1.MỞ ĐẦU
1 .1 Lí do chọn đề tài:
Tiếng Việt ở bậc Tiểu học có vị trí hết sức quan trọng cùng với mơn Tốn và
các mơn khác nó góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu
của nhân cách con người là nền móng cho nền khoa học .
Trong giai đoạn hiện nay, việc đổi mới nội dung và phương pháp dạy học là
rất cần thiết nhằm phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh Tiểu học. Trong
giảng dạy Tiếng việt ở Tiểu học, việc dạy học sinh cảm thụ văn học góp một phần
rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển cái đẹp trong tâm hồn của học
sinh. Để trau dồi năng lực môn Tiếng Việt cho HS tiểu học nói chung và học sinh
lớp 3 nói riêng, người giáo viên phải quan tâm đến nhiệm vụ bồi dưỡng và nâng cao
năng lực văn học cho các em.
Cảm thụ văn học nó khơng phải học trong phạm vi một bài, một chương, một
lớp mà nó được sử dụng liên tục ở các bài sau, chương sau và các lớp sau và cịn
được sử dụng trong thực tiễn hàng ngày. Vì vậy, yêu cầu rèn luyện về cảm thụ văn
học như trau dồi hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn, hay yêu cầu tích lũy vốn hiểu
biết về thực tế cuộc yêu cầu nắm vững kiến thức cơ bản về Tiếng Việt, yêu cầu rèn
luyện kĩ năng viết đoạn văn về cảm thụ văn học.
Qua nghiên cứu SGK, SGV Tiếng Việt lớp 3, tơi thấy cần hình thành choHS
năng lực cảm thụ văn học thông qua hệ thống bài tập, yêu cầu đặt ra cho HS tập
viết các bài văn hay, học tốt các giờ luyện từ và câu, luyện về cảm thụ văn học qua
các giờ tập đọc các tiết Tiếng Việt để học sinh trở thành những công dân có ích cho
xã hội.
Vậy làm thế nào để giúp HS hình thành khả năng cảm thụ văn học và phát
huy tính sáng tạo, kích thích niềm say mê học mơn Tiếng Việt cho HS lớp 3 là lí do
tơi chọn đề tài:“Một số kinh nghiệm dạy học cảm thụ văn học cho học sinh lớp 3”.
1.2.Mục đích nghiên cứu :Nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích :
- Tìm hiểu một cách đầy đủ nội dung phương pháp hướng tập luyện và cảm
thụ văn học.nghiên cứu làm sáng tỏ 1 số khó khăn về q trình cảm thụ văn học cho
1/24
học sinh trong dạy Tiếng Việt theo chương trình hiện hành.Trên cở đó đề ra 1 số
biện pháp cụ thể , mở rộng về sự hiểu biết của bản thân đồng thời giúp cho học sinh
về biết cảm thụ văn học noí riêng và phục vụ dạy tốt hơn Tiếng Việt nói chung .
1.3.Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu : học sinh lớp 3.Nămhọc : ...........
1.4.Phương pháp nghiên cứu:
-Phương pháp quan sát- Nêu vấn đề - Giảng giải - Luyện tập - Học cá nhân Học nhóm -Học cả lớp.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp kiểm tra qua luyện tập về cảm thụ văn học tiểu học,đánh giá
tổng kết thực tiễn: trên cơ sở thông tin thu lượm ta sẽ hình dung được thực trạng về
cảm thụ văn ở học sinh.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1. Cơ sở lí luận:
Khi dạy học Tiếng Việt phải hiểu rõ những cơ sở về tâm lí giáo dục để dự
kiến được nhiều hình thức và phương pháp dạy học phù hợp với tâm lí lứa tuổi học
sinh Tiểu học. Quá trình dạy học sinh cảm thụ được các bài tập đọc sẽ mang lại kết
quả khả quan nếu như thầy biết tổ chức đúng đắn và khêu gợi được những hoạt động
cần thiết ở các em, vì tư duy của trẻ ở lứa tuổi Tiểu học thường thiên về tính cụ thể.
