Tải bản đầy đủ (.doc) (64 trang)

tiểu luận nhịp điệu trong tranh vẽ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.76 MB, 64 trang )

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, mái trường đã
cho tôi hành trang vững chắc để bước tiếp trên con đường sự nghiệp của
mình.
Xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Nghệ thuật đã tận
tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập. Đặc biệt xin được
gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Trần Thị Tuyết Nhung, người đã tận tình
giúp đỡ, chỉ bảo tôi trong suốt quá trình hoàn thành tiểu luận.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng bài tiểu luận vẫn không tránh khỏi những thiếu
xót. Kính mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy cô giáo và bạn bè
đồng nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên
Trần Thị Yến Ngọc
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bài tiểu luận tốt nghiệp này là bài nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dựa trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu lý thuyết, kiến
thức chuyên ngành.
Những ý kiến khoa học được nêu trong bài tiểu luận không phải sao chép từ
công trình khoa học nào khác.
Hà Nội, tháng 5 năm 2013
Sinh viên thực hiện
Trần Thị Yến Ngọc
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghệ thuật bắt nguồn từ cuộc sống, là một hình thái ý thức luôn phản ánh
chân thực những giá trị của cuộc sống, có tính thẩm mĩ sinh động.
Trong nghệ thuật tạo hình, mỗi loại có một ngôn ngữ riêng, có những điểm
chuyên biệt song mục tiêu chính là cái đẹp, thế cân bằng và tính nhịp điệu
được xem như động lực khơi dậy nguồn cảm hứng sáng tác. Ai cũng có khả


năng cảm nhận cuộc sống của riêng mình do vậy việc truyền tải những ý
tưởng và hiện thực cuộc sống cũng vô cùng phong phú và đa dạng.
Nếu như trong âm nhạc nhịp điệu của cuộc sống khởi đầu là tiết tấu, là sự
rung ngân của những cung bậc khác nhau trong sự phối hợp nhịp nhàng của
giai điệu, thì với hội họa là sự kết hợp nhịp nhàng của đường nét, hài hòa
của màu sắc, cân xứng của hình khối, thuận lý của bố cục trong sự tổng hòa
của một chỉnh thể gọi là tranh hay tác phẩm hội họa. Yếu tố nhịp điệu lúc thì
tàng ẩn kín sâu, khi lại rõ ràng cụ thể, thế nên ở mỗi loại hình nghệ thuật nó
đều mang ý vị riêng biệt. Nhịp điệu đã mặc nhiên đi vào đời sống nghệ thuật
như là sự vận động tự thân của chính cuộc sống, dù tĩnh hay động, dù ẩn hay
hiện thì nó vẫn biểu lộ một cách tinh tế khiến chúng ta phải để tâm tìm hiểu
mới có thể nhìn nhận thấu đáo.
Hội họa là một loại hình nghệ thuật thị giác, sáng tạo trên cơ sở những kết
cấu tạo hình (hình khối, màu sắc, ánh sáng, đường nét, chất cảm, động
tĩnh…). Thể hiện trên mặt phẳng, nằm phản ánh môi trường không gian với
ý tưởng có chiều sâu. Hội họa xử lý nhịp điệu riêng trong việc tổ chức
đường nét, màu sắc, sắc độ đó (sao cho tất cả cùng tương tác thành một
chỉnh thể hài hòa). Điều hấp dẫn người xem ngay từ cái nhìn đầu tiên trước
một bức tranh, là mối tương quan chung của các tổ chức tạo hình ăn nhịp. Sự
lôi cuốn của các đường nét, hình mảng, màu sắc… là ở chỗ thu hút mắt
người xem vào phần trọng tâm của bức tranh. Người xem sẽ tự cảm nhận
được tâm tư tình cảm của họa sĩ qua tranh của họ. Để có được mối rung cảm
này, trước hội họa ta không thể khước từ vẻ đẹp đặc thù của yếu tố nhịp điệu
được xây dựng trong tranh trên tinh thần định hướng cho sự nhìn và tạo tác
mối đồng cảm giữa người thưởng thức và người sáng tạo.
Tiếp cận ngôn ngữ hội họa từ qui luật nhịp điệu chúng ta nhận thấy hình và
màu là tiếng nói đặc trưng: Hình được coi như cốt cách màu là nước men.
Sự vang lên của màu được ví như sự vang lên của âm thanh trong âm nhạc
tùy thuộc vào cung bậc tình cảm của mỗi người. Hơn nữa nhịp điệu trong
tranh là sự phản ánh trung thực nhất nhịp điệu của cuộc sống là sụ thể hiện

nguyên lý về thẩm mĩ được biểu thị trên các yếu tố về tạo hình nhịp. Do vậy
tìm hiểu yếu tố nhịp điệu sẽ thấy được cái thi vị, hấp dẫn của loại hình nghệ
thuật thị giác, nghệ thuật không gian này.
Chính vì những yếu tố trên tôi chọn đề tài “Nhịp điệu trong tranh” làm nội
dung nghiên cứu.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Bảo lưu, gìn giữ và truyền thụ cho mọi người hiểu rõ giá trị nghệ thuật
thông qua những tác phẩm mỹ thuật.
- Nhằm hiểu rõ nhịp điệu của các yếu tố tạo hình trong tranh.
- Tìm hiểu và chứng mình tầm quan trọng nhịp điệu của các yếu tố tạo hình
trong tranh.
- Giúp bản thân hiểu rõ thêm về giá trị, vẻ đẹp và tầm quan trọng của mỗi tác
phẩm hội họa. Từ đó vận dụng trong dạy và học trường chuyên nghiệp.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Làm rõ cơ sở lý luận của nhịp điệu và nghiên cứu về nhịp điệu của các yếu
tố tạo hình trong mỗi tác phẩm hội họa cụ thể như đường nét, hình dạng,
màu sắc…
- Cách vận dụng tính nhịp điệu trau dồi kiến thức bản thân vận dụng trong
dạy và học mĩ thuật ở trường chuyên nghiệp.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
• Đối tượng nghiên cứu
Nhịp điệu của những yếu tố đường nét, hình khối, không gian, khoảng trống,
nhịp điệu, màu sắc…
• Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu dựa trên những thành tựu phát triển của nền mĩ thuật thế
giới, nền mĩ thuật hội họa phương Đông, nền mĩ thuật Việt Nam. Qua các
tác phẩm tiêu biểu của hội họa thế giới, các tác phẩm mĩ thuật Việt Nam từ
xưa đến nay.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Sưu tầm tài liệu.

