VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU TỐT NGHIỆP:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Phạm Đình Khuê
Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội
Đặng Thanh Thảo
Học viện Quản lý giáo dục
Tóm tắt: Việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp là một yêu cầu thực tiễn cấp thiết nhằm
giúp tạo nguồn nhân lực đóng góp vào cơng cuộc xây dựng và phát triển đất nước, giảm tỷ lệ
thất nghiệp sau đào tạo. Do vậy, các cơ sở đào tạo và đơn vị sử dụng lao động cần phải có sự
liên kết chặt chẽ trong công tác đào tạo và tuyển dụng nhằm mở rộng cánh cửa cơ hội việc làm
cho sinh viên sau tốt nghiệp. Bên cạnh đó, vai trị định hướng của Nhà nước trong điều tiết
nguồn nhân lực theo chiến lược phát triển đất nước ở từng giai đoạn khác nhau là rất quan
trọng trong việc duy trì tính bền vững của cơ hội việc làm sau đào tạo. Bài viết này sẽ đi sâu
phân tích về tình hình việc làm, thực trạng, chính sách hỗ trợ, đồng thời đề xuất một số giải
pháp hỗ trợ việc làm cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: việc làm, sinh viên, tốt nghiệp, chính sách hỗ trợ.
1. Đặt vấn đề
Đất nước muốn phát triển, ngồi vốn, khoa học cơng nghệ, thì một trong những yếu tố
quyết định sự phát triển chính là nguồn lực lao động, trong nền kinh tế nguồn lực lao động quan
trọng có trình độ là những sinh viên được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng…, đây
chính là lực lượng lao động rất năng động có trình độ và năng lực. Hiện nay, bên cạnh một bộ
phận sinh viên ra trường có việc làm, đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp, thì cịn
một bộ phận sinh viên sau khi ra trường hiện nay chưa tìm được việc làm, điều này đã ảnh
hưởng khơng nhỏ đến sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Vậy, câu hỏi đặt ra của những
nhà quản lý và những người làm chính sách là: Ngun nhân vì sao dẫn tới tình trạng đó?
Phải chăng là do q trình đào tạo của các trường đại học cịn nhiều mặt chưa được hay do
cơng cụ chính sách, hộ thống hỗ trợ tìm và giải quyết việc làm cho sinh viên hiện nay chưa
phát huy hiệu quả?
Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng vấn đề việc làm và hỗ trợ giải quyết việc làm cho
sinh viên tốt nghiệp tại các trường đại học, cao đẳng là rất cần thiết, từ đó đề xuất các giải pháp
hỗ trợ giải quyết việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội, sử dụng
hiệu quả nguồn nhân lực trẻ trong q trình cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2. Thực trạng hỗ trợ, giải quyết việc làm, cho sinh viên sau tốt nghiệp hiện nay
Những năm gần đây chất lượng lao động Việt Nam có nhiều thay đổi, theo hướng tỷ lệ
sinh viên được đào tạo, có trình độ chun mơn, nghiệp vụ, kiến thức, tay nghề ngày càng nâng
cao, dần tiệm cận được yêu cầu của khu vực và quốc tế. Công tác đào tạo chuyên môn, kỹ thuật,
hướng nghiệp cho sinh viên được đẩy mạnh. Hoạt động giáo dục, đào tạo được phát triển và đa
dạng hóa về loại hình. Bên cạnh hệ thống các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao
427
đẳng, đại học cơng lập, cịn mở rộng phát triển các trường dân lập, qua đó giúp sinh viên có
nhiều cơ hội được học tập. Mỗi năm có hàng trăm nghìn sinh viên hệ cao đẳng và đại học tốt
nghiệp, bổ sung cho lực lượng lao động xã hội.
