MỞ ĐẦU
I Lí do chọn đề tài
Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, tạo cơ sở cho
việc giải quyết những vấn đề xã hội vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh", nâng cao vị thế Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, phát
triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay đã và đang bộc lộ những hạn chế cần khắc phục để đảm
bảo phát triển kinh tế nhanh, bền vững, gắn chặt tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công
bằng xã hội. Kinh tế nước ta vẫn dựa nhiều vào khai thác tài ngun thiên nhiên, năng suất lao động
cịn thấp, cơng nghệ sản xuất, mơ hình tiêu dùng cịn sử dụng nhiều năng lượng, nguyên liệu; dân số
tăng nhanh, tỷ lệ hộ nghèo còn cao, các dịch vụ cơ bản về y tế giáo dục hiện còn bất cập, các loại tệ
nạn xã hội chưa được ngăn chặn triệt để; nhiều nguồn tài nguyên bị khai thác kiệt quệ, sử dụng lãng
phí, môi trường bị ô nhiễm đến mức báo động, sự kết hợp giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ
môi trường chưa đồng bộ, hiệu quả đang là những vấn đề cấp bách đặt ra cần quan tâm giải quyết. Vì
vậy, Đảng ta đặc biệt chú trọng chiến lược phát triển bền vững đất nước, xem đây là vấn đề sống cịn
của dân tộc trong hành trình đi lên cùng thời đại.
Trong bức tranh tổng thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước, tỉnh Lâm Đồng
đang chuyển mình đi lên với những bước đi phù hợp trong điều kiện cụ thể của địa phương.
Tỉnh Lâm Đồng nằm trên cao nguyên cao nhất của Tây Nguyên là Lâm Viên - Di Linh. Phía
bắc Lâm Đồng giáp tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nơng, phía đơng giáp Khánh Hịa và Ninh Thuận,
phía nam là tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai và phía tây là tỉnh Bình Phước. Trong những năm qua
thực hiện quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh về Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội
tỉnh Lâm Đồng đến năm 2015, chính quyền và nhân dân Lâm Đồng đã và đang nỗ lực phấn
đấu đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng: kinh tế tăng trưởng nhanh,đời sống
nhân dân được cải thiện đáng kể, những vấn đề xã hội căn bản được giải quyết tốt, chính trị xã
hội ổn định Tuy nhiên, quá trình phát triển ở Lâm Đồng cũng đang đặt ra những vấn đề lớn đòi
hỏi phải quan tâm giải quyết. Đó là vấn đề chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sử dụng hợp lý nguồn tài
nguyên, khắc phục tình trạng ơ nhiễm mơi trường, phát triển y tế, giáo dục, giải quyết tốt
những vấn đề xã hội bức xúc .Là một sinh viên chuyên ngành kinh tế quản lý đô thị - Đại học
Kinh tế quốc dân,em thấy rằng, phải có một chiến lược phát triển bền vững thì tỉnh Lâm Đồng
mới có thể giải quyết hài hịa các mục tiêu đặt ra ở trên.Vì vậy, em chọn đề tài: "Phát triển
bền vững ở tỉnh Lâm Đồng" làm đề án môn học kinh tế và quản lý đơ thị của mình.
II Phương pháp nghiên cứu sử dụng trong đề tài:
Thống kê, thu thập số liệu.
Tổng hợp số liệu.
Phân tích số liệu, biểu đồ.
Rút ra kết luận.
III Kết cấu đề tài
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về phát triển bền vững
Chương 2 Thực trạng phát triển bền vững ở tỉnh Lâm Đồng
Chương 3 Phương hướng và giải pháp thực hiện phát triển bền vững ở Lâm Đồng thời gian
tới.
1
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
I Khái niệm và nội dung phát triển bền vững
"Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng được nhu cầu hiện tại và đảm bảo không
làm tổn thương khả năng đáp ứng đòi hỏi của thế hệ tương lai....."
"Sustainable development is development that meets the needs of the present without
compromising the ability of future generations to meet their own needs....." (WCED)
Trái ngược với hiểu biết phổ biến, phát triển bền vững không chỉ đơn thuần được hiểu là sự
phát triển được duy trì một cách liên tục mà hơn thế phát triển ở đây là sự nỗ lực liên tục nhằm
đạt được trạng thái bền vững trên mọi lĩnh vực. Phát triển bền vững không được coi là một
mục tiêu được đặt ra để đạt được mà đó là một quá trình duy trì sự cân bằng cơ học của địi hỏi
của con người với tính cơng bằng, sự phồn vinh, chất lượng cuộc sống và tính bền vững của
môi trường tự nhiên.
Phát Triển Bền Vững ngày càng trở thành trung tâm của sự phát triển trong mọi lĩnh vực khi xã
hôi bước vào thế kỉ 21. Vấn để ô nhiễm môi trường từng ngày trở thành vấn đề đáng lưu tâm
song song với sự đi lên nhanh chóng của nền kinh tế. Thu nhập của người dân ngày càng được
cải thiện, mức sống được nâng dần lên cả ở thành thị lẫn nơng thơn, trong khi đó khoảng cách
giàu nghèo trong xã hội cũng tăng lên rõ rệt.
Vì vậy phát triển bền vững sẽ giúp mọi người trong xã hội đều có quyền bình đẳng và ln gắn
phát triển kinh tế với bảo vệ và nâng cao chất lượng môi trường.
Phát triển bền vững bao gồm ba thành phần cơ bản :
Môi Trường Bền Vững, Xã Hội Bền Vững, Kinh tế Bền Vững
2
Khía cạnh mơi trường trong phát triển bền vững địi hỏi chúng ta duy trì sự cân bằng giữa bảo
vệ môi trường tự nhiên với sự khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ lợi ích con
người nhằm mục đích duy trì mức độ khai thác những nguồn tài nguyên ở một giới hạn nhất
định cho phép môi trường tiếp tục hỗ trợ điều kiện sống cho con người và các sinh vật sống
trên trái đất
Khía cạnh xã hội của phát triển bền vững cần được chú trọng vào sự phát triển sự công bằng và
xã hội luôn cần tạo điều kiện thuận lợi cho lĩnh vực phát triển con người và cố gắng cho tất cả
mọi người cơ hội phát triển tiềm năng bản thân và có điều kiện sống chấp nhận được.
Yếu tố kinh tế đóng một vai trị khơng thể thiếu trong phát triển bền vững. Nó địi hỏi sự phát
triển của hệ thống kinh tế trong đó cơ hội để tiếp xúc với những nguồn tài nguyên được tạo
điều kiện thuận lợi và quyền sử dụng những nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động
kinh tế được chia sẻ một cách bình đẳng. Khẳng định sự tồn tại cũng như phát triển của bất cứ
ngành kinh doanh , sản xuất nào cũng được dựa trên những nguyên tắc đạo lý cơ bản. Yếu tố
được chú trọng ở đây là tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người, không chỉ tập trung
mang lại lợi nhuận cho một số ít, trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không
xâm phạm những quyền cơ bản của con người.
II Những nguyên tắc phát triển bền vững ở Việt Nam
Việt Nam là một thành viên tham gia tích cực “ Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất” năm 1992 và
là một bên ký kết Chương trình Nghị sự 21. Thực hiện cam kết quốc tế về phát triển bền vững,
Chính phủ Việt Nam chủ trương xây dựng và ban hành Định hướng chiến lược về Phát triển
bền vững (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam). Định hướng chiến lược về Phát triển bền
vững ở Việt Nam bao gồm tổng thể các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phịng
và khoa học cơng nghệ…
Các ngun tắc phát triển bền vững chính ở Việt Nam:
Con người là trung tâm của phát triển bền vững. Phát triển bền vững nhằm đáp ứng đầy đủ mọi
nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ và văn minh.