- Phương pháp so sánh và tổng hợp
- Phương pháp phân tích và thuyết trình
4. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Khẳng định nhịp điệu là yếu tố quan trọng không thể thiếu
trong nghệ thuật hội họa.
- Góp thêm kiến thức về nhịp điệu trong việc giảng dạy và sáng
tác tranh.
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỊP ĐIỆU TRONG CUỘC SỐNG VÀ NGHỆ THUẬT
1.1 QUAN NIỆM NHỊP ĐIỆU
1.1.1 Quan niệm về nhịp điệu của Phương Tây phương Đông
Theo quan điểm nghệ thuật phương Tây, nhịp điệu là sự biểu hiện của sự vật
trong thế giới tự nhiên. Đặc biệt trong nghệ thuật tạo hình hiện đại, nhịp điệu
được coi như yếu tố thẩm mỹ, tạo nên sự sinh động trong tác phẩm nghệ
thuật.
Theo quan điểm của họa sĩ Paul Signac (1863–1935, họa sĩ Tân Ấn
tượng người Pháp) thì những nguyên tắc hội họa gồm có:
Sự chỉ đạo: Khi tìm một bố cục, một đường nét hay một màu sắc trong tranh
thì họa sĩ cần phải xác định một yếu tố chủ đạo cho bức tranh thì họa sĩ cần
phải xác định một yếu tố chủ đạo cho bức họa của mình. Tranh có thể lấy
màu sắc làm chủ đạo, hay lấy đường nét, hình mảng… làm chủ đạo. Sự chủ
đạo này sẽ giải quyết được rất nhiều sự phức tạp của nhiều vấn đề khó khăn
trong hội họa khiến cho yếu tố chủ đạo có hiệu quả cao hơn.
Tính liên tục: Liên tục không có nghĩa là sự không ngừng của một đường
nét, hay hình khối mà ta có thể vẽ làm nhiều nét đứt đoạn, nhưng nhìn tổng
thể ta lại thấy được sự liên tục giữa vật này với vật kia, đường nét này với
đường nét khác…
Sự nhắc lại: Âm nhạc cũng cần có sự nhắc lại của giai điệu gây một hiệu quả
để mang tính kết nối. Trong thơ cũng vậy, cũng là sự nhắc lại của vần điệu,
đã tạo ra những cách gieo vần khác nhau mang đến sự thụ cảm sâu lắng mà

rất tình người trong thơ. Đối với hội họa cũng không ngoài qui tắc ấy, người
họa sĩ vẽ tranh mà không biết lặp lại thì sẽ bị rơi vào trang thái mông lung,
lẫn lộn, nhưng nhắc lại không có nghĩa là lặp lại nguyên xi mà cần có sự
biến đổi về hình, mảng, nét, khối.
Đường lượn: trong tranh đều cần có những đường lượn, đường cong bên
cạnh những yếu tố tạo hình khác. Ví dụ như tranh của Mandrian ta chỉ thấy
toàn các đường thẳng và hình vuống đan xen vào nhau, nhưng sự kết nối
biến lệch đi về khoảng cách, về hình giữa góc này với góc kia đã gợi cho ta
thấy những đường cong, cho dù đó không phải là những đường cong thật sự.
Đó là cách bố trí sao cho quan hệ giữa các điểm quan trọng có tính liên quan
đến nhau. Là sự ảnh hưởng qua lại giữa các màu, độ, bởi thế trong tranh đen
trắng vẫn có ánh sắc, do có sự chuyển độ đậm nhạt trong quan hệ hài hài của
sắc độ. Ví dụ như vẽ Tôm của Tề Bạch Thạch, một kỹ thuật vẽ cao siêu sự
sống động có sức sống của con Tôm là sự kết hợp hài hào giữa các độ
chuyển tinh tế của đậm nhạt hoặc tĩnh vật hoa quả của Matis ảnh hưởng qua
lại giữa các vật bằng màu thật là uyển chuyển.
Thế vững chãi: một vật thể đều có thế vững trãi nhất định có thể là tương
đối, có thể là tuyệt đối. Nhưng trong một tác phẩm hội họa tạo được một sự
vững chãi là rất khó bởi sự xác định của mặt phẳng.
Sự chuyển hoán: là sự thay đổi vị trí có tác động tương hỗ, tương tác lẫn
nhau của các yếu tố. Sự chuyển hoán này đã làm cho các yếu tố tạo hình
trong tranh có sự liên kết, tôn vinh lẫn nhau.
Sự hài hòa: là tổng hợp của tất cả các nguyên tắc ở trên nhưng đó cũng là
một vấn đề cần phải tách riêng ra để thấy tầm quan trọng của nó. Đạt được
sự hài hòa là tạo ra được sự thành công rất lớn trong một tác phẩm cho dù là
trong bất cứ một bộ môn hoặc trong lĩnh vực nghệ thuật nào đó.
Như vậy, thông qua những nguyên tắc đã nếu trên ta có thể thấy trong bất cứ
yếu tố nào của mỗi nguyên tắc hội họa thì cũng đều mang bóng dáng của
nhịp điệu trong đó. Điều này cho thấy nhịp điệu đóng góp một phần không
nhỏ trong việc sáng tạo nên tác phẩm đẹp có giá trị.

1.1.2 Quan niệm về nhịp điệu của Phương Đông
Trong truyền thống hội họa phương Đông, nhịp điệu cũng có khái niệm
tương tự trong nguyên tắc cơ bản của hội họa cổ điển Trung Quốc. Đó là
những khái niệm khá trừu tượng, phức tạp, đôi khi trùng lặp, bắt đầu là các
quy tắc: khí, ý, thần rồi đến các quy tắc về hình, tượng, về cách dùng bút,
mực và màu sắc. Cuối cùng, là quy tắc về cách bố trí sự vật trong không
gian.
Khái niệm “ Ý ” trong 6 quy tắc nói trên, thực chất là một sự theo đuổi siêu
hình, chứ không phải là một sự mô phỏng hay tái hiện giản đơn sự vật bên
ngoài. Người hoạ sĩ cổ điển không chỉ thể hiện hình tượng của sự vật, mà
chủ yếu là cái hàm ẩn trong hình tượng, khiến cho hình tượng tràn đầy sức
sống. Thể hiện sự biến hoá của vạn vật chưa đủ, mà còn phải thể hiện được
cả cái tâm linh và sinh mệnh của vũ trụ.
Quy tắc này, trong nghệ thuật cổ điển Trung Quốc, đã có một ảnh hưởng sâu
đậm lên nhiều nền nghệ thuật ở phương Đông, đặc biệt là những nền nghệ
thuật đã chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hoá Trung Hoa : Hàn quốc, Nhật
Bản, Việt Nam, và một số dân tộc ít người ở Đông Á và Đông Nam Á. Ngay
cả nền tiểu hoạ Ấn Độ và Ba Tư, cũng mang đậm dấu tích của ảnh hưởng
này.
1.1.2 Quan niệm của Việt Nam
Trong cách hiểu thông thường thì “nhịp” là sự nối tiếp và lặp lại một cách
đều đặn một hoạt động hay một quá trình nào đấy. “Điệu” là cung cách đặc
điểm về hình thức diễn ra của một hoạt động, cách thức riêng. Với cách hiểu
này thì “nhịp điệu” là sự lặp lại một cách tuần hoàn các âm mạnh, nhẹ sắp
xếp theo những trật tự và cách thức nhất định.
Còn theo định nghĩa Từ điển thuật ngữ mĩ thuật phổ thông lại cho rằng:
Trong điêu khắc nhịp điệu của một pho tượng là đường nét tạo nên sự diễn
biến của vật thể trong không gian. Nhịp điệu trong tác phẩm điêu khắc quyết
định sự cân bằng về tư thế, động tác và cả nội tâm của tác phẩm.
Đối với hội họa nhịp điệu có tác dụng giữ cho bố cục tranh được chặt chẽ