Ở lứa tuổi này có những yếu tố của tư duy trừu tượng nhưng còn hạn chế nhiều so
với học sinh ở các lớp trên. Quá trình nhận thức của học sinh lớp 3. Vì thế người
giáo viên cần phải quan tâm đúng mức và giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái
đẹp trong bài văn.
Có thể nói rằng: khi học sinh cảm thụ được bài văn, đoạn thơ là sự kết tinh của
những nhận xét tinh tế, là sản phẩm, là sự đúc kết của việc tiếp thu và vận dụng
những kiến thức đã học. Căn cứ vào đặc điểm tâm lý, học sinh Tiểu học và đặc điểm
môn Tiếng Việt. Nội dung môn Tiếng Việt bậc Tiểu học được sắp xếp theo cấu trúc
đồng tâm theo các chủ đề. Nhờ sắp xếp theo cấu trúc đồng tâm mà các nội dung của
môn Tiếng Việt được củng cố thường xuyên và phát triển dần từ dễ đến khó, từ đơn
2/24
giản đến phức tạp. Nhà sư phạm người Pháp đã từng nói: “Dạy học chân chính của
nó khơng chỉ là dạy con người chung chung mà còn là dạy từng con người cụ thể
…” Bởi vậy việc dạy học rất đa dạng và phong phú về nhận thức mỗi con người có
một thể chất riêng, một tư duy, tình cảm riêng biệt, do đó khơng thể rập khn tùy
vào lứa tuổi, tính cách, năng lực cảm thụ văn học của các đối tượng để chúng ta có
thể lựa chọn hệ thống bài tập để giúp HS cảm thụ văn học.
2.2.Thực trạng của việc dạy học cảm thụ văn học của lớp 3 trường tiểu học
trước khi áp dụng sáng kiến.
A. Đối với việc dạy của giáo viên
Năm học ...........tôi được phân công chủ nhiệm lớp 3A sĩ số là 30 HS. Sau
thời gian một tháng đầu nhận lớp, qua quá trình giảng dạy tơi đã nhận ra một điều
khả năng cảm thụ văn học của các em còn hạn chế. Các em không hào hứng mạnh
dạn phát biểu bài.
Để hiểu biết thực trạng việc dạy học cảm thụ văn học tôi tiến hành dự giờ trao
đổi với đồng nghiệp( GV), học sinh đồng thời cho HS làm bài kiểm tra về cảm thụ
văn học qua các tiết tập đọc, giờ tự học, các buổi học buổi hai cho học sinh .
Dự giờ tập đọc của GV khối 3 bài “Mẹ vắng nhà”, “Cơ giáo tí hon”. Thơng
qua dự giờ và khảo sát học sinh tôi nhận thấy rằng GV chỉ dựa vào SGK và sách
hướng dẫn để truyền đạt thông tin có sẵn trong SGK, khơng sáng tạo và chủ yếu
khai thác bài bằng hệ thống câu hỏi có sẵn trong SGK và luyện đọc là chủ yếu, phần
cảm thụ văn học không đề cập tới hoặc chỉ là sơ sài. Giáo viên và HS phụ thuộc vào
tài liệu như SGK, sách bài soạn mà khơng nắm bắt chương trình u cầu gì ở HS có
năng khiếu.
- Ví dụ : khi dạy bài “Cơ giáo tí hon” GV chỉ khai thác câu hỏi trong SGK rồi
cho luyện đọc. Qua dự giờ tôi thấy HS phải chấp nhận giá trị đã có mà chưa độc lập,
sáng tạo trong suy nghĩ đặc biệt phần cảm thụ văn học.
Hạn chế của việc dạy học theo tôi thường gặp ở GV là :
+ Kiến thức bó gọn trong bài .
3/24
+ HS không được chuẩn bị đúng mức để hoạt động độc lập, sáng tạo, luôn lệ
thuộc vào thầy cô.
+ HS học tập thường ít hứng thú khơng bộc lộ và phát triển năng lực cá nhân.
+ Một số GV cịn làm việc máy móc, rập khn, khơng năng động sáng tạo.
