyến mại
khơng được vượt q 50% tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại. Quy
định có mục đich vừa bảo đảm tính chủ động cho thương nhân thực hiện khuyến
mại, vừa ngăn ngừa hành vi bán phá giá nhằm cạnh tranh không lành mạnh thơng
qua viêc tặng hàng hóa cho khách hàng.
Ví dụ: cơng ty sữa Vinamilk triển khai chương trình khuyến mại “Tặng 1
hộp khi mua 2 lốc sữa Vinamilk ADM Gold” trên toàn quốc từ 9/11/2018 đến
30/11/2018 hoặc đến khi hết quà khuyến mại.5
3. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch
vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thơng
báo. (khuyến mại bằng hình thức giảm giá)
Giảm giá là hành vi bán hàng, cung ứng dịch vụ trong thời gian khuyến mại
với giá thấp hơn giá bán, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước đó, được áp dụng

trong thời gian khuyến mại mà thương nhân đã đăng kí hoặc thơng báo. Nếu hàng
hố, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lí giá thì việc khuyến mại theo hình thức
này thực hiện theo quy định của Chính phủ. Khi khuyến mại theo cách thức này, để
đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh, chống hành vi bán phá giá, luật pháp
thường có quy định giới hạn mức giảm giá. Việc giới hạn này là cần thiết để đảm
bảo lợi ích của người tiêu dùng, khách hàng và của thương nhân khác, bởi những
đợt giảm giá sâu, trong thời gian dài có thể dẫn tới khó khăn, khủng hoảng của
thương nhân ở cùng thị trường liên quan.
Ví dụ: “Ngày hội khuyến mại du lịch” năm 2020 do Trung tâm Xúc tiến Đầu
tư -Thương mại - Du lịch Hà Nội (HPA) tổ chức diễn ra tại khu nhà Bát giác Vườn hoa Lý Thái Tổ từ ngày 30/10 - 1/11, Vietravel giảm tới 40% cho các dịch vụ
5

/>
5


du lịch trong nước bao gồm: Tour trọn gói, combo vé máy bay + phòng khách sạn 4
- 5 sao; tour du thuyền và các hành trình liên tuyến, tour mới.6
4. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch
vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.
Khi khách hàng mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ với một số lượng nhất định
sẽ được phát phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất,
cung ứng dịch vụ phát hành hoặc để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của
thương nhân, tổ chức khác nhằm khuyến khích mua hàng, tiêu thụ hàng hóa, dịch
vụ một cách thường xuyên. Phiếu mua hàng thường có ý nghĩa giảm giá hoặc có
mệnh giá nhất định để thanh toán cho những lần mua sau trong hệ thống bán hàng
của thương nhân. Phiếu sử dụng dịch vụ có thế cho phép sử dụng dịch vụ miễn phí,
theo điều kiện do nhà cung ứng dịch vụ đưa ra. Theo điều 11 Nghị định
81/2018/NĐ-CP, giá trị tối đa của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ được
tặng kèm theo một đơn vị hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng trong thời

gian khuyến mại không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được
khuyến mại đó trước thời gian khuyến mại. Bên cạnh đó, nội dung phiếu mua hàng,
phiếu sử dụng dịch vụ cũng phải tuân thủ theo quy định tại điều 97 LTM năm
2005.
Ví dụ: Với mục đích tri ân khách hàng nhân dịp sinh nhật, Salon tóc Sinh
Anh gửi tặng khách hàng phiếu sử dụng dịch vụ chăm sóc tóc trị giá 200.000 đ.
Chương trình áp dụng đối với tất cả các khách hàng sử dụng dịch vụ tại Sinh Anh
và được nhận phiếu sử dụng dịch vụ từ ngày 01/7/2018 đến 31/7/2018.
5. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn
người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã cơng bố.
Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng
là hình thức khuyến mại nhằm chọn người trao giải thưởng theo thể lệ và giải
6

/>
6


thưởng đã công bố, nâng cao hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm, đồng thời
giúp các cơ sở sản xuất và phân phối đánh giá đúng nhu cầu, mức độ quan tâm của
khách hàng đối với hàng hóa, dịch vụ của mình, từ đó đưa ra những chiến lược kinh
doanh phù hợp. Khi thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức này, thương
nhân thực hiện khuyến mại phải tổ chức thi công khai, phải trao giải thưởng theo
thể lệ, giải thưởng mà mình đã cơng bố và có sự chứng kiến của đại diện khách
hàng và phải được thông báo cho Sở Công thương nơi tổ chức thi, mở thưởng.
Trường hợp chương trình khuyến mại có tổng giá trị giải thưởng dưới 100 triệu
đồng thì thương nhân không phải thông báo cho Sở Công thương theo quy định.
Thương nhân thực hiện khuyến mại phải tổ chức thi và trao giải thưởng theo thể lệ
và giải thưởng đã công bố. Việc mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ chỉ mang lại cho
khách hàng quyền dự thi chờ cơ hội nhận giải thưởng do thương nhân trao tặng.