hài hòa các yếu tố xây dựng nên nhịp điệu trong tranh là: Các đường chéo,
đường nằm ngang, đường cong và khối nổi, độ tối và sáng…, một tác phẩm
hội họa đẹp đương nhiên phải có nhịp điệu, tức là sự vận động của các yếu
tố đường nét, điểm nhấn, vị trí nhân vật, độ sáng, tối.
Trong nghệ thuật hội họa thì nhịp điệu chính là sự chuyển biến bằng các
đường nét, hình mảng, màu sắc, bố cục một cách có hệ thống.
1.2 NHỊP ĐIỆU TRONG THIÊN NHIÊN VÀ CUỘC SỐNG
1.2.1 Nhịp điệu trong thiên nhiên
Nhịp điệu tồn tại dưới mọi hình dạng trong thế giới tự nhiên: mỗi loài cây
cỏ, mỗi loài động vật, thực vật, từ con chim, con cá, đến hòn đá, đám mây,
dòng suối, mỗi vật đều có một hình dạng riêng, một cấu trúc riêng, một nhịp
điệu riêng.
Song nhịp điệu chỉ toát ra một cách tổng thể tập hợp nhiều vật thể đứng gần
bên nhau, có cùng một hình dạng, cùng một cấu trúc, hoặc lặp lại cùng một
động tác, cùng một nhịp chuyển động. Một chiếc lá tre đơn độc, chỉ có thể
cung cấp cho ta hình dạng của một chiếc lá. Chỉ khi nào ta có cả một cành
tre, với cấu trúc đặc biệt của các nhánh, các chẽ của nó, ta mới bắt đầu nhận
dạng được cái cấu trúc và cái nhịp điệu của tre.
Nhịp điệu của một cây lê khác với nhịp điệu của một cây táo, do sự khác
nhau về cấu trúc. Tuy nhiên, cái nhịp điệu này đôi khi cũng khó nắm bắt.,
nhất là vào mùa cây đầy lá che khuất đi những đường nét của thân cành là
cái cấu trúc thể hiện nhịp điệu của từng giống cây.
Cuộc sống có quy luật và nhịp điệu cũng là một trong những quy luật của
cuộc sống: Bắt đầu từ cái gần gũi với ta nhất là nhịp thở rồi nhịp ngày đêm,
nhịp của bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông… Đưa con người từ nhịp điệu
mông lung đến nhịp điệu nhân sinh (mây bay về ngàn, suối chảy ra sông ra
biển, sinh, lão, bệnh, tử…). Nhịp điệu có mặt khắp mọi nơi trong thiên
nhiên. Sự sắp xếp của cánh hoa, đài hoa, nhụy hoa cùng với những màu sắc
đã tạo thành nhịp điệu hoàn chỉnh của mỗi loài hoa, gió thổi tạo ra những
song lúa một cách nhịp nhàng uyển chuyển, trên cơ thể người các bộ phận

được cấu tạo duyên dáng cân đối với những đường cong tuyệt mĩ ở phụ nữ,
sự chắc khỏe ở nam giới, con rắn chuyển động theo chiều dọc, con cá bơi
theo đượng lượn song ngang, chim bay, bướm lượn… tất cả đều là nhịp
điệu. Mọi vẻ đẹp tự nhiên đó được hòa vào trong một thể thống nhất. Ví dụ:
Trong cơ thể con người mỗi bộ phận có nhịp hoạt động riêng nhưng tất cả
đều đồng bộ trong từng nhịp sống cá thể, rồi nhịp đó lại hòa vào cái chung
của một cộng đồng.
Muôn vật trong thế giới tự nhiên không đồng kích cỡ, không cùng chức
năng… nhưng chẳng hề phá nhau mà tương hỗ tùy theo điều kiện thích ứng
để đôi khi ta thấy thiếu một trong những thứ đó đều không ổn đối với cuộc
sống. Tự nhiên đã tự phá bỏ tính đơn điệu để hợp lại thành nhịp điệu dưới
các dạng thức: Lặp lai, uyển chuyển và liên tục của một quy luật nhất định.
1.2.2 Nhịp điệu trong cuộc sống
Trong sinh hoạt thường ngày người thành phố khồng dễ dàng quen với
những êm ả tĩnh lặng của nông thôn và ngược lại người nông thôn lại không
mấy thích nghi với nhịp sống của đô thị. Điều này cho thấy con người luôn
luôn đòi hỏi có một nhịp điệu tương ứng, rằng bản thân mỗi con người luôn
nhạy cảm với nhịp điệu, với cái đẹp của cuộc sống. Đó là xúc cảm về nhịp
điệu của mỗi người. Như vậy cuộc sống có nhịp điệu và nó có một vị trí đặc
biệt trong đời sống mỗi cá thể theo quy luật tuần hoàn mà đôi khi vô tình
người ta quên mất sự hiện diện của nó.
Chính nghệ thuật đã thúc đẩy tâm hồn trước nhịp sống thường nhật để giúp
chúng ta thêm yêu thiên nhiên, yêu con người và tận hưởng ý nghĩa cuộc
đời. Yếu tố này có một vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống mỗi người
nó luôn ẩn sâu trong tiềm thức – lớn lên theo năm tháng. Chúng ta khát khao
tìm hiểu cái huyền ảo vũ trụ, nhân sinh khát vọng này và tạo mối liên kết
tâm hồn con người với nhịp điệu tuần hoàn của tự nhiên. Đứng trước quy
luật cuộc sống con người không chỉ tuân thủ một cách thụ động mà cần có
những đòi hỏi nhịp điệu tương ứng phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi. Trên cơ sở
nắm bắt được nhịp điệu kì diệu của cuộc sống người nghệ sĩ sẽ có khả năng