Chính vì vậy, các em khơng cảm nhận được những câu thơ, câu văn,
đoạn thơ, đoạn văn, bài thơ hoặc bài văn hay.
B. Tình hình cảm thụ văn học của HS :
Qua khảo sát chất lượng đầu năm lớp 3A, kết quả môn Tiếng Việt như sau :
Số
Đọc hay
HS
30
Hiểu nội
Biết phát
Biết viết một
Viết hay
dung văn
hiện nghệ
đoạn văn
một đoạn
bản
thuật
cảm thụ
cảm thụ văn
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
SL
TL
4
13,2%
20
66%
2
6,6%
4
13,2%
1
3,3%
Từ chất lượng trên tơi đã tìm hiểu sâu nguyên nhân tại sao HS chưa yêu thích
và chưa giỏi ở môn Tiếng Việt và tôi nhận thấy :
+ Khả năng cảm thụ văn của HS còn chậm, HS chưa hiểu rõ nội dung văn
bản, chưa biết cách để làm một bài cảm thụ. Bài viết còn quá sơ sài, vụng về, dùng
từ cịn nghèo nàn ,chưa có nhiều hình ảnh...
+ Qua phần kiểm tra kĩ năng đọc, HS chưa đọc hay được vì các em chưa cảm
nhận được cái hay cái đẹp của mỗi khổ thơ, bài thơ...
+ HS chưa có ý thức được việc cần hiểu nội dung khi đọc một bài văn, một
bài thơ và tác dụng của nó như thế nào?
Từ thực trạng trên, tơi đã nghiên cứu và rút ra một số kinh nghiệm đổi mới
phương pháp dạy học cảm thụ văn học thật tốt cho học sinh lớp 3.
2.3. Các biệp pháp đã sử dụng đề giải quyết vấn đề:
* Biện pháp 1 : Lựa chọn nội dung dạy học phù hợp với đối tượng học sinh.
GV có thể soạn ra các bài tập từ dễ đến khó, khơng q phụ thuộc vào SGK
có sẵn và sử dụng những nội dung dễ cho các em cảm thụ. Tìm hiểu các bài văn, bài
thơ trong SGK, tìm tịi đề xuất những câu hỏi phát vấn HS phù hợp với đối tượng
4/24
học sinh kích thích được sự hứng thú, say mê sáng tạo khi viết văn một cách chủ
động và phát triển năng lực cá nhân của từng HS. Ngoài phân môn Tập đọc, tận
dụng tối đa nội dung các môn học khác để có cơ hội là triển khai ngay vấn đề
“ cảm thụ văn học” .
Ví dụ: Từ bài Tập đọc “ Cái cầu”, ngoài câu hỏi trong sách giáo khoa đã thực
hiện trong giờ tập đọc, trong tiết dạy bồi dưỡng giáo viên mở rộng bằng cách hỏi
học sinh: Em thích hình ảnh nào? Vì sao?
Từ ví dụ đó, học sinh sẽ tìm được rất nhiều hình ảnh đẹp trong bài và câu trả
lời vì sao sẽ giúp các em tìm hiểu sâu về giá trị nghệ thuật và giá trị nội dung
của bài đó.
* Biện pháp 2 : Sử dụng các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học một cách
linh hoạt, sáng tạo gây hứng thú học cảm thụ văn học
Trước hết giáo viên cần tổ chức cho HS học tập theo phương pháp tích cực: “
Lấy HS làm trung tâm” thơng qua các hình thức học tập... GV là người hướng dẫn
tổ chức hoạt động, HS tự huy động vốn hiểu biết của bản thân để tự chiếm lĩnh tri
thức mới rồi dùng các tri thức đó vào trong thực hành.
Trong các tiết dạy, giáo viên cần đưa ra nhiều yêu cầu cảm thụ khác nhau,
nhằm củng cố bổ sung kiến thức bồi dưỡng trong từng bài tập đọc cụ thể.
Ví dụ : Nêu ý nghĩa đoạn bài hoặc dạng bài chỉ ra những hình ảnh đẹp, dạng
bài phát hiện các biện pháp tu từ, dạng bài phát hiện từ ...