Nhiều chính sách của chính phủ được bổ sung, sửa đổi, ban hành mới, điều đó là cơ sở,
động lực để cơng tác tìm kiếm việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp phát huy hiệu quả như:
chính sách đất đai, tín dụng, cải cách bộ máy hành chính giúp cho mơi trường kinh doanh ngày
càng được cải thiện, cùng những tác động tích cực từ Hiệp định Thương mại đã thúc đẩy sự
phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế, kéo theo việc làm tăng mạnh, tạo thêm cơ hội việc
làm cho sinh viên sau tốt nghiệp và các thành phần lao động khác trong xã hội. Cụ thể, việc
triển khai các Chương trình phát triển nơng nghiệp, nơng thơn; Chương trình phát triển cơng
nghiệp, dịch vụ; Chương trình xây dựng và phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp tập
trung, khu công nghệ cao và các dự án kinh tế trọng điểm, đã góp phần đáng kể giải quyết việc
làm cho lao động trẻ. Hàng năm, các chương trình, dự án này đã giải quyết việc làm cho hàng
triệu lượt lao động.
Mặt khác, nhiều mơ hình, cách làm hiệu quả trong giải quyết việc làm cho sinh viên đã
được các cấp, các ngành quan tâm như: tổ chức các phiên giao dịch việc làm dành cho sinh
viên; phối hợp với địa phương và nhà trường hay các cơ sở đào tạo nghề nghiệp, các trung tâm
dịch vụ việc làm tổ chức tuyên truyền, tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho sinh viên. Đặc biệt,
những sinh viên có tay nghề cao luôn được ưu tiên tuyển chọn tham gia các chương trình đi làm
việc ở nước ngồi theo hợp đồng tại các thị trường đòi hỏi yêu cầu cao (như Nhật Bản, Hàn
Quốc)... Việc hỗ trợ vốn vay từ Quỹ Quốc gia về việc làm tiếp tục phát huy hiệu quả với doanh
số cho vay hàng năm từ 2.200 - 2.500 tỷ đồng. Quỹ đã hỗ trợ giải quyết việc làm cho khoảng
100 nghìn lao động mỗi năm.
Ngồi ra, nguồn vốn cho vay của các ngân hàng, các doanh nghiệp, các tổ chức cũng
tạo việc làm cho hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp hàng năm. Trong những năm vừa qua, Trung
ương Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã có nhiều biện pháp hỗ trợ thanh niên về
hướng nghiệp việc làm. Tháng 10/2017, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và
Đào tạo đã trình Chính phủ phê duyệt quyết định đề án hỗ trợ khởi nghiệp cho học sinh, sinh viên
với mục tiêu thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp cho sinh viên; đào tạo bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng
khởi nghiệp; tạo môi trường thúc đẩy ý tưởng các dự án khởi nghiệp. Mục tiêu đề án đặt ra là
100% các trường cao đẳng, đại học, trung cấp phải có kế hoạch hỗ trợ sinh viên khởi nghiệp; 90%
các trường sẽ có kế hoạch cụ thể đào tạo bồi dưỡng kiến thức kỹ năng khởi nghiệp; 70% các
trường đại học và 50% các trường trung cấp phát triển và hiện thực hóa hai dự án khởi nghiệp13.
Tuy nhiên, tình trạng thất nghiệp trong sinh viên sau khi tốt nghiệp tiếp tục là thách thức
đối với nền kinh tế Việt Nam. Theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hàng năm, cả nước
có khoảng 700 - 800 nghìn sinh viên tốt nghiệp cao đẳng, đại học có nhu cầu tìm kiếm việc làm
nhưng gặp nhiều khó khăn, trong đó có khoảng 200 nghìn người có trình độ từ cao đẳng, đại
học thất nghiệp, chủ yếu trong các khối ngành kinh tế, xã hội.
Quyết định số 1665/QĐ-TTg ngày 30/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh, sinh
viên khởi nghiệp đến năm 2025”.