tác động đến tâm hồn con người bằng ngôn ngữ của mỗi loại hình nghệ
thuật.
1.3 NHỊP ĐIỆU TRONG NGHỆ THUẬT
Trong sự phát triển nghệ thuật, mỗi loại hình lại có một hình thái riêng. Sự
phát triển đó đã làm nảy sinh ra những lại hình nghệ thuật mới đa dạng hơn.
Yếu tố nhịp điệu được xem như là động lực khơi dậy nguồn cảm hứng ở mỗi
người. Ai cũng có khả năng cảm nhận cuộc sống của riêng mình. Với âm
nhạc: “Yếu tố nhịp điệu trong cuộc sống khởi đầu là tiết tấu, là sự rung ngân
của những cung bậc khác nhau trong sự phối hợp nhịp nhàng của giai điệu.
Với thơ ca, nhịp điệu không khác gì hơn là vần điệu với quãng ngắt của câu
và sức bay của chữ. Với hội họa là sự kết hợp nhịp nhàng của đường nét, hài
hòa của màu sắc, cân xứng của hình khối, sự tổng hợp của bố cục trong sự
tổng hòa của một chỉnh thể tạo hình. Yếu tố nhịp điệu liên tục tàng ẩn, khi
lại rõ ràng cụ thể , vì thế mà mỗi loại hình nghệ thuật lại mang ý vị riêng
biệt. Trong các loại hình khác như: Kiến trúc, Sân khấu, … thì nhịp điệu
hình thành với sự thỏa mãn yêu cầu thẩm mĩ của mọi người theo đúng yêu
cầu của vũ trụ.
1.3.1 Nhịp điệu trong âm nhạc
Âm nhạc là một môn nghệ thuật lấy âm thanh để truyền tải, hay còn gọi là
nghệ thuật của thính giác. Môn nghệ thuật này sử dụng các công cụ nhân tạo
đặc thù đó là nhạc cụ, giọng nói của con người tạo ra âm thanh có các cơ cấu
như: nhịp điệu, giai điệu, âm điệu, âm sắc… tạo cho âm thanh có ý nghĩa
nhân văn , có sức biểu cảm, mang nội dung thẩm mỹ.
Có thể nói âm nhạc là bộ môn nghệ thuật mà trong đó yếu tố nhịp điệu được
thể hiện rõ ràng nhất. Mỗi thể loại âm nhạc có một làn điệu đặc thù giúp ta
phân biệt giữa làn điệu âm nhạc này với làn điệu kia. Ví dụ như nhạc vàng
khác với nhạc thiếu nhi… Trong âm nhạc nhịp lặp lại ở các âm từ tạo ra nhịp
điệu âm nhạc:
“ Làng tôi xanh bóng tre
Từng tiếng chuông ban chiều

Tiếng chuông nhà thờ rung…”
Nhịp điệu là sự lặp lại một cách tuần hoàn các âm mạnh nhẹ theo một trật tự
nhất định. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu thưởng thức nghệ thuật
cũng phát triển. Nếu như ở thời kì Phục Hưng thế kỉ thứ XV, XVI có các
dòng nhạc cung đình, nhạc thính phòng, nhạc giao hưởng dành cho các tầng
lớp quí tộc thì ở hội họa cũng có tác phẩm vẽ trang trí cung điện, vòm nhà
thờ, các chân dung hoàng đế, các quí bà, các bá tước, nam tước… với phong
cách vẽ tả thực trau chuốt. Ngày nay với xu thế phát triển đa dạng của xã hội
để đáp ứng được nhu cầu ngày càng rộng. Thì hội họa cũng ra đời rất nhiều
các thể loại khác nhau và chất liệu cũng phong phú.
Như vậy có thể nói hội họa và âm nhạc có mối quan hệ tương đồng và chặt
chẽ nó luôn phát triển song song với sự phát triển của xã hội và đáp ứng nhu
cầu thưởng thức của xã hội. Như ta đã nói ở trên âm nhạc và hội họa có mội
mật thiết như vậy thì nó cũng không nằm ngoài sự giàng buộc của nhịp điệu,
nếu âm nhạc chỉ với 7 nốt Đồ-Rê-Mi-Fa-Son-La-Si và ở hội họa chỉ có ba
màu gốc Đỏ-Vàng-Lam vậy mà đã có biết bao những giai điệu, những dòng
nhạc khác nhau ra đời. Có biết bao tác phẩm với rất nhiều thể loại. Vậy để
đạt được sự thành công người nghệ sĩ phải biết kết hợp tài tình yếu tố nhịp
điệu.
1.3.2 Nhịp điệu trong thơ ca, văn học
Nếu như ở âm nhạc và hội họa yếu tố nhịp điệu là cốt lõi không thể thiếu để
tạo nên tác phẩm thì thơ ca cũng vậy. Sự lặp lại của âm điệu, vần tạo ra
chầm bổng và chính nó là sự thành công cho tác phẩm.
Nói một cách khái quát, nhịp thơ là cái được nhận thức thông qua toàn bộ sự
lặp lại có tính chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những
chỗ ngừng, chỗ ngắt và của những đơn vị văn bản như câu thơ, khổ thơ,
thậm chí đoạn thơ.
Chính sự gieo vầm đã tạo ra một âm điệu hay nói cách khác đó cúng chính là
“nhịp điệu”. Với tác phẩm “Hứng Dừa” tranh dân gian Đông Hồ thì cũng có
miêu tả:

“…Khen ai khéo vẽ nên cây dừa
Đấy chèo đây hứng cho vừa một đôi…”
Hoặc có rất nhiều tác phẩm thơ được phổ thành nhạc như bài “Hôm qua em
đi tỉnh về” của Nguyễn Bính hay bài “Hôm qua em đi chùa Hương”.
Trong thơ thường có vần điệu:
“ Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ phận khéo là ghét nhau
Trải qua bao cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng…”
Hay:
“ Tối nay pha một ấm trà
Rót nghiêng tuổi tác phà hòa cô đơn
Rót cả niềm vui lẫn tủi hờn
Rót trăng thu với rập rờn heo may
Nghiêng bình cho tỉnh lẫn say
Cuộc cờ nhân thế đắng cay nỗi đời
Uống trong khát vọng vơi vơi
Để hư vô lẫn mây trôi xa vời…”