Nội dung của phiếu dự thi phải bao gồm các thông tin liên quan được quy định tại
Điều 97 LTM 2005.
Ví dụ: Với mong muốn tiếp thu phản hồi của khách hàng, qua đó cải thiện
chất lượng sản phẩm ngày một tốt hơn, từ ngày 30/07/2020 đến ngày 28/10/2020,
Honda Việt Nam triển khai chương trình “Thăm dị ý kiến khách hàng tháng
10/2020” trên phạm vi tồn quốc. Tại chương trình lần này, các khách hàng mua xe
Honda Việt Nam và trả lời phiếu dự thi bằng giấy hoặc qua trang thông tin điện
tử được gửi về Văn phòng của Honda Việt Nam và sẽ có cơ hội nhận được những
phần q vơ cùng hấp dẫn.7
6. Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang
tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa,
dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo
thể lệ và giải thưởng đã cơng bố.
Hình thức này đánh vào tâm lý của những người muốn thử vận may để tạo ra
những lợi ích về mặt kinh tế cho cá nhân, tổ chức áp dụng hình thức khuyến mại
7

/>
7


này. Việc tạo được sự hấp dẫn đối với người tiêu dùng và giải thưởng càng lớn thì
sự hấp dẫn càng cao, hiệu quả khuyến mại cao thì việc tiêu thụ sản phẩm, sử dụng
dịch vụ càng đạt được hiệu quả. Việc xác định trúng thưởng trong chương trình
khuyến mại mang tính may rủi phải được tổ chức cơng khai, theo thể lệ đã cơng bố,
có sự chứng kiến của khách hàng và phải được lập thành biên bản. Trong trường
hợp bằng chứng xác định trúng thưởng được phát hành kèm theo hàng hóa, thương
nhân thực hiện khuyến mại phải thông báo về thời gian và địa điểm thực hiện việc
phát hành kèm theo bằng chứng xác định trúng thưởng vào hàng hóa cho cơ quan
nhà nước có thẩm quyền trước khi thực hiện. Bằng chứng xác định trúng thưởng

của chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải tn thủ một số các điều kiện.
Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại mang tính may rủi phải trích 50%
giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong trường hợp khơng có
người trúng thưởng.8
Ví dụ: Chương trình khuyến mại “Bật nắp ngay trúng triệu lộc vàng” áp
dụng cho sản phẩm Bia Hà Nội Vàng trong thời gian từ ngày 01/11/2021 đến hết
ngày 28/02/2022.9
7. Tổ chức chương trình khách hàng thường xun, theo đó việc tặng thưởng cho
khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách
hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận
sự mua hàng hố, dịch vụ hoặc các hình thức khác.
Hình thức khuyến mại này thường được các nhà phân phối bán buôn và bán
lẻ thực hiện, nhằm thu hút khách hàng đến mua sắm hay sử dụng dịch vụ thường
xuyên tại cơ sở kinh doanh của mình, bởi lợi ích mà khách hàng tích lũy được qua
mỗi lần mua sắm, sử dụng dịch vụ thơng thường dưới hình thức thẻ khách hàng,
phiếu ghi nhận sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức khác. Hình thức này
nhằm tri ân các khách hàng thường xuyên mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ cung cấp
8

Vũ Phương Đơng (2020), Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, Bộ Tư pháp, trường Cao đẳng Luật miền Trung,
Nxb. Tư pháp.
9
/>
8


để từ đó được hưởng những ưu đãi nhất định. Lợi ích mà khách hàng nhận được
thơng qua khuyến mại là lợi ích vật chất hoặc phi vật chất. Thương nhân thực hiện
khuyến mại phải tuân thủ quy định về thông báo các thông tin liên quan tại Điều 97
Luật thương mại năm 2005, có trách nhiệm xác nhận kịp thời, chính xác sự tham