Phát triển kinh tế song hành với bảo đảm an ninh lương thực, năng lượng để phát triển bền
vững. Khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên trong giới hạn
cho phép về mặt sinh thái và môi trường lâu bền.
Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường phải được coi là một yếu tố không thể tách rời của
quá trình phát triển. Xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ và có hiệu lực về công tác bảo vệ
môi trường. Yêu cầu bảo vệ môi trường ln được coi là một tiêu chí quan trọng trong việc lập
quy hoạch, kế hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội và trong phát triển bền vững.
Q trình phát triển phải đảm bảo một cách cơng bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và các thế hệ
tương lai. Tạo ra những nền tảng vật chất, tri thức và văn hóa tốt đẹp cho những thế hệ mai
3
sau; sử dụng tiết kiệm những tài nguyên không thể tái tạo; giữ gìn và cải thiện mơi trường
sống, phát triển hệ thống sản xuất sạch và thân thiện với mơi trường. Sống lành mạnh, hài hịa,
gần gũi và u quý thiên nhiên.
Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực cho cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa. Công nghệ
hiện đại, sạch và thân thiện với môi trường cần được ưu tiên sử dụng rộng rãi trong các ngành
sản xuất.
Phải huy động tối đa sự tham gia của mọi người có liên quan trong việc lựa chọn các quyết
định về phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường.
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế thế giới để phát triển bền
vững. Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn những tác động xấu đối với môi trường do quá trình
tồn cầu hóa và hội nhập kinh tế gây ra.
Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ mơi trường với bảo đảm quốc phịng,
an ninh và trật tự an toàn xã hội.
III Chỉ tiêu đo lường Phát triển bền vững
1 Kinh tế
Dựa vào một số bộ tiêu chuẩn nghiên cứu, xin đề xuất một số tiêu chuẩn cơ bản để đánh gía
tính bền vững của phát triển kinh tế như sau:
1.1 Quy mô tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn (GDP)
Tổng sản phẩm trong nước là giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền
kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Tổng sản phẩm trong nước được tính theo giá thực
tế và giá so sánh.
1.2 Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP)
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng
quốc gia (GNP) hoặc quy mơ sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong
một thời gian nhất định.
Để đo lường tăng trưởng kinh tế có thể dùng mức tăng trưởng tuyệt đối, tốc độ tăng trưởng
kinh tế hoặc tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm trong một giai đoạn.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế kỳ hiện tại
so với quy mô kinh tế kỳ trước chia cho quy mô kinh tế kỳ trước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế
được thể hiện bằng đơn vị %..
Trong khuôn khổ bài viết, tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính theo tốc độ tăng trưởng GDP.
1.3 Tỉ lệ vốn đầu tư trên GDP
Là một tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của sử dụng vốn đầu tư và sự phụ thuộc của GDP vào
vốn đầu tư.
Trong khuôn khổ bài viết, chỉ số này tính bằng tổng vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế chia
cho GDP theo giá thực tê.
4
1.4 Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là tổng thể các yếu tố cấu thành nền kinh tế , có quan hệ chặt chẽ với nhau,
được biểu hiện về cả mặt chất và mặt lượng, tùy thuộc theo mục tiêu nền kinh tế.
Trong khuôn khổ bài viết, tỉ trọng của từng khu vực kinh tế trong cơ cấu kinh tế được tính
theo tỉ trọng đóng góp GDP
1.5 Xuất nhập khẩu
Xuất khẩu là việc bán hàng hoặc dịch vụ ra thị trường nước ngồi; gồm hai loại hình: XK hàng
hố ( xuất khẩu hữu hình), XK dịch vụ ( xuất khẩu vơ hình).
Nhập khẩu đưa hàng hố từ nước ngồi vào nước mình; cùng với xuất khẩu, tạo thành cán cân
thương mại của một quốc gia.
Trong khuôn khổ bài viết sử dụng chỉ tiêu Trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hố để tính tốn.
Trị giá xuất khẩu, nhập khẩu hàng hố là tồn bộ giá trị hàng hố đưa ra hoặc đưa vào lãnh thổ
Việt Nam làm giảm (Xuất khẩu), làm tăng (Nhập khẩu) nguồn của cải vật chất của Việt Nam
trong một thời kỳ nhất định.
1.6 Năng suất lao động
Năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số
sản phẩm, lượng giá trị sử dụng (hay lượng giá trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo
bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị thành phẩm.
Trong khn khổ bài viết này được tính bằng GDP theo giá thực tế chia cho số lao động đang
làm việc trong nền kinh tế.
2 Tiến bộ xã hội:
2.1 Chỉ số Tuổi thọ:
Tuổi thọ ( Lifespan) nói chung dùng để chỉ thời gian sinh tồn thường thấy ở một loài sinh vật.
Tuổi thọ trung bình hay kỳ vọng sống ( Life expectancy) là số năm dự kiến còn lại của cuộc đời
ở một độ tuổi nhất định. Nó được kí hiệu là ex, nghĩa là số trung bình các năm tiếp theo của cuộc
đời cho một người ở độ tuổi x nào đó, tính theo một tỉ lệ tử cụ thể. Tuổi thọ trung bình phụ thuộc
vào các tiêu chuẩn được sử dụng để chọn các nhóm. Tuổi thọ trung bình thường được tính riêng
cho nam và nữ. Nữ giới thường sống lâu hơn nam giới ở hầu hết các quốc gia có hệ thống y tế
sản khoa tốt.
2.2 Chỉ số giáo dục:
Chỉ số giáo dục được xây dựng trên tỉ lệ biết chữ của người lớn (từ 15 tuổi trở lên) và trên tỉ lệ
ghi danh theo học các bậc tiểu học, trung học và đại học gộp lại.
5
Tỉ lệ biết chữ chiếm 2/3 hệ số, trong khi tỉ lệ ghi danh ở tiểu, trung và đại học chỉ chiếm 1/3 mà
thơi. Nói cách khác, căn bản quan trọng để tính tốn chỉ số giáo dục giữa các quốc gia là tỉ lệ biết
chữ.
Tỉ lệ biết chữ không có nghĩa đơn giản là tỉ lệ biết đọc biết viết. Biết chữ có nghĩa là kiến thức và
kỹ năng xử lý thơng tin mà con người cần phải có khi đọc các tài liệu thường gặp hằng ngày
trong công việc làm, ở gia đình hay trong cộng đồng.
Khi thực hiện cuộc khảo sát này để tính tỉ lệ biết chữ của một nước, người ta không đo lường cá
nhân về kiến thức lý thuyết hay khả năng nhớ thuộc lịng các thơng tin, mà chỉ khảo sát khả năng
triển khai và giải thích ý nghĩa của các tài liệu dưới nhiều dạng khác nhau: văn xuôi, văn vần, các
tài liệu hướng dẫn, các thông báo, biểu mẫu xin việc, bảng biểu thống kê, tài liệu định lượng, các
tính tốn...
Căn cứ trên điểm số các thang đo lường ấy, người ta phân chia dân chúng trong mỗi nước theo
các mức biết chữ và tính tỉ lệ trong từng mức, từ 1 (thấp nhất) đến 5 (cao nhất).
Mức 3 đòi hỏi kỹ năng tương đương với tốt nghiệp THPT và năm đầu đại học.
Mức 4 và 5 đòi hỏi kỹ năng xử lý thơng tin cao hơn, tương đương với trình độ đại học.
2.3 Chỉ số GDP bình quân đầu người
GDP bình quân đầu người của một quốc gia hay lãnh thổ tại một thời điểm nhất định là giá trị
nhận được khi lấy GDP(PPP) của quốc gia hay lãnh thổ này tại thời điểm đó chia cho dân số của
nó cũng tại thời điểm đó.