(Trích “Ấm trà” thơ GS. Họa sĩ Đặng Quý Khoa)
Trong văn học:
Bằng nghệ thuật sử dụng ngôn từ các nhà văn đã làm tái hiện các tri giác, sự
liên tưởng thẩm mỹ, các sự kiện… ảnh hưởng tới số phận con người, để con
người cảm nhận, đánh giá và có định hướng cho mình.
Trong văn xuôi, có các thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa, kí
sự, hay theo chủ đề như trinh thám, tình cảm, lịch sử… Qua kết cấu của các
tác phẩm văn học ta thấy về hình thức chúng được chia thành các đoạn văn,
thành chương, thành hồi. Về hình thức, đây chính là những nhịp của văn
xuôi, về cách thể hiện tùy tác giả có thể thể hiện bằng ngôn từ mạnh mẽ hay
nhẹ nhàng, các tình tiết dồn dập hay khoan nhặt… tạo cho tác phẩm một

nhịp điệu riêng thu hút và dẫn dắt người đọc.
Như vậy, có thể nói không chỉ âm nhạc và hội họa mới có mối quan hệ mật
thiết chịu sự ràng buộc của yếu tố nhịp điệu mà đối với thơ ca và những môn
nghệ thuật khác cũng không nằm ngoài sự ràng buộc đó.
1.3.3 Nhịp điệu trong nghệ thuật tạo hình
1.3.3.1 Kiến trúc
Kiến trúc là một nghệ thuật nhằm kết hợp cái đẹp với cái thực dụng tạo ra
không gian sinh tồn cho mọi người, không gian sinh tồn ở đây bao gồm
không gian sống và không gian tinh thần. Kiến trúc là sự kết hợp của các kết
cấu như cột, tường trần, mái, họa tiết trang trí… dù công trình kiến trúc
thuộc thời kì lịch sử nào, dân tộc nào, trường phái nào đi trăng nữa thì đều
phải có những yếu tố trên. Chính sự kết hợp giữa các yếu tố này tạo ra nhịp
điệu, sự sinh động cho các công trình kiến trúc.
Nhịp điệu của nghệ thuật kiến trúc là sự tạo dáng, sự lắp đặt, là khoảng cách
giữa các bước cột, bức tường, những ô cửa của họa tiết trang trí. Những khối
lồi lõm, những khoảng không gian đặc rỗng, cùng chất liệu trên bề mặt…
dẫn dắt ánh sáng theo những quy luật nhịp điệu của không gian tạo sự sinh
động không nhàm chán.
Kiến trúc Baroque và Rococo (Hình 1.1, hình 1.2) là những nền kiến trúc
giàu nhịp điệu. Đó cũng là một nét nổi trội trong các nền kiến trúc Hồi giáo,
sử dụng vòm cuốn một cách phổ biến, như ở các nước Trung Cận Đông, Ấn
Độ Hồi giáo, Bắc Phi, Tây Ban Nha.
1.3.3.2 Nghệ thuật trang trí – mỹ nghệ
Nước ta có nhiều làng nghề truyền thống lâu đời. Những sản phẩm trang trí
mỹ nghệ này nổi tiếng ở trong nước mà cả thế giới biết đến là một mặt hang
thế mạnh của chúng ta trong quá trình hội nhập với thế giới.
Ta thấy các hình được trang trí quen thuộc như hình tròn, vuông, đường
diềm đều sử dụng mô típ trang trí có tính liên tục và lặp lại. Các mô típ trang
trí này được nhắc lại nhiều lần nhưng không cho ta cảm giác nhàm chán mà
trái lại còn cho ta cảm giác thích thú, vui mắt. Chính nhịp điệu được tạo ra

qua việc sắp xếp và sự lặp lại của các mô típ trang trí, tạo ra sự hài hòa cho
giác quan của người xem. Cũng chính ở nghệ thuật trang trí, nhịp điệu tạo
cảm giác quen thuộc trở nên rất gần gũi với những vật dụng đời thường cũng
như trang phục của dân tộc miền núi, hay hiện đại. Họa sĩ sáng tác những
mẫu trang trí thảm, trang trí thêu, ren, trang trí đồ trang sức vàng, bạc, đá
quý, sơn mài đồ gỗ trang trí nhằm phát huy truyền thống gốm dân tộc các
họa sĩ tiếp tục tìm tòi sáng tạo ra những mẫu mới. Chính những tìm tòi sáng
tạo này làm ta bắt gặp đâu đó những hình ảnh vốn cổ, đường nét hoa văn lặp
lại liên tục theo nhịp điệu.
Nhịp điệu trong họa tiết trang trí trên mặt trống đồng Đông Sơn (Hình 1.3)
là những đường nét phong phú có giá trị cao về mặt thẩm mĩ cũng như về kĩ
thuật chế tác. Dù tả người, tả vật hay các hoa văn trang trí, toàn bộ được sắp
xếp nhịp nhàng theo hệ thống mạch lạc, khúc triết, cách thể hiện rất hài hòa.
Những nét đẹp đó đã được khái quát hóa cao bằng các hình kỷ hà nhưng
cũng không nằm ngoài sự chi phối của yếu tố nhịp điệu.
Trong chạm khắc trang trí Đình làng Việt Nam các yếu tố hình thể con
người, cảnh trí, loài vật hòa nhập vào nhau và mang tính dân dã làm cho
không gian ngôi đình trở nên gần gũi, thân thiết hơn trong không gian sinh
hoạt chung của cả làng. Thể hiện bằng những nét chạm bong, chạm lộng,
khắc nổi, chạm khối lồi, lõm… với những nhát chạm dứt khoát, mạnh mẽ
không cần tỉa tót. Khối khỏe, vững chãi trong hình thức thể hiện, đơn giản
mang tính khái quát và thực hiện phong phú được thể hiện trên nhiều đề tài
khác nhau. Ví dụ như: “Chuốc rượu”, “cảnh giao hoan trong lễ hội”…
(Hình 1.4, hình 1.5)
Giống như nhịp điệu trong trang trí trống đồng, nhịp điệu trong chạm khắc
đình làng cũng được thể hiện rất rõ nét, sinh động mang hơi thở của hiện
thực cuộc sống thông qua những ngôn ngữ chung như: bố cục, đường nét,
hình mảng, khối…
Yếu tố nhịp điệu đã đi vào đời sống nghệ thuật như là sự vận động của chính
cuộc sống, dù tĩnh hay động, dù ẩn hay hiện thì nó vẫn biểu lộ một cách tinh