gia của khách hàng vào chương trình khách hàng thường xuyên. Hình thức này đã
được quy định cụ thể ở Điều 14 Nghị định 81/2018/NĐ-CP, trong đó có quy định
về nội dung thơng tin được thể hiện và lưu trữ trên thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận
sự mua hàng hóa, dịch vụ hoặc các hình thức tương đương.
Ví dụ: Thẻ khách hàng thường xuyên của Pico Plaza, thẻ thành viên sau mỗi
lần mua hàng trị giá 500.000đ tại Pico, khách hàng có cơ hội tích được một điểm.
Nếu khách hàng tích lũy được 50 điểm sẽ được cấp thẻ Vàng, 100 điểm sẽ được
cấp thẻ kim cương,… tùy theo loại thẻ, khách hàng còn được giảm giá khi thanh
tốn, miễn phí tiền cơng sửa chữa, bảo dưỡng các sản phẩm điện máy trong gia
đình,…
8. Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải
trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.
Khuyến mại bằng hình thức này là việc tổ chức các sự kiện đặc biệt thu hút
khách hàng qua đó quảng cáo sản phẩm tạo sân chơi giải trí cho người tiêu dùng đã
sử dụng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Khi tổ chức khuyến mại bằng hình
thức này thi thương nhân cần phải tơn trọng, tn thủ các quy định của pháp luật
liên quan trong các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cũng như tuân thù pháp luật
khuyến mại, đảm bảo không gây hại đến thuần phong mỹ tục, văn hóa, an ninh trật
tư xä hội.
Ví dụ: sự kiện như đoàn diễu hành mang sản phẩm đi quanh các phố chính;
tổ chức người thuyết minh về sản phẩm tại các siêu thị, khu mua sắm.

9


9. Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về
thương mại chấp thuận.
Gói hàng chung là một cách đảm bảo cho người tiêu dùng tiết kiệm được một
số tiền so với giá bình thường của một sản phẩm được ghi trên nhãn hiệu hay bao
bì. Gói hàng chung rất có hiệu quả đối với việc kích thích tiêu thụ ngắn hạn. Ví dụ:

mua 3 đôi tất được tặng 1 đôi.
Quà tặng quảng cáo là hình thức sử dụng những vật phẩm có ích và rẻ để
tặng khách hàng triển vọng và khách hàng hiện tại mà ở trên đó có ghi tên, địa chỉ
hay thơng điệp quảng cáo của doanh nghiệp. Ví dụ: Hãng máy tính Asus tặng túi
đựng laptop có in thương hiệu Asus.
Khuyến mại trực tuyến: Thương nhân khi thực hiện các hoạt động, chương
trình khuyến mại trong đó q trình thực hiện có sử dụng mạng internet, phương
tiện điện tử, ứng dụng công nghệ thông tin hoặc các phương tiện, công cụ khác
phải tuân thủ quy định về khuyến mại của LTM năm 2005, Nghị định số
81/2018/NĐ-CP.10
III. THỰC TRẠNG THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÌNH
THỨC KHUYẾN MẠI.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được khi thực hiện các hình thức khuyến
mại, thì hiện nay trên thực tế vẫn cịn tồn tại một số bất cập trong q trình thực
hiện các hình thức khuyến mại như:
Thứ nhất, việc phân định hình thức khuyến mại nào là hình thức khuyến mại
đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu không phải trả tiền, hình thức nào là hình
thức tặng hàng hóa cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền kèm theo việc
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cịn gặp khó khăn trong việc hiểu và áp dụng.
Thứ hai, quy định thương nhân phải trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố
vào ngân sách nhà nước trong trường hợp khơng có người trúng thưởng là khơng
10

Vũ Phương Đơng (2020), Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, Bộ Tư pháp, trường Cao đẳng Luật miền Trung,
Nxb. Tư pháp.