GDP được tính theo sự ngang giá của sức mua (tiếng Anh: purchasing power parity hay viết tắt:
(PPP) của mỗi loại tiền tệ tương đối theo một chuẩn chọn lựa (thông thường là đồng đôla Mỹ).
2.4 Chỉ số phát triển con người
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là chỉ số so sánh, định lượng về
mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới.
HDI đo thành tựu trung bình của một quốc gia theo ba tiêu chí sau:
Sức khỏe: Một cuộc sống dài lâu và khỏe mạnh, đo bằng tuổi thọ trung bình.
Tri thức: Được đo bằng tỉ lệ số người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấp giáo dục (tiểu học,
trung học, đại học).
Thu nhập: Mức sống đo bằng GDP bình quân đầu người.
HDI là số trung bình cộng của các số sau:
Chỉ số tuổi thọ trung bình
Chỉ số học vấn
6
2/3 tỉ lệ số người lớn biết chữ cộng với 1/3 tỷ lệ chung trong cả nước.
Chỉ số GDP bình quân đầu người
(GDP tính theo phương pháp sức mua tương đương quy ra dollar Mỹ):
HDI nhận giá trị từ 0 đến 1. HDI càng gần 1 có nghĩa là trình độ phát triển con người càng cao,
trái lại càng gần 0 nghĩa là trình độ phát triển con người càng thấp.
3 Môi trường bền vững
Tham khảo hệ thống chỉ thị và chỉ số mơi trường – TS Vũ Đình Lý
( Viện mơi trường và tài ngun –ĐHQG Hồ Chí Minh)
7
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TỈNH LÂM ĐỒNG
I Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Lâm Đồng
1 Đặc điểm tự nhiên
1.1 Vị trí địa lý
Lâm Đồng là tỉnh miền núi phía Nam Tây Ngun có độ cao trung bình từ 800 - 1.000 m so với
mặt nước biển với diện tích tự nhiên 9.772,19 km 2; địa hình tương đối phức tạp chủ yếu, là bình
sơn ngun, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu
tố tự nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật ... và những cảnh quan kỳ thú cho
Lâm Đồng.
Phía đơng giáp các tỉnh Khánh Hồ và Ninh Thuận
Phía tây nam giáp tỉnh Đồng Nai
Phía nam – đơng nam giáp tỉnh Bình Thuận
Phía bắc giáp tỉnh Đắc Lắc
Lâm Đồng nằm trên 3 cao nguyên và là khu vực đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn; nằm trong
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – là khu vực năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và
là thị trường có nhiều tiềm năng lớn.
1.2 Địa hình
Đặc điểm chung của Lâm Đồng là địa hình cao nguyên tương đối phức tạp, chủ yếu là bình sơn
nguyên, núi cao đồng thời cũng có những thung lũng nhỏ bằng phẳng đã tạo nên những yếu tố tự
nhiên khác nhau về khí hậu, thổ nhưỡng, thực động vật ... và những cảnh quan kỳ thú cho Lâm
Đồng.
Đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Lâm Đồng là sự phân bậc khá rõ ràng từ bắc xuống nam.
Phía bắc tỉnh là vùng núi cao, vùng cao nguyên Lang Bian với những đỉnh cao từ 1.300m đến
hơn 2.000m như Bi Đúp (2.287m), Lang Bian (2.167m).
Phía đơng và tây có dạng địa hình núi thấp (độ cao 500 – 1.000m).
Phía nam là vùng chuyển tiếp giữa cao nguyên Di Linh – Bảo Lộc và bán bình nguyên.
1.3 Địa chất
Tham gia vào cấu trúc địa chất tỉnh Lâm Đồng bao gồm các đá trầm tích, phun trào, xâm nhập có
tuổi từ Jura giữa đến Đệ Tứ. Các trầm tích, phun trào được phân ra 14 phân vị địa tầng có tuổi và
thành phần đá khác nhau. Các đá xâm nhập trong phạm vi tỉnh Lâm Đồng thuộc 4 phức hệ: Định
Quán, đèo Cả, Cà Ná, Cù Mơng.
Địa phận tỉnh Lâm Đồng nằm ở phía đông nam đới Đà Lạt. Đới này là một khối vỏ lục địa Tiền
Cambri bị sụt lún trong Jura sớm – giữa và phần lớn diện tích đới bị hoạt hoá magma kiến tạo
mạnh mẽ trong Mesozoi muộn và Kainozoi
1.4 Thổ nhưỡng
Lâm Đồng có diện tích đất 977.219,6 ha, chiếm 98% diện tích tự nhiên, bao gồm 8 nhóm đất và
45 đơn vị đất.
Nhóm đất phù sa, nhóm đất glây, nhóm đất mới biến đổi, nhóm đất đen, nhóm đất đỏ bazan,
nhóm đất xám, nhóm đất mùn alit trên núi cao, nhóm đất xói mịn mạnh.
8
Đất có độ dốc dưới 25 độ chiếm trên 50%, đất dốc trên 25 độ chiếm gần 50%. Chất lượng đất
đai của Lâm Đồng rất tốt, khá màu mỡ, toàn tỉnh có khoảng 255.400 ha đất có khả năng sản xuất
nơng nghiệp, trong đó có 200.000 ha đất bazan tập trung ở cao nguyên Bảo Lộc - Di Linh thích
hợp cho việc trồng cây cơng nghiệp dài ngày. Diện tích trồng chè và cà phê khoảng 145.000 ha,
tập trung chủ yếu ở Bảo Lâm, Bảo Lộc, Di Linh, Lâm Hà; diện tích trồng rau, hoa khoảng
23.800 ha tập trung tại Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng. Đất có khả năng nơng nghiệp cịn lại tuy
diện tích khá lớn nhưng nằm rải rác xa các khu dân cư, khả năng khai thác thấp vì bị úng ngập
hoặc bị khơ hạn, tầng đất mỏng có đá lộ đầu hoặc kết vón, độ màu mỡ thấp, hệ số sử dụng không
cao... Trong diện tích đất lâm nghiệp, đất có rừng chiếm 60%, cịn lại là đất trồng đồi trọc
(khoảng 40%).
1.5 Khí hậu
Lâm Đồng nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ
cao, trong năm có 2 mùa rõ rệt; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến
tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ thay đổi rõ rệt giữa các khu vực, càng lên cao nhiệt độ càng giảm. Nhiệt độ trung bình
năm của tỉnh dao động từ 18 – 25 Độ C, thời tiết ơn hịa và mát mẻ quanh năm, thường ít có
những biến động lớn trong chu kỳ năm..
Lượng mưa trung bình 1.750 – 3.150 mm/năm, độ ẩm tương đối trung bình cả năm 85 – 87%, số
giờ nắng trung bình cả năm 1.890 – 2.500 giờ, thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dưỡng và
phát triển các loại cây trồng, vật ni có nguồn gốc ơn đới. Đặc biệt Lâm Đồng có khí hậu ơn đới
ngay trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình và nằm không xa các trung tâm đô thị lớn và vùng
đồng bằng đông dân.
1.6 Thủy văn
Thác Cam Ly – TP Đà Lạt – Tỉnh Lâm Đồng.
Lâm Đồng là tỉnh nằm trong hệ thống sơng Đồng Nai, có nguồn nước rất phong phú, mạng lưới
suối khá dày đặc, tiềm năng thuỷ điện rất lớn, với 73 hồ chứa nước, 92 đập dâng.
Sông suối trên địa bàn Lâm Đồng phân bố khá đồng đều, mật độ trung bình 0,6km/km2 với độ
9
dốc đáy nhỏ hơn 1%. Phần lớn sông suối chảy từ hướng đông bắc xuống tây nam.