13
428
Cũng theo Tổng cục Thống kê, tỷ lệ thanh niên khơng có việc làm và khơng tham gia
học tập hoặc đào tạo (viết gọn là tỷ lệ NEET, từ tiếng Anh là Youth not in employment,
education or training) trong quý I năm 2021 là 16,3%, tương đương với gần 2 triệu thanh niên;
tăng 0,9 điểm phần trăm tương đương với 51,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ
NEET ở khu vực thành thị, nông thôn, nam, nữ đều tăng so với cùng kỳ năm trước14. Như vậy,
dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng đến việc tìm kiếm việc làm cũng như học tập của sinh viên,
làm tỷ lệ NEET tăng lên.
Tỷ lệ lao động không sử dụng hết tiềm năng Quý I năm 2021 của khu vực thành thị
cao hơn khu vực nông thôn, của lao động nam cao hơn lao động nữ. Đa số lao động không sử
dụng hết tiềm năng là chiếm 53,2%, trong khi đó lực lượng lao động dưới 35 tuổi chỉ chiếm
36%. Điều này cho thấy Việt Nam vẫn còn một bộ phận không nhỏ lực lượng lao động tiềm
năng chưa được khai thác, đặc biệt là nhóm lao động trẻ, có học thức. Và trong bối cảnh dịch
Covid-19 xuất hiện, việc nghiên cứu các chính sách để tận dụng nhóm lao động này càng trở
nên cần thiết.
Nếu xem xét tình trạng có việc làm theo trình độ chun mơn của sinh viên sau tốt
nghiệp, kết quả khảo sát của Bộ Giáo dục và Đào tạo cơng bố về tình hình việc làm của sinh
viên tốt nghiệp các trường đại học trong hai năm 2020 và 2021 thì tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp
có việc làm ở mức trung bình (từ 70% đến dưới 75%) bao gồm: Khoa học giáo dục và Đào
tạo giáo viên (74,5%); Nhân văn (74,7%); Kỹ thuật (74,1%); Công nghệ kỹ thuật (73,4%);
Máy tính và Cơng nghệ thơng tin (73,6%). Những lĩnh vực có tỷ lệ việc làm ở mức thấp (dưới
70%) bao gồm: Dịch vụ xã hội (56,3%); Môi trường và Bảo vệ môi trường (59,9%); Pháp
luật (64,9%); Kinh doanh và Quản lý (68,8%); Khoa học xã hội và Hành vi (69,2%); Kinh
doanh và Quản lý (68,8%)15.
Nhìn chung, về nguyên nhân của thực trạng trên, có thể khái quát như sau: Việt Nam
vẫn là một thị trường dư thừa lao động, nhất là lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp.
Việc nâng cao chất lượng lao động và giải quyết việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp vẫn còn
nhiều hạn chế. Cơ cấu đào tạo các ngành nghề chưa hợp lý, chưa có sự phân luồng giữa các
ngành nghề dẫn đến tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ”. Công tác đào tạo chưa gắn với nhu cầu
thị trường lao động. Hoạt động tư vấn, định hướng nghề nghiệp, giới thiệu việc làm cho sinh
viên chưa hiệu quả. Cơng tác dự báo thị trường lao động cịn hạn chế. Sinh viên ra trường còn
thiếu các kỹ năng mềm, kỹ năng ngoại ngữ, kỹ năng làm việc thực tế tại doanh nghiệp. Bên
cạnh đó, một số chính sách ưu đãi về việc làm cho thanh niên ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng
xa, biên giới, hải đảo chưa thực sự hấp dẫn. Thiếu nguồn lực thực hiện hệ thống chính sách hỗ
trợ tạo việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp.
Trước những thực trạng và nguyên nhân đã phân tích trên, địi hỏi các cơ quan, ban
ngành, các cơ sở đào tạo và bản thân sinh viên phải có cách nhìn nhận mới về vấn đề việc làm
sau khi tốt nghiệp ra trường.
14
15
Tổng cục Thống kê (2020), Báo cáo Điều tra lao động - việc làm 2020.
Trịnh Thị Định, Nguyễn Huyền Anh (2018), Khảo sát chất lượng sinh viên thất nghiệp tại Việt Nam.