tế khiến chúng ta phải để tâm tìm hiểu mới có thể nhìn nhận độc đáo.
1.3.3.3 Nhịp điệu trong hội họa
Tiếp cận ngôn ngữ hội họa từ quy luật nhịp điệu người ta nhận thấy hình và
màu là tiếng nói đặc trưng: Hình được coi như cốt cách, màu là nước men.
Sự vang lên của màu được ví như sự vang lên của âm thanh trong âm nhạc
tùy thuộc vào cung bậc tình cảm của mỗi người. Hơn nữa nhịp điệu trong
tranh là sự phản ánh trung thực nhất nhịp điệu cuộc sống là sự thể hiện
nguyên lý về thẩm mĩ được biểu hiện trên các yếu tố về tạo hình trong một
tương quan chung. Vì thế thưởng thức tranh dưới góc nhìn nhịp điệu sẽ thấy
được cái thi vị, hấp dẫn của loại hình nghệ thuật thị giác, nghệ thuật không
gian này.
Trong quá trình lao động nghệ thuật, bắt nguồn từ khí chất và tùy thuộc vào
thói quen, kĩ thuật biểu hiện của mỗi người mà nghệ sĩ lựa chọn một trong
các yếu tố: Đường nét, hình, màu…làm chủ đạo song vẫn trên tinh thần hài
hòa về nhịp điệu chung của bức tranh. Tùy thuộc các kĩ thuật vẽ khác nhau
mà có thể biểu hiện cảm xúc của người sĩ và thời đại họa sĩ đang sống. Nghệ
thuật mang theo tinh thần nhịp điệu.
Thông qua sự hài hòa và sự vận động không ngừng của đường nét, màu sắc,
bố cục để tạo thành cái nhịp trong tranh. Do vậy, nhịp điệu trong hội họa
chính là sự sắp xếp đường nét, màu sắc, mảng khối, là sự bố trí, sắp xếp, kết
nối giữa hình nọ với hình kia, tạo nên không gian ẩn hiện luôn biến đổi rất
đa dạng. Ngoài ra, người họa sĩ để được có một tác phẩm đẹp thì dù muốn
hay không cũng đã tuân theo các qui luật của nhịp điệu dưới hình thức nhiều
góc độ khác nhau. Đó là quy luật nhịp điệu của không gian hòa sắc, đường
nét, mảng, bố cục…
Là một phương tiện biểu đạt của nghệ thuật tạo hình, nét có sự vận động và
chuyển hướng , sở dĩ có những nét cong, thẳng, gấp khúc là do cảm giác của
con người mà thành, nó sự bộc lộ tâm hồn nhạy cảm của con người trước qui
luật tự nhiên. Để miêu tả mưa, Hirosshige phối hợp những vệt như đường kẻ
chỉ xiên chéo tạo nên sức mưa đang quật mạnh xuống cảnh vật. Đó là một

cách trực tiếp đặc tả của thể loại tranh khắc gỗ hoàn toàn khác với lối vẽ nhẹ
nhàng về mưa kiểu như những làn hơi nước mờ mờ trong lụa. Nhiều khi để
phát triển các nét chính trong tác phẩm, họa sĩ còn có thể loại bỏ các chi tiết
phụ để diễn tả hệ thống nét vận động bên trong sự vật như bức tranh “ Cây
táo nở hoa” (Hình 1.6) của Mondrian. Hay là khi gợi chiều sâu của không
gian ta còn thấy họa sĩ sử dụng những đường ngang, đường thẳng, góc
vuông thay đổi chiều hướng và tỉ lệ. Việc lấy đường nét làm chủ đạo trong
một số bức tranh tạo cho người ta cảm giác như được thưởng thức một bản
hòa tấu, chọn âm sắc của một nhạc cụ làm chủ đạo, âm sắc của các nhạc cụ
khác hòa theo đệm nhịp làm tăng thêm cho âm sắc chính. Đường nét cũng
góp phần nhấn mạnh nhịp điệu của bố cục, nó ảnh hưởng lớn đến hướng
nhìn của con mắt mà biểu hiện sâu sắc tâm hồn con người. Còn khi nói đến
hình mảng, ta thấy điển hình trong việc phân bố hình mảng trên tinh thần
nhịp điệu là bức tranh “Mùa xuân” (Hình 1.7) của danh họa Botticenlli.
Trong khi sáng tạo nghệ thuật họa sĩ tìm thấy cái đẹp kì diệu của những thứ
hiện hữu quanh mình họ vẽ cùng với tự nhiên chứ không phải vẽ theo tự
nhiên, họ quan sát tự nhiên một cách tinh tế và tái hiện bằng những tương
quan màu sắc, ánh sáng. Có thể nói các quan hệ của chính các yếu tố tạo
hình đã tạo ra nhịp điệu trong tranh. Xét về màu sắc theo khoa học người ta
phân ra bảy cặp màu tương phản, tương phản đậm nhạt, sáng tối, nóng lạnh,
bổ túc. Sở dĩ có được điều đó là bởi tài khéo léo pha trộn màu sắc của họa sĩ.
Dưới nhiều hình thức, nhịp điệu của màu là sự hài hòa của sắc độ nóng lạnh,
đậm nhạt. Một bức tranh có sắc nghĩa là trong tranh có sự lặp lại của màu
sắc, bởi sắc là nhụy của tranh. Trong tranh có sự hướng sắc lên là lúc có sự
ăn màu nhịp nhàng giữa gam màu chủ đạo với quan hệ màu khác cạnh nó.
Đó là sự luyến láy của màu, gợi cho ta cảm giác không chỉ xem tranh, ngắm
tranh mà còn nghe tranh, để lắng nghe nhịp điệu tâm hồn họa sĩ. Cụ thể
trong thể loại sơn khắc, nước không phải là màu trắng nền vóc đen vậy mà ta
vẫn cảm nhận được độ trong của nước, cùng phối hợp với các đường nét
khắc tỉa ngon lành trên bề mặt, tạo ra đủ loại chất, đủ loại ánh sáng đen

không phải là tối đen. Hoặc khi diễn tả màn đêm họa sĩ lại lấy cái mênh
mông của mảng nền trắng lớn để đặc tả về tĩnh lặng của màn đêm như trong
tranh “Đi học đêm” (Hình 1.8) của Tô Ngọc Vân. Nhìn chung, một bức
tranh gây hứng thú người xem tranh hài hòa cân xứng do các thủ pháp tạo
hình đem lại.
Dù phương Tây hay phương Đông, qui luật tương ứng hài hòa, cân bằng của
tự nhiên được chuyển hóa vào tranh đều là cái đẹp của mọi cái đẹp. Yếu tố
nhịp điệu trong tranh là sự phản ánh nhịp điệu cuộc sống, nó mang theo
quan niệm của mỗi dân tộc, mỗi thời đại và mang nhu cầu đòi hỏi sự phù
hợp tâm sinh lý của mỗi người.
Như trong tranh dân gian Việt Nam, hình ảnh mấy cô nâng gấu váy để hứng
dừa tuy không có thực song lại quen quen bởi nó tiểm ẩn trong thói quen
tưởng tượng hóm hỉnh của con người Việt Nam. Ta sống hàng ngày với mọi
thứ, hình dáng từ cái nhìn của người nhà quê chất phác bên ruộng lúa, những
ngôi nhà đã cũ của dãy Phố Cổ… tất cả những hình ảnh đó đã khắc sâu trong
tâm hồn ta để ta say xưa cảm nhận những nét tả thực trong tranh. Đó là thứ
nhịp điệu rất riêng trong lối tả thực của Việt Nam. Cảm nhận được nhịp sống
tưng bừng của nông thôn mới và những buổi đầu lao động tập thể hăng say,
các họa sĩ đã phản ánh thành công xây dựng đất nước bằng tranh.
* Tiểu kết
Ta thấy yếu tố nhịp điệu tồn tại trong mọi hành động của vũ trụ, tạo vật và
con người. Bởi lẽ nó chính là sự sống, con người tồn tại khi còn nhịp đập
của con tim. Nếu ai đó ngừng thở trong nửa tiếng, mọi liên kết trong con
người sẽ ngừng lại và cái chết chiếm lĩnh tất cả và sự sống còn tồn tại trong
con người. Người ta đánh giá mọi vật đang sống đều qua yếu tố nhịp điệu.
Nó là dấu ấn của sựu tồn tại.
CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THÁI BIỂU ĐẠT CỦA NHỊP ĐIỆU TRONG
HỘI HỌA
2.1 THỂ HIỆN QUA ĐƯỜNG NÉT
Trong hội họa, đường và nét luôn đi đôi với nhau, khi vẽ một vật thể, một