Do đặc điểm địa hình đồi núi và chia cắt mà hầu hết các sơng suối ở đây đều có lưu vực khá nhỏ
và có nhiều ghềnh thác ở thượng nguồn.
Các sơng lớn của tỉnh thuộc hệ thống sơng Đồng Nai.
Ba sơng chính ở Lâm Đồng là: Sông Đa Dâng (Đạ Đờng), sông La Ngà, sông Đa Nhim
2 Điều kiện kinh tế xã hội
2.1 Lịch sử
Vùng đất Lâm Đồng ngày nay từ lâu đã có con người sinh sống, mà hậu duệ của họ cho đến lúc
bấy giờ là các cộng đồng người Mạ, Cơ Ho, MNơng, Chu Ru, Rắc Lây…Ta có thể điểm qua vài
mốc Lịch sử Lâm Đồng qua các thời kỳ:
Ngày mồng 01 tháng 11 năm 1899, chính quyền Pháp lập tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại
Di Linh
Năm 1903, bãi bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, chuyển thành đại lý hành chính Di Linh, do đại diện
của Cơng sứ Bình Thuận cai trị
Năm 1913, nhập đại lý Đà Lạt với đại lý Di Linh, gọi chung là đại lý Di Linh và vẫn thuộc tỉnh
Bình Thuận
Ngày mồng 06 tháng 01 năm 1916: thành lập tỉnh Lâm Viên, gồm đại lý Đà Lạt mới lập lại và
đại lý Di Linh, tách từ tỉnh Bình Thuận. Tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh Lâm Viên còn được gọi là
Langbiang hay Lâm Biên
31 tháng 10 năm 1920: xóa bỏ tỉnh Lâm Viên, một phần lập ra thành phố Đà Lạt, phần còn lại lập
lại tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh. Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai
Thượng về Đà Lạt
Ngày mồng 8 tháng 01 năm 1941, lập lại tỉnh Lâm Viên, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt. Tỉnh lỵ tỉnh Đồng
Nai Thượng chuyển về Di Linh
Ngày mồng 19 tháng 05 năm 1958, chính quyền Việt Nam Cộng hịa đổi tên tỉnh Đồng Nai
Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, tách một phần đất sáp nhập với thành phố Đà Lạt, thành lập tỉnh
Tuyên Đức. Tỉnh Lâm Đồng gồm 2 quận Bảo Lộc và Di Linh. Chính quyền Việt Nam Dân chủ
Cộng hịa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh
Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng. Như vậy tỉnh Lâm Đồng do Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đặt bao gồm 2 tỉnh Lâm Đồng và
Tuyên Đức do Việt Nam Cộng hòa đặt.
Tháng 2 năm 1976, sáp nhập tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Tuyên Đức thành tỉnh Lâm Đồng mới.
2.2 Tổ chức hành chính
Tồn tỉnh hiện có 12 đơn vị hành chính, bao gồm thành phố Đà Lạt, thành phố Bảo Lộc và 10
huyện:Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Di Linh, Bảo Lâm, Đạ Huoai, Đạ Tẻh,
Cát Tiên, Đam Rông.Với 148 xã, phường, thị trấn; trong đó có 47 xã vùng sâu, vùng xa, vùng
trọng điểm nằm trong danh sách các xã đặc biệt khó khăn. Thành phố Đà Lạt là trung tâm hành
chính - kinh tế - xã hội của tỉnh, cách các trung tâm kinh tế lớn của vùng và khu vực không xa,
hướng nam cách thành phố Hồ Chí Minh 300Km, Biên Hịa 270Km, Vũng Tàu 340Km, hướng
đông cách cảng biển Nha Trang 210Km.
10
11
2.3 Dân cư
Dân số tồn tỉnh có đến 31/12/2009 là 1.189.327 người, trong đó dân số nơng thơn 738.935
người, chiếm 62,13%. Mật độ dân số 112 người/km2
Lâm Đồng là miền đất hội tụ nhiều dân tộc anh, em trong cả nước với trên 40 dân tộc khác nhau
cư trú và sinh sống, trong đó đơng nhất người Kinh chiếm khoảng 77%, đến nguời K’Ho chiếm
12%, Mạ chiếm 2,5%, Nùng chiếm gần 2%, Tày chiếm 2%, Hoa chiếm 1,5%, Chu-ru 1,5% ...,
cịn lại các dân tộc khác có tỷ lệ dưới 1% sống thưa thớt ở các vùng xa, vùng sâu trong tỉnh.
Lâm Đồng là vùng đất mới có sức thu hút dân cư trong cả nước đến lập nghiệp, quần thể dân cư
ở đây chưa ổn định và liên tục biến động, hiện tượng di dân tự do trong những năm qua từ các
tỉnh khác nhau trong cả nước hội tụ về Lâm Đồng tuy có giảm nhưng vẫn cịn lớn, bình qn
hàng năm thời kỳ 2001-2005 có khoảng 5.000 người di cư tự do vào Lâm Đồng.
Lễ hội cồng chiêng của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng
2.4 Y tế
Năm 2005, toàn tỉnh cú 181 cơ sở y tế Nhà nước, trong đó có 12 bệnh viện, 1 bệnh viện điều
dưỡng và phục hồi chức năng, 21 phịng khám đa khoa khu vực, 145/145 xã có trạm y tế (trong
đó 129 trạm độc lập và 16 trạm hoạt động lồng ghép). Số giường bệnh trên địa bàn tồn tỉnh hiện
nay có 2.402 giường, bình qn một nghìn dân đạt 2,08 giường vào năm 2005 với cơng suất sử
dụng giường bệnh đạt 84,92%.
Mạng lưới y tế cơ sở với các trạm y tế tuyến xã, phường, thị trấn là chủ yếu đã đóng vai trị quan
12
trọng trong việc thực hiện các hoạt động y tế dự phịng và cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
ban đầu cho nhân dân. Trong quá trình đổi mới và phát triển, ngành Y tế đã thiết lập được mạng
lưới y tế xã, phường rộng khắp từ tỉnh xuống cơ sở, từ thành thị đến nông thôn, đến vùng sâu, vùng
xa, vùng đồng bào dân tộc.
Mạng lưới y tế tư nhân cũng phát triển nhanh trong những năm qua, góp phần khơng nhỏ vào cơng
tác khám chữa bệnh, cung cấp thuốc cho nhân dân, đáp ứng nhu cầu thầy tại nhà, thuốc tại nhà của
bệnh nhân, đồng thời góp phần giảm quá tải trong các cơ sở khám chữa bệnh Nhà nước. Hiện nay,
tồn tỉnh có 641 cơ sở hành nghề y, dược tư nhân, trong đó hành nghề y là 369 cơ sở, hành nghề y
học cổ truyền 102 cơ sở và 170 cơ sở hành nghề dược.
Tính đến cuối năm 2005, tồn tỉnh có 557 bác sĩ, 83 dược sĩ đại học, 730 y sĩ và kỹ thuật viên
và 276 dược sĩ trung học và kỹ thuật viên dược. Tỷ lệ bác sỹ trên một vạn dân tăng lên đáng kể
từ 4,39 bác sĩ năm 2000 tăng lên 4,81 bác sĩ năm 2005. Ngoài số lượng y, bác sĩ, dược sĩ, c òn
một đội ngũ y tá, dược tá, nữ hộ sinh đã góp phần đáng kể trong cơng tác chăm sóc sức khoẻ
nhân dân những năm vừa qua. Tuy nhiên, số cán bộ y tế giữa các vùng khơng đồng đều, trong
đó ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc ít người thì số bác sĩ cịn ít.