429
3. Đề xuất một số chính sách và giải pháp hỗ trợ việc làm cho sinh viên sau tốt nghiệp
Theo dự báo, lực lượng lao động của Việt Nam đến năm 2030 là khoảng 68 triệu người.
Như vậy, nhu cầu việc làm của sinh viên là rất lớn, đòi hỏi cần có nhiều định hướng, giải pháp
đồng bộ trong việc tạo công ăn việc làm cho sinh viên, nhằm tận dụng nguồn lao động trẻ trong
bối cảnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong thời gian qua, Chính phủ và các ban ngành chức năng đã chú trọng giải quyết
việc làm thơng qua một loạt các chính sách đảm bảo việc làm cho người lao động, thúc đẩy sự
phát triển, công bằng và tiến bộ xã hội. Dưới đây là một số chính sách hỗ trợ việc làm đã góp
phần giải phóng sức sản xuất, tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển, cụ thể là: Bộ luật
Lao động năm 2019; Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Hợp tác xã, Luật Thuế, Luật Phá
sản…; Luật Bảo hiểm xã hội 2014; Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014; Luật Việc làm 2013 (Nghị
định số 28/2015/NĐ-CP; Thông tư số 28/2015/TT-BLĐTBXH); Luật Người lao động Việt Nam
đi làm việc ở nước ngồi; các nghị định, thơng tư liên quan tới lao động, thị trường lao động và
việc làm; các chính sách về tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động, định hướng nghề
nghiệp, thông tin dự báo thị trường lao động nhằm kết nối cung cầu lao động; Quyết định số
27/2019/QĐ-TTg ngày 9/9/2019 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với người lao động
tại huyện nghèo đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng đến năm 2020.
Các chính sách trên là cơ sở để thúc đẩy tạo việc làm, thúc đẩy đầu tư phát triển kinh tế
- xã hội; gắn với hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề, truyền bá các kinh nghiệm sản xuất kinh doanh... Tuy nhiên, để tiếp tục giải quyết bài toàn việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp,
Nhà nước cần chú trọng một số giải pháp sau:
Một là, nhà trường cần chú trọng nâng cao chất lượng đào tạo, kết nối giữa nhà
trường với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng chuẩn đầu ra
Chất lượng đào tạo là nhân tố quan trọng trong việc hình thành năng lực làm việc của
sinh viên nhằm đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và xã hội. Để nâng cao chất lượng đào tạo,
nhà trường cần tập trung vào các nhiều hoạt động như:
- Hoạt động đào tạo: cần quan tâm đến việc phát triển đội ngũ, cơ sở vật chất và chương
trình đào tạo: nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên; cũng như
năng lực quản lý cho cán bộ quản lý và huấn luyện nghiệp vụ cho nhân viên. Mở rộng và nâng
cấp cơ sở vật chất; cải tiến các trang thiết bị giảng dạy. Luôn cập nhật và cải tiến chương trình
đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Định kỳ thực hiện kiểm định cơ sở
đào tạo và các chương trình đào tạo của nhà trường. Việc kiểm định là cơ sở khách quan đánh
giá chất lượng toàn bộ hoạt động đào tạo của nhà trường. Thường xuyên thực hiện khảo sát tình
hình việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp. Tổ chức ngày hội việc làm cho sinh viên. Trong
điều kiện đảm bảo các quy định, nhà trường có thể cho phép sinh viên chuyển đổi ngành học.