GV cần nhiều thời gian chấm,nhận xét , chữa bài học sinh để kịp thời động
viên và phát hiện các thiếu sót của học sinh. Có kế hoạch và biện pháp giúp đỡ HS
sửa chữa những thiếu sót của mình, trong q trình dạy học giáo viên phải cảm nhận
những cái gì nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong
tác phẩm (cuốn truyện bài văn, bài thơ....).
Trong q trình dạy học phân mơn Tập đọc, GV phải căn cứ vào chương
trình, vào từng loại bài, vào điều kiện thực tế của nhà trường để dạy tốt phân môn
Tập đọc, đồng thời chú ý rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cảm thụ văn học ở
phương diện lý thuyết và đặc biệt kĩ năng vận dụng thực hành phù hợp với mục đích
5/24
yêu cầu của tiết dạy. Yêu cầu tất cả HS phải tham gia làm bài, nhưng cách chấm
chữa, nhận xét khác nhau. Học sinh có năng khiếu: chấm cả bài. HS bình thường :
rèn HS viết đoạn. HS chậm : rèn viết câu. Mức độ nâng dần trong hai học kì của
năm học.Tơi u cầu HS cố gắng học tập tốt các yêu cầu về rèn luyện cảm thụ văn
học.
- Gợi ý cho HS tiếp xúc câu văn gây nhiều ham thích.
- Lập sổ tay khi tích lũy về thực tế cuộc sống về văn học
- Bước đầu nắm vững cơ bản về Tiếng Việt
- Rèn luyện kĩ năng viết một số câu, đoạn văn về cảm thụ văn học.
Trong quá trình giảng dạy ở các tiết Tập đọc, tiết tự học, tiết TiếngViệt chọn
ở bất kì dạng bài tập nào tôi cũng kết hợp nhiều phương pháp hướng dẫn các em
thực hiện bài tập về cảm thụ văn học. Dù vận dụng bất kì phương pháp, hình thức
học tập nào tơi ln chú trọng phát huy tính độc lập, sáng tạo của các em, khơng áp
đặt ở bất kì tình huống nào.Yêu cầu các em phải thực hiện tốt các thao tác cơ bản
sau : - Đọc kĩ đề bài, nắm chắc yêu cầu của bài tập (Phải trả lời được điều gì ? Cần
nêu bật được điều gì? )
- Đọc và tìm hiểu câu thơ, câu văn hay đoạn trích được nêu trong bài.
- Hình thành được những thói quen trước khi bước vào thực hiện bài tập.
Các em phải thực hiện tốt các thao tác trên có như vậy các em mới đạt được
kết quả cao: có 5 dạng bài tập cảm thụ văn học với từng loại bài mà tơi vận dụng các
phương pháp hình thức dạy học khác nhau.
Biện pháp 3 : Lựa chọn hệ thống bài tập để giúp HS cảm thụ văn học
2.3.1- Với dạng bài tập về rèn đọc hay:
Khi dạy các tiết Tập đọc tôi luôn chọn những bài thơ, bài văn, đoạn thơ, đoạn
văn, câu thơ, câu văn hay cho HS đọc tạo tiết học nhẹ nhàng hứng thú.
Ví dụ : khi dạy bài tập đọc “ Cuộc chạy đua trong rừng” ngồi khai thác các câu hỏi
trong SGK tơi cho HS đọc bài văn với các yêu cầu sau:
- Đọc thầm nhiều lần để tham khảo nội dung và cách đọc.
6/24
Đoạn 1 : “ Ngày mai,........... nhà vô địch” ở đoạn này tả tâm trạng của Ngựa Con
như thế nào? Cần đọc nhấn giọng những từ ngữ nào để diễn cảm ?
Đoạn 2: “ Ngựa Cha ... Thắng mà” Đoạn này nói về cuộc trị chuyện của hai cha
con Ngựa Con trước cuộc thi, vậy cần phải đọc như thế nào? nên ngắt giọng , nghỉ
hơi và đọc với giọng điệu như thế nào cho phù hợp? (Giọng cha âu yếm, giọng
Ngựa Con thì ngúng nguẩy, chủ quan).