Trong những năm qua, chất lượng công tác khám, chữa bệnh cho nhân dân từng bước được tăng
cường. Số người đến khám chữa bệnh trong các cơ sở y tế ngày càng tăng; năm 2005 có 2.553,6
ngàn lượt người đến khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế Nhà nước, tăng 92,27% so năm 2001,
bình quân hàng năm tăng 18,43%; số bệnh nhân điều trị nội trú 112,1 ngàn người, tăng 35,06% so
năm 2001.
Các dịch vụ chăm sóc nội trú và các dịch vụ miễn phí dành cho người nghèo và các đối tượng bảo
trợ xã hội khác ngày càng được quan tâm, đảm bảo tính cơng bằng trong việc được hưởng các dịch
vụ y tế cho mọi người dân.
2.5 Giáo dục
Giáo dục mầm non: Năm học 2005-2006, tồn tỉnh có 48.607 trẻ đi học mầm non. Hiện nay
các loại hình nhà trẻ và mẫu giáo ngồi cơng lập phát triển mạnh và hầu hết các địa phương số
trẻ em đi nhà trẻ và mẫu giáo đã tăng so với các năm học trước.
Giáo dục phổ thông: Quy mô học sinh tiểu học tiếp tục giảm, tiến dần đến ổn định do thực hiện
chính sách dân số và kế hoạch hố gia đình nên độ tuổi dân số trong độ tuổi 6-10 tuổi giảm dần
trong những năm gần đây. Năm học 2005-2006, tồn tỉnh có 127.739 học sinh tiểu học.
Số học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thổng tăng khá nhanh trong những năm gần đây.
Năm học 2005-2006 có 99.203 học sinh trung học cơ sở, số học sinh trung học phổ thông là
44.538 häc sinh.
Giáo dục mầm non: Năm học 2005-2006, tồn tỉnh có 160 trường mầm. Quy mô trường học
tăng ở hầu hết ở các loại trường, trong đó trường hệ cơng lập tăng nhanh.
Giáo dục phổ thơng: Năm học 2005-2006 cả tỉnh có 247 trường tiểu học, có 105 trường
trung học cơ sở, 22 trường trung học phổ thơng.
Cùng với đa dạng hố các loại hình giáo dục, đội ngũ giáo viên ở các ngành học mầm non, phổ
thông đã phát triển về số lượng và tăng cường chất lượng theo hướng chuẩn hoá.
Năm học 2005-2006, tồn tỉnh có 2.242 giáo viên mầm non; 5.168 giáo viên tiểu học;
13
4.477 giáo viên trung học cơ sở và 2.018 giáo viên trung học phổ thông.
Giáo viên giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiêp cũng tăng cả
về số lượng và chất lượng. Đến năm 2005 trên địa bàn tồn tỉnh có 332 giáo viên giảng dạy đại
học, 91 giảng viên giảng dạy cao đẳng và 145 giảng viên giảng dạy trung học chuyên nghiệp.
Số giảng viên có trình độ trên đại học ở các trường đại học năm học 2005-2006 đạt 46,99%, ở
các trường cao đẳng đạt 41,76%, tăng 3,5% và ở các trường trung học chuyên nghiệp đạt
10,34%.
Công tác giáo dục vùng đồng bào dân tộc :
Giáo dục dân tộc trong những năm qua tiếp tục phát triển ổn định, hệ thống trường dân tộc nội
trú được củng cố và mở rộng ngày càng đáp ứng nhu cầu học tập của con em dân tộc trong
tỉnh. Năm học 2004-2005, tồn tỉnh Lâm Đồng có 5 trường phổ thơng dân tộc nội trú, trong đó
có 1 trường dân tộc nội trú tỉnh với 1.300 học sinh đang theo học.
Số học sinh dân tộc các cấp phổ thông xu hướng tăng nhanh trong những năm qua, nhất là cấp
trung học cơ sở và trung học phổ thơng. Năm học 2004-2005, tồn tỉnh có 63.167 học sinh dân
tộc, chiếm 23,23% tổng số học sinh các cấp học phổ thơng tồn tỉnh.
Song song với việc duy trì tốt cơng tác sĩ số thì chất lượng văn hóa các cấp học cũng từng bước
được nâng lên, đạt tỷ lệ khá cao tương đương với tỷ lệ bình quân chung các cấp học toàn tỉnh.
Trong 5 năm, tỷ lệ xếp loại văn hố trung bình trở lên bình qn hàng năm cấp tiểu học đạt
92,5%; cấp trung học cơ sở đạt 80% và cấp trung học phổ thông đạt 54%
2.6 Tiềm năng du lịch
Từ Tp. Hồ Chí Minh, đi ơ tô theo quốc lộ 20 chừng 300km là đến Đà Lạt. Con đường sẽ đưa
du khách lên cao dần, cao dần và khi chạm vào Đà Lạt ở thác Prenn thì trước mặt du khách đã
là ngút ngàn rừng thơng hai lá, ba lá. Đi sâu vào thành phố Đà Lạt, du khách sẽ khám phá một
"bảo tàng" của các thác nước, những hồ đẹp, thung lũng hoa và đồi cỏ.
Nếu đi theo đường 27 từ Phan Rang ngược sông Dinh lên, sau khi vượt qua những khu di tích
lịch sử của nước Chămpa xưa và những cánh đồng khô ráo quanh năm, chúng ta đứng trên đèo
Ngoạn Mục với bức tranh thiên nhiên hùng vĩ trước mắt.
Thành phố Đà Lạt hơn 100 năm tuổi (phát hiện 1893), đang trở thành một trong những địa
danh du lịch hấp dẫn nhất đối với du khách trong và ngoài nước, một thành phố nghỉ mát lâu
đời ở nước ta. Đà Lạt nổi tiếng về hồ, về thác nước và rừng thông. Những hồ đẹp ở Đà Lạt là
hồ Xuân Hương, hồ Than Thở, hồ Đa Thiện, hồ Vạn Kiếp, hồ Mê Linh. Những hồ này nằm
ngay trong thành phố, tên thơ mộng như cảnh hồ thơ mộng, mỗi hồ gắn với một truyền thuyết
xa xưa.
Du khách đến Đà Lạt vừa thăm viếng, vừa thưởng thức những sản phẩm Đà Lạt bao gồm nhiều
loại trái cây: hồng, mận, đào, bơ; nhiều món ăn dân tộc độc đáo và các hàng lưu niệm của riêng
vùng Đà Lạt.
Vẻ đẹp của Đà Lạt còn được ngợi ca nhiều và hấp dẫn du khách bởi hàng trăm, ngàn loại hoa, loại
phong lan độc đáo, hoặc được sản sinh riêng trên mảnh đất này, hoặc lấy giống từ nhiều nơi như:
Pháp, Anh, Hà Lan, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, Ấn Độ, Italy,...như hoa hồng, hoa bất tử,
hoa đỗ quyên, hoa xác pháo, hoa tư tưởng, hoa trà mi, mi mô da, mai anh đào, thủy tiên trắng...
14
Khách sạn du lịch đầu tiên ở Đà Lạt được xây dựng từ năm 1907, đó là ngơi nhà gỗ mang tên
khách sạn Hồ (Hôtel du Lac). Ngày nay, đến Đà Lạt du khách sẽ cảm nhận có một nét kiến trúc
rất nên thơ, lộng lẫy mà kín đáo qua ngơi biệt thự ẩn mình trong cây lá hoặc rực rỡ bởi được
phủ lên cả một rừn
2.7 Cơ sở hạ tầng
Sau hơn 20 năm đầu tư xây dựng và phát triển trong hồn cảnh hồ bình, Lâm Đồng đã nỗ lực
trong việc thiết lập hệ thống đường bộ có chất lượng tương đối tốt và phân bố đều khắp các
vùng trong tỉnh, một mặt đảm bảo giao thông thuận lợi trong nội tỉnh, mặt khác đặt Lâm Đồng
vào vị trí cầu nối giữa các tỉnh Tây Nguyên với Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Nam Bộ.