- Hoạt động liên kết, hợp tác với doanh nghiệp: quan hệ hợp tác giữa trường đại học và
doanh nghiệp cần được xây dựng trên nền tảng bình đẳng và có lợi cho hai bên nhằm góp phần
vào sự phát triển chung cho xã hội. Các doanh nghiệp sẽ đặt hàng các yêu cầu về nội dung nhà
trường cần đào tạo để đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp; đóng vai trị phản biện trong việc xây
430
dựng chương trình đào tạo của nhà trường; chú ý đến nhu cầu sử dụng lao động từ phía doanh
nghiệp. Tạo môi trường thuận lợi cho sinh viên đến tham quan, thực tập; tuyển dụng sinh viên
sau khi ra trường. Tham gia ngày hội việc làm của sinh viên do trường tổ chức. Cử các doanh
nhân có trình độ và kinh nghiệm thực tiễn đến báo cáo chuyên đề hoặc tham gia giảng dạy,
nghiên cứu khoa học tại trường. Đặt hàng các nghiên cứu khoa học phục vụ giải quyết các vấn
đề của doanh nghiệp… giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại trường…
Hai là, phối hợp giữa các ngành, tổ chức giải quyết việc làm cho sinh viên tốt nghiệp
Trung tâm hỗ trợ sinh viên phải thực sự là cầu nối giữa trường đại học và doanh nghiệp,
giúp nhà trường thường xuyên dự báo và cập nhật đúng nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp và
tổ chức trong ngắn hạn và dài hạn. Các trung tâm giới thiệu việc làm, các đơn vị cung ứng
lao động cần chủ động phối hợp với doanh nghiệp, nhà đầu tư tổ chức các buổi phỏng vấn,
tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp ra trường vào làm việc. Tiếp tục rà soát lại biên chế các cơ
quan, đơn vị, địa phương để tham mưu, đề xuất phương án tuyển dụng những sinh viên có
năng lực và đủ điều kiện vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị, đặc biệt là bổ sung đội ngũ
cán bộ có năng lực cho cơ sở.
Các cơ quan liên quan cần chủ động phối hợp giải ngân kịp thời nguồn vốn vay Quỹ quốc gia
giải quyết việc làm và nguồn vốn xuất khẩu lao động; Hỗ trợ và tạo việc làm cho lao động; Phối hợp,
chỉ đạo các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, các cơ sở đào tạo tổ chức dạy nghề, ngoại ngữ cho
người lao động để tiếp cận với thị trường các nước phát triển; Phối hợp với Ngân hàng Chính sách
Xã hội thực hiện chính sách hỗ trợ lao động vay vốn đi xuất khẩu lao động.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả chương trình “Thanh niên khởi nghiệp” giai đoạn tiếp
theo, trong đó tập trung vào hai nhóm đối tượng chính là: (1) sinh viên các cơ sở giáo dục đại
học, cao đẳng (tập trung hỗ trợ các sáng kiến, ý tưởng sáng tạo khởi nghiệp, hỗ trợ cơ chế,
nguồn vốn hỗ trợ các dự án, đề án trong lĩnh vực đổi mới, sáng tạo, ứng dụng công nghệ cao
trong nông nghiệp); (2) doanh nhân trẻ, các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trong
độ tuổi thanh niên đăng ký kinh doanh (tập trung vào hỗ trợ về quản trị doanh nghiệp và đổi
mới sáng tạo, tiên phong hội nhập).
Hỗ trợ và nhân rộng các mơ hình sinh viên làm kinh tế giỏi, trang trại trẻ, tổ hợp tác,
hợp tác xã của sinh viên. Xây dựng và triển khai một số đề án, chương trình hỗ trợ sinh viên tốt
nghiệp phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã kiểu mới. Các cấp cán bộ Đoàn làm việc với các
ngân hàng tạo điều kiện cho sinh viên tốt nghiệp vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất
khẩu lao động…
Ba là, đẩy mạnh phát triển hệ thống các loại hình giới thiệu việc làm
Để làm được điều này, các cơ quan quản lý nhà nước cần phải phát triển mạnh hệ thống
các loại hình giới thiệu việc làm để trở thành cầu nối quan trọng giữa người lao động và người
sử dụng lao động, giữa đào tạo và sử dụng, giúp định hướng ban đầu cho sinh viên trong việc
lựa chọn ngành nghề đào tạo và cơ hội việc làm. Việc tổ chức giới thiệu việc làm cho sinh viên
phải được chuẩn bị kỹ lưỡng, các thông tin phải trung thực, rõ ràng và đầy đủ theo quy định
của pháp luật; khi giới thiệu việc làm cần hỗ trợ từ khâu đăng ký dự tuyển, cung cấp những kỹ
431
năng cơ bản trong việc tham gia dự tuyển, nhất là khi phỏng vấn và thương thảo với người sử
dụng lao động. Trung tâm hướng nghiệp việc làm ở các trường phải đứng ra bảo đảm việc giới
thiệu và hỗ trợ các điều kiện tham gia dự tuyển. Khi lao động sinh viên được tuyển dụng vào
làm việc cho các doanh nghiệp, tổ chức, trung tâm cần phải thực hiện theo dõi tình trạng việc
làm và hỗ trợ những khó khăn của người lao động khi làm việc.