Đoạn 3 ,4: “ Tiếng hô ........ra .” yêu cầu học sinh nêu cách ngắt giọng phần vừa đọc
của bạn.
- Khi ký hiệu và lời chỉ dẫn đọc hay bài văn sau đó tổ chức đọc.
Thơng qua phần đọc hay có sáng tạo tơi thấy học sinh rất hứng thú học tập,có
giọng đọc truyền cảm, diễn tả được các hiện tượng sự vật, các nhân vật trong văn
cảnh và nắm bắt được thế nào là đọc hay có sáng tạo.
2.3.2- Với dạng bài tập cảm thụ văn học qua tác phẩm, đoạn văn thơ ngắn.
Đọc sách là một yêu cầu rất cần cho mỗi con người, vì qua hoạt động đọc
sách con người sẽ khám phá, học hỏi, tích lũy được nhiều kiến thức. Nhưng cần phải
có phương pháp đọc sách để mang lại hiệu quả. Qua thực tế cho thấy: có người đọc
rất nhanh, đọc nghiến ngấu nhưng khi hỏi thì khơng nắm được gì, đặc biệt đối với
học sinh tiểu học khi đọc chỉ biết cốt chuyện, thiếu sự nghiền ngẫm suy nghĩ.
+ Vì vậy, giáo viên phải giúp học sinh có hứng thú và thói quen đọc sách.
Đồng thời giáo viên yêu cầu và rèn cho học sinh có thói quen suy nghĩ khi đọc sách
là:
- Bài văn hoặc câu chuyện đó có những nhân vật nào ? Đánh giá từng nhân
vật ra sao?
- Đọc xong bài bản thân có cảm nghĩ gì?
+ Rèn luyện đọc hay cho học sinh cũng là một biện pháp giúp học sinh nâng
cao khả năng cảm xúc thẩm mỹ và kích thích các em khám phá ra cái hay cái đẹp
của văn chương.
+ Giáo viên là người khuyến khích học sinh đọc sách, tạo điều kiện để các em
tiếp xúc với nhiều tác phẩm. Có thể giới thiệu đầu sách hay có tác dụng rèn thể loại
7/24
văn đang học cho các em. Kết hợp với cán bộ thư viện giới thiệu sách cho học sinh
vào những buổi đọc sách tại thư viện.
+ Giáo viên là người gợi mở, dẫn dắt cho học sinh tiếp xúc với những tác
phẩm hay. Đặt câu hỏi hoặc nêu vấn đề để học sinh suy nghĩ, quá trình suy nghĩ sẽ
giúp các em cảm thụ được tác phẩm. Giúp học sinh có những cảm xúc, thẩm mỹ
xung quanh cái đẹp trong thiên nhiên, cái đẹp trong xã hội. Hoạt động của giáo viên
chỉ có tác dụng hỗ trợ cho cảm xúc thẩm mỹ nảy nở trong hoạt động, đặc biệt không
cảm thụ hộ học sinh.
Với dạng bài tập này tôi cũng yêu cầu các em thực hiện các thao tác cơ bản và
các phương pháp,hình thức dạy học như các dạng bài tập trên.
Ví dụ: Khi cho học sinh cảm thụ đoạn thơ:
“Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nỗi thành người”.
( Đỗ Trung Quân)
Đoạn thơ trên giúp em hiểu gì về q hương?
GV có thể gợi ý: - Q hương là nơi chôn rau cắt rốn của mỗi chúng ta, gắn
liền với tâm hồn mỗi chúng ta với cảnh vật bao kỷ niệm buồn vui.
- Tác giả so sánh quê hương như mẹ, người mẹ hiền sinh thành của mỗi đứa
con. Mỗi đứa con chỉ có một mẹ hiền, cũng như mỗi người chỉ có một quê hương.