Hơn nữa, với hệ thống quốc lộ chạy qua và việc nối tuyến với quốc lộ 1A, Lâm Đồng có thể dễ
dàng giao lưu với các tỉnh khác trong cả nước.
Hiện nay, hệ thống đường bộ của Lâm Đồng tương đối dày và phân bố khá đều khắp trong
tỉnh, cho phép các phương tiện giao thơng có thể đến được hầu hết các xã và đáp ứng được nhu
cầu đi lại của nhân dân. Nếu chỉ tính riêng các tuyến quốc lộ, đường tỉnh và đường huyện, đến
nay, mạng lưới đường bộ ở Lâm Đồng có tổng chiều dài 1.744km, trong đó:
Hệ thống quốc lộ có tổng chiều dài 412,15km, gồm 264,85km đường nhựa, 65,3km đường cấp
phối, 82km đường đất, trên dọc tuyến có 54 cầu với 1.551,89m dài và 533 cống.
Hệ thống đường tỉnh có tổng chiều dài 346,25km, gồm 23,13km đường nhựa, 134,18km đường
cấp phối, 130,4km đường đất và 58,54km đường nữa dự kiến sẽ khai thông xây dựng trong các
thời kỳ quy hoạch. Trên tồn tuyến đường tỉnh có 45 cầu với 867,1m dài và 162 cống.
Hệ thống đường huyện có tổng chiều dài 985,69km, trong đó 171,32km đường nhựa,
282,32km đường cấp phối và 532,05km đường đất, trên toàn tuyến có 82 cầu với 1.271,9m dài
và 487 cống.
Hệ thống cung cấp nước
Hệ thống cấp nước đã hoàn thiện tương đối tốt, hiện có: nhà máy cấp nước Đà Lạt, cơng suất
35.000 m3/ngày-đêm hệ thống cấp nước thị xã Bảo Lộc, công suất 10.000 m3/ngày-đêm; hệ
thống cấp nước huyện Đức Trọng, công suất 2.500 m3/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Di
Linh, công suất 3.500 m3/ngày-đêm; hệ thống cấp nước huyện Lâm Hà, công suất 6.000
m3/ngày-đêm. Đồng thời với việc cấp nước, hệ thống xử lý nước thải công nghiệp và sinh hoạt
đang được hoàn thiện.
Đường sắt
Hiện nay, ngành đường sắt đã khôi phục đoạn từ ga Đà Lạt đến Trại Mát dài 8km phục vụ du
lịch. Nhà ga cũng được trang bị và nâng cấp nhằm mục đích khai thác dịch vụ du lịch. Trong
tương lai, để có thể khơi phục lại tuyến đường sắt Đà Lạt- Tháp Chàm, địa phương cần có sự
đầu tư rất lớn của ngành đường sắt và kể cả của quốc tế.
Đường hàng không
Phi trường Liên Khàng (nay gọi là sân bay Liên Khương) được khởi công đầu tiên trong thời
kỳ này và đến năm 1933 mới tạm hoàn tất
Từ năm 1970, sân bay Liên Khương lại được sửa chữa và đại tu bằng bê tông nhựa. Sau ngày
giải phóng, sân bay được cải tạo và tiếp tục sử dụng. Hiện nay, sân bay Liên Khương có tổng
15
diện tích 160ha với đường băng dài 2.374m và rộng 34m, có khả năng tiếp nhận loại máy bay
ATR 72 trọng tải 26 tấn và các loại tương đương có áp suất bánh hơi 8kg/cm2, lên xuống an
toàn. Sân bay này trực thuộc cụm cảng hàng không miền Nam, việc điều hành bay rất thuận
lợi, đảm bảo giao lưu nhanh chóng giữa Đà Lạt với các địa phương khác trong cả nước. Do
nhu cầu đi lại của nhân dân ngày càng tăng nên hiện nay, hàng ngày đều có chuyến bay từ Đà
Lạt đi Thành phố Hồ Chí Minh và ngược lại.
Đường thủy
Do đặc điểm địa hình núi và cao ngun nên hệ thống sơng suối ở Lâm Đồng ít có giá trị giao
thơng. Ngay trên sơng Đồng Nai, tuy là con sông lớn chảy qua địa bàn tỉnh nhưng trên sơng có
nhiều ghềnh thác và nước lên xuống theo mùa, nên giao thông chỉ thực hiện được trên những
đoạn ngắn với những phương tiện nhỏ và thô sơ của cư dân vùng ven bờ sông. Giao thông
đường sông trên sông Đồng Nai chỉ thực hiện được trên chiều dài khoảng 60km vào mùa khô
và ở khu vực Cát Tiên là chủ yếu. Vào mùa mưa, nước từ thượng nguồn đổ dồn về nên nước
chảy xiết và lịng sơng có nhiều bãi đá hoặc ghềnh thác nguy hiểm nên giao thơng bị hạn chế,
chỉ có các bè mảng gỗ và tre nứa được khai thác và vận chuyển trên sông là khá thuận lợi. Giao
thông trên sông Đồng Nai giúp cho giao lưu hàng hoá giữa huyện Cát Tiên và tỉnh Bình Dương
thêm thuận tiện.
Bưu điện
Cuối những năm 1970, Lâm Đồng đã xây dựng được đường dây điện thoại từ Bảo Lộc đến
Xuân Lộc, nối liền với hệ thống thông tin đường trục quốc lộ 1A. Đồng thời, bưu điện tỉnh đã
tổ chức được mạng lưới vơ tuyến điện sóng ngắn với Trung ương, với một số tỉnh bạn và với
Căm-pu-chia cũng như cả các huyện trong tỉnh. Ngoài ra cịn có đường Morse âm thanh ở tỉnh,
huyện và các bưu cục trọng điểm chuyên dùng để nhận và chuyển điện báo.
Những năm từ 1996 đến nay, Bưu điện tỉnh càng khẳng định xu thế phát triển vững mạnh của
mình, tiếp tục đầu tư hơn nữa để nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ thuật đạt trình độ tiên tiến nhất như
mở rộng các tuyến cáp quang, đưa vào sử dụng mạng điện thoại di động ở một số vùng, máy
nhắn tin trong toàn tỉnh, và từ năm 1998, đã bắt đầu sử dụng Phone card và mạng Internet.
Năm 2000, tổng số máy điện thoại trên địa bàn tỉnh đạt 45.417 máy.
Hiện nay, trên địa bàn tồn tỉnh có 30 bưu cục khu vực, 10 bưu cục quận huyện, 1 bưu cục
trung tâm và 41 điểm bưu điện văn hoá xã, 138/138 số xã, phường, thị trấn đã được trang bị
điện thoại. Tuy là một tỉnh miền núi nhưng Lâm Đồng là một trong số các tỉnh và thành phố có
ngành bưu chính - viễn thơng phát triển nhất cả nước với công nghệ hiện đại và giá trị sản xuất
tăng nhanh. Đó là một thuận lợi lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng
nói chung và Đà Lạt nói riêng.
Điện lực
Mạng lưới truyền tải điện được chú ý cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới. Một số tuyến quan
trọng nhất là đường dây 220kV Đa Nhim – Bảo Lộc dài 110km, đường dây 66kV Đa Nhim Đà Lạt dài 33km, đường dây 31,5kV Đa Nhim – Càn Rang – Đà Lạt – Nam Ban và Đà Lạt –
Suối Vàng dài tổng cộng khoảng 70km, đường dây 35kV Bảo Lộc – Di Linh dài gần 30km và
từ Bảo Lộc đi Đạ Huoai dài 44km. Từ các trạm, điện được dẫn về các địa phương theo mạng
16
lưới phân phối với tổng chiều dài đường dây các loại 0,2-15kV đạt khoảng hơn 700km. Với hệ
thống này, hiện nay 11 trên 11 huyện, thị xã, thành phố và đại bộ phận các xã đã có điện lưới
quốc gia, tốc độ tiêu thụ điện bình quân tăng 18-20% hàng năm, trong đó ánh sáng sinh hoạt
tăng nhanh và chiếm 50% tổng điện năng tiêu thụ.