Bốn là, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ vốn, phát triển ngành nghề truyền thống
gắn với phát triển du lịch, dịch vụ - thương mại
Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn để tập trung đầu tư phát triển ngành nghề tập
trung vào: vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng, vốn tự có của doanh nghiệp, vốn của dân
cư…. Đồng thời, tranh thủ các nguồn vốn khác từ các nhà đầu tư trong và ngồi nước hoặc
thơng qua hình thức liên kết kinh tế bằng việc cung ứng nguyên liệu, vật liệu, thiết bị hay ứng
vốn trước cho các cơ sở sản xuất và người ứng vốn, thiết bị sẽ bao tiêu sản phẩm.
Đồng thời, đổi mới cơ chế, chính sách thuế, chính sách tín dụng phù hợp để tạo điều
kiện hỗ trợ các cơ sở sản xuất kinh doanh của làng nghề đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao
năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Trước hết, áp dụng các chính sách ưu đãi thuế, giảm thuế cho các đối tượng như: Cơ sở
sản xuất kinh doanh mới thành lập, song có triển vọng phát triển sản xuất, sử dụng nhiều lao
động; cơ sở sản xuất sản phẩm xuất khẩu; cơ sở sản xuất ứng dụng công nghệ cao… Tạo lập,
huy động vốn thông qua chế độ lãi suất ưu đãi, thành lập hoặc khuyến khích/hỗ trợ thành lập
các ngân hàng/trung tâm tín dụng riêng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Hệ thống
các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng cần có chính sách ưu đãi về vốn (đảm bảo đủ
vốn và lãi suất thấp) cho các DNNVV có các dự án đầu tư tốt, gắn với đào tạo nghề và tạo được
nhiều việc làm cho lao động qua đào tạo nghề. Đơn giản hóa thủ tục cho vay đối với các cơ sở
sản xuất nhỏ lẻ; tăng khả năng vay vốn bằng tín chấp, ưu tiên cho vay đối với các ngành mà địa
phương đang khuyến khích phát triển…
Năm là, đầu tư các nguồn lực để giải quyết việc làm cho sinh viên tốt nghiệp
Tăng cường các nguồn lực đầu tư là việc huy động tối đa các nguồn lực ở trong và ngoài
nước để hỗ trợ học nghề, vay vốn, tự tạo việc làm và tìm việc làm ở mọi lĩnh vực, mọi thành
phần kinh tế. Để tăng cường các nguồn lực đầu tư, trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước cần thực
hiện một số nội dung trọng tâm sau:
- Đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển các loại hình doanh nghiệp, sản xuất kinh doanh, phát
triển mạnh các loại hình dịch vụ, du lịch, thương mại để giải quyết việc làm cho sinh viên tốt nghiệp.
- Rà soát các cơ chế, chính sách để sửa đổi, bổ sung phù hợp với tình hình thực tế trong
giai đoạn mới, nhằm khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư thành lập mới các doanh nghiệp.
Đặc biệt, ưu tiên các doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động; Tham mưu ban hành chính sách
hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp tự tổ chức đào tạo nghề, gắn với bố trí việc làm...