10


đảm bảo quyền lợi của thương nhân hoạt động khuyến mại. Khi doanh số bán hàng

không đạt dự kiến mà thương nhân lại mất chi phí dành cho khuyến mại thì rõ ràng
lợi ích kinh doanh của họ đã khơng được đảm bảo. Ngoài ra, nhiều rắc rối khác
cũng nảy sinh, như hàng hoá khuyến mại là hiện vật, nộp ngân sách lại tính bằng
giá trị mà giá mua vào, giá bán lại hiện vật đó sẽ khác nhau, chưa kể chi phí cần
thiết cho việc mua, bán đó.
Thứ ba, trong thực tế, nếu như việc giảm giá để tiêu thụ hàng hố có thể làm
nảy sinh hiện tượng bán phá giá thì việc nâng giá để thu mua, gom hàng cũng có
thể làm xuất hiện những nguy cơ đáng kể cho hoạt động kinh doanh của thương
nhân trong cùng lĩnh vực hoạt động.11
Thứ tư, quy định của pháp luật về trách nhiệm của thương nhân khuyến mại
chưa thật sự đầy đủ để đảm bảo lợi ích của khách hàng. Trong thực tế, khách hàng
là người phải chịu thiệt thòi do những gian lận trong khuyến mại, do các sai sót kĩ
thuật trong in ấn tem, phiếu, vật phẩm có chứa đựng thơng tin về lợi ích vật chất
mà khách hàng được hưởng trong đợt khuyến mại.
IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HỒN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI.
Thứ nhất, các cơ quan có thẩm quyền cần phải ban hành văn bản để hướng
dẫn về cách phân biệt giữa hình thức đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu khơng
phải trả tiền và hình thức tặng hàng hóa cho khách hàng cung ứng dịch vụ khơng
thu tiền khơng kèm theo việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, nhằm giúp các
cơ quan có thẩm quyền dễ quản lý, phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi
khuyến mại vi phạm pháp luật.
Thứ hai, sửa đổi quy định thương nhân phải nộp 50 % giá trị giải thưởng đã
công bố vào ngân sách nhà nước trong trường hợp khơng có người trúng thưởng để
đảm bảo tốt hơn quyền lợi của các thương nhân. Thay vào đó, để hạn chế tình trạng
11

Nguyễn Thị Dung (2007), Pháp luật về khuyến mại - Một số vướng mắc về lý luận và thực tiễn, Luật học (7),
Trường Đại học Luật Hà Nội, tr: 8 - 15.


11


gian lận trong hoạt động khuyến mại bằng hình thức trao thưởng, cần tăng cường
vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm tra, giám sát và xử lí thích
đáng đối với người vi phạm.
Thứ ba, hồn thiện quy định pháp luật phù hợp với thực tiễn giúp nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp và xây dựng được môi trường cạnh tranh
lành mạnh, loại bỏ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ra khỏi thị trường.
Thứ tư, xây dựng và bổ sung các hình thức chế tài và nâng cao mức phạt đối
với các hành vi vi phạm trong hoạt động khuyến mại nói chung, xúc tiến thương
mại nói riêng. Các cơ quan có thẩm quyền ban hành pháp luật cần nghiên cứu sửa
đổi, bổ sung các quy định hiện hành theo hướng tăng cường các hình thức chế tài
đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động xúc tiến thương mại. Từ đó có tính răn
đe cao, hạn chế hành vi vi phạm.
Thứ năm, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về hàng hóa,
dịch vụ. Việc nâng cáo nhận thức của người tiêu dùng giúp họ không rơi vào tình
huống là người bị hại trước những hoạt động khuyến mại không lành mạnh, gian
dối, vi phạm pháp luật. 12
KẾT LUẬN
Với một nền kinh tế phát triển bền vững, thị trường trong nước ln đóng vai
trị trụ cột. Hoạt động xúc tiến thương mại thương mại nói chung và hoạt động
khuyến mại nói riêng có ý nghĩa lí luận và thực tiễn sâu sắc trong việc kích cầu tiêu
dùng hàng hóa và dịch vụ. Pháp luật về các hình thức khuyến mại bên cạnh những
thành tựu cũng còn tồn tại nhiều bất cập cần tiếp tục được nghiên cứu, hồn thiện
góp phần tạo mơi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của thương nhân
và người tiêu dùng.

12


Đinh Thị Thuỳ Linh (2019), Pháp luật về các hình thức khuyến mại - Thực tiễn thi hành tại địa bàn thành phố Hà
Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

12


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Thương mại năm 2005.
2. Nghị định số 81/2018/NĐ-CP quy định chi tiết luật thương mại về hoạt động xúc
tiến thương mại.
3. Nguyễn Viết Tý (2019), Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam tập 2, Trường Đại
học Luật Hà Nội, Nxb. Tư pháp.
4. Nguyễn Thị Dung (2020), Hướng dẫn môn học Luật thương mại Tập 2, Trường
Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Lao động.
5. Vũ Phương Đơng (2020), Giáo trình Luật thương mại Việt Nam, Bộ Tư pháp,
trường Cao đẳng Luật miền Trung, Nxb. Tư pháp.
6. Nguyễn Thị Dung (2006), Pháp luật về xúc tiến thương mại trong nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam - Lý luận, thực tiễn và giải pháp hoàn thiện, Luận án tiến sĩ luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
7. Doãn Thị Thục Anh (2019), Pháp luật về các hình thức khuyến mại - Thực tiễn thi
hành tại Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
8. Đinh Thị Thuỳ Linh (2019), Pháp luật về các hình thức khuyến mại - Thực tiễn thi
hành tại địa bàn thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội.
9. Phùng Mạnh Cường (2019), Pháp luật về các hình thức khuyến mại – Thực tiễn thi
hành tại tỉnh Lào Cai, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
10.Nguyễn Hồng Thúy (2018), Pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá, Luận văn
thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
11.Phan Thị Liên (2016), Pháp luật về các hình thức khuyến mại và thực tiễn thi hành
tại tỉnh Quảng Bình, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

12.Tạ Thị Thùy Trang (2013), Pháp luật về hình thức khuyến mại giảm giá một số vấn
đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.