con người, người ta sử dụng đường và nét để diễn tả. Chính đường nét góp
phần nhấn mạnh nhịp điệu của bố cục nó ảnh hưởng lớn đến hướng nhìn của
con mắt và biểu hiện sâu sắc tình cảm của con người. Nét là một phương
tiện biểu đạt của nghệ thuật tạo hình, nó vận động và chuyển hướng dưới
nhiều thể thức và tham gia tích cực vào việc hình thành nên nhịp điệu tranh.
Đường nét có quan hệ chặt chẽ với chuyển động. Tùy theo nét mạnh hay
yếu, đơn giản hay phức tạp dẽ gợi lên sự mạnh bạo gay gắt hay êm dịu nhẹ
nhàng. Đường nét có thể tạo ra hình thể, đường viền là giới hạn của hình thể
hay mép ngoài của một vật thể ba chiều được biểu diễn trên mặt phẳng hai
chiều. Có thể nói khái quát rằng bất kỳ bức tranh nào, dù được diễn tả bằng
mảng cũng cần tới một đường viền tối thiểu để giúp chúng ta nhận ra hình
thể. Đường rõ nét tạo một ấn tượng mạnh và bất ngờ cho mắt, có hiệu quả
xác định hoàn hảo, ngược lại đường mờ nhạt, là giới hạn của hai mảng màu
tương đồng, làm ta liên hệ nhiều đến cảm giác mềm mại, nó gợi lên hình ảnh
trong trịa của hình thể và sự nhẹ nhàng của các đường cong tiếp xúc nhau
mà không đối chọi nhau.
Đường nét có ảnh hưởng lớn đối với thị giác của con người, trong khi theo
dõi đường nét, cái nhìn của ta làm cho nó hoạt động. Việc sử dụng đường
nét tạo ra nhịp điệu chuyển động trong mắt người xem.
Họa sĩ Piet Mondrian với bức tranh “Ba màu đỏ, vàng, xanh” (Hình 2.1) với
bố cục là những đường thẳng và những mảng màu rất đơn giản nhưng tạo
được nhịp điệu mạnh mẽ. Tác phẩm của ông đơn giản hóa các phương thức
biểu hiện tới mức chỉ còn là cái cốt yếu. Ông không chỉ bỏ hết yếu tố hình
và không gian hội họa ba chiều mà còn bỏ cả đường cong, tính chất gợi cảm
của kết cấu bề mặt. Trong tác phẩm này tác giả chỉ sử dụng chủ yếu là yếu tố
đường thẳng và mảng màu, các đường thẳng theo phương nằm ngang và
đường thẳng đứng tạo ra những ô lưới hình chữ nhật. Tám nét dọc kết hợp
với bốn nét ngang dọc đối chọi tạo ra nhịp điệu tinh hoa và cô đặc của nhịp
sống.
Yếu tố nhịp điệu của đường nét là một phần để tạo ra sự hài hòa trong một

tác phẩm hội họa. Đường nét có kích thước, màu sắc, sắc đọ và sự chuyển
động riêng của nó, sự sắp xếp đường nét nhằm tạo nên hình thể. Trong các
tác phẩm thời Phục Hưng việc sử dụng các đường nét để tạo ra các hình thể
chủ yếu trong các đề tài kinh thánh. Sự kết hợp đường nét để tạo ra các hình
dạng nhẹ nhàng uyển chuyển. Những họa sĩ ở thời kì này sử dụng chủ yếu
sử dụng các đường nét cong, nhẹ mềm mại thể hiện được nội tâm nhân vật
hoặc nhóm nhân vật. Các thời kì sau này, việc sử dụng các đường nét mạnh
trong các tác phẩm đặc biệt trong trào lưu nghệ thuật hiện đại cho những
không gian mạnh mẽ và tác phẩm của các họa sĩ đã đi sâu và thể hiện không
gian trừu tượng, không gian ước lệ.
Đường nét trong tranh dân gian đã tạo được ấn tượng trong mắt người
thưởng thức, nó đưa ra hiệu quả xác định hoàn hảo về cảm giác mạnh mẽ bất
ngờ hay cảm giác mềm mại gợi nên hình ảnh, hình thể và sự nhẹ nhàng của
các đường cong tiếp xúc nhau mà không đối chọi.
Trong tranh “Hứng dừa” (Hình 2.2) tranh dân gian Đông Hồ là một trong
những bức tranh độc đáo về thể hiện đường nét và hình thể, thể hiện nhịp
điệu trên lá dừa là những đường cong, vươn lên rồi ngả, những nét của thân
cây dừa là các đường vòng xuống song song, ta đã thấy sự thay đổi về chiều
hướng của đường nét, còn về nhân vật, đường nét trên cơ thể mềm mại của
người phụ nữ đang chạy tới để hứng những quả dừa mà chàng trai vứt xuống
ta cũng thấy những đường cong trên y phục, nếp quần áo có những nhịp bay
lượn tạo ra động, nhịp cũng thể hiện trên các cành cây, quả dừa, cuống dừa
có sự thay đổi của chiều hướng về nét, về hình. Mảng chữ đóng vai trò rất
quan trọng tạo ra cái tĩnh của tranh kết hợp với cái động của nhân vật, khung
cảnh mang đến cho ta nhịp điệu.
Do vậy ta có thể hiểu, đường nét là xương sống của một tác phẩm hội họa.
Nó không những mô tả được hình thức, không gian, tạo chất, mà còn diễn tả
được cả sự vận động hay tĩnh tại của một sự vật. Đồng thời khái quát hóa,
sáng tạo nên hình tượng mang sức biểu cảm tạo nên giá trị nghệ thuật. Để
cảm nhận và hiểu được một tác phẩm nghệ thuật tạo hình. Chúng ta phải