Hai câu thơ cuối, nhà thơ sẽ nhắc khẽ: “Không yêu quê hương thì khơng trở thành
người được”. Thơng qua bài tập cảm thụ tôi thấy hầu hết các em đã phát huy tính
sáng tạo và cảm thụ một cách hồn nhiên và đạt kết quả cao.
Trong quá trình lựa chọn các dạng bài tập về cảm thụ văn học để giảng dạy
cho học sinh, tôi thấy các nhà nghiên cứu đã đưa ra các dạng bài tập rất phù hợp với
trình độ của học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêng . Thơng qua các
8/24
bài tập cảm thụ tôi thấy các em được mở mang tri thức, phong phú về tâm hồn, các
em đã hứng thú khi viết văn.
2.3.3- Ở dạng bài tìm hiểu nội dung của đoạn văn, thơ qua cách dùng từ đặt câu
sinh động.
Với dạng bài tập này tôi đã vận dụng các phương pháp và hình thức sau:
Quan sát - Nêu vấn đề - Giảng giải - Luyện tập - Học cá nhân - Học nhóm -Học cả
lớp
* Cách tiến hành :
B1 : Cho các em thực hiện các thao tác cơ bản như trên.
B2 : Hướng dẫn các các em mang tính gợi mở sáng tạo để các em cảm thụ.
B3 : Cho HS thực hiện bài tập cảm thụ.
B4 : Cho HS nêu (cá nhân, nhóm ) kết quả cảm thụ đó, cùng nhau tham khảo
rút kinh nghiệm.
Ví dụ : Khi các em cảm thụ bài : “Hai bàn tay em” của nhà thơ Huy Cận
Với yêu cầu của đề bài em thích nhất khổ thơ nào? Vì sao?
Với dạng bài tập này trước tiên , cho các em thực hiện các thao tác cơ bản
như trên sau đó tơi hướng dẫn các em mang tính gợi mở, sáng tạo để các em cảm
thụ. Tác giả đã dùng hình ảnh nào để tả vẻ đẹp của bàn tay em bé.
Khổ thơ thứ 3 thể hiện điều gì?
“ Tay em đánh răng
Răng trắng hoa nhài
Tay em chải tóc
Tóc ngời ánh mai”
Khổ thơ làm em thích nhất vì có hai hình ảnh rất đẹp so sánh hàm răng với vẻ
đẹp của hoa nhài, mái tóc sau khi trải bóng ngời lên như ánh mai. Khổ thơ nhắc em
đánh răng, chải tóc hàng ngày cho thơm, cho sạch sẽ, gọn gàng tươi xinh.
Hoặc khổ thơ 4 muốn nói lên điều gì?
“ Giờ em ngồi học
..........................
9/24
Từng hàng giăng giăng”
Vì khổ thơ đã thể hiện tính siêng năng, chăm chỉ học hành của bé. Qua khổ
thơ này Huy Cận khẽ nhắc HS chúng ta tập viết hàng ngày để có “ vở sạch chữ đẹp”
làm vui lịng thầy cơ, cha mẹ......
Sau khi các em trả lời xong tơi cho các em trình bày cảm thụ của mình để mọi
người tham khảo góp ý, rút kinh nghiệm.
Qua bài tập cảm thụ, tôi nhận thấy rằng các em rất hứng thú học tập các em
đã nắm bắt được nội dung của khổ thơ qua các hình ảnh tác giả miêu tả, mỗi em đều
thể hiện cảm nhận của riêng mình. Mỗi lần các em tìm tịi như thế ,tôi lại động viên
và chỉnh sửa cho các em để các em tự tin vào mình.
2.3.4. Với dạng bài phát hiện những hình ảnh chi tiết có giá trị gợi tả.
Với dạng bài tập này tôi cho HS thực hiện các thao tác cơ bản tương tự như
dạng bài tập trên và sử dụng các phương pháp, hình thức học tập như sau :
+ Phương pháp quan sát, nêu vấn đề, giảng giải, luyện tập.
+ Học cá nhân, học nhóm, học cả lớp.
Ví dụ: khi cho các em cảm thụ bài: “Mẹ vắng nhà ngày bão” – tiết 8- tuần 4.