13


13.Nguyễn Thị Dung (2007), Pháp luật về khuyến mại - Một số vướng mắc về lý luận
và thực tiễn, Luật học (7), Trường Đại học Luật Hà Nội, tr: 8 - 15.
14.Nguyễn Thị Dung (2005), Pháp luật về xúc tiến thương mại của thương nhân - khái
niệm, nội dung và các yếu tố chi phối, Luật học (6), Trường Đại học Luật Hà Nội,
tr. 22 - 27.
15. truy cập ngày 26/12/2021.
16. truy cập ngày 26/12/2021.
17. truy cập ngày 26/12/2021.
18. truy cập ngày 26/12/2021.
19. />truy cập ngày 26/12/2021.

14


CHÚ THÍCH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
LUẬT THƯƠNG MẠI NĂM 2005
Điều 92. Các hình thức khuyến mại
1. Đưa hàng hố mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử khơng phải
trả tiền.
2. Tặng hàng hố cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền.
3. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch
vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo.
Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến
mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

4. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ
để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.
5. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người
trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.
6. Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính
may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và
việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải
thưởng đã cơng bố.
7. Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho
khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách
hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự
mua hàng hố, dịch vụ hoặc các hình thức khác.
8. Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí
và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.
15


9. Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương
mại chấp thuận.

NGHỊ ĐỊNH 81/2018/NĐ-CP
Điều 8. Đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không
phải trả tiền
1. Hàng mẫu đưa cho khách hàng, dịch vụ mẫu cung ứng cho khách hàng dùng thử
phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp mà thương nhân đang hoặc
sẽ bán, cung ứng trên thị trường.
2. Khi nhận hàng mẫu, dịch vụ mẫu, khách hàng không phải thực hiện bất kỳ nghĩa
vụ thanh tốn nào.
3. Thương nhân thực hiện chương trình khuyến mại theo hình thức đưa hàng mẫu,
cung ứng dịch vụ mẫu phải chịu trách nhiệm về chất lượng của hàng mẫu, dịch vụ

mẫu và phải thông báo cho khách hàng đầy đủ thông tin liên quan đến việc sử
dụng hàng mẫu, dịch vụ mẫu.
Điều 9. Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền
Thương nhân thực hiện khuyến mại tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ khơng thu
tiền theo cách thức sau:
1. Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ khơng thu tiền có kèm theo việc mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ;
2. Tặng hàng hóa, cung ứng dịch vụ không thu tiền không kèm theo việc mua bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Điều 10. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, cung ứng
dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã thơng báo
(khuyến mại bằng hình thức giảm giá)
16


1. Trong trường hợp thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá thì mức giảm
giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại trong thời gian khuyến mại tại bất kỳ
thời điểm nào phải tuân thủ quy định tại Điều 7 Nghị định này.
2. Không được giảm giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ trong trường hợp giá
bán hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước định giá cụ thể.
3. Khơng được giảm giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ xuống thấp hơn mức
giá tối thiểu trong trường hợp giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ thuộc diện
Nhà nước quy định khung giá hoặc quy định giá tối thiểu.
4. Nghiêm cấm việc lợi dụng hình thức khuyến mại này để bán phá giá hàng hóa,
dịch vụ.
5. Tổng thời gian thực hiện khuyến mại bằng hình thức giảm giá đối với một loại
nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ khơng được vượt q 120 ngày trong một năm, không
bao gồm thời gian thực hiện khuyến mại của các chương trình khuyến mại bằng
hình thức giảm giá trong khn khổ các chương trình khuyến mại tập trung và
các chương trình, hoạt động xúc tiến thương mại do Thủ tướng Chính phủ quyết

định.
Điều 11. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử
dụng dịch vụ
1. Phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ kèm theo hàng hóa được bán, dịch vụ
được cung ứng là phiếu để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của chính
thương nhân đó hoặc để mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ của thương nhân,
tổ chức khác.
2. Giá trị tối đa của phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ được tặng kèm theo
một đơn vị hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng trong thời gian khuyến mại
phải tuân thủ quy định hạn mức tối đa về giá trị vật chất dùng để khuyến mại quy
định tại Điều 6 Nghị định này.
17



×