hiểu, tiếp cận được giá trị thẩm mĩ của đường nét tạo hình một cách sâu sắc
và toàn diện.
2.2 THỂ HIỆN QUA MÀU SẮC, CHẤT CẢM
2.2.1 Thể hiện qua màu sắc, đậm nhạt
Đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ hội họa chính là đường nét và màu sắc.
Đường nét là nét bao quanh của hình khối và trong màu sắc có bao hàm cả
sắc độ đậm nhạt.
Màu sắc là một thành phần cốt yếu của hội họa, nó không chỉ là một phương
tiện làm tôn giá trị cho hình nét mà là yếu tố chủ đạo tạo ra không gian, thể
chất, mảng khối, chuyển động để biểu thị các trạng thái tâm hồn. Màu sắc
trong tự nhiên được tạo ra từ các màu cơ bản, từ đó có thể tạo ra hang triệu
màu sắc. Khi các màu đặt cạnh nhau theo chiều chú ý nhất định sẽ tạo ra một
nhịp điệu thị giác.
Màu sắc bắt đầu với ánh sáng và có nguồn sáng. Ở đâu có ánh sáng thì ở đó
có màu sắc, đâu có ánh sáng mạnh thì màu sắc ở đó có vẻ đặc biệt và mãnh
liệt, ở đâu có ánh sáng yếu thì khó có thể phân biệt màu này với màu kia.
Trong một bức tranh, màu sắc là do sự pha trộn của nhiều màu, chúng vô
cùng phong phú và sinh động. Để dễ nhận biết chúng và chủ động tạo ra
gam màu chủ đạo cho bức tranh, người ta dựa vào tính chất, đặc điểm của
chúng mà phân ra màu nóng và màu lạnh. Màu nóng là màu gần với màu
lửa, tạo cảm giác ấm áp, sôi nổi. Ví như đỏ, vàng, cam, nâu… Màu lạnh là
những màu gần với màu nước, ví như: lam, xanh lục… Tùy theo hòa sắc của
hệ thống màu đặt cạnh nhau sẽ cho người xem một hiệu quả rõ ràng về nhịp
điệu của tranh. Hòa sắc của hệ thống màu đặt cạnh nhau sẽ tạo ra cho người
xem một hiệu quả rõ ràng về một nhịp điệu yên ả (gam màu cùng tông) và
một cảm giác về nhịp điệu nhanh, mạnh nếu là những cặp màu bổ túc, tương
phản. Bởi vậy sự sắp đặt các mảng màu nguyên chất đặt cạnh nhau trên màu
nền sáng là một sáng tạo của sự thụ cảm giữ màu sắc thiên nhiên và tâm lí
dân tộc trong tranh dân gian Việt Nam. Xem tranh “Trống, mái và đàn con”
(Hình 2.3) – tranh dân gian Đông Hồ là sự đối chọi giữa các màu tươi

nguyên chất kết hợp với các màu trung tính của nét đen tạo nên sự hài hòa
về các mảng màu đối chọi và màu trắng điểm xuyết trên một số chi tiết của
đàn gà đã tạo ra một sắc màu rộn rang cảm giác một sự no đủ, sung túc thể
hiện qua câu nói của người xưa về bức tranh này: “No vợ, đủ chồng, có đầu,
có mỏ, lắm con nhiều cháu, giống cánh, giống lông…”.
Tranh làng mái (Đông Hồ) dùng màu sắc nhắc đi, nhắc lại (đỏ, lục, vàng,
đen, trắng) mà các nghệ nhân đã sử dụng và điều tiết chúng thật hợp lí.
Những mảng màu được nhắc đi, nhắc lại, dải đều trên khắp mặt tranh, gây
cảm giác như có nhiều màu như trong bức “Võ Trường”, “Rước Rồng”
(Hình 2.4, hình 2.5). Sự nhắc lại màu đó cũng tạo ra được hệ thống chạy
khắp bức tranh để tạo nên các nhịp điệu của màu giúp cho bức tranh vui vẻ,
hài hước, dí dỏm.
Có thể nói nhịp điệu màu sắc trong tranh là sự vận động không ngừng của
các màu được lặp đi, lặp lại, mảng miếng rõ ràng tạo ra một sự chuyển động
trong bức tranh. Khi xem một tác phẩm hội họa ta thấy màu sắc vô cùng
phong phú, nó là những hòa sắc, những sự kết hợp phức tạp, do đó nhịp điệu
của màu sắc cũng đa dạng và muôn màu, muôn vẻ. Trong tranh của họa sĩ
Paul Cezanne thì nghệ thuật là tổ chức cảm giác màu của chúng ta. Ông thể
hiện nghệ thuật bằng tạo hình những vệt màu và tranh có màu sắc tương
đồng, tạo cho người xem một cảm giác của nhịp điệu do sự kết hợp của màu
sắc và hình. Ông đã thành công trong việc thể hiện thiên nhiên bằng các màu
sắc của các hình đa diện cơ bản.
Ngược với việc dùng các vệt màu có hình đa giác trong tranh Cezanne, họa
sĩ Paul Gauguin vẽ những hình màu đều sắc có viền quanh trong tranh của
ông. Kết hợp với việc tạo hòa sắc bằng các màu nguyên chất, tranh của ông
cho thấy nhịp sống của vùng xích đạo. Bằng việc lặp lại các mảng màu,
đường nét, ông đã thoát khỏi chủ nghĩa hiện thực chân phương, chuyển hóa
một phong cảnh, hình tượng thành sự biểu hiện vừa hợp lý vừa dễ cảm.
Màu sắc trong tranh thể hiện sự hiện diện và chuyển động của ánh sáng, do
đó nó là yếu tố không thể thiếu trong tranh. Ánh sáng làm cho không gian

khi thì lung linh huyền ảo, khi thì chắc nịch tĩnh lặng… người họa sĩ chụp
ánh sáng trong tranh bằng cách sử dụng màu sắc, nhịp điệu của ánh sáng
được thể hiện qua nhịp điệu của màu sắc, sự tương phản đậm nhạt, sắc độ.
Tranh “Đồng lúa mì với người thợ gặt”, 1889 (Hình 2.6) Vincent Van
Gogh. Tính tích cực của những màu sắc rực rỡ và những cây lúa mì vàng
múa lượn bị giảm đi bởi sự có mặt đầy tính biểu tượng của người thợ gặt
đang lao động cực nhọc bên dưới bầu trời xanh.
Hay ở tác phẩm “Ảo mộng của bài thuyết giáo”,1888 (Hình 2.7) của Paul
Gauguin việc Gaugin sử dụng màu đỏ chói làm màu chủ đạo trong bức tranh

×