Trong thời gian gần đây, ngành điện lực Lâm Đồng đã tăng cường cơ sở vật chất chủ yếu bằng
nguồn vốn ngân sách để đưa điện về các huyện, đặc biệt là các huyện phía Nam và các vùng
sâu, vùng xa, góp phần phát triển kinh tế và xây dựng nông thôn theo yêu cầu của cơng cuộc
cơng nghiệp hố, hiện đại hố đang diễn ra trên cả nước.
II Tình hình thực hiện phát triển bền vững ở tỉnh Lâm Đồng giai đoạn gần đây
1 Kinh tế
1.1 Về quy mô tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn (GDP)
Giá trị sản tổng sản phẩm trên địa bàn ( GDP) tỉnh Lâm Đồng theo giá thực tế 2001- 2009
Niên giám thống kê tỉnh Lâm Đồng.
17
Biểu đồ quy mô giá trị sản phẩm trên địa bàn theo giá thực tế Lâm Đồng 2001 – 2009
Nhìn chung quy mơ GDP Lâm Đồng cịn nhỏ so với tiềm năng của tỉnh, kinh tế chưa đạt được
quy mô lớn như nhiều tinh có điều kiện tương đương trong cả nước.
1.2 Tốc độ tăng trưởng
Chỉ số phát triển tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn theo giá so sánh tỉnh Lâm Đồng
2005-2009 (Niên giám thống kê tỉnh Lâm Đồng)
18
Tốc độ tăng trưởng kinh tế tỉnh Lâm Đồng 2005- 2009
Kinh tế Lâm Đồng giai đoạn 2005- 2009 phát triển nhanh (12,88% - 20,78 % / năm) nhưng tốc
độ đang có xu hướng giảm dần đều với mức khá cao. Một phần nguyên nhân là do khó khăn
chung của kinh tế cả nước và thế giới trong giai đoạn vừa qua. Sự giảm dần tốc độ tăng trưởng
kinh tế thế hiện sự thiếu bền vững trong tăng trưởng kinh tế tỉnh Lâm Đồng.
1.3 Tỉ lệ vốn đầu tư trên GDP
Tỉ lệ vốn đầu tư so với GDP của tỉnh Lâm Đồng và toàn quốc 2005-2009
(Niên giám thống kê)
Tỉ lệ vốn đầu tư trên GDP của Lâm Đồng giao động nhẹ (từ 40,8% đến 42,5 % ) trong giai
19
đoạn 2005- 2009.Tỉ lệ này cao hơn so với cả nước trong hai năm 2006, 2007.Sau đó đột ngột
giảm nhanh vào năm 2008 sau đó lại tăng trở lại vào năm 2009.Nhìn chung tư năm 2008 tỉ lệ
vốn đầu tư trên GDP của Lâm Đồng có xu hướng tăng và xấp xỉ thấp hơn so với cả nước.
Như vậy, so với mức chung cả nước thì hiệu quả đầu tư của Lâm Đồng có xu hướng tiến bộ khi
tỉ lệ vốn đầu tư trên GDP từ mức cao hơn hoặc ngang bằng đã xuống mức thấp hơn.
Tuy nhiên tỉ lệ này vẫn có xu hướng tăng và ở mức rất cao so với thế giới, phản ánh hiệu quả
đầu tư đang có xu hướng đi xuống mặc dù đã ở mức rất thấp. Đây là biểu hiện không bền vững
trong phát triển kinh tế của tỉnh Lâm Đồng.
1.4 Cơ cấu kinh tế
Bảng cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng theo giá thực tế 2001 -2009
(Niên giám thống kê tinh Lâm Đồng )
Biểu đồ cơ cấu kinh tế tỉnh Lâm Đồng 2001-2009. (Xử lý số liệu.)
20
Cơ cấu kinh tế Lâm Đồng nhìn chung khá ổn định, có xu hướng chuyển dịch nhẹ theo hướng
tăng tỷ trọng nông lâm nghiệp trong giai đoạn 2001 – 2004 (từ 44,65 % năm 2001 lên 50,92%
năm 2004) vì đây là thế mạnh của tỉnh, giai đoạn này tỉnh lại chú trọng đi sâu vào phát triển
chất lượng nông nghiệp.Đến giai đoạn 2006 – 2006 công nghiệp xây dựng, thương mại dịch vụ
có xu hướng tăng nhẹ về cơ cấu, do tốc độ phát triển nhanh hơn nông lâm nghiệp thủy sản.
Cơ cấu tỉ trọng khu vực nông lâm nghiệp thủy sản vẫn cao, chưa theo hướng hiện đại.
1.5 Xuất nhập khẩu
Bảng giá trị xuất nhập khẩu tỉnh Lâm Đồng 2005 – 2009
(Niên giám thống kê tỉnh Lâm Đồng)
Biểu đồ xuất nhập khẩu tỉnh Lâm Đồng 2005 – 2009 ( Nghìn USD )
Lâm Đồng là tỉnh có xuất khẩu rất lớn so với nhập khẩu, xuất khẩu có xu hướng tăng nhanh và
nhập khẩu có xu hướng giảm dần, một biểu hiện tính vững chắc của kinh tế Lâm Đồng.
Tuy nhiên giá trị xuất nhập khẩu của tỉnh Lâm Đồng còn chiếm tỉ trọng nhỏ so với giá trị xuất
21
nhập khẩu toàn quốc (giá trị xuất khẩu đạt 57 tỉ USD và nhập khẩu đạt 69 tỉ USD năm 2009),
và nhỏ so với nhiều tỉnh thành phố khác.
Đây là biểu hiện của sự hội nhập chưa sâu rộng của Lâm Đồng vào nền kinh tế thế giới.
1.6 Năng suất lao động
Biểu đồ năng suất lao động theo giá thực tế tỉnh Lâm Đồng và toàn quốc
2007 - 2008 - 2009 (Xử lý số liệu )
Nhìn chung năng suất lao động Tỉnh Lâm Đồng có tăng đều qua các năm biểu hiện cho chất
lượng tăng trưởng kinh tế về chiều sâu. Tuy nhiên năng suất lao động của tỉnh vẫn thấp hơn
mức chung cả nước và rất thấp so với các nước có kinh tế phát triển.
2 Tiến bộ xã hội
2.1 Chỉ số tuổi thọ:
Tuổi thọ của Lâm Đồng khá cao và được cải thiện trong thời gian qua do điều kiện thiên nhiên
ưu đãi, mặt khác công tác khám, chữa bệnh ngày càng được nâng cao; cơ sở hạ tầng y tế từ
tuyến tỉnh, huyện đến y tế thôn, bản ngày càng được chú trọng và tăng cường,…
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ chết của dân số tỉnh Lâm Đồng thấp so với mức chung
của cả nước. Năm 1999, trong khi tỷ suất chết của trẻ sơ sinh của cả nước là 36,7‰, thì tỷ suất
chết của trẻ sơ sinh tỉnh Lâm Đồng chỉ có 22,8‰, chưa bằng 2/3 mức độ của cả nước. Năm
2008, tỷ suất chết của trẻ sơ sinh tỉnh Lâm Đồng là 14‰.