GV cho các em cảm thụ đoạn thơ :
“ Thế rồi cơn bão qua
Mẹ về như nắng mới
Sáng ấm cả ngơi nhà”
Và đặt câu hỏi : Theo em hình ảnh nào góp phần làm nên cái hay của đoạn
thơ trên. Vì sao?
Với bài tập này, trước tiên tơi cũng u cầu các em thực hiện các thao tác cơ
bản như trên sau đó hướng dẫn các em cảm thụ.
Ví dụ : tơi có thể đưa ra gợi ý : Qua đoan thơ tác giả sử dụng hình ảnh so
sánh nào? , hình ảnh đó góp phần làm nên cái hay của đoạn thơ trên. Vì sao? ....từ
đó HS tự tìm ý...“ Mẹ về như nắng mới/Sáng ấm cả gian nhà” đã góp phần nhiều
nhất làm nên cái hay của đoạn thơ trên. Một hình ảnh so sánh rất đẹp, rất hay mẹ
hiện ra sáng bừng như nắng mới. Ngôi nhà sáng lên ấm áp hẳn lên cho thấy nỗi vui
10/24
mừng khôn xiết của 3 bố con khi mẹ về sau những ngày mong đợi. Mẹ về làm cho
gian nhà ẩm ướt sau cơn bão như sáng ấm lên “nắng mới” cũng là hình ảnh trở về
của người mẹ, đã xua đi sự trống trải mong mỏi và gia đình đựơc đồn tụ vui vẻ.
Sau câu thơ có tiếng cười reo của 2 con, có nụ cười của bố. Một gia đình đồn tụ
hạnh phúc dạt dào niềm vui. Người mẹ là mái ấm của tình thương, đó là cảm nghĩ
của người đọc khi đọc bài thơ “Mẹ vắng nhà ngày bão” của Đặng Hiển.
Khi các em hoàn thành bài tập tơi cho đại diện các nhóm lên trình bày gợi ý
thông qua bài tập cảm thụ tôi thấy hầu hết các em say mê hứng thú học tập thảo luận
sôi nổi và cảm thụ tự nhiên sáng tạo.
2.3.5- Với dạng bài tìm hiểu và vận dụng một số biện pháp tu từ.
a. Biện pháp so sánh
Với dạng bài tập này tôi cũng cho các em thực hiện các thao tác cơ bản ; sử dụng
các phương pháp như các dạng bài trên và cách thức dạy học như sau :
- Học cá nhân, học nhóm, học cả lớp.
Ví dụ: cho các em cảm thụ bài thơ “ Trăng ơi ... từ đâu đến! ” của nhà thơ
Trần Đăng Khoa :
“Trăng ơi! ....... từ đâu đến ?
..................................
Bạn nào đá lên trời ”
Yêu cầu của đề bài là : Gạch chân những câu thơ có hình ảnh so sánh. Học
thuộc lịng đoạn thơ.
Sau khi các em thực hiện xong các thao tác cơ bản, tôi hướng dẫn các em cảm
thụ bài thơ tả trăng: Mặt trăng được so sánh : “Hồng như quả chín”, “Trăng trịn
như mắt cá” , “Trăng bay như quả bóng” đã làm nổi bật mặt trăng lơ lửng bay trên
bầu trời ở khắp mọi nơi. Yêu cầu HS suy nghĩ và trả lời: So sánh như vậy có tác
dụng gì?
b.Biện pháp nhân hóa :
Các bước thực hiện bài tập này tôi cũng cho các em thực hiện các thao tác cơ
bản như trên và sử dụng các phương pháp như dạng bài trên
11/24
THƠNG TIN HỎI ĐÁP:
-------------------------Bạn cịn nhiều thắc mắc hoặc muốn tìm kiếm thêm nhiều tài liệu sáng kiến kinh nghiệm
mới mẻ khác của Trung tâm Best4Team
Liên hệ dịch vụ viết thuê sáng kiến kinh nghiệm
Hoặc qua SĐT Zalo: 091.552.1220 hoặc email: để hỗ trợ
ngay nhé!
12/24