- Phát triển mạnh hơn nữa các thành phần kinh tế tư nhân, DNNVV, doanh nghiệp hộ
gia đình, hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương, tiểu chủ bằng các chính sách, giải pháp khuyến
khích và hỗ trợ các chủ doanh nghiệp, người sử dụng lao động phát triển sản xuất kinh doanh.
432
- Mở rộng quan hệ và hợp tác kinh tế đối ngoại để tăng trưởng xuất khẩu hàng hoá và
dịch vụ; Đồng thời, huy động và sử dụng hiệu quả vốn hợp tác quốc tế, cải cách hành chính,
giảm thủ tục hành chính phiền hà, cải thiện mơi trường đầu tư; điều chỉnh quy hoạch các khu
công nghiệp, khu chế xuất… để thu hút nguồn vốn FDI, ODA, nhằm tạo nhiều việc làm cho lao
động, trước hết là sinh viên tốt nghiệp.
Sáu là, bản thân sinh viên cần chủ động, tích cực nâng cao khả năng chun mơn,
lựa chọn ngành ghề phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội
- Để tìm kiếm việc làm sau khi tốt nghiệp sinh viên phải đóng vai trị chủ động và tích cực
trong suốt quá trình học tập tại trường. Năng lực của sinh viên là yếu tố quyết định trong sự thành
cơng tìm kiếm việc làm. Muốn vậy, sinh viên cần phải có tinh thần lập thân, lập nghiệp. Tinh thần
này sẽ tạo động lực học tập cho sinh viên trong thời gian học tập tại nhà trường; giúp cho sinh viên
tập trung vào mục tiêu có việc làm sau khi tốt nghiệp và thành đạt trong công việc sau này.
- Sinh viên phải lựa chọn ngành học và nghề nghiệp phù hợp với: sở thích, năng lực và
nhu cầu xã hội.
- Việc chọn đúng ngành học không chỉ giúp cho sinh viên “học tập và rèn luyện tốt”
trong thời gian học mà còn giúp người người học cảm thấy hạnh phúc trong quá trình làm việc
tương lai. Để giúp sinh viên chọn ngành học và nghề nghiệp đúng, các trường Trung học phổ
thông cần tổ chức các hoạt động tư vấn hướng nghiệp cho học sinh. Bên cạnh đó, các trường
đại học cần giới thiệu đầy đủ thông tin về các ngành học của trường cho học sinh phổ thông
trong các hoạt động tư vấn của nhà trường.
- Ngoài việc học kiến thức và kỹ năng chuyên môn tại giảng đường và phịng thí nghiệm,
sinh viên cần được tăng cường thêm năng lực về một số mặt như: ngoại ngữ, kỹ năng mềm, phong
cách làm việc chuyên nghiệp, văn, thể, mỹ. Các năng lực này sẽ được rèn luyện thông qua các hoạt
động ngoại khóa, các hoạt động ở các câu lạc bộ của nhà trường và các tổ chức trong xã hội.
Tài liệu tham khảo
1. Quốc hội (2019), Bộ luật Lao động 2019, Bộ luật số 45/2019/QH14.
2. Thân Trung Dũng (2015), Việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp - một vấn đề xã
hội nan giải.
3. Trịnh Thị Định, Nguyễn Huyền Anh (2018), Khảo sát chất lượng sinh viên thất
nghiệp tại Việt Nam.
4. Phan Thị Ngọc Khuyên, Nguyễn Huy Hoàng (2016), Hiện trạng việc làm và các nhân
tố kỹ năng cần thiết cho việc làm sau tốt nghiệp của sinh viên ngành kinh doanh quốc tế, Tạp
chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ.
5. Nguyễn Thành Nhơn (2021), Vài suy nghĩ về việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
6. Chính phủ (2017), Quyết định số 1665/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Hỗ trợ học sinh,
sinh viên khởi nghiệp đến năm 2025”.
7. Tổng cục Thống kê (2020) Báo cáo Điều tra lao động - việc làm 2020.
433