Do mức độ chết nói chung cũng như tỷ suất chết của trẻ sơ sinh thấp nên tuổi thọ trung bình
của tỉnh Lâm Đồng cao và tăng tương đối nhanh. Từ năm 1999 đến 2008, tuổi thọ trung bình
22
của tỉnh Lâm Đồng đã tăng 2,5 năm, từ 72,5 năm (1999) lên 75,0 năm (2008); trong vòng 5
năm gần đây (từ 2003 đến 2008), tuổi thọ trung bình của Lâm Đồng tăng 1,5 năm. Tuổi thọ
trung bình của Lâm Đồng cao hơn các tỉnh Tây Nguyên và cả nước: Năm 2006 tuổi thọ trung
bình của Lâm Đồng là 74,3 năm thì tuổi thọ trung bình của khu vực Tây Nguyên là 69,9 năm;
năm 2007 tuổi thọ trung bình của Lâm Đồng là 74,5 năm, thì tuổi thọ trung bình cả nước là
74,3 năm.
2.2 Chỉ số giáo dục
Chỉ số giáo dục của Lâm Đồng trong thời gian qua tuy có tăng nhưng chậm, từ 0,8080 năm
2003 lên 0,8177 năm 2008 (tăng 0,0097), do tác động chủ yếu của các yếu tố sau:
Cơ cấu nhóm tuổi của dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ so với tổng dân số 15 tuổi trở lên ít
biến động giữa các năm nên tỉ lệ người lớn biết chữ của tỉnh giữa các năm thay đổi khơng đáng
kể nhưng vẫn có xu hướng tăng lên ở mức độ chậm, năm 2003 là 88,80%, năm 2007 là 91,56%
và đến năm 2008 là 91,97%. Tỷ lệ này cao hơn mức bình quân của cả nước (năm 2007 đạt
90,3%).
Do tỷ lệ người lớn biết chữ tăng trong giai đoạn 2003-2008 (tăng 0,0317 điểm), trong khi đó
tỷ lệ nhập học các cấp học có xu hướng giảm nên chỉ số giáo dục của Lâm Đồng chưa có
những cải thiện đáng kể và xấp xỉ mức bình quân của cả nước (năm 2007 chỉ số giáo dục của
cả nước là 0,8067, Lâm Đồng là 0,8134).
Theo kết quả xếp hạng năm 2005 thì chỉ số giáo dục của Lâm Đồng xếp thứ 24/64 tỉnh/thành
(thấp hơn thứ hạng chỉ số HDI 2 bậc), thấp hơn tỉnh so với một số tỉnh cùng khu vực Tây
Nguyên là Đắc Lắc (hạng 21), cao hơn Kon Tum (hạng 25), Gia Lai (hạng 27),…
Dự báo chỉ số giáo dục có xu hướng tăng lên từ 0,8216 (năm 2010) lên 0,8380 (năm 2015),
tăng 0,164 điểm.
2.3 Chỉ số GDP bình quân đầu người
Giai đoạn 2003-2010, tăng trưởng kinh tế (GDP) Lâm Đồng đạt mức tăng trưởng khá (bình
quân 17,9%/năm), do tốc độ tăng dân số chậm hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP nên GDP
bình quân đầu người theo VND cũng như theo sức mua tương đương (USD-PPP) ngày càng
tăng nhanh. GDP bình quân đầu người theo sức mua tương đương (ICP 2005) từ 931,6
USD/người (2003) lên 2.310,5 USD/người (2008); với mức tăng bình quân giai đoạn 20032008 là 18,6%/năm.
Cũng từ kết quả tính tốn ở trên cho thấy chỉ số GDP Lâm Đồng liên tục tăng qua các năm.
Chỉ số GDP Lâm Đồng (theo ICP 2005) từ 0,372 (2003) tăng lên 0,524 (2008) tăng 0,152
điểm, trong khi đó cả nước tăng từ 0,479 năm 2003 tăng lên 0,561 năm 2008 (tăng 0,082 điểm)
và khu vực Tây Nguyên từ 0,357 năm 2003 tăng lên 0,498 năm 2008 (tăng 0,141 điểm).
Do tốc độ tăng trưởng kinh tế của Lâm Đồng trong giai đoạn này khá nhanh đã góp phần nâng
cao thứ hạng chỉ số GDP trong cả nước: năm 2003 xếp hạng 30 (cao hơn 1 bậc so với thứ hạng
HDI), đến năm 2005 xếp hạng 19 (cao hơn 3 bậc so với thứ hạng HDI). Điều này cho thấy tuy
23
chỉ số GDP tăng khá nhanh nhưng GDP bình quân đầu người của Lâm Đồng vẫn cịn thấp hơn
mức bình quân chung của cả nước nên sự đóng góp của tăng trưởng kinh tế trong phát triển
con người ở Lâm Đồng vẫn cịn những hạn chế nhất định.
Thu nhập bình quân đầu người trên tháng tỉnh Lâm đồng 1999 – 2002- 2004 – 2006 -2008
( niên giám thống kê tỉnh Lâm Đồng )
Biểu đồ phân phối thu nhập Lorenz tỉnh Lâm Đồng năm 2008 (xử lý số liệu)
Khoảng cách giữa các nhóm thu nhập và giữa thành thị với nơng thơn có xu hướng tăng.
24
2.4 Chỉ số phát triển con người (HDI)
Kết quả tính toán cho thấy chỉ số HDI tỉnh Lâm Đồng từ 2003-2008 về giá trị đã tăng từ
0,6629 lên 0,7250 điểm.
So sánh với cả nước, giá trị chỉ số này còn thấp hơn mức bình quân chung nhưng khoảng cách
chênh lệch đã được rút ngắn: năm 2003 chỉ số HDI của Lâm Đồng thấp hơn chỉ số chung cả
nước 0,0411 điểm, đến năm 2007 chỉ còn chênh lệch 0,0084 điểm.
Xếp hạng phát triển con người ở Lâm Đồng cũng được cải thiện khá nhanh, từ thứ hạng 31/61
tỉnh/thành (năm 1999), vươn lên xếp hạng 22/64 (năm 2005).
So với các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên thì chỉ số HDI của Lâm Đồng luôn cao hơn (năm
2005 xếp hạng chỉ số HDI của Gia Lai là 24, Đắc Lắc - 26, Kon Tum - 29).
Dự báo chỉ số HDI của Lâm Đồng trong giai đoạn 2010 - 2015 tăng khá: chỉ số HDI năm
2015 đạt 0,80, tăng 0,0468 điểm, bình quân hàng năm tăng 0,094 điểm. Với kết quả dự báo
như trên, đến năm 2015 chỉ số HDI Lâm Đồng sẽ xếp trong tốp 20 của cả nước.
Chỉ số HDI và các chỉ số thành phần tỉnh Lâm Đồng 2003 – 2008 (website: dalat.gov.vn )
3 Môi trường bền vững
3.1 Chỉ số bền vững mơi trường
A Các chỉ thị ơ nhiễm mơi trường
Ơ nhiễm chất thải
Chất thải rắn phát sinh trên địa bàn tỉnh trong năm 2010 khoảng 30 ngàn tấn/ngày đêm. Bao
gồm chất thải sinh hoạt, chất thải y tế, chất thải từ các cơ sở kinh doanh dịch vụ và chất thải
cơng nghiệp, trong đó sản xuất cơng nghiệp chiếm 71%.
Rác thải y tế tồn tỉnh có tới 209,3 tấn/năm (số liệu năm 2009). Hiện ở Đà Lạt thu gom từ các
bệnh viện và cơ sở y tế về xử lý, mới chỉ đáp ứng quy chuẩn bước đầu. Sự lo ngại càng lớn
hơn, cả 10 huyện rác y tế tự hủy thủ cơng, khó có thể kiểm sốt được.
Việc thu gom và xử lý chất thải rắn theo phương thức chôn lấp hợp vệ sinh chỉ mới thực hiện
25